Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI Bài Thảo Luận
Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra. TÊN HỌC PHẦN
: Nhập môn tài chính tiền tệ GIẢNG VIÊN : Kim Nhung LỚP HỌC PHẦN : 24101EFIN2811 NHÓM : 1 Hà nội-2023 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................2
PHẦN NỘI DUNG..................................................................................................3
Phần I: Cơ sở lý thuyết...........................................................................................3
1.1. Những vấn đề chung của bảo hiểm...............................................................3
1.2. Bảo hiểm xã hội...............................................................................................7
Phần II: Thực trạng hoạt động của bảo hiểm xã hội Việt Nam giai đoạn 2020-
2022 và những vấn đề đặt ra................................................................................16
2.1. Thực trạng hoạt động của BHXH Việt Nam..............................................16
2.2. Những vấn đề đặt ra.....................................................................................25
Phần III: Đề xuất và giải pháp về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam........................28
Đề xuất: Tăng cường hệ thống bảo hiểm xã hội ở Việt Nam.............................28
Giải pháp: Nâng cao hiệu quả hệ thống bảo hiểm xã hội ở Việt Nam..............29
Danh mục tài liệu tham khảo...............................................................................30
KẾT LUẬN............................................................................................................31 1 LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình tái sản xuất con người với tư cách là chủ thể của ý thức luôn
phải đối đầu với nhiều các rủi ro:những rủi ro do chính con người tạo ra và những rủi ro từ tự nhiên.
Những rủi ro đó con người không lường trước được nhưng có những rủi ro
mà con người đã dự đoán trước được nhưng nó vẫn xảy ra mà chúng ta không ngăn
lại được. Cho dù là rủi ro dự đoán trước được hay không thì khi rủi ro phát sinh
đều ảnh hưởng đến con người với tư các là cá thể trong xã hội và vả xã hội loài
người nhưng mức độ thiệt hại là khác nhau. Như vậy thì cần phải có được sự đảm
bảo đó cho những rủi ro, đó là cơ sở và tiền đề khách quan cho sự ra đời của hoạt động bảo hiểm.
Hoạt động bảo hiểm ra đời nhằm mục đích bảo đảm cho sự an toàn của con
người, tài sản vật chất, của cải xã hội…Chính sự tích lũy của bảo hiểm đã đảm bảo
cho quá trình sinh hoạt con người được liên tục, quá trình tái sản xuất không bị
gián đoạn. Sự tồn tại của quỹ bảo hiểm càng có cơ sở kinh tế vững chắc khi kinh tế
hàng hoá hình thành và phát triển với khối lượng sản phẩm xã hội ngày càng nhiều
và một phần trong đó là sản phẩm thặng dư.
Ở nước ta, bảo hiểm xã hội là chính sách xã hội lớn của Đảng và đất nước, được
quy định trong hiến pháp, các văn kiện của đảng, không ngừng được bổ sung, hoàn
thiện, từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm bảo hiểm xã hội, bảo đảm an
ninh vật chất, Khi người lao động ốm đau, mang thai, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, đến tuổi lao động, chết, gặp rủi ro hoặc khó khăn khác thì quyền, lợi ích
hợp pháp của người lao động và gia đình họ được bảo vệ. Thep luật pháp. Trong
bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của
bảo hiểm xã hội trong việc đảm bảo công bằng xã hội và thúc đẩy phát triển xã hội
bền vững ngày càng nổi bật.
Chính vì thế, nhóm 1 chúng tôi chọn chủ đề “Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện
nay và những vấn đề đặt ra trong giai đoạn 2020-2022” làm đề tài thảo luận của
nhóm. Từ đây, chúng ta có thể thấy rõ được thực trạng hoạt động của BHXH Việt
Nam giai đoạn 2020-2022 và những vấn đề đặt ra. 2. Kết cấu chương
2.1. Phần 1: Cơ sở lý thuyết.
2.2. Phần 2: Thực trạng hoạt động của BHXH Việt Nam giai đoạn
2020-2022 và những vấn đề đặt ra.
2.3. Phần 3: Đề xuất và giải pháp về BHXH ở Việt Nam. 2 PHẦN NỘI DUNG
Phần I: Cơ sở lý thuyết
1.1. Những vấn đề chung của bảo hiểm
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm.
Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh
trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiện nhằm đảm bảo cho
quá trình tái sản xuất và đời sống của con người trong xã hội được ổn định và phát
triển bình thường trong điều kiện có những biến cố bất lợi xảy ra.
1.1.2. Các hình thức bảo hiểm.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động bảo hiểm ngày càng đa
dạng, phong phú. Dựa trên các tiêu thức phân loại khác nhau, có nhiều hình thức bảo hiểm khác nhau:
a, Căn cứ vào phương thức xử lý rủi ro:
-Tự bảo hiểm: Là hình thức bảo hiểm mà các tổ chức, cá nhân thành lập các
quỹ riêng để bù đắp các tổn thất có thể xảy ra đối với quá trình sản xuất và
đời sống của mình. Việc tự bảo hiểm cho mình thường được thực hiện khi
họ có đủ khả năng tài chính.
Biểu hiện thông qua việc tạo lập và sử dụng quỹ dự trữ tập trung
của Nhà nước, quỹ dự phòng của các doanh nghiệp, quỹ dự trữ của các hộ gia đình.
-Bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm: Là hình thức bảo hiểm mà
người tham gia bảo hiểm sẽ chuyển giao, phân tán rủi ro cho các tổ chức bảo
hiểm mà bản thân họ không muốn hoặc không đủ khả năng đề gánh chịu rủi
ro đó thông qua việc trích nộp một phần thu nhập của mình cho các tổ chức
bảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm. Các tổ chức bảo hiểm hoạt động chuyên
nghiệp trong phân tích rủi ro, ước lượng mức độ rủi ro, và phân tán rủi ro,
đồng thời họ còn có trách nhiệm trong việc bảo toàn và tầng hưởng quỹ để
sử dụng chứng cho các mục tiêu dự phòng chính và khắc phục hậu quả của
rủi ro, cho nên hình thức bảo hộ này Được xem là hình thức bảo hiểm hoạt
động có hiệu quả trên một phim diện của nền kinh tế. 3
Biểu hiện: thông qua tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp như các
công ty bảo hiểm, tập đoàn bảo hiểm và tổ chức bảo hiểm xã hội.
b, Căn cứ vào mục đích hoạt động:
-Bảo hiểm có mục đích kinh doanh: Là hình thức bảo hiểm do các - chủ thể
tiến hành nhằm mục tiêu lợi nhuận. Chính vì mục đích hoạt động. của loại
hình bảo hiểm này mà nó có các tên gọi khác nhau như, bảo hiểm kinh
doanh, bảo hiểm thương mại hay bảo hiểm rủi ro. Người bảo hiểm tìm kiếm
lợi ích kinh tế trên cơ sở thu phí bảo hiểm và cam kết thực hiện bởi thưởng
hoặc trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
thông qua một hợp đồng bảo hiểm.
-Bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh: là hình thức bảo hiểm do các
chủ thể tiến hành không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Mục đích chủ yếu của
loại hình bảo hiểm này là nhằm tương hỗ giữa các thành viên tham gia Với
tư cách là tổ chức quản lý quỹ xã hội, quỹ tài chính tập trung bảo hiểm xã
hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mà phục vụ cho chính sách xã
hội, vì mục đích và quyền lợi của người lao động có tham gia bảo hiểm xã
hội. Cũng dựa trên nguyên tắc đó, việc hình thành và sử dụng quỹ dự trữ tập
trung của Nhà nước, các quỹ tương hỗ, quỹ dự trữ trong các doanh nghiệp,
các gia đình phục vụ cho mục tiêu an toàn, ổn định sự phát triển của nền
kinh tế, của từng doanh nghiệp, từng hộ gia đình hay cá nhân cũng là những
hình thức bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh.
1.1.3. Đặc điểm của bảo hiểm.
- Bảo hiểm là một hình thức dự trữ tài chính nhằm bù đắp và khắc phục những
tổn thất thiệt hại đối với sản xuất kinh doanh và đời sống con người khi
những biến cố bất lợi xảy ra.
- Bảo hiểm vừa mang tính chất bồi hoàn vừa mang tính chất không bồi hoàn.
1.1.4. Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế
- Bảo hiểm góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống con người. 4
Trong bảo hiểm kinh doanh, khi các tổ chức bảo hiểm gặp phải
những rủi ro, trách nhiệm chi trả, bồi thường cho người được bảo
hiểm là yêu cầu bắt buộc đối với người bảo hiểm. Nhờ vào những
khoản chi trả, bồi thường này mà các cơ sở sản xuất kinh doanh có
thể xây dựng lại cơ sở vật chất, mua lại các máy móc thiết bị đã bị
hư hỏng, mất mát,... để có thể tiếp tục hoạt động.
Trong bảo hiểm xã hội, nhờ vào các khoản trợ cấp, bồi thường
trong trường hợp ốm đau, tai nạn, không còn khả năng lao động
hay mất việc làm... mà người lao động có thể khắc phục khó khăn,
ổn định đời sống, đồng thời góp phần giảm bớt gánh nặng về mặt
tài chính cho tổ chức sử dụng lao động. Trong trường hợp người
lao động bị chết, thân nhân của họ sẽ nhận được một khoản tiền hỗ
trợ từ tổ chức bảo hiểm xã hội. Khi về hưu tổ chức bảo hiểm xã hội
sẽ chi trả lương hưu và hỗ trợ các chi phí y tế, chăm sóc sức khỏe,...
Trong mọi hoạt động bảo hiểm người tham gia bảo hiểm có thể
khắc phục kịp thời những tổn thất vật chất do rủi ro tai nạn gây ra
một các nhanh chóng nhất, sớm hồi phục sức khỏe, ổn định đời
sống để tiếp tục quá trình học tập, lao động, sinh hoạt bình thường.
Như vậy, thông qua việc sử dụng quỹ bảo hiểm đã được tạo lập để
bồi thường, chi trả kịp thời, chính xác những tổn thất vật chất cho
người tham gia bảo hiểm. Do vậy, bảo hiểm đã góp phần ổn định
sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống của người tham gia bảo hiểm.
- Bảo hiểm góp phần phòng tránh, hạn chế rủi ro tổn thất.
Đứng trên góc độ lợi ích của các tổ chức bảo hiểm, việc tổ chức tốt
các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất có hiệu quả sẽ giảm được
khoản chi phí bồi thường, trả tiền bảo hiểm, đảm bảo an toàn cho phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để tổ chức tốt các biện pháp đề
phòng, hạn chế rủi ro tổn thất, các tổ chức bảo hiểm đã theo dõi, thống
kê tình hình tai nạn, tổn thất, xác định những nguyên nhân chủ yếu gây ra tai nạn.
Đứng trên giác độ người tham gia bảo hiểm, ngoài trách nhiệm phải
đóng góp đầy đủ phí bảo hiểm, họ còn phải thực hiện tốt trách nhiệm 5
đề phòng hạn chế tổn thất, thông báo tình hình và diễn biến tai nạn,
tổn thất để có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Nếu không, để xảy ra tổn
thất trầm trọng thì có thể bị giảm mức bồi thường hoặc thậm chí tổ
chức bảo hiểm có quyền từ chối nghĩa vụ bồi thường nếu rủi ro xảy ra
không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
Đối với bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, các tổ chức quản lý phải
thường xuyên kiểm tra an toàn trong các doanh nghiệp nhằm phòng
tránh tai nạn xảy ra. Trong trường hợp các đơn vị này thực hiện không
tốt các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh dịch tễ thì có thể
áp dụng các biện pháp xử phạt và truy tố trước pháp luật. Tổ chức bảo
hiểm xã hội còn hỗ trợ các đơn vị sử dụng lao động thực hiện các biện
pháp an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp, xây dựng các trại điều
dưỡng nghỉ ngơi để cải thiện, nâng cao sức khỏe cho người lao động.
Về phía Nhà nước, đảm bảo ổn định phát triển kinh tế - xã hội, ổn
định đời sống nhân dân là nhiệm vụ của bất cứ Nhà nước nào, vì vậy,
việc hình thành và phát triển các hình thức bảo hiểm là những giải
pháp tích cực giúp cho Nhà nước giảm được nguồn kinh phí dành để
đầu tư cho các mục tiêu khác, đồng thời vẫn đảm bảo được mục tiêu
về phát triển kinh tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân.
- Bảo hiểm góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế-xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm không chỉ là tấm lá chắn kinh
tế cho quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống của con người trước
những rủi ro, mà nó còn hoạt động với tư cách là các tổ chức tài chính
trung gian để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.
Các tổ chức bảo hiểm thường sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn
rỗi hình thành từ thu phí bảo hiểm của mình để đầu tư, chính vì vậy
mà các tổ chức bảo hiểm được coi là một định chế tài chính trung
gian, bên cạnh các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, ...
Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cũng góp phần tạo ra một nguồn
vốn quan trọng thông qua việc thu phí bảo hiểm từ người lao động và
người sử dụng lao động. Khi chưa sử dụng đến, phần quỹ này sẽ được
đầu tư trên thị trường tài chính, nhằm bảo toàn và phát triển quỹ. Quỹ
bảo hiểm xã hội còn là một nguồn tiết kiệm quan trọng, tiết kiệm từ 6
bảo hiểm xã hội là chênh lệch giữa thu và chi bảo hiểm xã hội, góp
phần quan trọng vào tiết kiệm của mỗi quốc gia.
1.2. Bảo hiểm xã hội
1.2.1. Khái niệm bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
1.2.2. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội
- Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng
bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
- Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng
của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ
sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn.
- Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời
gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ
tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian đóng bảo
hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không tính vào
thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.
- Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh
bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ
thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước
quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.
- Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm
kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.
1.2.3. Đối tượng và các chế độ bảo hiểm xã hội.
Đối tượng tham gia BHXH và các chế độ BHXH thường được quy định bởi
luật pháp của mỗi quốc gia và có thể khác nhau. Ở Việt Nam, BHXH được chia
thành 2 loại chính như sau: 7
Tiêu chí so sánh BHXH bắt buộc BHXH tự nguyện Khái niệm
BHXH bắt buộc là loại hình BHXH
BHXH tự nguyện là loại hình BHXH
do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và
do Nhà nước tổ chức mà người tham NSDLĐ phải tham gia.
gia được lựa chọn mức đóng, phương
thức đóng phù hợp với thu nhập của
mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ
tiền đóng BHXH để người tham gia
hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Các chế độ
BHXH bắt buộc có các chế độ sau
BHXH tự nguyện có các chế độ sau BHXH đây: đây: Ốm đau Hữu trí Thai sản Tử tuất
Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN) Hữu trí Tử Tuất
Đối tượng tham 1. NLĐ là công dân Việt Nam thuộc Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở gia
đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, lên và không thuộc đối tượng tham gia bao gồm:
BHXH bắt buộc theo quy định của
1. Người làm việc theo HĐLĐ
pháp luật về BHXH, bao gồm:
không xác định thời hạn,
NLĐ làm việc theo HĐLĐ có
HĐLĐ xác định thời hạn,
thời hạn dưới 01 tháng từ ngày
HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo
01 tháng 01 năm 2018 trở đi.
một công việc nhất định có
Người hoạt động không chuyên
thời hạn từ đủ 03 tháng đến
trách ở thôn, ấp, bản, sóc, làng,
dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ
tổ dân phố, khu, khu phố.
được ký kết giữa NSDLĐ với
NLĐ giúp việc gia đình.
người đại diện theo pháp luật
Người tham gia các hoạt động
của người dưới 15 tuổi theo
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
quy định của pháp luật về lao
không hưởng tiền lương. động.
Xã viên không hưởng tiền
2. Người làm việc theo HĐLĐ có
lương, tiền công làm việc trong
thời hạn từ đủ 01 tháng đến
hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. dưới 03 tháng.
Người nông dân, NLĐ tự tạo 8
3. Cán bộ, công chức, viên chức.
việc làm bao gồm những người
4. Công nhân quốc phòng, công
tự tổ chức hoạt động lao động để
nhân công an, người làm công
có thu nhập cho bản thân và gia
tác khác trong tổ chức cơ yếu. đình.
5. Sĩ quan, quân nhân chuyên
NLĐ đã đủ Điều kiện về tuổi đời
nghiệp quân đội nhân dân; sĩ
nhưng chưa đủ Điều kiện về thời
quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ
gian đóng để hưởng lương hưu
quan, hạ sĩ quan chuyên môn
theo quy định của pháp luật về
kỹ thuật công an nhân dân; BHXH.
người làm công tác cơ yếu Người tham gia khác.
hưởng lương như đối với quân nhân.
6. Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội
nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ
công an nhân dân phục vụ có
thời hạn; học viên quân đội,
công an, cơ yếu đang theo học
được hưởng sinh hoạt phí.
7. Người đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng quy định
tại Luật NLĐ Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
8. Người quản lý doanh nghiệp,
người quản lý điều hành hợp
tác xã có hưởng tiền lương.
9. Người hoạt động không
chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
2. NLĐ là công dân nước ngoài vào
làm việc tại Việt Nam có giấy phép
lao động hoặc chứng chỉ hành nghề
hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam cấp.
3. NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc
bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự
nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ 9
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức
nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt
động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh
nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá
thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá
nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ. Mức đóng
Mức đóng BHXH bắt buộc được tính Mức đóng BHXH tự nguyện được tính BHXH
trên cơ sở tiền lương tháng của NLĐ, trên cơ sở mức thu nhập tháng do NLĐ cụ thể như sau:
lựa chọn, cụ thể như sau: 1. Đối với NLĐ:
- NLĐ (1), (2), (3), (4), (5), (8) hằng Hằng tháng đóng bằng 22% mức thu
tháng đóng bằng 8% mức tiền lương nhập tháng do NLĐ lựa chọn để đóng
tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất.
vào quỹ hưu trí và tử tuất; mức thu
- Người hoạt động không chuyên
nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH
trách ở xã, phường, thị trấn hằng
thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo
tháng đóng bằng 8% mức lương cơ
của khu vực nông thôn và cao nhất
sở vào quỹ hưu trí và tử tuất.
bằng 20 lần mức lương cơ sở.
- Người đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng quy định tại Luật
NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng hằng tháng vào
quỹ hưu trí và tử tuất bằng 22% mức
tiền lương tháng đóng BHXH của
NLĐ trước khi đi làm việc ở nước
ngoài, đối với NLĐ đã có quá trình
tham gia BHXH bắt buộc; bằng 22%
của 02 lần mức lương cơ sở đối với
NLĐ chưa tham gia BHXH bắt buộc
hoặc đã tham gia BHXH bắt buộc
nhưng đã hưởng BHXH một lần. 1. Đối với NSDLĐ:
- NSDLĐ hằng tháng đóng trên quỹ 10
tiền lương đóng BHXH của NLĐ (1),
(2), (3), (4), (5), (8) như sau:
3% vào quỹ ốm đau và thai sản. 0,5% vào quỹ TNLĐ-BNN
(trường hợp được Bộ LĐ-
TB&XH chấp thuận đề nghị
được đóng vào quỹ TNLĐ-
BNN với mức thấp hơn thì mức đóng là 0,3%).
14% vào quỹ hưu trí và tử tuất.
- NSDLĐ hằng tháng đóng trên mức
lương cơ sở đối với hạ sĩ quan, chiến
sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan,
chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có
thời hạn; học viên quân đội, công an,
cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí như sau: 0,5% vào quỹ TNLĐ-BNN
(trường hợp được Bộ LĐ-
TB&XH chấp thuận đề nghị
được đóng vào quỹ TNLĐ-
BNN với mức thấp hơn thì mức đóng là 0,3%).
22% vào quỹ hưu trí và tử tuất.
- NSDLĐ hằng tháng đóng 14% mức
lương cơ sở vào quỹ hưu trí và tử tuất
cho người hoạt động không chuyên
trách ở xã, phường, thị trấn.
- NSDLĐ hằng tháng trên quỹ tiền
lương tháng đóng BHXH của NLĐ là
công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam như sau:
3% vào quỹ ốm đau và thai sản.
0,5% vào quỹ bảo hiểm TNLĐ-BNN (trường hợp
được Bộ LĐ-TB&XH chấp
thuận đề nghị được đóng vào 11
quỹ TNLĐ-BNN với mức thấp
hơn thì mức đóng là 0,3%).
Được Nhà nước Không được nhà nước hỗ trợ mức
Người tham gia BHXH tự nguyện
hỗ trợ mức đóng đóng BHXH.
được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ BHXH
lệ phần trăm (%) trên mức đóng
BHXH hằng tháng theo mức chuẩn hộ
nghèo của khu vực nông thôn, cụ thể:
Bằng 30% đối với người tham
gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo.
Bằng 25% đối với người tham
gia BHXH tự nguyện thuộc hộ cận nghèo.
Bằng 10% đối với các đối tượng khác.
Thời gian hỗ trợ tùy thuộc vào thời
gian tham gia BHXH tự nguyện thực tế
của mỗi người nhưng không quá 10 năm (120 tháng). Chế độ hưu trí
- Người tham gia BHXH bắt buộc
- Người tham gia BHXH tự nguyện chỉ
được hưởng lương hưu khi có điều
được hưởng lương hưu khi đáp ứng
kiện theo quy định tại Điều 54 Luật
điều kiện về độ tuổi và thời gian tham BHXH 2014.
gia BHXH theo quy định tại Điều 73
- Trường hợp bị suy giảm khả năng Luật BHXH 2014.
lao động thì được giải quyết về
- Không được giải quyết hưởng lương
hưởng lương hưu trước tuổi theo quy hưu trước tuổi.
định tại Điều 55 Luật BHXH 2014. Chế độ tử tuất
NLĐ tham gia BHXH bắt buộc khi
Người tham gia BHXH tự nguyện khi chết thì: chết thì:
Người lo mai táng được trợ
Người lo mai táng được trợ cấp
cấp mai táng theo quy định tại
mai táng theo quy định tại Điều Điều 66 Luật BHXH 2014. 80 Luật BHXH 2014.
Thân nhân được trợ cấp tuất
Thân nhân được trợ cấp tuất một
hàng tháng theo quy định tại
lần theo quy định tại Điều 81
Điều 67, 68 Luật BHXH 2014 Luật BHXH 2014.
hoặc được trợ cấp tuất một lần 12
theo quy định tại Điều 69, 70
Luật BHXH 2014 tùy trường hợp. Căn cứ pháp lý
- Luật Bảo hiểm xã hội 2014.
- Luật Bảo hiểm xã hội 2014.
- Nghị định 58/2020/NĐ-CP ngày
- Nghị định 58/2020/NĐ-CP ngày 27/5/2020. 27/5/2020.
- Nghị định 134/2015/NĐ-CP ngày
- Nghị định 134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015. 29/12/2015.
- Nghị định 143/2018/NĐ-CP ngày
- Nghị định 143/2018/NĐ-CP ngày 15/10/2018. 15/10/2018.
- Thông tư 01/2016/TT-BLĐTBXH
- Thông tư 01/2016/TT-BLĐTBXH ngày 18/2/2016. ngày 18/2/2016.
1.2.4. Cơ chế hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội a, Cơ chế hình thành
- Các nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
Người sử dụng lao động đóng theo quy định tại Điều 86 của Luật này.
Người lao động đóng theo quy định tạ Điều 85 và Điều 87 của Luật này.
Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ.
Hỗ trợ của Nhà nước.
Các nguồn thu hợp pháp khác.
Theo đó, nguồn từ người lao động và người sử dụng lao động được tính dựa
trên tỉ lệ % quỹ lương của doanh nghiệp, đơn vị chi cho người lao động và nguồn
từ người sử dụng lao động đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động cho Quỹ bảo hiểm xã hội.
Đối với hỗ trợ của Nhà nước chỉ áp dụng trong trường hợp quỹ bị thâm hụt
do một số nguyên nhân khách quan, dẫn đến việc không đảm bảo cho việc thực
hiện an sinh xã hội, khi này Nhà nước sẽ thực hiện hỗ trợ thêm vào quỹ bảo hiểm
xã hội để có thể tiếp tục thực hiện các chính sách an sinh. 13
- Các nguồn thu hợp pháp khác bao gồm:
Hỗ trợ từ các đơn vị sự nghiệp, tổ chức, doanh nghiệp.
Khoản tiền thu nộp phạt từ các đơn vị chậm đóng bảo hiểm xã hội.
Khoản tiền phạt từ các đơn vị, cá nhân làm sai luật bảo hiểm xã hội.
b, Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
- Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định của pháp luật.
- Đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng
trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng hoặc nghỉ việc hưởng
trợ cấp thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi hoặc nghỉ việc hưởng
trợ cấp ốm đau đối với người lao động bị mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh
cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành.
- Chi phí quản lý bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.
- Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; tập huấn,
bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về bảo hiểm xã hội.
- Cải cách thủ tục bảo hiểm xã hội, hiện đại hóa hệ thống quản lý; phát triển,
quản lý người tham gia, người thụ hưởng bảo hiểm xã hội.
1.2.5. Hoạt động của bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
-Tình hình hoạt động của BHXH ở Việt Nam được chia thành các tiêu chí sau:
Tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội:
Năm 2020: Trong bối cảnh khó khăn chung do dịch bệnh COVID-19 và bão
lũ liên tiếp tại miền Trung - Tây Nguyên gây tác động sâu sắc, toàn diện tới mọi
mặt đời sống kinh tế - xã hội, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ, ngành
BHXH Việt Nam đã đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện
quyết liệt, hiệu quả các giải pháp, luôn đổi mới sáng tạo hoàn thành tốt các chỉ tiêu
nhiệm vụ được Đảng, Chính phủ giao. Diện bao phủ BHXH được mở rộng với hơn
16,1 triệu người tham gia, đạt 32,6% lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó, số
người tham gia BHXH tự nguyện gần 1,1 triệu người, tăng 90% so với năm 2019,
tăng 1,2% so với chỉ tiêu tại Nghị quyết số 28 của Đảng và tăng gấp 5 lần so với
năm 2015; số người tham gia BHYT khoảng 88 triệu người, chiếm 90,85% dân số,
vượt 0,15% chỉ tiêu Nghị quyết số 01 của Chính phủ, tăng 25,6% so với năm 2015. 14
Năm 2021: Trong bối cảnh dịch Covid-19 tác động sâu sắc, toàn diện tới
mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, ngành BHXH Việt Nam đã phấn đấu đạt mức
cao nhất các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Tính đến hết ngày 31/12/2021, số người
tham gia BHXH hơn 16,5 triệu người, tăng 2,1% so với năm 2020, đạt 33,75% lực
lượng lao động trong độ tuổi; số người tham gia BHTN gần 13,4 triệu người, tăng
0,4% so với năm 2020, đạt 27,33% lực lượng lao động trong độ tuổi; số người
tham gia BHYT hơn 88,8 triệu người, tăng 0,9% so với năm 2020, đạt tỷ lệ bao
phủ 91,01% dân số. Trong năm 2021, có hơn 1,4 triệu người tham gia BHXH tự
nguyện, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 2,94% lực lượng lao động trong
độ tuổi là nông dân và lao động khu vực phi chính thức, cao hơn 1,94% so với chỉ
tiêu được giao tại Nghị quyết số 28-NQ/TW (năm 2021 là 1%).
Năm 2022: Tổng số người tham gia BHXH đến hết năm 2022 là 17,5 triệu
người chiếm trên 38% lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó có trên 9 triệu
người tham gia BHXH và chiếm 51,94%. Mặc dù vậy, năm 2022 tình hình chậm
đóng BHXH tiếp tục gia tăng, trong đó việc chậm đóng BHXH chủ yếu diễn ra ở
khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm hơn 80% tổng số tiền chậm đóng.
Ở những địa phương có nhiều doanh nghiệp thì số lao động tham gia BHXH tăng
cao. Ngành BHXH Việt Nam thường xuyên rà soát đối chiếu dữ liệu người tham
gia BHXH qua cơ quan thuế nhưng số lao động sau rà soát tham gia BHXH chưa
cao. Nhiều địa phương vẫn chưa có cơ chế hỗ trợ người dân tham gia BHXH tự
nguyện, sự vào cuộc của cấp ủy chính quyền chưa cao, nhất là các cơ quan liên
quan trong việc khai trình lao động
Tổng số quyền lợi được chi trả:
Năm 2020: Trong năm 2020, ngành BHXH Việt Nam đã giải quyết gần 134
nghìn người hưởng mới BHXH hàng tháng; gần 9,6 triệu lượt người hưởng chế độ
ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe, tăng 27,1% so với năm 2015; hơn
1 triệu người hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 91,2% so với năm 2015;... Duy trì
việc chi trả lương hưu, trợ cấp hàng tháng cho trên 3,2 triệu người (trong đó: chi
trả bằng tiền mặt cho gần 2,5 triệu người; chi trả cho trên 700 nghìn người qua tài
khoản cá nhân). Trong khi mức đóng BHYT bình quân ở nước ta chỉ khoảng 1,1
triệu đồng (so với các nước trong khu vực như Philippines, chúng ta chỉ bằng 1/3,
so với Thái Lan chỉ bằng 1/4), nhưng số chi từ quỹ BHYT cho người tham gia luôn
chiếm tỷ lệ cao trong chi phí khám, chữa bệnh. Trong năm, quỹ BHYT đã chi trả
phí KCB BHYT cho gần 167,3 triệu lượt người, tăng 28,4% so với năm 2015. 15
Năm 2021: Trong năm 2021, ước toàn Ngành đã: giải quyết khoảng 95.762
hồ sơ hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; đảm bảo chi trả kịp thời, an
toàn cho khoảng 3,2 triệu người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng; chi
trả 6.698.566 lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức
khỏe; 626.397 người hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); 118,721
triệu lượt người KCB BHYT nội trú và ngoại trú. Những kết quả này một lần nữa
cho thấy quyết tâm chính trị của toàn Ngành trong việc đảm bảo quyền lợi của
người tham gia, thụ hưởng chính sách; theo đó, quyền lợi an sinh của người dân
tiếp tục được quan tâm đảm bảo tốt hơn trong đại dịch, góp phần củng cố, tạo thêm
niềm tin vững chắc của người dân đối với các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta.
Năm 2022: Ngành BHXH Việt Nam tiếp tục tăng cường sử dụng các dịch vụ
công (DVC), rút ngắn thủ tục - thời gian giải quyết hồ sơ, đẩy mạnh chi trả các chế
độ qua tài khoản ngân hàng,… đảm bảo quyền lợi cho người tham gia được đúng -
đủ - kịp thời. Trong năm 2022, toàn Ngành đã: Giải quyết hơn 95 nghìn hồ sơ
hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; đảm bảo chi trả kịp thời, an toàn
cho hơn 3,3 triệu người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng; chi trả hơn
10,9 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe;
gần 1 triệu người hưởng các chế độ BHTN…; 151,4 triệu lượt người KCB BHYT
nội trú và ngoại trú. Đáng chú ý, năm 2022 có khoảng 61% số người nhận các chế
độ BHXH, trợ cấp thất nghiệp qua tài khoản cá nhân tại khu vực đô thị, vượt chỉ
tiêu được giao tại Quyết định số 1813 của Thủ tướng Chính phủ.
Phần II: Thực trạng hoạt động của bảo hiểm xã hội Việt Nam giai đoạn
2020-2022 và những vấn đề đặt ra.
2.1. Thực trạng hoạt động của BHXH Việt Nam.
- Trong giai đoạn 2020-2022, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đặt ra mục tiêu tăng
cường quản lý và giám sát để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc
quản lý và chi trả các khoản bảo hiểm. Ngoài ra, cũng sẽ tập trung vào việc
cải thiện chất lượng dịch vụ và tăng cường thông tin cho người dân để họ có
thể hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình và cách thức đóng và sử dụng bảo hiểm xã hội.
- Bên cạnh đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng sẽ tăng cường hợp tác với các
đơn vị liên quan để đẩy mạnh việc thu hồi các khoản nợ bảo hiểm và tăng 16
cường công tác kiểm tra, giám sát để ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.
- Ngoài ra, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc áp dụng
công nghệ thông tin trong quản lý và cung cấp dịch vụ bảo hiểm xã hội, giúp
tăng cường tính hiệu quả và tiện lợi cho người dân.
Bảng số liệu về lượng người tham gia BHXH ở Việt Nam (2020-2022) Năm Số lượng người Tỷ lệ tham gia 2020 15,2 triệu 32,6% 2021 16,5 triệu 33,77% 2022 17,5 triệu 38,07%
Lượng người tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) ở Việt Nam có xu hướng
tăng trưởng trong những năm gần đây, từ 15,2 triệu người năm 2020 lên 17,5 triệu
người năm 2022, đạt 38,07% lực lượng lao động trong độ tuổi. Đây là một tín hiệu
tích cực cho thấy hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam đang được củng cố và hoàn thiện.
Mặc dù đã có những bước tiến đáng kể, nhưng lượng người tham gia BHXH
ở Việt Nam vẫn còn thấp so với mục tiêu đề ra. Tính đến hết năm 2022, tỷ lệ bao
phủ BHXH chỉ đạt 38,07% lực lượng lao động trong độ tuổi, thấp hơn so với mục tiêu 50% vào năm 2025.
2.1.1. Đối tượng tham gia BHXH ở Việt Nam 2020-2022 (tự nguyện & bắt buộc).
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2020-2022
bao gồm đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và đối tượng tham gia bảo
hiểm xã hội tự nguyện.
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các lao động làm việc
tại các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan nhà nước, các hộ gia đình có người lao
động và các cá nhân làm việc tự do. Các khoản bảo hiểm bắt buộc bao gồm bảo
hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp. 17
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các cá nhân, hộ gia
đình và các doanh nghiệp không bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội. Các khoản
bảo hiểm tự nguyện bao gồm bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn lao động và bảo hiểm hưu trí.
Việc tham gia bảo hiểm xã hội là một nghĩa vụ pháp lý của các đối tượng
được quy định bởi pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, việc tham gia bảo hiểm xã hội
tự nguyện cũng là một cách để bảo vệ bản thân và gia đình khỏi các rủi ro về sức
khỏe, tai nạn lao động và lỗ hổng trong hệ thống bảo hiểm xã hội.
Bảng số liệu lượng người tham gia BHXH (tự nguyện & bắt buộc) Đơn vị: triệu Năm BHXH tự nguyện BHXH bắt buộc 2020 1,1 14,1 2021 1,45 15,09 2022 1,49 16,01
Theo số liệu từ Tổng cục Bảo hiểm xã hội, số đối tượng tham gia bảo hiểm
xã hội (BHXH) tự nguyện và bắt buộc năm từ 2020 đến 2022 có xu hướng tăng
trưởng. Cụ thể, số đối tượng tham gia BHXH tự nguyện tăng từ 1,1 triệu người
năm 2020 lên 1,49 triệu người năm 2022, tăng 39%. Số đối tượng tham gia BHXH
bắt buộc tăng từ 14,1 triệu người năm 2020 lên 16,0 triệu người năm 2022, tăng 14%.
Đối với đối tượng tham gia BHXH tự nguyện năm 2022 tăng 39% so với
năm 2020, đạt 1,49 triệu người. Trong đó, số đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
theo hộ gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất, với 82,6%. Số đối tượng tham gia BHXH tự
nguyện theo nhóm do tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp thành lập chiếm 15,3%. Số đối tượng tham
gia BHXH tự nguyện theo cá nhân là 2,1%.
Còn đối tượng tham gia BHXH bắt buộc năm 2022 tăng 14% so với năm
2020, đạt 16,0 triệu người. Trong đó, số đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trong
khu vực Nhà nước chiếm tỷ lệ cao nhất, với 45,3%. Số đối tượng tham gia BHXH
bắt buộc trong khu vực doanh nghiệp chiếm 40,5%. Số đối tượng tham gia BHXH
bắt buộc trong khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 14,2%. 18
Tăng trưởng số đối tượng tham gia BHXH tự nguyện và bắt buộc trong giai
đoạn 2020-2022 là một tín hiệu tích cực cho thấy hệ thống an sinh xã hội của Việt
Nam đang được củng cố và hoàn thiện.
2.1.2. Mức đóng BHXH 2020-2022 (tự nguyện & bắt buộc).
Mức đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) tại Việt Nam trong giai đoạn 2020-2022 được quy định như sau:
2.1.2.1. Mức đóng BHXH bắt buộc
- Bảo hiểm xã hội: Từ ngày 01/01/2020, mức đóng bảo hiểm xã hội là
8% lương cơ bản hàng tháng của người lao động, trong đó 17,5%
doanh nghiệp đóng và 8,5% người lao động đóng.
-Bảo hiểm y tế: Từ ngày 01/07/2020, mức đóng bảo hiểm y tế là 3%
lương cơ bản hàng tháng của người lao động, trong đó 1,5% doanh
nghiệp đóng và 1,5% người lao động đóng.
- Bảo hiểm thất nghiệp: Từ ngày 01/01/2020, mức đóng bảo hiểm thất
nghiệp là 1% lương cơ bản hàng tháng của người lao động, doanh nghiệp đóng toàn bộ.
Bảng số liệu về mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ 2020 đến 2022
Mức giá đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc năm 2022 tăng 14.000 đồng/tháng
so với năm 2021 và tăng 104.000 đồng/tháng so với năm 2020. Nguyên nhân là do
mức lương cơ sở tăng từ 1.490.000 đồng/tháng lên 1.860.000 đồng/tháng. 19