Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN Đề tài:
BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ
KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG. Ý NGHĨA
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY
Nhóm: 6
Lớp học phần: 22109MLNP0221
Người hướng dẫn: ThS. Phạm Thị Hương
Hà Nam, tháng 11 năm 2022 1
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
CHƯƠNG 1: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG . 4
I. KHÁI NIỆM . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
1. Cơ sở hạ tầng ..... ........ ........ ........ ........ ........ ........ ........ ........ ........ ........ ..... 4
2. Kiến trúc thượng tầng ......... ........ ........ ........ ........ ........ ........ ......... ........ ..... 5
II. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC
THƯỢNG TẦNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6
1. Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng ................. 7
2. Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng .... ........ .. 8
III. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9
CHƯƠNG 2: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG Ở
NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
I. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ SỞ
HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1. Thực trạng xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng ......... ........ ........ ......... ........ ........ ........ ........ ........ ........ ......... ..... 10
2. Thành tựu ......... ........ ........ ......... ........ ........ ........ ........ ........ ........ ......... .... 12
3. Hạn chế ............ ........ ........ ......... ........ ........ ........ ........ ........ ........ ......... .... 16
4. Nguyên nhân của những hạn chế ........... ........ ........ ........ ........ ........ ......... .. 17
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẠN CHẾ TRONG
VIỆC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG
VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG TRONG THỜI GIAN TỚI . . . . . . . . . . . 18
1. Phương hướng .............. ........ ........ ........ ........ ........ ........ ........ ........ ........ .. 18
2. Giải pháp ........ ........ ........ ......... ........ ........ ........ ........ ........ ........ ......... ..... 18
LỜI KẾT . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21 2
LỜI MỞ ĐẦU
Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, xét cho cùng đều bị các quan
hệ của kinh tế quy định. Dù ở xã hội nào, triết học bao giờ cũng bao gồm hai yếu tố:
Yếu tố nhận thức đã là sự hiểu biết về thế giới xung quanh trong đó con người là yếu
tố nhận định là sự đánh giá về mặt đạo lý.
Để phù hợp với trình độ phát triển thấp ở các giai đoạn đầu tiên của lịch sử loài
người, triết học ra đời với tính cách là một khoa học tổng hợp các tri thức của con
người về hiện thực xung quanh và bản thân mình. Sau đó, do sự phát triển của xã hội
triết học đã tách ra khỏi thành khoa học độc lập, triết học với tính cách là khoa học,
nên nó có đối tượng và nhiệm vụ nhận thức riêng của mình, nó là hệ thống những quan
niệm, quan điểm có tính chất chính thể về thế giới, về các quá trình vật chất, tinh thần
và mối quan hệ giữa chúng, về nhận thức và cải biên thế giới. Do vậy, triết học nghiên
cứu về vấn đề: tư duy, xã hội và tự nhiên. Trong đó vấn đề xã hội là vấn đề mang tính
hình thái kinh tế, phản ánh động lực sự phát triển xã hội thông qua lực lượng sản xuất.
Để có cơ chế, cách thức trong sự phát triển xã hội thì cần phải có cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng. Do vậy cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một vấn đề đặc biệt phải quan tâm tới.
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một trong những nội dung cơ bản của
học thuyết hình thái kinh tế xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là cơ sở thế giới quan
và phương pháp luận khoa học trong nhận thức và cải tạo xã hội. 3 CHƯƠNG 1:
BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN
TRÚC THƯỢNG TẦNG I. KHÁI NIỆM
1. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là tổng hợp toàn bộ những quan hệ sản xuất hiện có của một xã
hội hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó. Dựa vào khái niệm đó, nó đã phản ánh chức
năng xã hội của các quan hệ xã hội, của các quan hệ sản xuất với tư cách là cơ sở kinh
tế của các hiện tượng xã hội.
Ví dụ: Cơ sở hạ tầng của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay là
một kết cấu kinh tế nhiều thành phần (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài), trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể thường bao gồm:
+ Quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ
+ Quan hệ sản xuất thống trị
+ Quan hệ sản xuất mầm mống
Trong đó, quan hệ sản xuất thống trị chiếm vị trí chủ đạo, chi phối các quan hệ
sản xuất khác, định hướng sự phát triển của đời sống kinh tế. Quan hệ sản xuất (QHSX)
thống trị là cái phù hợp ở hiện tại và nó đang xảy ra. Trong đó tồn tại tàn dư của QHSX
cũ; mầm mống của QHSX mới cũng bắt đầu xuất hiện, hình thành và phát triển để có
thể thay thế cho QHSX thống trị ở thời điểm hiện tại và hình thành một QHSX mới
trong tương lai. Quá trình này cứ tiếp diễn như hình bậc thang, đi lên liên tiếp mà không
có điểm dừng để hình thành cơ sở hạ tầng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lịch sử.
Ví dụ: Trong xã hội phong kiến (XHPK), ngoài quan hệ sản xuất phong kiến chiếm địa
vị thống trị, còn có quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ là quan hệ sản xuất chiếm
hữu nô lệ, quan hệ sản xuất mầm mống của tương lai là quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghĩa (TBCN) và chính 3 yếu tố đó cấu thành nên cơ sở hạ tầng phong kiến. Sau khi
kết thúc thời kì XHPK là thời điểm mà xã hội TBCN trở thành QHSX thống trị; XHPK
tự động trở thành QHSX tàn dư và cùng với đó xuất hiện mầm mống của một QHSX
mới (Cộng sản chủ nghĩa).
Sự tồn tại của ba loại hình quan hệ sản xuất cấu thành cơ sở hạ tầng của một xã
hội phản ánh tính chất vận động, phát triển liên tục của lực lượng sản xuất với các tính
chất kế thừa, phát huy và phát triển.
Đặc trưng cho tính chất của một cơ sở hạ tầng là do quan hệ sản xuất thống trị
quy định, tác động trực tiếp đến xu hướng chung của toàn bộ đời sồng kinh tế xã hội,
quy định tính chất cơ bản của toàn bộ cơ sở hạ tầng xã hội đương thời. Quan hệ tàn dư, 4
mầm mống có vị trí không đáng kể trong xã hội nhưng lại có vị trí quan trọng trong cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần của xã hội đang ở giai đoạn mang tính chất quá độ.
Cơ sở hạ tầng mang tính chất đối kháng tồn tại trong xã hội mà dựa trên cơ sở
chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Tính chất đối kháng của cơ sở hạ tầng được bắt
nguồn từ những mâu thuẫn nội tại không thể điều hoà được trong cơ sở hạ tầng đó và
do bản chất của kiểu quan hệ sản xuất thống trị quy định. Đó là sự biểu hiện của sự đối
lập về lợi ích kinh tế giữa các tập đoàn người trong xã hội.
Như vậy, cơ sở hạ tầng là quan hệ vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý
thức con người. Nó được hình thành trong quá trình sản xuất vật chất, trực tiếp biến
đổi theo sự tác động và phát triển của lực lượng sản xuất.
2. Kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội với những
thiết chế xã hội tương ứng cùng những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên
một cơ sở hạ tầng nhất định.
Kết cấu kiến trúc thượng tầng bao gồm:
+ Hệ thống hình thái ý thức xã hội: quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học,
đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, các câu ca dao, thành ngữ tục ngữ.
Ví dụ: Tư tưởng Trung quân ái quốc → Quan điểm chính trị; Có hiếu với cha mẹ, “Gà
cùng một mẹ chớ hoài đá nhau” → Quan điểm đạo đức.
+ Thiết chế chính trị xã hội tương ứng: nhà nước (gồm quốc hội, chính phủ, quân
đội, công an, tòa án…), đảng phái, giáo hội, hội nghề nghiệp và những đoàn thể xã hội khác.
Ví dụ: Nhà nước đưa ra những quy định, những điều khoản để mọi người thực hiện
theo đúng chuẩn mực của xã hội, theo đúng những quan điểm, tư tưởng như đã nêu
trên. Đưa ra các hình phạt nhất định để xây dựng một xã hội phù hợp.
+ Các quan hệ nội tại là quan hệ giữa đạo đức với chính trị, đạo đức với pháp
luật, đạo đức với văn hóa,... Là các quan hệ giữa các thiết chế xã hội.
Bởi vậy, kiến trúc thượng tầng là những hiện tượng xã hội, biểu hiện tập trung
đời sống tinh thần của xã hội, là bộ mặt tinh thần tư tưởng của hình thái kinh tế- xã hội.
Nó đóng vai trò quan trọng cùng các bộ phận khác trong xã hội hợp thành cơ cấu hoàn
chỉnh của hình thái kinh tế- xã hội.
Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có dấu hiệu và quy luật tăng trưởng riêng,
nhưng chúng đều có mối quan hệ với nhau và đều nảy sinh từ cơ sở hạ tầng, phản ánh
cơ sở hạ tầng. Trong số đó, nhà nước là tiêu chí có quyền lực mãnh liệt nhất. Nhờ có
nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới trở thành tư tưởng thống trị toàn xã hội.
Kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp mang tính đối kháng. Tính đối
kháng của kiến trúc thượng tầng biểu hiện ở sự đối địch về quan điểm, tư tưởng và các
cuộc đấu tranh về tư tưởng của các giai cấp đối kháng.
Ví dụ: Các quan điểm và tổ chức của giai cấp bị trị (như nô lệ, tá điền, công nhân…)
đối lập với giai cấp thống trị (như chủ nô, địa chủ, tư sản,...) 5
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, những tàn dư tư
tưởng của các giai cấp thống trị bóc lột vẫn còn tồn tại trong kiến trúc thượng tầng. Vì
vậy, trong kiến trúc thượng tầng của các nước xã hội chủ nghĩa ở thời kỳ này vẫn còn
sự đấu tranh giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa với những tàn dư tư tưởng khác. Chỉ đến
chủ nghĩa cộng sản, tính giai cấp của giai cấp thượng tầng mới bị xoá bỏ.
II. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC
THƯỢNG TẦNG
Theo như quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì nhà nước và pháp luật quyết định
quan hệ kinh tế, ý thức tư tưởng quyết định tiến trình phát triển của xã hội.
Theo chủ nghĩa duy vật, kinh tế là yếu tố duy nhất quyết định còn ý thức tư tưởng,
chính trị không có vai trò gì đối với tiến bộ xã hội.
Nhưng theo chủ nghĩa Mác Lê nin đã khẳng định: “Cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng có quan hệ biện chứng không tách rời nhau, trong đó có cơ sở hạ tầng giữ
vai trò quyết định kiến trúc thượng tầng. Còn kiến trúc thượng tầng là phản ánh cơ sở
hạ tầng, nhưng nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó.”
Sự biến đổi giữa hai yếu tố này cũng tuân theo mối quan hệ biện chứng giữa chất
và lượng diễn ra theo hai hướng:
+ Một là sự phát triển hoặc giảm đi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất.
+ Hai là sự tăng hay giảm về lượng không làm cho chất thay đổi ngay mà thay đổi
dần dần từng phần từng bước.
Theo quy luật này thì quá trình biến đổi giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng diễn ra như sau:
Khi cơ sở hạ tầng phát triển đến một mức độ giới hạn nào đó gọi là “điểm nút”, thì
nó đòi hỏi phải kéo theo sự thay đổi về kiến trúc thượng tầng. Quá trình này không chỉ
đơn thuần là sự biến đổi một hay nhiều bộ phận mà là sự chuyển đổi cả một hình thái
kinh tế chính trị và hình thái kinh tế chính trị ưu thế sẽ chiếm giữ giai đoạn lịch sử này:
trong giai đoạn hình thái kinh tế chính trị đó chiếm giữ thì cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng có sự dung hoà với nhau hay đạt được “giới hạn độ”. Tại đây, cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng tác động biện chứng với nhau theo cách thức bắt đầu sự
thay đổi tuần tự về cơ sở hạ tầng (tăng hoặc giảm dần) nhưng tại đây kiến trúc thượng
tầng chưa có sự thay đổi.
Cơ sở hạ tầng ở mỗi giai đoạn lịch sử lại mâu thuẫn phủ định lẫn nhau dẫn đến quá
trình đào thải. Mác nói: “Nếu không có phủ định những hình thức tồn tại đã có trước
thì không thể có sự phát triển trong bất cứ lĩnh vực nào”. Chính vì thế cơ sở hạ tầng cũ
được thay thế bằng cơ sở hạ tầng mới bao hàm những mặt tích cực, tiến bộ của cái cũ
đã được cải tạo đi trên những nấc thang mới. Chính vì cơ sở hạ tầng thường xuyên vận
động như vậy nên kiến trúc thượng tầng luôn luôn thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển của cơ sở hạ tầng. 6
1. Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
Tương ứng với một cơ sở hạ tầng nhất định tất yếu sẽ sản sinh ra một kiến trúc
thượng tầng phù hợp với nó, có tác dụng bảo vệ cơ sở hạ tầng đó.
Ví dụ: Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do cơ sở hạ tầng không có đối kháng về lợi
ích kinh tế nên kiến trúc thượng tầng không có nhà nước, pháp luật,…Tuy nhiên khi
cơ sở hạ tầng có đối kháng về lợi ích kinh tế thì tất yếu kiến trúc thượng tầng buộc phải
có nhà nước, pháp luật,… để bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị của giai cấp thống trị.
Cơ sở hạ tầng quyết định cơ cấu của kiến trúc thượng tầng.
Ví dụ: Những biến đổi trong kết cấu và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường các
nước tư bản chủ nghĩa ở đầu thế kỷ XX đòi hỏi phải có sự thay đổi chức năng của nhà
nước tư sản xuất hiện chức năng kinh tế của nhà nước đó so với trước đây (thế kỷ XIX).
Cơ sở hạ tầng quyết định tính chất của kiến trúc thượng tầng. Tính chất của kiến
trúc thượng tầng đối kháng hay không đối kháng, nội dung của kiến trúc thượng tầng
nghèo nàn hay đa dạng, phong phú và hình thức của kiến trúc thượng tầng gọn nhẹ hay
phức tạp do cơ sở hạ tầng quyết định.
Ví dụ: Trong xã hội có đối kháng giai cấp, giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh
tế thì cũng chiếm địa vị thống trị trong đời sống chính trị, tinh thần của xã hội; mâu
thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quyết định tính chất mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng của xã hội
Cơ sở hạ tầng quyết định sự vận động phát triển của kiến trúc thượng tầng. Khi
cơ sở hạ tầng biến đổi để phù hợp với quy luật của xã hội, thì từ đó kiến trúc thượng
tầng cũng biến đổi và phát triển theo cơ sở hạ tầng.
Ví dụ: Trong xã hội nguyên thủy, khi mà cơ sở hạ tầng cũ không còn phù hợp và thay
thế bằng cơ sở hạ tầng của thời kỳ phong kiến, thì cùng với đó là sự xuất hiện của bộ
máy nhà nước phong kiến với sự hoàn chỉnh và phân bổ rõ ràng.
Cơ sở hạ tầng biến đổi thì kiến trúc thượng tầng cũng biến đổi theo. Sự biến đổi
của kiến trúc thượng tầng diễn ra rõ rệt khi cơ sở hạ tầng này thay thế cơ sở hạ tầng khác.
Ví dụ: Khi cơ sở hạ tầng của chế độ phong kiến bị xóa bỏ và thay thế bởi cơ sở hạ tầng
của chủ nghĩa tư bản thì những quan điểm chính trị, pháp quyền, thiết chế xã hội như
nhà nước, đảng phái,… thời phong kiến cũng biến đổi tương ứng.
Sự biến đổi của cơ sở hạ tầng dẫn đến biến đổi kiến trúc thượng tầng diễn biến
rất phức tạp. Có những yếu tố kiến trúc thượng tầng biến đổi nhanh chóng cùng với sự
biến đổi của cơ sở hạ tầng như là chính trị, pháp luật…nhưng cũng có yếu tố biến đổi
chậm như là nghệ thuật, tôn giáo…hoặc có những yếu tố vẫn còn được kế thừa trong xã hội mới.
Ví dụ: Nhà nước phong kiến mất đi, nhưng tư tưởng phong kiến vẫn tồn tại. Từ khi
giành chính quyền, thống nhất đất nước, chuyển sang chế độ xã hội chủ nghĩa, tư tưởng
trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại, khó thay đổi. 7
Như vậy, chúng ta có thể thấy cơ sở hạ tầng có quyết định to lớn đối với kiến
trúc thượng tầng, do đó trong cách mạng xã hội chủ nghĩa việc xây dựng cơ sở chủ
nghĩa có tác dụng vô cùng to lớn đối với cuộc sống của xã hội. Chính vì tầm quan trọng
của nó mà khi xem xét, cải tạo một bộ phận nào đó của kiến trúc thượng tầng phải xem
xét cải tạo từ cơ sở hạ tầng xã hội. Và tính quyết định của cơ sở hạ tầng đối với với
kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp trong quá trình chuyển từ một hình thái kinh tế xã hội khác.
2. Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Kiến trúc hạ tầng có tính độc lập tương đối và thường xuyên tác động lại cơ sở
hạ tầng. Sự tác động đó thể hiện ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là bảo
vệ duy trì, củng cố và hoàn thiện cơ sở hạ tầng sinh ra nó, đấu tranh xoá bỏ cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng đã lỗi thời lạc hậu.
Ví dụ: Trong xã hội có giai cấp đối kháng, kiến trúc thượng tầng bảo đảm sự thống trị
chính trị và tư tưởng của giai cấp giữ địa vị thống trị trong kinh tế. Nếu giai cấp thống
trị không xác lập được sự thống trị về chính trị và tưởng, cơ sở kinh tế của nó không
thể đứng vững được. Vì vậy, kiến trúc thượng tầng thực sự trở thành công cụ, phương
tiện để duy trì, bảo vệ địa vị thống trị về kinh tế của giai cấp thống trị của xã hội.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai
chiều hướng: tích cực và tiêu cực.
+ Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với quy luật kinh tế khách quan
thì nó thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, xã hội.
+ Nếu kiến trúc thượng tầng tác động ngược lại tức là không phù hợp với quy
luật kinh tế khách quan thì sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế xã hội.
Ví dụ: Việt Nam ở thời điểm quá độ lên chủ nghĩa Xã hội, do thiết chế của nền kinh tế
thị trường phù hợp nên nó sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế, tuy nhiên, ở thời phong kiến,
thiết chế của nền kinh tế phong kiến không còn hiệu quả nên sẽ dẫn đến sự thoái hóa,
lạc hậu so với các nước TBCN ở cùng thời điểm. Và điều này có thể khiến XHPK đó
bị đào thải hay loại bỏ để thay thế bởi một hình thái kinh tế- xã hội mới.
Mỗi yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng khác nhau thì tác động đến cơ sở hạ
tầng theo những cách khác nhau nhưng đều phải tác động thông qua nhà nước và pháp
luật mới có thể phát huy mạnh mẽ vai trò của nó. Trong các yếu tố của kiến trúc thượng
tầng, nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng.
Nhà nước là tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị. Nhà nước không chỉ dựa trên hệ
tư tưởng, mà còn dựa trên những hình thức nhất định của sự kiểm soát xã hội. Nhà
nước sử dụng sức mạnh của bạo lực để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống
trị và củng cố vững chắc địa vị của quan hệ sản xuất thống trị. Với ý nghĩa đó
Ph.Ăngghen khẳng định: “Bạo lực (tức là quyền lực nhà nước) cũng là một sức mạnh kinh tế.” 8
III. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Là cơ sở khoa học để nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.
Kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng, trong đó kinh tế quyết định chính trị,
chính trị tác động trở lại đối với kinh tế.
Trong nhận thức và thực tiễn, nếu tách rời và tuyệt đối hóa một yếu tố nào đều là sai lầm:
+ Nếu tuyệt đối hóa kinh tế, hạ thấp hoặc phủ nhận yếu tố chính trị là rơi vào quan
điểm duy vật tầm thường, dẫn đến vô chính phủ, bất chấp kỉ cương, pháp luật.
+ Nếu tuyệt đối hóa chính trị, hạ thấp hoặc phủ định vai trò của kinh tế sẽ dẫn đến
duy tâm, duy ý chí, nôn nóng, chủ quan, đốt cháy giai đoạn.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam rất quan tâm đến
nhận thức và vận dụng quy luật này. Trong thời kì đổi mới, Đảng ta chủ trương đổi
mới toàn diện cả kinh tế và chính trị, trong đó đổi mới kinh tế là trung tâm, đồng thời
đổi mới chính trị từng bước, thận trọng, vững chắc với những hình thức và bước đi thích hợp. 9 CHƯƠNG 2:
MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN
TRÚC THƯỢNG TẦNG Ở NƯỚC TA TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
I. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ SỞ HẠ
TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG
1. Thực trạng xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng
a) Trước những năm 1986:
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1975, Việt Nam
đã hoàn toàn thống nhất đất nước và bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đây được xem là thời kỳ xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội, khắc phục hậu quả nặng
nề sau chiến tranh, khó khăn chồng chất khó khăn. Tuy nhiên do tư tưởng chủ quan,
nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết, nên Đảng ta chưa xác định được rõ
những mục tiêu của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Nước ta đề cao thái quá
vai trò của kiến trúc thượng tầng, chính trị là thống soái, Nhà nước, cơ quan quản lý
can thiệp thô bạo vào kinh tế bằng những mệnh lệnh chủ quan; vi phạm các quy luật
kinh tế khách quan dẫn đến khủng hoảng kinh tế, xã hội. b) Từ 1986 đến nay:
Thực hiện đổi mới toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lấy đổi mới
kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới về chính trị, trước hết là đổi mới tư duy về
kinh tế; giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới - ổn định - phát triển, giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở nhận thức lại chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và quan niệm của các nhà
kinh điển Mácxit về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị nói riêng, tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VI (12-1986), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đổi mới toàn
diện và triệt để tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt Đảng đã xác định đúng
trọng tâm, trọng điểm và bước đi trong quá trình đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
• Về cơ sở hạ tầng:
Phát triển kinh tế, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước gắn liền với phát
triển kinh tế tri thức là nhiệm vụ trọng tâm.
+ Tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi
thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, phát triển mạnh các ngành
kinh tế và các sản phẩm kinh tế có giá trị tăng cao dựa nhiều vào tri thức. 10
+ Đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn,
giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
Đa dạng hoá các thành phần kinh tế, các kiểu QHSX gắn liền với các hình thức
sở hữu và bước đi thích hợp làm cho QHSX phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
+ Từ nền kinh tế thuần nhất một thành phần sang kinh tế nhiều thành phần với
đa hình thức sở hữu, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế Nhà nước
cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc
dân; chuyển nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để năng động hóa và đẩy nhanh nhịp
độ tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.
+ Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước: Nhà nước làm tốt các
chức năng định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế
và chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường. Thực hiện quản lý
Nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động
của thị trường và doanh nghiệp.
+ Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường
cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh.
Xác lập, củng cố và nâng cao địa vị làm chủ của người lao động trong nền sản xuất
xã hội, thực hiện công bằng ngày một tốt hơn. Thực hiện nhiều hình thức phân phối,
khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo.
Giữ vững độc lập, chủ quyền và bảo vệ lợi ích quốc gia, độc lập dân tộc, quan
hệ kinh tế với nước ngoài.
Trong văn kiện Hội nghị đại biểu Đảng giữa nhiệm kỳ khoá VII, Đảng ghi rõ
“Phải tập chung nguồn vốn đầu tư nhà nước cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội và một số công trình công nghiệp then chốt đã được chuẩn bị vốn và công nghệ.
Nâng cấp và xây dựng mới hệ thống giao thông, sân bay, bến cảng, thông tin liên lạc,
giáo dục và đào tạo, y tế”. Đồng thời văn kiện Đảng cũng ghi rõ: “Từ nay tới cuối thập
kỷ, phải quan tâm tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn,
phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ
sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”.
• Về kiến trúc thượng tầng:
Để chính trị phù hợp với đổi mới kinh tế, từ Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp
hành Trung ương, khóa VII (12-1991) đến nay, khi điều kiện về mặt kinh tế đã cho
phép, chúng ta tiến hành đổi mới căn bản về chính trị.
+ Đảng ta đã khẳng định: Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội và thực hiện chế độ chính trị nhất nguyên, một đảng lãnh
đạo. Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng
về sự giải phóng con người khỏi chế độ bóc lột bất lương, tàn bạo. Bởi vậy, trong sự 11
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, việc giáo dục truyền bá chủ nghĩa
Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tư tưởng chủ đạo trong đời sống
tinh thần của xã hội, là việc làm thường xuyên, liên tục của cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa trên lĩnh vực kiến trúc thượng tầng.
+ Tập trung đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước, xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Tự giác đổi mới bộ máy nhà nước từ cơ chế hành chính, tập trung quan liêu
sang bộ máy quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật phù hợp với sự phát triển
kinh tế- xã hội để quản lý mọi mặt của xã hội văn minh hiện đại.
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ghi rõ:
“Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân, liên minh
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng
cộng sản lãnh đạo”. Như vậy, tất cả các tổ chức, bộ máy tạo thành hệ thống chính trị -
xã hội không tồn tại như một mục đích tư nhân mà vì phục vụ con người, thực hiện cho
được lợi ích và quyền lợi thuộc về nhân dân lao động [1].
Phân định rõ chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của Đảng, chính quyền, các
ban ngành, các tổ chức quần chúng từ trung ương đến địa phương.
Phát triển các lĩnh vực khoa học, giáo dục, công nghệ nhằm nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển văn hóa tiến bộ mang đậm bản sắc dân
tộc, giải quyết tốt vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội.
Tăng cường củng cố sức mạnh của lực lượng vũ trang, nâng cao cảnh giác cách
mạng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại nền kinh tế và lật đổ chế độ. 2. Thành tựu • Về cơ sở hạ tầng
- Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
+ Trong suốt 36 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng.
Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanh chóng
đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia
thu nhập trung bình thấp. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng
trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4% [2], thì giai đoạn 1991-1995 GDP bình
quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm [3]; các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng
khá cao; giai đoạn 2016-2019 đạt mức bình quân 6,8% [4]. Liên tiếp trong 4 năm, từ
năm 2016 - 2019, Việt Nam đứng trong top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới, là
một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất [5]. Đặc biệt, trong năm 2020, trong
khi phần lớn các nước có mức tăng trưởng âm hoặc đi vào trạng thái suy thoái do tác
động của dịch COVID-19, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng dương 2,91%, góp phần
làm cho GDP trong 5 năm qua tăng trung bình 5,9 %/năm, thuộc nhóm nước có tốc độ
tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới.
- Phát triển văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội: 12
+ Đảng ta đã đề ra chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và phát
triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng chính sách và
từng bước phát triển. Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát
triển kinh tế; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hóa vừa
là mục tiêu vừa là động lực, là nguồn lực nội sinh của phát triển, giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa thế giới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa
văn hóa nhân loại, làm phong phú hơn đời sống văn hóa, con người Việt Nam.
+ Đảng ta đã quan tâm phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ, coi
phát triển giáo dục, đào tạo cùng với khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu. Tiến
hành đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo thực hiện đồng bộ các giải pháp
phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các cấp học và ngành học. Mở
rộng giáo dục mầm non 5 tuổi. Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ
sở. Phát triển mạnh dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng giáo dục đại học.
+ Trong những năm đổi mới, Việt Nam đã rất quan tâm thực hiện các chính sách
xã hội vì hạnh phúc của con người, coi đây là thể hiện tính ưu việt, bản chất của chế
độ xã hội chủ nghĩa và cũng là khắc phục mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường. Chính
sách xã hội bảo đảm và không ngững nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên
xã hội về ăn, ở, đi lại, lao động, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất.
Mỗi năm tạo bình quân 1,5 đến 1,6 triệu việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Xây
dựng và triển khai Luật Việc làm; nghiên cứu xây dựng chương trình việc làm công.
+ Một trong những thành tựu thể hiện rõ nhất tiến bộ trong quá trình phát triển của
Việt Nam nói chung và phát triển con người nói riêng là thành tựu của công cuộc xóa
đói giảm nghèo. Theo Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012 của Ngân hàng
Thế giới, trong vòng hơn hai thập kỷ, hơn 30 triệu người Việt Nam đã thoát khỏi đói
nghèo. Theo đánh giá của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), Việt Nam là
một trong những nước đạt thành tựu nổi bật trong việc giảm số người bị đói từ 46,9%
(32,16 triệu người) giai đoạn 1990-1992 xuống còn 9% (8 triệu người) giai đoạn 2010-
2012. Theo số liệu của Báo cáo phát triển con người năm 2015 của UNDP, năm
2010/2011, 6,4% dân số Việt Nam (5.796.000 người) nằm trong nhóm nghèo đa chiều.
Ngoài ra, 8,7% dân số (7.834.000 người) ở mức cận nghèo [6].
+ Nhờ có nền tảng vững chắc, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện sức chống chịu
đáng kể trong những giai đoạn khủng hoảng, mới đây là đại dịch Covid-19 đã chứng
tỏ nền y tế Việt Nam đạt nhiều tiến bộ lớn. Tỉ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6
vào năm 1993 xuống còn 16,7 vào năm 2020 (trên 1.000 trẻ sinh). Tuổi thọ trung bình
tăng từ 70,5 năm 1990 lên 75,4 năm 2019, cao nhất giữa các quốc gia trong khu vực
có mức thu nhập tương đương. Chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân là 73, cao
hơn trung bình khu vực và trung bình thế giới. Đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống an
sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả; phát triển mạnh hệ thống bảo
hiểm như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao 13
động và bệnh nghề nghiệp; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động
tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm; mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội; bảo
đảm cung ứng một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, nhất là cho người nghèo,
người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số [7].
- Tăng cường mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế:
+ 36 năm đổi mới cũng là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên
nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn
cầu của Việt Nam. Nhờ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế bằng những chính sách
phù hợp nên Việt Nam đã phát huy được nội lực, tranh thủ ngoại lực, tiếp thu những
thành tựu về khoa học - công nghệ, về kinh tế trí thức, kinh nghiệm quốc tế, văn minh
của nhân loại,… để phát triển, hiện đại hóa lực lượng sản xuất, xây dựng đất nước.
Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính
sách, biện pháp để tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia các quan hệ song
phương và tổ chức đa phương như ASEAN, APEC, ASEM, WTO…, thu hút mạnh mẽ
vốn đầu tư nước ngoài (FDI, ODA), xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị
trường xuất nhập khẩu, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực
về vốn, khoa học - công nghệ, trình độ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Đến nay, Việt
Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 190 nước ( trong đó xác lập quan hệ đối tác
chiến lược với 15 nước), quan hệ thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ, ký trên
90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu
tư. Hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, vị thế và uy tín quốc tế của
Việt nam ngày càng được nâng lên [8].
• Về kiến trúc thượng tầng:
Tăng cường xây dựng Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân:
Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất coi trọng công tác xây dựng Đảng, coi xây dựng
Đảng là nhiệm vụ then chốt. Nội dung xây dựng Đảng bao gồm xây dựng Đảng cả về
chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, phương thức lãnh đạo và phong cách công tác.
Mục đích nhằm xây dựng Đảng trong sạch,vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; đẩy mạnh nghiên cứu lý luận về Đảng
cầm quyền, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp
với tình hình mới; phòng và chống những nguy cơ lớn đối với một Đảng cầm quyền:
sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu, mất dân chủ và sự thoái hóa, biến chất của cán
bộ, đảng viên. Đảng khẳng định phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ, kiên định đường lối đổi mới, chống
giáo điều, bảo thủ hoặc chủ quan, nóng vội, cực đoan.
Đảng tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề
về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, những 14
vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn đổi mới; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư
tưởng, khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận
cán bộ, đảng viên; đấu tranh chống âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các
thế lực thù địch. Tổ chức việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Đảng và nhân dân.
Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo
hướng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm từng tổ chức, sáp
nhập một số ban, bộ, ngành Trung ương để giảm bớt đầu mối, thực hiện cải cách hành
chính trong Đảng, phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ đồng bộ các khâu của công tác cán bộ (đánh giá, quy
hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, sử dụng và chính sách cán
bộ). Đổi mới và tăng cường công tác dân vận; nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra,
giám sát, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội.
Việt Nam đã đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công; phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
Nhân dân. Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã ban hành Hiến pháp năm 1992 và Hiến
pháp năm 2013 và một loạt các bộ luật, luật và pháp lệnh theo hướng hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đề cao vai trò tối cao của Hiến pháp, pháp luật trong
đời sống xã hội. Trên cơ sở đó tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội,
của Chính phủ, các cơ quan tư pháp và chính quyền địa phương các cấp.
Ở Việt Nam việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa nhằm xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ là bản
chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, là động lực của sự ngiệp đổi mới.
Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm.
Những thành tựu của công cuộc đổi mới kể trên là kết quả của quá trình phấn đấu
liên tục, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo,
là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam
và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo;
sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt
Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân
tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng
để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa trong giai đoạn mới” [9]. 15
3. Hạn chế
• Về cơ sở hạ tầng:
- Tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sức
cạnh tranh của nền kinh tế còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm. Thể chế kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chậm được hoàn thiện, hệ thống thị trường hình
thành và phát triển chưa đồng bộ; chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế, kết
cấu hạ tầng chưa đồng bộ và hiện đại đang cản trở sự phát triển; việc tạo nền tảng để
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại còn chậm và gặp nhiều khó khăn
dẫn đến nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế
giới vẫn còn tồn tại.
- Trên lĩnh vực phát triển văn hóa, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi
trường, còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững. Nhiều vấn đề bức
xúc nảy sinh, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý phát triển xã hội chưa được nhận
thức và giải quyết có hiệu quả. Đạo đức xã hội có một số mặt xuống cấp; văn hóa phẩm
độc hại lại càng tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của xã hội; tài nguyên bị khai
thác bừa bãi, môi trường sinh thái bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu toàn cầu ngày càng tác
động đến Việt Nam gây hậu quả nặng nề; trên một số mặt, một số lĩnh vực, người dân
chưa được thừa hưởng đầy đủ, công bằng thành quả đổi mới.
- Đất đai và tài nguyên thiên nhiên được coi là “sở hữu toàn dân”, tức là không có
chủ sở hữu cụ thể, dẫn đến lạm dụng quyền lực để thu lợi bất chính về đất đai và tài
nguyên thiên nhiên như chênh lệch giá quá cao giữa giá đền bù đất nông nghiệp cho
nông dân so với giá đất xây dựng, việc thuê đất, giao đất không dựa trên hợp đồng tự
nguyện giữa nông dân và doanh nghiệp mà thông qua biện pháp hành chính, cưỡng
chế, gây ra bất bình và phản đối phổ biến từ phía nông dân bị mất đất. Tương tự như
vậy, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên, rừng và đất rừng được chuyển giao cho các doanh
nghiệp khai thác thiếu công khai minh bạch, tạo ra miếng đất màu mỡ cho tham nhũng
và lạm dụng quyền lực.
• Về kiến trúc thượng tầng
Bên cạnh những thành công và những thắng lợi, thành tựu là cơ bản, phương thức
lãnh đạo, cầm quyền của Đảng còn một số hạn chế, bất cập, cần được nhận diện một
cách nghiêm túc, khoa học.
- Hạn chế, bất cập trong xây dựng chủ trương, nghị quyết của Đảng. Mục đích tối
thượng, cao nhất của Đảng Cộng sản chân chính cầm quyền là vì hạnh phúc, lợi ích
của nhân dân. Đảng ta đã xác định, ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không có lợi ích
nào khác. Theo đó, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước đều phải xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, từ nhu cầu, nguyện vọng chính đáng
của nhân dân. Một trong những cách lãnh đạo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu ý cán
bộ, đảng viên cần luôn tâm niệm là: “Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của
Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”. Tuy nhiên, trong việc
hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vẫn 16
còn có những bất cập so với yêu cầu này. Bên cạnh đó, do tầm nhìn và ý chí chủ quan,
nên có chính sách đưa vào thực thi đã nảy sinh nhiều bất cập hoặc hiệu lực, hiệu quả thực thi không cao.
- Việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tuy có nhiều
tiến bộ song cũng còn nhiều hạn chế. Nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước còn
nhiều bất cập. Số văn bản pháp luật ngày càng tăng nhưng hiệu lực chưa cao, việc phát
huy dân chủ chưa đi liền với bảo đảm kỷ cương, kỷ luật, pháp luật. Hiệu lực, hiệu quả
quản lý của Nhà nước còn nhiều hạn chế, cải cách hành chính còn chậm trễ, cải cách tư pháp còn lúng túng.
- Mặc dù Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị
về tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng, song công tác xây dựng Đảng chưa có nhiều chuyển biến cơ
bản trong tình hình mới. Chưa có những giải pháp hiệu quả để ngăn chặn, đẩy lùi tình
trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng
viên; tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liệu, tiêu cực xã hội còn diễn ra nghiêm
trọng. Công tác tư tưởng - lý luận, công tác tổ chức - cán bộ, công tác kiểm tra, giám
sát, công tác dân vận còn nhiều bất cập. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân chậm đổi mới. Năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của nhiều tổ chức đảng còn thấp, quản lý đảng viên chưa chặt chẽ; chế
độ trách nhiệm không rõ ràng, nhất là của người đứng đầu.
4. Nguyên nhân của những hạn chế
- Trong thời kì quá độ, nước ta cố gắng đẩy mạnh đuổi theo sự phát triển về công
nghệ - kỹ thuật và các bước chuyển mình của thế giới nhưng lực lượng sản xuất của
nhà nước lại không đủ, trình độ chuyên môn không cao, kỉ luật kém nên không thể
thích ứng được với xu hướng phát triển của đất nước
- Một số chủ trương, nghị quyết của các cấp ủy do các cơ quan tham mưu đề xuất
chưa thực sự được nghiên cứu, tổng kết thực tiễn kỹ lưỡng; chưa đánh giá, dự báo
những tác động, ảnh hưởng một cách đầy đủ, khoa học.
- Một số chính sách công mới chỉ được ban hành dựa trên những nhận thức và
mong muốn chủ quan của các cơ quan quản lý nhà nước, sự tham gia đề xuất và góp ý
của người dân và doanh nghiệp với tư cách là đối tượng thụ hưởng, chịu sự tác động
của chính sách còn rất hạn chế.
- Chưa nhận thức được đầy đủ vai trò nòng cốt, tính chất, đặc điểm lao động của
đội ngũ cán bộ, đảng viên. Mặt khác, còn có biểu hiện chủ quan trong việc xây dựng
và áp dụng quy định về hệ thống vị trí việc làm dẫn đến việc thi tuyển, thi nâng ngạch
công chức gặp nhiều khó khăn và không bảo đảm chất lượng. 17
II. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẠN CHẾ TRONG
VIỆC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG
VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG TRONG THỜI GIAN TỚI 1. Phương hướng
- Phát triển lực lượng sản xuất, đảm bảo đào tạo lực lượng lao động có tay nghề,
kỹ thuật và kinh nghiệm.
- Không ngừng nâng cao năng suất lao động và cải thiện toàn diện đời sống của
nhân dân, củng cố nền kinh tế đất nước.
- Tăng cường tính công khai, minh bạch trong việc xây dựng và thực hiện các chính
sách, pháp luật, đồng thời rà soát cẩn thận và áp dụng nghiêm minh đối với từng cá nhân, tập thể.
- Đào tạo lớp cán bộ trẻ có năng lực, đạo đức, phẩm chất tốt nhằm củng cố vững
chắc nền móng của bộ máy Nhà nước, đồng thời chính đốn lại những thành phần quan
liêu nhũng nhiễu, nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng
và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo XHCN ở nước ta.
- Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường
- Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát
triển; tiếp tục chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
- Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người
nâng cao đời sống nhânn dân thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. 2. Giải pháp
- Cần tiếp tục nghiên cứu vai trò của kinh tế Nhà nước, nhất là các doanh nghiệp
nhà nước, những giải pháp để kinh tế nhà nước thực sự đóng góp vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế quốc dân; những giải pháp củng cố và phát triển kinh tế tập thể. Nhà nước
cần đổi mới, bổ sung cơ chế, chính sách nhất là thể chế pháp luật để bảo đảm sự bình
đăng thực sự của kinh tế tư nhân với các thành phần kinh tế khác, phát huy mạnh mẽ
hơn vai trò động lực của kinh tế tư nhân.
- Cần phải chống lại tư tưởng nóng vội, xóa bỏ ngay lập tức chế độ tư hữu và cần
phải xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
- Mở rộng quan hệ quốc tế để có thể đáp ứng các nhu cầu của sự nghiêph công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm để xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ
nghĩa xã hội, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững của nền
kinh tế để có thể thu hút được nhiều vốn nước ngoài.
- Chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, máy móc hiện đại, đẩy mạnh việc buôn bán
thương mại quốc tế giữa các nước, học tập kinh nghiệm và cách thức quản lý tiên tiến
của các nước trên thế giới, tạo môi trường ổn định để phát triển, luôn tiếp thu văn hóa
nhân loại để xây dựng một nền văn hóa đâm đà bản sắc dân tộc. 18
- Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gắn với việc rà soát, đánh
giá, xem xét, dự kiến bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung các quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật có liên quan nhằm kịp thời loại bỏ những quy định lạc hậu, mâu thuẫn,
chồng chéo, không đúng thẩm quyền, không minh bạch, bảo đảm tính thống nhất, đồng
bộ. Đồng thời xử phạt nghiêm minh đối với những đối tượng vi phạm pháp luật, vi
phạm quy định của Nhà nước.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng trong cán
bộ, đảng viên, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và trong các tầng lớp nhân
dân. Triển khai có hiệu quả đề án đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào chương
trình đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng. Gắn công tác phòng, chống tham nhũng với việc
đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. 19
LỜI KẾT
Những thành tựu của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh sự đúng đắn của
mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Không thể nào
có được một đất nước mà cơ sở hạ tầng phát triển song kiến trúc thượng tầng, ngược
lại không có sự phát triển thích ứng với cơ sở hạ tầng và tương tự, cũng không thể có
được một kiến trúc thượng tầng hoàn hảo mà lại đứng trên một cơ cở hạ tầng lạc hậu
thấp kém, ta không thể coi đó như là một sự phát triển bình thường mà là một sự phát
triển sai lệch què cụt. Mỗi chúng ta tự hào về công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng
và lãnh đạo. Song chúng ta hiểu rõ rằng vẫn còn nhiều thiếu sót mà chưa giải quyết hết
được. Đó là những tác động tiêu cực của chủ nghĩa quan liêu, của chế độ quan liêu bao
cấp đã xâm nhập vào tổ chức bộ máy và hoạt động của nhà nước trong một thời gian
dài. Đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, nhân viên, gây
nên những tổn thất nặng nề về kinh tế và văn hoá, ảnh hưởng xấu về chính trị, tinh thần
và đạo đức trong xã hội ta.
Vậy nên mỗi bước phát triển của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một bước
giải quyết mâu thuẫn giữa chúng. Việc giải quyết, củng cố cơ sở hạ tầng, điều chỉnh và
củng cố các bộ phận của kiến trúc thượng tầng là cả một quá trình rất phức tạp. Nắm
vững phép biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa đổi mới kinh
tế và đổi mới chính trị, vận dụng sáng tạo những chủ chương, đường lối của Đảng là
con đường đầy chông gai nhưng tất yếu sẽ dành thắng lợi trong công cuộc đổi mới vì
mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Đảng ta đã sáng suốt khi đề ra bước đầu tiên thực hiện tốt đường lối đổi mới toàn
diện bằng cách kết hợp chặt chẽ đổi mới cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Và
chắc chắn rằng với nhận thức đúng đắn, sáng tạo cùng với sự đồng lòng nhất trí, ra sức
phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Đảng ta nhất định lãnh đạo công cuộc
đổi mới đi đến thắng lợi hoàn toàn, dưới đà phát triển của sự nghiệp cách mạng hiện
nay, công cuộc đổi mới Đảng lãnh đạo nhất định sẽ đưa nước ta lên ngang tầm với các
nước đang phát triển trong khu vực và thế giới. 20