














Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG ------🙠🕮🙢------
BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN
Mã Lớp học phần : 251_MLNP0221_20
Môn : Triết Học Đại Cương
Nhóm : 7
Đề tài : 3
Đề tài 3. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Ý nghĩa phương
pháp luận và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.
Chương 1. BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN
XUẤT – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm và kết cấu của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
* Lực lượng sản xuất : a) Khái niệm
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất, tạo ra năng
lực thực tiễn để cải biến các đối tượng vật chất của tự nhiên theo nhu cầu của con
người và xã hội. Đây là toàn bộ những năng lực sản xuất hiện có của xã hội tại một
giai đoạn lịch sử nhất định.
Nói cách khác, lực lượng sản xuất là sự thống nhất giữa: Lao động sống (người lao
động) và Lao động vật hóa (tư liệu sản xuất)
b) Kết cấu của lực lượng sản xuất
LLSX gồm hai yếu tố cơ bản: (1) Người lao động là nhân tố giữ vai trò quyết định, là
chủ thể sáng tạo, biết sử dụng và sáng chế công cụ lao động bao gồm: kiến thức, kỹ
năng, kinh nghiệm, trình độ tổ chức… (2) Tư liệu sản xuất (TLSX) : Gồm đối tượng
lao động (ĐTLĐ) có thể là tự nhiên có sẵn hoặc do con người tạo ra. Tư liệu lao động
(TLLĐ) trong đó công cụ lao động (CCLĐ) giữ vai trò quan trọng, quyết định năng
suất lao động. Ngoài công cụ còn có phương tiện lao động khác (PTLĐ)
* Quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa
người với người trong quá trình sản xuất vật chất.Quan hệ sản xuất vật chất bao gồm
các quan hệ: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: là quan hệ giữa các tập đoàn người
trong việc chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội. Quan hệ về tổ chức và quản
lý sản xuất: là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc tổ chức sản xuất và phân
công lao động. Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động: là quan hệ giữa các tập đoàn
người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của
cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng.Các mặt trong quan hệ sản xuất có mối
quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó, quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất
giữ vai trò quyết định.
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.2.1 : Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ nhất triển của lực lượng sản xuất :
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất quy định sự vận
động, phát triển của các phương thức sản xuất trong lịch sử. Lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức sản xuất có tác động biện chứng,
trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất tác động
trở lại đối với lực lượng sản xuất. Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất thì thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại, nếu không
phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đấy là quy luật cơ bản nhất
của sự vận động và phát triển xã hội.
1.2.2 : Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
a, Lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất có tính năng
động, cách mạng, thường xuyên vận động và phát triển;
b, Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất, có tính ổn định tương
đối. Trong sự vận động của mâu thuẫn biện chứng đó lực lượng sản xuất quyết định
quan hệ sản xuất. Cơ sở khách quan quy định sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất:
Do biện chứng giữa sản xuất và nhu cầu con người
Do tính năng động và cách mạng của sự phát triển công cụ lao động
Do vai trò của người lao động là chủ thể sáng tạo, là lực lượng sản xuất hàng đầu
Do tính kế thừa khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất trong tiến trình lịch sử.
c, Sự phát triển của LLSX làm xuất hiện mâu thuẫn với QHSX cũ:
Lực lượng sản xuất vận động, phát triển không ngừng sẽ mâu thuẫn với tính "đứng
im" tương đối của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất từ chỗ là "hình thức phù hợp",
"tạo địa bàn" phát triển của lực lượng sản xuất trở thành "xiềng xích" kìm hãm sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Đòi hỏi tất yếu của nền sản xuất xã hội là phải xóa bỏ
quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất đã phát triển.
Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một kiểu quan hệ sản xuất mới trong lịch
sử, quyết định nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất. Bằng năng lực nhận thức và
thực tiễn, con người phát hiện và giải quyết mâu thuẫn, thiết lập sự phù hợp mới làm
cho quá trình sản xuất phát triển đạt tới một nấc thang cao hơn. Khi mâu thuẫn đến
mức gay gắt, QHSX cũ bị xóa bỏ, QHSX mới ra đời phù hợp hơn.
1.2.3: Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Do quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính độc lập tương
đối nên tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất. Vai trò của quan hệ sản
xuất đối với lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua sự phù hợp biện chứng giữa
quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất là một trạng thái trong đó
quan hệ sản xuất là "hình thức phát triển" của lực lượng sản xuất và
“tạo địa bàn đầy đủ" cho lực lượng sản xuất phát triển. Sự phù hợp bao gồm:
Sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất; giữa các yếu tố
cấu thành quan hệ sản xuất; giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất.
Tạo điều kiện tối - ưu cho việc sử dụng và kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất
Tạo điều kiện hợp lý cho người lao động sáng tạo trong sản xuất và hưởng thụ
thành quả vật chất, tinh thần của lao động.
Quan hệ sản xuất "đi sau" hay "vượt trước" trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
đều là không phù hợp. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất: nền sản
xuất phát triển đúng hướng, quy mô sản xuất được mở rộng; những thành tựu khoa học
và công nghệ được áp dụng nhanh chóng; người lao động nhiệt tình, hăng hái sản xuất,
lợi ích của người lao động được đảm bảo và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.Nếu
quan hệ sản xuất không phù hợp: kìm hãm, thậm chí phá hoại LLSX . Tuy nhiên, sự
kìm hãm đó chỉ diễn ra trong những giới hạn, với những điều kiện nhất định.
Trạng thái vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và QHSX diễn
ra là từ phù hợp đến ko phù hợp, rồi đến sự phù hợp mới ở trình độ cao hơn. C. Mác
khẳng định: "Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật
chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có. Khi đó bắt đầu thời đại
một cuộc cách mạng xã hội"
Ví dụ: Cuộc Cách mạng công nghiệp ở Anh và Tây Âu :
a, Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Trước thế kỷ XVIII, xã hội Tây Âu chủ yếu là phong kiến, với:
Lực lượng sản xuất: công cụ lao động thô sơ (thủ công, nông nghiệp là chủ yếu).
Quan hệ sản xuất: sở hữu ruộng đất thuộc về lãnh chúa, nông dân bị ràng buộc
trong quan hệ địa tô, lao dịch.
Khi lực lượng sản xuất phát triển (xuất hiện kỹ thuật mới, buôn bán mở rộng, tích lũy
vốn tư bản), quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của
sản xuất hàng hóa và công nghiệp.
Mâu thuẫn giữa LLSX mới và QHSX phong kiến cũ ngày càng gay gắt, dẫn tới các
cuộc cách mạng tư sản (Anh 1640, Pháp 1789) từ đó xóa bỏ QHSX phong kiến, thiết
lập QHSX tư bản chủ nghĩa phù hợp hơn.
→ Đây là biểu hiện của quy luật: QHSX phải thay đổi để phù hợp với trình độ phát triển của LLSX.
b, Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
Khi máy hơi nước, máy dệt, lò cao, máy kéo sợi ra đời, LLSX đã vượt xa khuôn
khổ sản xuất thủ công nhỏ lẻ.
QHSX phong kiến (phân chia theo lãnh địa, chế độ nông nô) không còn phù hợp
với yêu cầu của sản xuất công nghiệp.
Tầng lớp tư sản công nghiệp (chủ xưởng, thương nhân) và giai cấp vô sản (công
nhân) ra đời → QHSX tư bản chủ nghĩa hình thành.
→ LLSX mới đã quyết định sự ra đời của QHSX mới – xã hội tư bản thay thế xã hội phong kiến.
c, Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
QHSX tư bản chủ nghĩa (chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, tự do cạnh tranh,
quan hệ thuê mướn lao động) đã:
Giải phóng sức lao động khỏi sự ràng buộc phong kiến.
Kích thích sáng kiến, sáng tạo.
Tạo động lực mạnh mẽ cho LLSX phát triển nhanh chóng: công nghiệp, giao thông, thương nghiệp bùng nổ.
Tuy nhiên, về sau khi mâu thuẫn trong QHSX tư bản chủ nghĩa (giữa tư bản và lao
động làm thuê) trở nên sâu sắc, nó lại kìm hãm sự phát triển của LLSX, dẫn đến xu
hướng cải cách xã hội và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ đó QHSX có thể vừa thúc
đẩy, vừa kìm hãm LLSX, tùy theo mức độ phù hợp.
1.3 : Ý nghĩa của phương pháp luận :
Ý nghĩa mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất: Mối
quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có ý nghĩa quan trọng
đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Thứ nhất, mối quan hệ này thể hiện tính quy luật của sự phát triển của xã hội. Lực
lượng sản xuất là cơ sở, quyết định quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất
phát triển mạnh mẽ hơn, ngược lại quan hệ sản xuất lạc hậu sẽ kìm hãm sự phát
triển của lực lượng sản xuất.
Thứ hai, mối quan hệ này thể hiện tính kế thừa và phát triển của xã hội.Trong thực
tiễn, muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết
là phát triển lực lượng lao động và công cụ lao động . Lực lượng sản xuất phát triển
đến một trình độ nhất định sẽ đòi hỏi phải có những quan hệ sản xuất mới phù hợp
để phát huy tác dụng. Muốn xoá bỏ một quan hệ sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ
sản xuất mới phải căn cứ từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, không phải
là kết quả của mệnh lệnh hành chính, của mọi sắc lệnh từ trên ban xuống, mà từ
tính tất yếu kinh tế, yêu cầu khách quan của quy luật kinh tế, chống tuỷ tiện, chủ
quan, duy tâm, duy ý chí . Sự thay đổi của quan hệ sản xuất là tiền đề cho sự thay
đổi của cơ cấu xã hội, hình thái ý thức xã hội và sự hình thành của các hình thái kinh tế - xã hội mới.
Thứ ba, mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định và thực
hiện đường lối phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Để phát triển kinh tế -
xã hội, cần phải phát huy tối đa sức mạnh của lực lượng sản xuất, đồng thời xây
dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất .
Nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong quán triệt, vận
dụng quan điểm, đường lối, chính sách, là cơ sở khoa học để nhận thức sâu sắc sự
đổi mới tư duy kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình cách mạng
Việt Nam, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn luôn quan tâm hàng đầu đến việc nhận thức và vận dụng
dùng dẫn sáng tạo quy luật này, đã đem lại hiệu quả to lớn trong thực tiễn. Nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát, là sự vận
dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất trong phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay .
Chương 2. SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG
SẢN XUẤT VỚI QUAN HỆ SẢN XUẤT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng vận dụng quy luật biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất của Đảng ta hiện nay
2.1.1 Thành tựu :
a) Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại hơn
Trong quá trình vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất, Đảng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đặc biệt trong việc phát
triển lực lượng sản xuất hiện đại. Đây là bước tiến quan trọng thể hiện đường lối đổi
mới đúng đắn và phù hợp với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Đến nay, lực lượng sản xuất của Việt Nam đã có nhiều bước tiến:
1. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh – từ nông nghiệp là chủ yếu sang công nghiệp và dịch vụ.
Cụ thể là tỉ trọng công nghiệp – dịch vụ chiếm hơn 85% GDP (số liệu Tổng cục Thống kê 2024).
2. Trình độ khoa học – công nghệ tăng rõ rệt – phát triển các ngành mới như công
nghệ thông tin, điện tử, năng lượng tái tạo, logistics, thương mại điện tử,...
3. Nguồn nhân lực được nâng cao, tỉ lệ lao động qua đào tạo trên 68% (Bộ LĐTBXH, 2024).
4. Cơ sở hạ tầng kinh tế – kỹ thuật hiện đại hơn, như: cao tốc Bắc – Nam, cảng quốc
tế Cái Mép – Thị Vải, mạng 5G, chính phủ số, ngân hàngsố,…
Tất cả cho thấy lực lượng sản xuất của Việt Nam đang phát triển theo hướng hiện đại,
năng suất hơn, gắn với cách mạng công nghiệp 4.0.
Như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối
quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII, Tập I,
NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021, tr.141)
Nhờ đó, Đảng ta đã từng bước vận dụng đúng đắn quy luật biện chứng giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động, hội nhập quốc
tế và nâng cao đời sống nhân dân.
b) Đổi mới quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất :
Cùng với việc phát triển lực lượng sản xuất, Đảng ta luôn chú trọng đổi mới quan hệ
sản xuất để tạo môi trường thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Đây là sự vận dụng
đúng đắn quy luật biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong điều
kiện Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành và ngày càng
hoàn thiện. Cơ chế thị trường phát huy vai trò điều tiết, khuyến khích sáng tạo, trong
khi Nhà nước giữ vai trò quản lý, bảo đảm định hướng XHCN. Nhờ đó, Việt Nam duy
trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6–7%/năm giai đoạn 2016–2023, thuộc
nhóm cao nhất Đông Nam Á (Bộ KH&ĐT, 2024).
Cơ cấu các thành phần kinh tế có bước chuyển căn bản:
Kinh tế tư nhân đóng góp hơn 42% GDP năm 2023 (Tổng cục Thống kê), trở thành
động lực quan trọng của nền kinh tế, đúng như tinh thần Nghị quyết Trung ương 5
khóa XII (2017). Kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong các lĩnh vực
then chốt như năng lượng, viễn thông, tài chính. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
(FDI) đóng góp khoảng 74% kim ngạch xuất khẩu cả nước, tạo hàng triệu việc làm.
Quan hệ sở hữu và phân phối được đổi mới phù hợp với trình độ phát triển hiện
nay. Cơ chế phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế, kết hợp với chính sách
giảm nghèo, bảo hiểm xã hội, hỗ trợ vùng khó khăn, giúp Việt Nam giảm tỷ lệ
nghèo đa chiều còn dưới 3% năm 2024 (Báo cáo của UNDP và GSO).
Nhìn chung, sự đổi mới quan hệ sản xuất đã góp phần giải phóng và phát huy mạnh
mẽ lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao đời sống nhân dân và vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế.
“Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây
dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII, Tập I, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, 2021, tr.141)
2.1.2 Hạn chế :
a) Lực lượng sản xuất phát triển chưa tương xứng :
(1) Công nghệ – năng suất lao động còn thấp
Trình độ công nghệ ở nhiều ngành còn lạc hậu, tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới công nghệ
thấp. Theo Báo cáo Bộ Khoa học & Công nghệ, tỷ lệ DN tiếp nhận công nghệ cao chỉ
khoảng 20% (2020–2023). Năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn Thái Lan ~2,7
lần, Malaysia ~4,2 lần (Nguồn: Tổng cục Thống kê – GSO, Báo cáo NSLĐ quốc gia 2023).
(2) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm – giá trị gia tăng thấp :
Đa số doanh nghiệp vẫn gia công, giá trị gia tăng thấp. Tỷ trọng công nghiệp chế biến
– chế tạo công nghệ cao còn thấp ~13% sản xuất công nghiệp (Nguồn: Bộ Công
Thương, Báo cáo ngành 2023) . LLSX chưa tạo được năng lực tự chủ về công nghệ.
(3) Nguồn nhân lực chất lượng cao thiếu, phân bổ không hợp lý :
Theo Bộ LĐ–TB&XH 2023, tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ còn thấp khoảng
27-28% . Lao động chất lượng cao không đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa. Do vậy
con người là nhân tố trọng tâm của LLSX tuy vậy chât lượng còn yếu nên LLSX phát triển chưa tương xứng.
(4) Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu mới :
Hạ tầng logistics, số hóa, giao thông còn hạn chế, chi phí logistics cao khoảng 18–20%
GDP (Nguồn: World Bank Vietnam Logistics Report 2023).
LLSX bị giới hạn bởi hạ tầng, gây giảm sức cạnh tranh. Đảng ta cũng chỉ rõ hạn chế
này: “Lực lượng sản xuất phát triển chưa đáp ứng yêu cầu; trình độ khoa học – công
nghệ, đổi mới sáng tạo còn thấp.” (Nguồn: Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, NXB
CTQG – Sự thật, 2021) . Mặc dù Đảng đã đổi mới QHSX theo hướng kinh tế thị
trường định hướng XHCN, nhưng: Thể chế kinh tế, thủ tục hành chính còn rườm rà
dẫn đến sự kìm hãm năng lực LLSX. Kinh tế tư nhân chưa được “mở đường” đầy đủ
dù được xác định là động lực quan trọng. Theo VCCI, nhiều doanh nghiệp tư nhân còn
gặp rào cản pháp lý. Kinh tế nhà nước chưa thật sự phát huy vai trò dẫn dắt, nhiều
DNNN hoạt động kém hiệu quả (Nguồn: Báo cáo Kiểm toán Nhà nước 2023). Tức
QHSX đổi mới chậm hơn yêu cầu của LLSX → tạo “độ vênh”, khiến LLSX phát triển chưa mạnh.
b) Quan hệ sản xuất vẫn còn bất cập
Theo quy luật biện chứng, QHSX phải phù hợp với trình độ phát triển của LLSX. Tuy
nhiên, ở Việt Nam hiện nay, QHSX vẫn còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát
triển mới, dẫn đến việc kìm hãm lực lượng sản xuất.
(1) Công nghệ – năng suất lao động còn thấp :
Trình độ công nghệ ở nhiều ngành còn lạc hậu, tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới công nghệ thấp.
Theo Báo cáo Bộ Khoa học & Công nghệ, tỷ lệ DN tiếp nhận công nghệ cao chỉ
khoảng 20% (2020–2023). Năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn Thái Lan ~2,7
lần, Malaysia ~4,2 lần (Nguồn: Tổng cục Thống kê – GSO, Báo cáo NSLĐ quốc gia
2023). Điều này cho thấy LLSX chưa đủ mạnh để tạo bước nhảy về sản xuất.
(2) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm – giá trị gia tăng thấp
Đa số doanh nghiệp vẫn gia công, giá trị gia tăng thấp.
Tỷ trọng công nghiệp chế biến – chế tạo công nghệ cao còn thấp ~13% sản xuất công
nghiệp (Nguồn: Bộ Công Thương, Báo cáo ngành 2023).
LLSX chưa tạo được năng lực tự chủ về công nghệ.
(3) Nguồn nhân lực chất lượng cao thiếu, phân bổ không hợp lý :
Theo Bộ LĐ–TB&XH 2023, tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ còn thấp (~27–
28%). Lao động chất lượng cao không đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa.
Con người là nhân tố trọng tâm của LLSX → còn yếu → LLSX phát triển chưa tương xứng.
(4) Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu mới :
Hạ tầng logistics, số hóa, giao thông còn hạn chế, chi phí logistics cao khoảng 18–20%
GDP (Nguồn: World Bank Vietnam Logistics Report 2023).
LLSX bị giới hạn bởi hạ tầng, gây giảm sức cạnh tranh.
2.2. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế :
2.2.1 Thành tựu :
• Thứ nhất, đường lối đổi mới đúng đắn và sáng tạo của Đảng.
Từ Đại hội VI (1986), Đảng ta đã khởi xướng công cuộc Đổi mới, chuyển từ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chủ trương này giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi nguồn lực xã hội, tạo tiền đề
cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Nhờ đó, lực lượng sản xuất được “cởi trói”, kinh tế tư nhân được khuyến khích, kinh
tế nhà nước đổi mới vai trò, còn quan hệ sản xuất dần trở nên linh hoạt, phù hợp hơn
với thực tiễn phát triển.
• Thứ hai, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với hội nhập quốc tế.
Việt Nam đẩy mạnh các chương trình chuyển đổi số, phát triển năng lượng sạch, công
nghệ cao và mở rộng hợp tác toàn cầu.
Ví dụ, chiến lược “Make in Vietnam” (2020), Quy hoạch điện VIII (2023), Chương
trình Chuyển đổi số quốc gia 2020–2025.
Các chính sách này giúp Việt Nam tiếp cận nhanh công nghệ mới, hình thành lực
lượng sản xuất hiện đại và góp phần định hình lại quan hệ sản xuất theo hướng mở, năng động hơn.
• Thứ ba, cải cách thể chế và hệ thống pháp luật kinh tế ngày càng hoàn thiện.
Nhà nước ban hành và sửa đổi hàng loạt Luật Doanh nghiệp, Đầu tư, Đất đai, Hợp tác
xã, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, bảo đảm quyền sở hữu, quyền bình đẳng trong
sản xuất – kinh doanh. Đây là yếu tố quyết định giúp quan hệ sản xuất phù hợp với sự
phát triển của lực lượng sản xuất, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thu hút vốn và công nghệ mới.
• Thứ tư, chú trọng phát triển nguồn nhân lực và khoa học – công nghệ.
Việt Nam đầu tư mạnh vào giáo dục, với chi ngân sách khoảng 4,3% GDP (UNESCO,
2024), nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên hơn 68% (Bộ LĐTBXH, 2024). Cùng với sự
chuyển dịch sang các ngành công nghệ thông tin, năng lượng, logistics…, lực lượng
lao động Việt Nam ngày càng có trình độ cao, đáp ứng được yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại.
• Thứ năm, vai trò điều tiết, quản lý của Nhà nước được đổi mới.
Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất như trước, mà điều tiết
bằng pháp luật, chính sách, quy hoạch, bảo đảm định hướng XHCN, ổn định vĩ mô và
công bằng xã hội. Cách quản lý mới này giúp duy trì sự hài hòa giữa hiệu quả kinh tế
và mục tiêu xã hội, đồng thời bảo đảm quan hệ sản xuất phát triển phù hợp, không đi
chệch hướng xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, thành tựu đạt được là kết quả của sự vận dụng sáng tạo quy luật biện chứng
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Đảng ta đã nhận thức đúng, hành động
kịp thời và linh hoạt, nhờ đó tạo được sức bật cho nền kinh tế Việt Nam phát triển năng
động, hội nhập sâu rộng và bền vững hơn.
2.2.2 Hạn chế :
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, việc vận dụng quy luật giữa lực lượng sản xuất
(LLSX) và quan hệ sản xuất (QHSX) ở Việt Nam hiện nay vẫn còn một số hạn chế,
chủ yếu xuất phát từ các nguyên nhân sau:
• Thứ nhất, lực lượng sản xuất phát triển chưa đồng bộ và chưa cao.
Năng suất lao động còn thấp so với khu vực, trung bình khoảng 7,3 USD/giờ lao động
(2023, ILO), thấp hơn nhiều so với Thái Lan (18 USD) hay Malaysia (21 USD).
Một số ngành còn phụ thuộc nhiều vào công nghệ nhập khẩu, trong khi năng lực sáng
tạo và đổi mới công nghệ trong nước chưa phát triển mạnh.
Cơ cấu lao động chưa hợp lý, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn (20% lao động
nhưng chỉ đóng góp 14% GDP, GSO 2024).
• Thứ hai, quan hệ sản xuất còn bất cập ở một số lĩnh vực.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chưa cao, một số doanh nghiệp yếu
kém, nợ xấu. Một số cơ chế quản lý kinh tế vẫn còn hành chính hóa, quan liêu, chưa
thực sự thúc đẩy sáng tạo, cải tiến, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao và kinh tế
số. Chênh lệch giàu – nghèo và vùng miền vẫn còn lớn: thu nhập bình quân vùng đồng
bằng cao gấp 2–3 lần vùng miền núi; khoảng 12% dân số sống gần mức nghèo (GSO 2024).
• Thứ ba, vận dụng quy luật chưa đồng bộ và kịp thời.
Một số chính sách, pháp luật chưa bắt kịp các công nghệ mới, kinh tế số và lao động tự
do, dẫn đến một bộ phận lực lượng sản xuất chưa được giải phóng tối đa.
Một số cán bộ, quản lý chưa hiểu sâu về quy luật biện chứng, dẫn đến áp dụng hình
thức, chậm triển khai cải cách, làm quan hệ sản xuất chưa hoàn toàn phù hợp với lực lượng sản xuất.
Nhìn chung, hạn chế xuất phát từ sự phát triển lực lượng sản xuất chưa đồng bộ, quan
hệ sản xuất chưa hoàn toàn phù hợp, và việc vận dụng quy luật còn chậm, nếu không
tiếp tục điều chỉnh kịp thời có thể ảnh hưởng đến tốc độ phát triển bền vững của nền kinh tế.
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa việc vận dụng quy luật biện chứng giữa
lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của Đảng ta hiện nay :
2.3.1 Đào tạo nghề, STEM, kỹ năng số; liên kết doanh nghiệp – trường học; đầu tư R&D.:
Trước hết, đào tạo nghề, STEM và kỹ năng số giúp người lao động nắm vững kiến
thức công nghệ và thao tác thực hành. Khi người học được trang bị năng lực kỹ thuật
tốt hơn, họ có thể vận hành thiết bị hiện đại, tiếp cận công nghệ mới, từ đó nâng cao
năng suất và chất lượng sản phẩm.
Tiếp theo, việc liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo cho phép doanh nghiệp
tham gia vào quá trình xây dựng chương trình, hướng dẫn thực hành và tuyển dụng.
Cách làm này bảo đảm nội dung học sát với thực tế sản xuất; sinh viên làm quen môi
trường công việc ngay từ khi học, nên khi ra trường có thể nhanh chóng bắt kịp công
việc và giảm chi phí đào tạo lại cho doanh nghiệp → hiệu quả là thị trường có nguồn
lao động phù hợp nhu cầu.
Cuối cùng, tăng đầu tư R&D tạo điều kiện để nghiên cứu ứng dụng và đổi mới công
nghệ. Khi hoạt động nghiên cứu mạnh, doanh nghiệp có thể tạo ra sản phẩm mới, cải
tiến quy trình sản xuất và nâng cao giá trị gia tăng. Hiệu quả mang lại là lực lượng sản
xuất có khả năng tiếp cận công nghệ cao, cạnh tranh tốt hơn và chuyển dịch từ gia công sang sáng tạo.
Ba yếu tố này kết hợp với nhau: đào tạo → ứng dụng trong thực tế → đổi mới công
nghệ, tạo thành chuỗi liên tục giúp lực lượng sản xuất phát triển theo hướng hiện đại và bền vững. Ví dụ :
Samsung Việt Nam – đầu tư R&D kết hợp đào tạo kỹ sư công nghệ. Samsung đã xây
dựng Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển (R&D) tại Hà Nội với mục tiêu đào tạo và sử
dụng đội ngũ kỹ sư Việt Nam trong các lĩnh vực AI, 5G, Big Data…Trung tâm này
không chỉ nghiên cứu mà còn liên kết đào tạo với các trường đại học kỹ thuật, cung cấp
chương trình thực tập – đào tạo kỹ năng số và kỹ thuật thực tế cho sinh viên.
Hiệu quả đạt được: Hình thành đội ngũ kỹ sư Việt Nam tham gia trực tiếp vào các dự
án công nghệ cao của Samsung. Nâng cao năng lực công nghệ nội địa, góp phần tạo
việc làm chất lượng cao trong ngành điện tử - CNTT. Thúc đẩy chuyển dịch từ gia
công sang tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ.
2.3.2 Khuyến khích kinh tế tư nhân, FDI, doanh nghiệp hợp tác :
Trước hết, khi Nhà nước tạo môi trường pháp lý thông thoáng, hỗ trợ vốn và cải cách
thủ tục, khu vực tư nhân có động lực mở rộng quy mô, đầu tư công nghệ và cải tiến
quản trị. Việc mở rộng đầu tư và đổi mới công nghệ giúp doanh nghiệp nâng cao năng
suất, hạ chi phí và cải thiện chất lượng sản phẩm, từ đó làm tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đối với FDI, khi doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, họ mang theo công
nghệ hiện đại, quy trình quản lý – sản xuất tiên tiến và tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.
Tuy nhiên, tác động không tự sinh ra; nó chỉ phát huy khi có hợp tác – liên kết giữa
FDI và doanh nghiệp trong nước. Thông qua hoạt động tư vấn kỹ thuật, đào tạo nhân
lực và tiêu chuẩn hóa sản xuất, doanh nghiệp nội địa học được cách tổ chức dây
chuyền, kiểm soát chất lượng và quản lý nhân lực. Khi năng lực nội tại được nâng lên,
họ mới có thể trở thành nhà cung ứng trong chuỗi giá trị, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn
và đó chính là cơ chế hình thành hiệu quả.
Ví dụ : Hợp tác giữa VinFast và các doanh nghiệp linh kiện trong nước
VinFast trong quá trình phát triển ô tô – xe máy điện đã chủ động hợp tác với nhiều
doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực linh kiện, thông qua việc:
Đặt hàng sản xuất theo tiêu chuẩn cao
Cử chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn cải tiến quy trình
Yêu cầu doanh nghiệp nội địa áp dụng hệ thống quản lý chất lượng quốc tế
Nhờ cơ chế này, các doanh nghiệp linh kiện trong nước nắm bắt công nghệ, cải thiện
quy trình sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn công nghiệp ô tô hiện đại.
Hệ quả: Một số doanh nghiệp Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp trực tiếp cho
VinFast, góp phần tăng tỷ lệ nội địa hóa trong sản xuất ô tô; trình độ sản xuất → chất
lượng sản phẩm → năng suất đều được nâng lên.
Ở đây, hiệu quả không tự có, mà do chuyển giao kỹ thuật ,yêu cầu tiêu chuẩn , cùng
với hỗ trợ quy trình tạo ra doanh nghiệp nội phát triển năng lực tham gia chuỗi cung ứng.