


















Preview text:
17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------------------------
KHOA: LUẬT QUỐC TẾ LỚP: TMQT 47
MÔN HỌC: CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: Bình luận các hoạt động quân sự và bán quân sự
tại Nicaragua (Nicaragua v. Mỹ), ICJ, 1984
Giáo viên giảng dạy: ThS. Lê Minh Nhựt STT HỌ VÀ TÊN MSSV
01 Lê Thị Thanh Thảo (nhóm trưởng) 1953801090096 02 Đỗ Minh Tường An 2253801090001 03 Nguyễn Ngọc Vân Anh 2253801090005 04 Võ Nguyễn Gia Hoà 2253801090030 05 Vũ Ngọc Huy 2253801090034 06 Trần Kim Ngân 2253801090053 07 Nguyễn Lê Minh Phương 2253801090075 08 Trịnh Phương Quỳnh 2253801090079 09 Lê Đình Phương Trâm 2253801090091 10 Nguyễn Khánh Bảo Trân 2253801090092
TP. Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 4 năm 2023 1 M C L C 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu MỤC LỤC
I. TÓM TẮT VỤ VIỆC .............................................................................................. 3
1.1. Tóm tắt sự kiện .................................................................................................. 3
1.2. Lập luận của các bên ......................................................................................... 5
1.2.1. Lập luận của nguyên đơn (Nicaragua) ......................................................... 5
1.2.2. Lập luận của bị đơn (Mỹ) ............................................................................. 7
1.3. Lập luận và phán quyết của Tòa án .................................................................. 8
1.3.1. Lập luận của Tòa án .................................................................................... 8
1.3.2. Tòa án đưa ra phán quyết đối với vụ tranh chấp .......................................... 9
II. TRÌNH BÀY QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM ........................................................... 10
2.1. Quan điểm của học giả về vụ án...................................................................... 10
2.2. Quan điểm của Tòa án hoặc đương sự về vụ việc tương tự ............................ 12
2.2.1. Phán quyết của cơ quan tài phán và vụ việc có liên quan ........................... 12
2.2.2. Lập luận của các bên ................................................................................. 12
2.2.3. Phán quyết của Tòa ................................................................................... 12
2.3. Quan điểm của nhóm ...................................................................................... 13
2.4. Bài học kinh nghiệm ....................................................................................... 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 17 2 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
I. TÓM TẮT VỤ VIỆC
1.1. Tóm tắt sự kiện
Một chính quyền thân Mỹ đã được thành lập tại Nicaragua, dẫn đến sự xác lập của
nhiều Hiệp ước giữa 2 quốc gia trên. Do những hiệp ước này đã trao cho Mỹ quá nhiều
đặc quyền về giao thương, giao thông vận tải, thương mại cũng như khai thác tài nguyên
ở Nicaragua nên trong suốt 7 năm (1927 - 1934) đã xuất hiện cuộc nổi dậy ở Nicaragua,
buộc thủy quân lục chiến Mỹ phải rút khỏi đất nước này. Mỹ đã thiết lập hình tượng
nguyên thủ quốc gia cho Somoza - người đứng đầu lực lượng cảnh sát Quốc gia. Nhưng
dần dần ông đã trở thành một nhà lãnh đạo độc tài của Nicaragua.
Năm 1972, một trận động đất ở Nicaragua đã tàn phá quốc gia này trên diện rộng.
Với mục đích giúp đỡ những người dân bị ảnh hưởng, không màng giai cấp xã hội của
họ, Mặt trận Giải phóng Dân tộc Sandinista đã trở thành một tổ chức nổi bật chuyên cung
cấp viện trợ trong khoảng thời gian sau trận động đất năm ấy. Tuy nhiên, tổ chức này dần
đi quá giới hạn và biến thành một cuộc bạo loạn chống lại chính quyền độc tài dưới trướng của Somoza.
(Trận động đất tại Nicargua 1972. Nguồn: https://plo.vn/dong-dat-o-nicaragua-lan-
sang-nhieu-nuoc-post273836.html)
Hội đồng Tái thiết Quốc gia trở thành chính phủ lâm thời của Nicaragua từ khi chế
độ độc tài Somoza sụp đổ vào tháng 7 năm 1979. Mặt trận giải phóng dân tộc Sandino là
biểu trưng cho sự đoàn kết của Mặt trận giải phóng dân tộc và những nhóm du kích cánh
tả và chính nó cũng đã phế truất chế độ Somoza. Những chiến lược gia Hoa Kỳ đã quan
ngại sâu sắc về sự thay đổi trong chế độ chính quyền này. Hoa Kỳ đã nghi ngờ rằng Xô
Viết đã nhúng tay vào hệ thống chính quyền mới này, làm ảnh hưởng đến quan hệ ngoại
giao và kinh tế mật thiết, lâu đời giữa Hoa Kỳ và những nước thuộc Trung Mỹ. 3 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
Dưới thời cầm quyền của Jimmy Carter, nhằm ngăn chặn sự ảnh hưởng của Xô Viết,
Hoa Kỳ đã viện trợ rất nhiều về mặt kinh tế cho Nicaragua với hy vọng rằng sự giúp đỡ
này sẽ biến Nicaragua thành một quốc gia dân chủ tự do và đồng thời cũng ngăn chặn
được sự ảnh hưởng chế độ sự du nhập của tư tưởng Cộng sản.
(Tổng thống Jimmy Carter. Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Jimmy_Carter)
Tuy dưới thời Jimmy Carter, Hoa Kỳ và Nicaragua đã thiết lập được mối quan hệ
tương đối tốt đẹp nhưng nó dần trở nên căng thẳng và trở nên đối kháng nhau dưới thời
của Ronald Reagan. Phe Hoa Kỳ đã tìm thấy được những bằng chứng buộc tội Nicaragua
giúp đỡ những nhóm du kích cánh tả ở El Salvador, sau đó Ronald Reagan đã quả quyết
rằng chính quyền Nicaragua đã ngắt nguồn cung vũ khí của quân đối kháng Salvadore.
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng đã bí mật hỗ trợ những đội du kích chống Mặt trận giải phóng
dân tộc Sandino kể từ 1981.
Vào tháng 9/1981, Nicaragua cho rằng Mỹ đã có những kế hoạch và hoạt động làm
phương hại đến lợi ích quốc gia, bao gồm hoạt động vũ trang được thiết lập nhằm chống
lại chính quyền đã được xây dựng ở Nicaragua. Chịu trách nhiệm cho những hoạt động
này là FDN (Lực lượng Dân chủ Nicaragua) và ARDE (Liên minh Cách mạng Dân chủ);
trong đó, FDN chiếm đóng dọc biên giới Honduras còn ARDE thì dọc biên giới Costa
Rica. Hậu thân của hai tổ chức này là Contras - một tổ chức phản động được xây dựng
một cách bí mật, nhằm mục đích lật đổ Mặt trận Giải phóng Dân tộc Sandinista (FSLN)
và tiếp tục, củng cố vị thế của chính quyền độc tài đương thời.
Dù vậy, Ronald Reagan đã thể hiện thái độ ủng hộ công khai với những nỗ lực đàm
phán với Contadora. Năm 1984, Bộ trưởng George Schultz đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ hy
vọng có thể ký kết một hiệp ước cùng Nicaragua nhằm giảm thiểu tiềm lực quân sự của 4 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
đất nước này và chấm dứt sự viện trợ cho những đội du kích của El Salvador. Cũng như
là loại bỏ Cuba và những cố vấn quân sự thuộc Xô Viết và tái khẳng định sự cam kết của
chính phủ Nicaragua về nhân quyền.
Tuy nhiên, vào 1984, giới báo chí địa phương lại chỉ ra những bằng chứng cho thấy
Hoa Kỳ đã can thiệp vào công việc khai thác mỏ ở các cảng thuộc Nicaragua. Trọng tâm
của các cáo buộc của Nicaragua lên Tòa án Công lý Quốc tế là những hoạt động khai thác
mỏ của Hoa Kỳ lên nước này.
10/5/1984, Tòa án Công lý Quốc tế đã chấp nhận đơn kiện của Nicaragua.
1.2. Lập luận của các bên
1.2.1. Lập luận của nguyên đơn (Nicaragua)
Nicaragua đưa ra các chứng cứ chứng minh Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) có
đầy đủ thẩm quyền để giải quyết tranh chấp.
Nicaragua đơn phương gửi đơn kiện tới Tòa đã dưa chu yê u vao Điều khoản tùy chọn
(optional clause) theo khoản 2, Điều 36 cua Quy chê Toa an Quốc tế: Thẩm quyền của
ICJ còn được xác định thông qua tuyên bố của các quốc gia chấp nhận thẩm quyền xét xử
của Tòa (như là một nghĩa vụ bắt buộc) trong quan hệ với bất kỳ quốc gia nào khác cũng
chấp nhận những nghĩa vụ tương tự, trong tất cả các tranh chấp liên quan đến những vấn
đề được liệt kê tại Điều 36, khoản 2[…] Tuyên bố của các quốc gia công nhận thẩm
quyền của ICJ dựa trên nguyên tắc có đi có lại. Tức là thẩm quyền của Tòa chỉ tồn tại
trong phạm vi những đồng thuận trong tuyên bố của các bên về vấn đề được đưa ra.
Dựa trên Hiêp ươc hưu nghi, Thương ma i va Hang hai giưa Hoa Kỳ va Nicaragua: Nicaragua chư
ng minh ră ng, ca họ va Hoa Kỳ đa cung có tuyên bố được đưa ra theo điều
khoản tùy chọn và cùng chịu sự ràng buộc của những vấn đề trong Hiệp ước này.
Do đó, Tòa án Quốc tế có đủ thẩm quyền giải quyết những vấn đề về hữu nghị,
thương mại và hàng hải giữa hai quốc gia.
Nicaragua buộc tội Hoa Kỳ đã vi phạm nghĩa vụ trong các hiệp ước đã ký với Nicaragua.
Qua việc tuyển dụng, đào tạo, trang bị vũ khí, viện trợ tài chính, khuyến khích, hỗ
trợ, giúp đỡ và chỉ đạo các hoạt động quân sự, bán quân sự chống lại Nicaragua. Ngoài
ra, là các cuộc tấn công của Hoa Kỳ trên lãnh thổ Nicaragua và ban hành lệnh cấm vận về
thương mại với nước này vào ngày 01/5/1985; và đã có sự tính toán để làm sai lệch đi
mục đích của Hiệp ước hữu nghị Thương mại và Hàng hải giữa Hoa Kỳ và Nicaragua ký
kết tại Managua ngày 21/01/1956. 5 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
Điều này là hành vi vi phạm các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng mà cả hai nước
đều là thành viên như khoản 4 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc; Điều 18 và Điều 20
Hiến chương của Tổ chức các quốc gia châu Mỹ; Điều 8 của Công ước Montevideo năm
1933 về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia (Montevideo Convention on the Rights and Duties of States)...
Các hành vi của Hoa Kỳ đã cấu thành nên sự vi phạm luật pháp quốc tế.
Cụ thể, Nicaragua cáo buộc Hoa Kỳ đã xâm phạm chủ quyền của nước này qua việc
tiến hành các cuộc tấn công vũ trang chống lại Nicaragua bằng đường hàng không, đường
bộ và đường biển. Hơn nữa, Hoa Kỳ đã tiến hành việc xâm nhập vào vùng lãnh hải và
không phận của Nicaragua sử dụng các phương cách trực tiếp và gián tiếp đe dọa Chính
phủ Nicaragua. Hành vi này của Hoa Kỳ đã vi phạm nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia.
Hoa Kỳ đã sử dụng vũ lực và đe dọa vũ lực chống lại Nicaragua; giết chết, làm
bị thương và bắt cóc công dân của Nicaragua. Nicaragua cáo buộc Hoa Kỳ đã mở hàng
loạt cuộc tấn công trên lãnh thổ Nicaragua trong các năm 1983 và 1984, bao gồm cuộc
tấn công vào Puerto Sandino ngày 13/9 và ngày 14/10/1983; cuộc tấn công vào Corinto
ngày 10/10/1983; cuộc tấn công vào căn cứ hải quân Potosi ngày 04 và 05/01/1984;
cuộc tấn công vào San Juan del Sur ngày 07/3/1984; cuộc tấn công vào tàu tuần tra tại
Puerto Sandino ngày 28 và ngày 30/3/1984; và một cuộc tấn công vào San Juan del
Norte ngày 09/4/1984. Hoa Kỳ cũng đã đặt bom trong nội thủy và lãnh thổ của
Nicaragua, cụ thể là ở các cảng của nước này trong những tháng đầu năm 1984, phá hủy
các cây cầu, tấn công nhà máy, tàu thuyền đánh cá, bệnh viện, trường học, bể chứa dầu...
Đây là những hành động vi phạm nghĩa vụ của Hoa Kỳ theo tập quán pháp luật quốc tế là
không sử dụng vũ lực chống lại nước khác.
Cuối cùng, Hoa Kỳ đã can thiệp vào công việc nội bộ của nước này. Hoa Kỳ thông
qua việc đào tạo, trang bị vũ trang, tài chính và viện trợ cho lực lượng Contras hoặc
khuyến khích, hỗ trợ, giúp đỡ các hoạt động quân sự, bán quân sự tại Nicaragua; có hành
động chống lại nước Cộng hòa Nicaragua, vi phạm nghĩa vụ theo tập quán pháp luật quốc
tế là không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Vì những lẽ trên,
Nicaragua yêu cầu dừng tất cả những hành động trên và rằng Hoa Kỳ có nghĩa vụ bồi
thường cho chính phủ tổn thất về người, tài sản, và kinh tế. 6 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
(Nguồn: https://nghiencuuquocte.org/2016/01/18/my-phot-lo-toa-an-cong-ly-quoc-te/)
1.2.2. Lập luận của bị đơn (Mỹ)
Hoa Kỳ đã đưa ra lập luận rằng Nicaragua không được xem là một bên tham gia vào
thẩm quyền xét xử của Toà án. Hoa Kỳ chỉ ra rằng Nicaragua chưa bao giờ gửi một văn
kiện phê chuẩn về việc chấp thuận với Thư ký của Hội Quốc Liên. Sau đó, Hoa Kỳ đã lập
luận rằng Tuyên bố ngày 24/9/1929 của Nicaragua chưa bao giờ có hiệu lực. Điều đó dẫn
đến việc khẳng định rằng Nicaragua chưa bao giờ chấp nhận thẩm quyền xét xử bắt buộc
của Thường trực Pháp viện quốc tế. Do đó, những tuyên bố dựa trên cơ sở của Điều 36
Quy chế Thường trực Pháp viện quốc tế là không thể áp dụng và không thể được dùng để
làm cơ sở cho thẩm quyền đối với đơn kiện của Nicaragua.
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cho rằng Toà án nên từ chối việc yêu cầu chỉ ra các biện pháp
tạm thời vì một số “lý do thuyết phục” bởi vì các quyền và lợi ích của các quốc gia Trung
Mỹ sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp và Toà án không thể tiến hành đúng cách trong trường hợp
vắng mặt của các bên không thể thiếu này.
Ngoài ra, Hoa Kỳ đã thông báo với Toà án rằng các quốc gia Trung Mỹ, các quốc gia
khác trong trong khu vực, Tổ chức các Quốc gia Châu Mỹ và Liên Hợp Quốc đã khởi
xướng một quá trình đàm phán toàn khu vực được gọi là Contadora Process mà có thể bị
ảnh hưởng bởi các thủ tục pháp lý chính thức giữa các quốc gia tham gia. Trên cơ sở này,
Hoa Kỳ tuyên bố rằng việc chỉ ra các biện pháp tạm thời có thể gây phương hại không
thể khắc phục được đối với lợi ích của một số quốc gia và can thiệp nghiêm trọng vào các
cuộc đàm phán đang được tiến hành theo Contadora Process. 7 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
1.3. Lập luận và phán quyết của Tòa án
1.3.1. Lập luận của Tòa án
Tòa án đã tìm thấy bằng chứng về việc buôn bán vũ khí giữa Nicaragua và quân nổi
dậy ở El Salvador từ năm 1979 đến năm 1981. Tuy nhiên, không có đủ bằng chứng cho
thấy chính phủ Nicaragua phải chịu trách nhiệm về việc này. Tòa án cũng nhận thấy rằng
một số vụ xâm nhập xuyên biên giới vào lãnh thổ Guatemala và Costa Rica, vào năm
1982, 1983 và 1984, là do Chính phủ Nicaragua quy trách nhiệm. Tuy nhiên, cả
Guatemala và Costa Rica đều không đưa ra bất kỳ yêu cầu nào về sự can thiệp của Hoa
Kỳ; El Salvador đã làm vào năm 1984, ngay sau khi Hoa Kỳ can thiệp đơn phương.1
Đối với El Salvador, Tòa án cho rằng theo luật quốc tế thông thường, việc cung cấp
vũ khí cho phe đối lập ở một Quốc gia khác không cấu thành một cuộc tấn công vũ trang
vào Quốc gia đó. Đối với Honduras và Costa Rica, Tòa án tuyên bố rằng, trong trường
hợp không có thông tin đầy đủ về các cuộc xâm nhập xuyên biên giới vào lãnh thổ của
hai quốc gia đó từ Nicaragua, rất khó để quyết định liệu chúng có cấu thành một cuộc tấn
công vũ trang của Nicaragua một cách đơn lẻ hay tập thể hay không, có thể được dựa vào
để biện minh cho việc thực hiện quyền tự vệ tập th2ể .
Không có bằng chứng rõ ràng nào cho thấy Hoa Kỳ thực sự đã thực hiện một mức độ
kiểm soát như vậy để biện minh cho việc coi phe Contras là hành động thay mặt cho
mình... Sau khi đi đến kết luận trên, Tòa án cho rằng phe Contras vẫn phải chịu trách
nhiệm về hành vi của mình, đặc biệt là những cáo buộc vi phạm luật nhân đạo của họ. Để
Hoa Kỳ chịu trách nhiệm pháp lý, phải chứng minh rằng Nhà nước đó đã kiểm soát hiệu
quả các hoạt động trong quá trình thực hiện các hành vi vi phạm bị cáo buộc.
Tòa án đã ra phán quyết với 11 phiếu thuận rằng Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ
việc trên cơ sở Điều 36 của Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế (tức là quyền tài phán bắt
buộc) hoặc Hiệp ước Hữu nghị, Thương mại và Hàng hải năm 1956 giữa Hoa Kỳ và
Nicaragua. Hiến chương quy định rằng, trong trường hợp có nghi ngờ, Tòa án sẽ tự quyết
định xem mình có quyền tài phán hay không và mỗi thành viên của Liên hợp quốc cam
kết tuân thủ quyết định của Tòa án. Tòa án cũng nhất trí phán quyết rằng trường hợp hiện
tại đã được chấp nhận.3 Hoa Kỳ sau đó tuyên bố rằng họ đã "quyết định không tham gia
vào các thủ tục tố tụng tiếp theo trong trường hợp này." Khoảng một năm sau phán quyết
về thẩm quyền của Tòa án, Hoa Kỳ đã thực hiện một bước triệt để hơn nữa là rút lại sự
đồng ý của mình đối với thẩm quyền bắt buộc của Tòa án, chấm dứt cam kết pháp lý 40
1 Các hoạt động quân sự và bán quân sự trong và chống lại Nicaragua (Nicaragua v. United States of America) ,
Jurisdiction and Admissibility, 1984 ICJ REP. 392 27-6-1986.
2 Tòa án Công lý Quốc tế (1986-06-27). "Các hoạt động quân sự và bán quân sự trong và chống lại Nicaragua
(Nicaragua kiện Hợp chủng quốc Hoa Kỳ)" (PDF) . icj-cij.org .
3 Hoa Kỳ quyết định không tham gia vào sự kiện của dự án thế giới do Nicaragua khởi xướng". Biên niên sử LHQ . 8 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
năm trước đó đối với việc xét xử quốc tế có tính ràng buộc. Tuyên bố chấp nhận quyền
tài phán bắt buộc chung của Tòa án Công lý Quốc tế đã chấm dứt sau 6 tháng thông báo
chấm dứt do Bộ trưởng Ngoại giao gửi tới Liên Hợp Quốc vào ngày 7 tháng 10 năm 1985.4
Mặc dù Tòa án kêu gọi Hoa Kỳ "chấm dứt và kiềm chế" việc sử dụng vũ lực bất hợp
pháp chống lại Nicaragua và tuyên bố rằng Hoa Kỳ "vi phạm nghĩa vụ của mình theo luật
quốc tế thông thường là không sử dụng vũ lực chống lại một quốc gia khác" và đã ra lệnh
trả tiền bồi thường, Hoa Kỳ từ chối tuân thủ. Với tư cách là thành viên thường trực của
Hội đồng Bảo an, Hoa Kỳ đã có thể ngăn chặn bất kỳ cơ chế thực thi nào của
Nicaragua.5 Vào ngày 03 tháng 11 năm 1986, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua,
với số phiếu 94-3 (El Salvador, Israel và Hoa Kỳ bỏ phiếu chống), một nghị quyết không
ràng buộc thúc giục Hoa Kỳ tuân th6ủ .
1.3.2. Tòa án đưa ra phán quyết đối với vụ tranh chấp
ICJ từ chối lập luận của Mỹ về việc sử dụng quyền tự vệ thập thể để chống lại Nicaragua;
Mỹ đã đào tạo, vũ trang, cung cấp tài chính và nhu yếu phẩm cho lực lượng Contras
và hỗ trợ các hoạt động quân sự và bán quân sự chống lại Nicaragua, và vi phạm nghĩa
vụ theo công pháp quốc tế trong việc không được can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác;
Bằng việc tấn công vào lãnh thổ Nicaragua trong các năm 1983 - 1984 (bao gồm các
cuộc tấn công vào Puerto Sandino ngày 13/9/1983 và 14/10/1983, vào Corinto ngày
10/10/1983, vào căn cứ hải quân Potosi ngày 04 - 05/01/1984, vào San Jan de Sur ngày
07/3/1984, vào các tàu tuần tra ở Puerto Sandino ngày 28/3/1984 và ngày 30/3/1984, vào
San Juan del Norte ngày 09/4/1984), Mỹ đã vi phạm công pháp quốc tế trong việc sử
dụng vũ lực chống lại nước khác;
Với các hành động tấn công trên, Mỹ đã vi phạm chủ quyền của nước khác;
Bằng việc đặt mìn ở nội thủy và lãnh hải của Nicaragua trong những tháng đầu năm
1984, Mỹ đã vi phạm công pháp quốc tế trong việc không được sử dụng vũ lực chống lại
nước khác, không được can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, không được cản
trở thương mại đường biển hòa bình;
4 Robert J. Delahunty, John Yoo (2006). "Quyền hành pháp V. Luật quốc tế". Tạp chí Luật & Chính sách công của Harvard .
5 Constanze Schulte (tháng 1 năm 2004). TUÂN THỦ CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN CÔNG LÝ QUỐC T Ế . tập 81.
New York: Nhà xuất bản Đại học Oxford. trang 282–285.
6 "Các vấn đề về việc thi hành phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế và Luật của Liên hợp quốc" 9 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
Việc đặt mìn, Mỹ đã vi phạm Điều XIX của Hiệp ước hữu nghị, thương mại và hàng
hải giữa Mỹ và Nicaragua ký ở Managua ngày 21/01/1956;
Việc Mỹ thành lập lực lượng Contras đã đi ngược lại những nguyên tắc chung của luật nhân đạo;
Mỹ tấn công Nicaragua và ban hành lệnh cấm vận thương mại với Nicaragua ngày
01/5/1985 là hành động bãi miễn mục tiêu và mục đích của Hiệp định hữu nghị, thương
mại và hàng hải giữa Mỹ và Nicaragua;
Mỹ tấn công và ban hành lệnh cấm vận thương mại với Nicaragua đã vi phạm điều
XIX của Hiệp định hữu nghị, thương mại và hàng hải giữa hai nước;
Mỹ phải ngừng bắn ngay lập tức và kiềm chế các hành động đó;
Mỹ phải bồi thường thiệt hại cho Nicaragua theo công pháp quốc tế;
Mỹ phải bồi thường thiệt hại cho Nicaragua theo Hiệp ước hữu nghị, thương mại và hàng hải.
II. TRÌNH BÀY QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM
2.1. Quan điểm của học giả về vụ án
Về vấn đề Nicaragua khởi kiện Hoa Kỳ trước Toà án Công lý Quốc tế (ICJ) vì hành
vi vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ hiệp ước với Nicaragua7 và vi phạm pháp luật quốc
tế8, Robert Kolb - Giáo sư ngành Công pháp Quốc tế tại Khoa Luật, đại học Geneva đã
nhận xét rằng việc Toà tuyên bố Mỹ thất bại hoàn toàn trong vụ kiện với Nicaragua là
một phán quyết mang tính chất lịch sử không những trong sự phát triển của luật quốc tế
mà còn cả trong quan hệ quốc tế, trở thành một trong những án lệ quan trọng của Toà,
đóng góp cho sự lý giải và phát triển của luật quốc tế. Có ít nhất 3 lý do giải thích cho những nhận xét trên:
Lần đầu tiên, câu hỏi về việc sử dụng vũ lực và gây hấn đã được đặt ra trước Toà và
được xem xét một cách kĩ càng nhất, một điều mà trước đây đã từng được nhắc đến như
7 Vi phạm các điều ước quốc tế sau:
Khoản 4 Điều 2 Hiến chương Liên Hợp Quốc
Điều 18 và 20 của Hiến chương của Tổ chức các quốc gia châu Mỹ
Điều 8 của Công ước về Quyền và Nghĩa vụ của các Quốc gia
Điều I, thứ ba, của Công ước về Quyền và Nghĩa vục của các Quốc gia trong trường hợp Nội chiến
8 Vi phạm pháp luật quốc tế ở các nội dung sau:
Xâm phạm chủ quyền của Nicaragua
Sử dụng vũ lực và đe dọa vũ lực chống lại Nicaragua
Can thiệp vào công việc nội bộ của Nicaragua
Xâm phạm vào tự do biển cả và làm gián đoạn giao thương hàng hải hòa bình
Giết hại, làm thương và bắt cóc công dân của Nicaragua 10 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
là “de maximis non curat praetor”9- những điều nhỏ nhặt không đáng để pháp luật quan tâm.
Không những thế, tranh chấp được đề cập trên liên quan đến mối quan hệ giữa một
cường quốc (một thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an của các quốc gia thống
nhất) với một nước nhỏ nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của cường quốc kia nhưng cuối
cùng thì cường quốc này vẫn bị kết án là đã có các hành vi sai trái. Robelt Kolb nhấn
mạnh rằng “Điều này chỉ có thể xảy ra tại một toà án của công lý, chứ không thể nằm
trong các kế hoạch giải quyết tranh chấp về mặt chính trị”.
Cuối cùng, Toà án đã xử lý một loạt các câu hỏi của luật pháp quốc tế một cách hết
sức cẩn thận, các phán quyết nổi bật về phạm vi và rất chi tiết.
Theo giáo sư, trọng tâm của vụ kiện nằm ở việc Toà đưa ra các quyết định của mình
trong phiên các Biện pháp bảo vệ tạm thời (provisional measure of protection) - một
trong 2 thủ tục tố tụng phát sinh. Toà yêu cầu Hoa Kỳ ngưng phá hoại cảng Nicaragua,
đồng thời tôn trọng chủ quyền cũng như độc lập của Nicaragua. Quyết định này còn buộc
cả 2 phải có nghĩa vụ không làm trầm trọng thêm tranh chấp. Robert Kolb cũng cho rằng
những lời chỉ trích cho rằng Toà đáng lẽ phải đưa ra biện pháp cho cả hai bên tranh chấp
là không có cơ sở. Toà thực sự nói rằng cả hai bên phải kiềm chế những hành động làm
trầm trọng thêm tranh chấp và làm ảnh hưởng các quyền đang bị đe doạ (của cả hai bên).
Mặt khác, Toà chỉ thúc giục Hoa Kỳ không can thiệp vào Nicaragua. Nếu Hoa Kỳ đã yêu
cầu các biện pháp tạm thời chống lại hành động của những người Nicaragua ở Salvador,
thì lẽ ra họ đã yêu cầu các biện pháp tạm thời này. Ngoài ra, ông nhận định rằng việc Toà
đã bác bỏ yêu cầu can thiệp của Salvador là hợp lý và thực tế là yêu cầu can thiệp được
thể hiện rất mơ hồ rằng nó hầu như không đáp ứng được các yêu cầu về thủ tục để được
chấp nhận theo Điều 82 trong Quy tắc làm việc của Toà.
Trong phần kết luận của phán quyết của mình, Toà đã thông qua một phán quyết
được soạn thảo công phu, đặc biệt: phán quyết liên quan đến việc nhắc nhở về nghĩa vụ
giải quyết tranh chấp một cách hoà bình được thống nhất hoàn toàn; phán quyết liên quan
đến vấn đề áp dụng Chính sách Bảo hộ Vandenberg có 11 phiếu thuận so với lại bốn
phiếu chống. Ba thẩm phán bất đồng ý kiến là Thẩm phán Jennings10 của Vương quốc
Anh, Oda11 của Nhật Bản và Schwebel 12 của Mỹ. Thẩm phán Jennings và Oda không
đồng ý chủ yếu về các vấn đề pháp lý (thuộc về thẩm quyền), còn Thẩm phán Schwebel
thì bất đồng về các vấn đề tranh chấp. Giọng điệu đôi khi gay gắt và chống đối quyết liệt
9 Fredrik Danelius (1995), Asian Yearbook of International Law, Volume 5, page 9 - 10
10 Robert Jennings (1986) DISSENTING OPINION OF JUDGE SIR ROBERT JENNINGS, page 534
11 Shigeru Oda (1986), DECLARATION OF JUDGE ODA, page 619
12 Stephen Schwebel(1986), DISSENTING OPINION OF JUDGE SCHWEBEL, page 289 11 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
của Thẩm phán Schwebel là rất đáng tiếc, thay vào đó, việc tự nhìn nhận lại bản thân và
kiềm chế bản thân có thể sẽ được hoan nghênh, hơn nữa không có bất kỳ vị thẩm phán
nào chia sẻ những quan tâm với ông – ngoài những thẩm phán đã nêu ra ý kiến phản đối
kể trên - những thẩm phán phương Tây khác (Thẩm phán Mosler của Cộng hoà Liên
bang Đức và Thẩm phán Ago của Ý) thì bỏ phiếu theo đa số. Điều này là có thể thấy có
một chút gì đó gọi là xấu hổ cho vị thẩm phán này.
2.2. Quan điểm của Tòa án hoặc đương sự về vụ việc tương tự
2.2.1. Phán quyết của cơ quan tài phán và vụ việc có liên quan
Nga và Ukraine đều là thành viên của Công ước về Ngăn ngừa và Trừng phạt tội Diệt
chủng năm 1948. Ngày 26/02/2022, chính quyền Kiev đã khởi kiện Nga lên định chế
Liên Hiệp Quốc, cáo buộc Moskva lạm dụng Công ước về Diệt chủng để biện minh cho
cuộc xâm lăng, và yêu cầu Tòa án Công lý Quốc tế ra phán quyết khẩn cấp sau cuộc xâm lược của Nga hai ngày.
2.2.2. Lập luận của các bên
Lập luận của Nga: Chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga, bắt đầu từ ngày 24/02 là
nhằm các khu vực ly khai ở miền đông Ukraine khỏi các phần tử phát xít tại Ukraine.
Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đưa ra một số lý do cho việc tiến hành chiến dịch
quân sự tại Ukraine, trong đó hai lý do về pháp lý.
Đầu tiên, ông khẳng định Nga đang hành động để tự vệ, phù hợp với luật pháp quốc
tế. Ở đây, Tổng thống Putin cho rằng Moskva đang bảo vệ hai khu vực Donetsk và
Luhansk ở miền đông Ukraine có nhiều người Nga sinh sống mà Moskva đã công nhận là
các quốc gia có chủ quyền.
Thứ hai, Tổng thống Putin tuyên bố Ukraine đang phạm tội diệt chủng đối với người
dân tộc Nga (trong đó "diệt chủng" có nghĩa là một số hành động được thực hiện với "ý
định tiêu diệt" một nhóm dân tộc hoặc một nhóm dân số nào đó).
2.2.3. Phán quyết của Tòa
Tòa cho rằng bất kỳ chiến dịch quân sự nào, nhất là chiến dịch có quy mô như Nga đang
thực hiện ở Ukraine, chắc chắn sẽ gây ra các tổn thất về tính mạng, thể chất, tinh thần, tài
sản và môi trường.. Thực tế, chiến dịch quân sự của Nga đã khiến nhiều người dân thiệt
mạng và bị thương, gây thiệt hại nghiêm trọng cho cơ sở hạ tầng, làm cho cuộc sống
người dân ngày càng khó khăn (nhiều người không có thực phẩm thiết yếu, nước uống,
điện, thuốc và sưởi ấm), một số lượng lớn người phải di tản.
Tòa dẫn lại Nghị quyết ngày 02/03/2022 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, trong đó
có thể hiện quan ngại lớn với các báo cáo về các vụ việc tấn công cơ sở dân sự, công
nhận hành động quân sự của Nga có quy mô mà cộng đồng quốc tế chưa từng chứng kiến 12 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
ở châu Âu trong nhiều thập kỷ và cần có các biện pháp khẩn cấp để cứu thế hệ này khỏi
khói lửa chiến tranh, đồng thời lên án quyết định của Nga đặt lực lượng hạt nhân vào tình
trạng sẵn sàng và thể hiện quan ngại lớn với các điều kiện nhân đạo ngày càng xuống cấp
ở Ukraine. Tòa cho rằng, trong bối cảnh trên, việc phớt lờ các quyền mà Ukraine có căn
cứ nhất định để xác lập có thể gây tổn hại không thể khắc phục và tình huống hiện giờ có
tính khẩn cấp và cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tòa ICJ có 15 thẩm phán và
các thẩm phán bỏ phiếu như sau:
15/15 đồng thuận yêu cầu cả Ukraine và Nga phải hạn chế có các hành động làm xấu
đi tình hình hoặc mở rộng tranh chấp, hoặc làm cho tranh chấp khó giải quyết hơn.
13/02 đồng ý yêu cầu Nga phải ngay lập tức dừng các hành động quân sự trên lãnh
thổ Ukraine. Thẩm phán của Nga và Trung Quốc bỏ phiếu chống.
13/02 đồng ý yêu cầu Nga phải bảo đảm các nhóm vũ trang chịu sự chỉ đạo hoặc
hướng dẫn của nước này, cũng như các tổ chức, cá nhân chịu sự kiểm soát hay chỉ đạo
của Nga không có thêm hành động quân sự. Thẩm phán của Nga và Trung Quốc bỏ phiếu chống.
2.3. Quan điểm của nhóm
Nói đến Nicaragua, người học luật quốc tế chắc hẳn đều nhớ đến vụ kiện kinh điển
giữa nước này và Mỹ trước Tòa ICJ: Vụ hoạt động quân sự và bán quân sự của Mỹ tại
Nicaragua. Phán quyết về nội dung của Tòa ICJ vào năm 1986 được xem là một phán
quyết kinh điển, có vị trí đặc biệt trong các án lệ quốc tế. Trong phán quyết này, Tòa đã
xác nhận giá trị pháp lý và nội hàm của các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.
Theo quan điểm của nhóm, phán quyết của ICJ tuyên bố Mỹ thất bại hoàn toàn trong
vụ kiện với Nicaragua là hoàn toàn có căn cứ. Việc Mỹ đưa ra rất nhiều lý do cho rằng
ICJ không có thẩm quyền xét xử vụ việc này. Tuy nhiên, tất cả mọi lập luận của Mỹ đều bị Toà bác bỏ.
Phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) diễn ra vào giữa những năm 1980, là
một trong những phán quyết quan trọng nhất từng được Tòa công bố. Có ít nhất ba lý do cho điều này:
Đầu tiên, Tòa án đã xem xét một cách kỹ càng nhất về việc sử dụng vũ lực và gây
hấn. Vấn đề này rất quan trọng về chính trị và cả về pháp lý. Điều này từng được nằm
trong phạm vi, mà trong thời gian đó, có vẻ như không phù hợp để đưa ra xét xử.
Thứ hai, Đây là một tranh chấp không cân sức giữa một cường quốc (một thành viên
thường trực của Hội đồng Bảo an của các quốc gia thống nhất) với một nước nhỏ nằm
trong vùng chịu ảnh hưởng của cường quốc kia. Cuối cùng thì, cường quốc này đã bị kết
án là đã có các hành vi sai trái. Điều này cho thấy Tòa án Công lý Quốc tế đã thể hiện 13 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
được tính minh bạch, thực thi công lý của mình. Từ đó mở ra một trang mới cho luật quốc tế.
Thứ ba, các phán quyết nổi bật về phạm vi và rất chi tiết. Tòa án đã xử lý một loạt
các câu hỏi của luật pháp quốc tế một cách hết sức cẩn thận, đặt vụ Nicaragua vào mức
độ phân tích dày đặc và hợp lý nhất mà Tòa từng ban hành.
Thêm vào đó, Nicaragua bắt đầu chủ động sử dụng Tòa ICJ từ năm 1984, khi khởi
kiện Mỹ trong Vụ Nicaragua v. Mỹ kinh điển nói trên. Với thắng lợi pháp lý vang dội
trong vụ kiện này, Nicaragua đã tích cực sử dụng Tòa ICJ để giải quyết tranh chấp quốc
tế với các quốc gia khác.
Nicaragua là một quốc gia không lớn, có cùng vị thế và trình độ phát triển với Việt
Nam. Do đó, Nicaragua là một điểm quy chiếu có giá trị cho Việt Nam. Việc một quốc
gia nhỏ sử dụng biện pháp pháp lý thường xuyên để giải quyết tranh chấp với các quốc
gia láng giềng cho thấy biện pháp pháp lý có hiệu quả, hiệu lực giải quyết tranh chấp trên
thực tế. Đặc biệt, nếu không tính siêu cường Mỹ, quốc gia là bị đơn hay nguyên đơn của
Nicaragua là ba quốc gia láng giềng mà trình độ phát triển đều từ hơn hoặc vượt trội hẳn so với Nicaragua.
2.4. Bài học kinh nghiệm
Đến thời điểm hiện tại, vụ kiện của Nicaragua đối với Hoa Kỳ là một phán quyết
kinh điển một án lệ vô cùng quan trọng có sức hưởng mạnh mẽ tới các quan hệ quốc gia
trên thế giới. Và đặc biệt, tình hình thế giới cũng xảy ra nhiều cuộc tranh chấp gay gắt và
đặc biệt là ở Việt Nam vào khoảng thời gian đó cũng xảy ra nhiều cuộc tranh chấp về
biên giới chủ quyền lãnh thổ tiêu biểu:
Thứ nhất, sự kiện Song Tử Tây (1970), Song Tử Đông (1968) là một cuộc chiến
tranh quân sự giữa Việt Nam và Philippines trong việc tranh chấp chủ quyền giữa các đảo ở Trường Sa.
Thứ hai, Xung đột biên giới Việt Nam – Campuchia (1975–1978) xảy ra khi hai nước
xuất hiện nhiều mâu thuẫn, tranh chấp và xung đột biên giới xảy ra liên tục trong các năm
1977 và 1978. Kết quả là Việt Nam thành công đẩy lùi quân Campuchia và bắt đầu Chiến tranh biên giới Tây Nam. 14 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
(Nguồn: https://www.youtube.com/watch?v=D3riE1-3f4k)
Nối tiếp với những tranh chấp, bước sang thế kỉ XXI, Ngày 26 tháng 5 năm 2011, 3
tàu hải giám của Trung Quốc xâm nhập lãnh hải của Việt Nam, phá hoại thiết bị và cản
trở tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đang
hoạt động tại vùng biển miền Trung chỉ cách mũi Đại Lãnh của tỉnh Phú Yên 120 hải lý,
ngang nhiên gây hấn trên vùng biển Việt Nam ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan
HD981 trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
(Nguồn: Báo lao động)
Với tư cách là hai quốc gia, Việt Nam và Trung Quốc chịu ràng buộc của nguyên tắc
hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc và
tập quán quốc tế. Không một nước nào được phép sử dụng vũ lực để giải quyết tranh 15 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
chấp, trong đo co cả tranh chấp trên Biển Đông. Nguyên tắc này yêu cầu hai nước hướng
đến biện pháp tham vấn và đàm phán, không nhắc đến và cũng không loại trừ khả năng
sử dụng các biện pháp tài phán thông qua các văn kiện khu vực và song phương.
Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp ở Biển Đông đã được ghi nhận và nhắc lại
nhiều lần trong các văn kiện song phương và khu vực. Năm 2002, ASEAN và Trung
Quốc đã ký kết Tuyên bố về Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (Tuyên bố DOC). Các bên
tái khẳng định cam kết tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và “cam kết
giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, thông qua
tham vấn, đàm phán hữu nghị giữa các quốc gia trực tiếp liên quan”.Các bên cũng cam
kết “sẵn sàng tiếp tục các cuộc đối thoại và tham vấn về những vấn đề liên quan, thông
qua các thể thức được các bên đồng ý, kể cả các cuộc tham vấn thường xuyên theo quy
định của Tuyên bố này, vì mục tiêu khuyến khích sự minh bạch và láng giềng tốt, thiếp
lập sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau một cách hài hòa, và tạo điều kiện thuận lợi cho viê c
giải quyê t hòa bình cac tranh chấp giữa các bên.” Hành động của Trung Quốc về tranh
chấp tại Biển Đông đã gây xôn xao dư luận quốc tế. Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam
vẫn tiếp tục kêu gọi sự ủng hộ của Quốc tế của Liên Hợp Quốc giải quyết tranh chấp
bằng biện pháp hoà bình quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Từ những vụ tranh chấp trên có thể thấy các thế lực thù địch đã xâm phạm nghiêm
trọng tới các nguyên tắc quan trọng trong pháp luật Quốc tế như:
Nguyên tắc tôn trọng bình đẳng chủ quyền của quốc gia
Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình
Thông qua đó, Việt Nam cần nghiên cứu kỹ lưỡng các biện pháp giải quyết tranh
chấp bằng tài phán để đưa giải pháp hiệu quả, bên cạnh đó, việc phối hợp với biện pháp
ngoại giao nên được ưu tiên áp dụng để rút ra những bài học kinh nghiệm từ các cuộc
chiến tranh trước đó vận dụng sáng tạo và phù hợp vào trong quá trình phát triển hội nhập
của đất nước, tránh mọi xung đột về quân sự giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình
kêu gọi sự ủng hộ của bạn bè khu vực và trên thế.
Biển Đông nổi sóng hay yên bình đang là một vấn đề được tất cả các quốc gia trong
khu vực và thế giới quan tâm. Chuỗi những diễn biến trong tranh chấp trên biển Đông đã
đưa vấn vượt ra ngoài phạm vi khu vực. Vì vậy, bên cạnh việc áp dụng các biện pháp
pháp lý, Việt Nam cần kết hợp với chính sách ngoại giao cương quyết nhưng không kém
phần mềm dẻo, linh hoạt, phân biệt và tranh thủ sự ủng hộ của các chủ thể cũng như dư
luận quốc tế để không chỉ ngăn ngừa căng thẳng leo thang đến “bên miệng hó chiến
tranh”, mà còn nhanh chóng đạt được một kết quả chính đáng, phù hợp với căn cứ lịch sử và pháp luật quốc tế. 16 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. “Bài Học Từ vụ Kiện Nicaragua – Mỹ | Biendong.Net.” Biendong.Net | Thông Tin
Toàn Diện về Tình Hình Biển Đông, biendong.net, 25 Mar. 2016,
https://biendong.net/2016/03/25/bai-hoc-tu-vu-kien-nicaragua-my/.
2. Nhóm sinh viên Khoa quan hệ quốc tế – trường Đại học Khoa học xã hội và nhân
văn, Tp.HCM (2019), “[124] Vụ Các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua
(Nicaragua vs Hoa Kỳ) (1984-1986) [Phần 1: Thẩm quyền]”.
3. Nhóm sinh viên Khoa quan hệ quốc tế – trường Đại học Khoa học xã hội và nhân
văn, Tp.HCM (2019), “[137] Vụ Các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua
(Nicaragua vs Hoa Kỳ) (1984-1986) [Phần 2: Phán quyết về mặt nội dung]”.
4. International court of justice (1984), jurisdiction of the court and admissibility,
case concerning military and paramilitary activities in and against Nicaragua (Nicaragua v. United of America).
5. Robert Kolb (2017), Cameron Miles & Eirik Bjorge, Landmark Cases in Public
International Law, Hart Publishing.
6. Vụ Nicaragua va Mỹ, Tòa ICJ, 1986. Ian Brownlie, Principles of Public
International Law, 5th ed., OUP, 1998, tr. 15; Malcolm N. Shaw, International Law, 6th
ed., CUP, 2008, tr. 253; James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law, CUP, 2012, tr. 193.
7. Vụ Hoạt động quân sự và bán quân sự của Mỹ chống lại Nicaragua, Phán quyết về
Thẩm quyền, ICJ, 1984, đoạn 73.
8. “[124] Vụ Các Hoạt Động Quân Sự và Bán Quân Sự Tại Nicaragua (Nicaragua vs
Hoa Kỳ) (1984-1986) [Phần 1: Thẩm Quyền] – Luật Pháp Quốc Tế.” Luật Pháp Quốc
Tế, https://www.facebook.com/WordPresscom, 17 Mar. 2019, https://iuscogens-
vie.org/2019/03/17/124-cac-hoat-dong-quan-su-va-ban-quan-su-tai-nicaragua-nicaragua - vs-hoa-ky-1984-1986-phan-1/. 17 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu 18 17:21, 06/01/2026
Bình Luận Vụ Kiện Nicaragua-V. Mỹ (Công Pháp Quốc Tế - TMQT 47) - Studocu