
B Đ Đ C HI U VĂN B N TRUY N TRUY N KÌ L P 12Ộ Ề Ọ Ể Ả Ệ Ề Ớ
Đ 1Ề
Đ c ng li u sau và tr l i câu h i:ọ ữ ệ ả ờ ỏ
CHUY N PH M T H LÊN CH I THIÊN TÀOỆ Ạ Ử Ư Ơ
(L c d n ph n đ uượ ẫ ầ ầ : Ph m T H quê C mạ ử ư ở ẩ Giàng, là m t ng i tu nộ ườ ấ
s ng hàoả m i, không a ki m thúc. Sau khi h c v i D ng Tr m và đ c th yạ ư ể ọ ớ ươ ạ ượ ầ
răn d y, chàng đã s a đ i tính n t và tr thành ng i có đ c h nh. Khi th yạ ử ổ ế ở ườ ứ ạ ầ
qua đ i, T H t lòng trung thành b ng cách d ng l u m th y su t ba năm.ờ ử ư ỏ ằ ự ề ở ộ ầ ố
Tuy nhiên, dù đã 40 tu i, chàng v n ch a thi đ , và th i nhà Tr n, chàng ti pổ ẫ ư ỗ ờ ầ ế
t c sang kinh đô đ h cụ ể ọ ).
M t bu i sáng, Tộ ổ ử H nhà tr đi ra, trong áng s ng mù th y có m tư ở ọ ươ ấ ộ
đám nh ng tàn vàng ki u ng c bay lên trên không; k l i có m t c xe n mữ ệ ọ ế ạ ộ ỗ ạ
h t châu, k theo h u cũng r t ch ngạ ẻ ầ ấ ữ ch c. Tạ ử H khẽ dòm tr m xem thìư ộ
ng i ng i trong xe, chính th y h c mình là D ng Tr m. Chàng toan đ n g nườ ồ ầ ọ ươ ạ ế ầ
s p l y nh ng Tr m xua tay nói:ụ ạ ư ạ
- Gi a đ ng không ph i ch nói chuy n; t i mai nên đ n đ n Tr nữ ườ ả ỗ ệ ố ế ề ấ võ ở
c a B c, th y trò ta sẽ hànử ắ ầ huyên m t hôm.ộ
Tử H bèn s m s n r u và th c nh m, đúng h n mà đ n. Th y trò g pư ắ ẵ ượ ứ ắ ẹ ế ầ ặ
nhau vui v l m, chàng nhân h i r ng:ẻ ắ ỏ ằ
- Th y m i t tr n ch a bao lâu, tho t đã tr nên hi nầ ớ ừ ầ ư ắ ở ể hách khác h n ngàyẳ
tr c, xin th y cho bi t rõ duyên do đ con đ c vui m ng.ướ ầ ế ể ượ ừ
D ng Tr m nói:ươ ạ
- Ta th a s ng không có m t đi u thi n nào đáng khen, ch có hay gi đi uủ ố ộ ề ệ ỉ ữ ề
tín th c đ i v i th y b n; quý tr ng nh ng t gi y có ch , h th y r i vãi li nự ố ớ ầ ạ ọ ữ ờ ấ ữ ễ ấ ơ ề
nh t mà đ t đi. Đ c Đặ ố ứ ế quân đây ngài khen là có b ng t t, tâu xin cho làmụ ố
ch c tr c l i c a T đ ng. Hôm qua ta h u linh giá ngài lên ch u Thiên cung,ứ ự ạ ở ử ử ồ ầ ầ
tình c l i g p nhà ng i, đó cũng là vì th y trò mình có cái m i duyên.ờ ạ ặ ươ ầ ố
T H nói:ử ư
- Th y đ c lĩnh ch c tr ng quy n cao nh v y, ch ng hay s s ng ch tầ ượ ứ ọ ề ư ậ ẳ ự ố ế
th y u c a con, th y có đ c rõ không?ọ ể ủ ầ ượ
- Vi c đó không ph i thu c v ch c v c a ta.ệ ả ộ ề ứ ụ ủ
- V y th th y gi v vi c gì?ậ ế ầ ữ ề ệ
- Ta trông coi v vi c văn ch ng thi c , khoa danh cao th p c a nh ngề ệ ươ ử ấ ủ ữ
h c trò trong thiên h .ọ ạ

(L c m t đo n: ượ ộ ạ Cu c đ i tho i gi a D ng Tr m và T Hộ ố ạ ữ ươ ạ ử ư, trong đó
D ng Tr m khuyên T H v t m quan tr ng c a đ c h nh và s khiêmươ ạ ử ư ề ầ ọ ủ ứ ạ ự
nh ng trong cu c s ng. D ng Tr m nh n m nh r ng văn tài không đ đườ ộ ố ươ ạ ấ ạ ằ ủ ể
đ t thành công, mà c n có đ o đ c và lòng trung th c. Ông cũng phê phánạ ầ ạ ứ ự
nh ng k sĩ th i b y gi th ng kiêu ng o, s ng gi t o và thi u trách nhi mữ ẻ ờ ấ ờ ườ ạ ố ả ạ ế ệ
v i th y b n. Cu i cùng, D ng Tr m d n T H lên thiên gi i, n i mà c nhớ ầ ạ ố ươ ạ ẫ ử ư ớ ơ ả
v t r c r và khác xa cõi tr nậ ự ỡ ầ …).
D ng Tr m bèn d n Tươ ạ ẫ ử H đi ch i thăm kh p c các tòa. Tr c h t đ nư ơ ắ ả ướ ế ế
m t tòa có cái bi n đ ngoài là ộ ể ề “C a Tích-Đ cử ứ ” trong có ch ng h n nghìnừ ơ
ng i mũ hoa d i hu , k ng i ng i đ ng. Tườ ả ệ ẻ ồ ườ ứ ử H h i thì D ng Tr m nói:ư ỏ ươ ạ
- Đó là nh ng v tiên thu s ng có lòng yêu th ng m i ng i, tuy khôngữ ị ở ố ươ ọ ườ
ph i d c h t ti n c a đ làm vi c bả ố ế ề ủ ể ệ ố thí, nh ng bi t tùy th i mà chuư ế ờ c p, đãấ
không keo b n, l i không h mẩ ạ ợ hĩnh. Th ngươ đ khen là có nhân, li t vào thanhế ệ
ph m nên h đ c đây.ẩ ọ ượ ở
L i đi qua m t tòa s có cái bi n đ ngoài là ạ ộ ở ể ề ở “C a Thu nử ậ H nhạ ”, trong có
đ h n nghìn ng i, áo mây l ng m a, k hát ng i múa. Tộ ơ ườ ọ ư ẻ ườ ử H l i h i,ư ạ ỏ
D ng Tr m nói:ươ ạ
- Đó là nh ng v tiên thu s ng hi uữ ị ở ố ế thu n, ho c trong l uậ ặ ư ly bi t baoế b cọ
l y nhau, ho c đem đ t cát mà sanấ ặ ấ x cho nhau, m y đ i chung, không nẻ ấ ờ ở ỡ
chia rẽ. Th ngượ đ khen là có lòng, cho vào cung mây nên h đ c đây.ế ọ ượ ở
L i đ n m t tòa s có cái bi n đ là ạ ế ộ ở ể ề “C a Nho Th nử ầ ” ng i đ y đ u áoườ ở ấ ề
dài đai r ng, cũng có t i s m t nghìn, trong có hai ng i m c áo l a, đ i mũộ ớ ố ộ ườ ặ ụ ộ
sa. D ng Tr m tr b o T -H r ng:ươ ạ ỏ ả ử ư ằ
- y là ông Tô Hi nẤ ế Thành tri u Lý và ông Chu ề Văn An tri u Tr n đó. Ngoàiề ầ
ra thì là nh ng danh th n đ i Hán đ i Đ ng, không sung vào quanữ ầ ờ ờ ườ v hayị
ch cứ ch ng gì c , ch ngày sóc ngày v ng thì vào thamưở ả ỉ ọ y t Đế ế quân, như
nh ng viên t n quan đ i nay th nhữ ả ờ ỉ tho ng vào ch u vua mà thôi. C cách nămả ầ ứ
trăm năm l i cho giáng sinh, cao thì làm đ n khanhạ ế t ng, th p cũng làm đ cướ ấ ượ
sĩ phu, hi uệ doãn. Ngoài ra còn đ n h n trăm tòa s n a, nh ng tr i g n sángế ơ ở ữ ư ờ ầ
không đi xem kh p đ c, v i c i gió mà bay xu ng tr n. Xu ng đ n c a b c,ắ ượ ộ ưỡ ố ầ ố ế ử ắ
th y trăm quan đã l cấ ụ t c vào tri u ch u vua.ụ ề ầ
Tử H t bi t th y tr v ; sang năm đi thi qu đ t nư ừ ệ ầ ở ề ả ỗ ấ sĩ. Phàm nh ng vi cữ ệ
cát hung h a phúc nhà Tọ ử H , th ng đ c th y v báo cho bi t.ư ườ ượ ầ ề ế
L i bìnhờ

Than ôi, nh ng chuy n huyữ ệ ền ho c Tặ ề Hài, nh ng l i ngữ ờ ụ ngôn Trang Chu,
ng i quânườ t v n ch ng nên hamử ố ẳ chu ng. Nh ng n u là chuy n quanộ ư ế ệ h đ nệ ế
luân th ng, là l i kýườ ờ ng ý khuyênụ gi i, thì chép ra và truy n l i, có h i gì đâu.ớ ề ạ ạ
Nay nh câu chuy n Tư ệ ử H , có th đ khuyên cho nh ng ng i ănư ể ể ữ ườ trungở
h u v i th y, l i có th làm răn cho nh ng ng i ăn b c bẽo v i th y, có quanậ ớ ầ ạ ể ữ ườ ở ạ ớ ầ
h đ n luân th ng c a ng i ta l n l m. Đ n nh vi c lên ch i Thiên tào, cóệ ế ườ ủ ườ ớ ắ ế ư ệ ơ
hay không có, hà t t ph i g n gùng đ n n i đ n ch n làm gì!ấ ả ạ ế ơ ế ố
(Trích Truy n kì m n l cề ạ ụ – Nguy n D )ễ ữ
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1 (NB): Truy n "ệ Chuy n Ph m T H lên ch i Thiên Tàoệ ạ ử ư ơ " thu c thộ ể
lo iạ truy nệ nào?
Câu 2 (NB): Nhân v t chính c a truy n là ai? Anh ta có đ c đi m gì n iậ ủ ệ ặ ể ổ
b t?ậ
Câu 3 (TH): Ch ra và pỉ hân tích m t chi ti t trong truy n cho th y s k tộ ế ệ ấ ự ế
h p gi a y u t ợ ữ ế ố kì và y uế t th c?ố ự
Câu 4 (TH): Chi ti t Ph m T H g p th y D ng Tr m trên tr i có ýế ạ ử ư ặ ầ ươ ạ ờ
nghĩa gì trong vi c xây d ng bài h c v đ o đ c ệ ự ọ ề ạ ứ con ng iườ ?
Câu 5 (VD): Qua câu chuy n Ph m T H lên ch i thiên tào anh (ch ) rút raệ ạ ử ư ơ ị
đ c bài h c gìượ ọ ? (Vi t đo n văn kho ng 5-7 câu).ế ạ ả
Đ 2Ề
Đ c đo n trích:ọ ạ
NGƯỜI NGHĨA PHỤ Ở KHOÁI CHÂU
(Lược dẫn phần đầu: Từ Đạt ở Khoái Châu, làm quan tại thành Đông Quan,
kết thông gia với nhà quan Thiêm thư là Phùng Lập Ngôn. Con trai Phùng là Trọng
Quỳ kết duyên với con gái Từ là Nhị Khanh. Nhị Khanh biệt cư xử khéo léo, được
khen là người nội trợ hiền. Trọng Quỳ lớn lên, dần sinh chơi bời lêu lổng, Nhị
Khanh thường vẫn can ngăn. Trong triều nhiều kẻ ghét Phùng Lập Ngôn, tiến cử
vua cho ông đi dẹp giặc. Phùng Ngôn để Nhi Khanh ở lại quê nhà, cùng con trai
vào Nghệ An.)
Trọng Quỳ thấy Nhị Khanh không đi, có ý quyến luyến không dứt. Nhị Khanh
ngăn bảo rằng:
– Nay nghiêm đường vì tính nói thẳng mà bị người ta ghen ghét, không để ở lại
nơi khu yếu, bề ngoài và tiến cử đến chốn hùng phiên, bên trong thực dồn đuổi vào

chỗ tử địa. Chả lẽ đành để cha ba đào muôn dặm, lam chướng nghìn trùng, hiểm
nghèo giữa đám kình nghê, cách trở trong vùng lèo mán, sớm hôm không người săn
sóc, không kẻ đỡ thay? Vậy chàng nên chịu khó đi theo. Thiếp đâu dám đem mối
khuê tình để lỗi bề hiếu đạo. Mặc dầu cho phấn nhạt hương phai, hồng rơi tía rụng,
xin chàng đừng bận lòng đến chốn hương khuê.
Sinh không đừng được, mới bày một bữa tiệc từ biệt, rồi cùng Lập Ngôn đem
người nhà đi vào phương nam. Không ngờ lòng giời khó hiểu, việc người khôn
lường, cha mẹ Nhị Khanh nối nhau tạ thế. Nàng đưa tang về Khoái Châu, chôn cất
cúng tế xong rồi, đến cùng ở chung với bà cô Lưu thị.
(Lược một đoạn: Bà cô Lưu thị có người cháu ngoại là quan tướng quân họ
Bạch muốn lấy Nhị Khanh. Lưu thị bằng lòng, khôn khéo khuyên Nhị Khanh đồng ý,
nhưng nàng một mực chối từ. Nhị Khanh nhờ người bõ già vốn là đầy tớ cũ, lặn lội
vào xứ Nghệ để hỏi thăm tin tức thì gặp được Phùng Sinh mới hay Phùng Lập Ngôn
đã mất, gia sản không còn. Người bõ già đưa Phùng Sinh về quê đoàn tụ. Phùng vì
quen phóng lãng nên lại cùng người lái buôn là Đỗ Tam bê tha lêu lổng. Đỗ ham
Sinh có vợ đẹp nên thường lấy lợi nhử Sinh. Nhị Khanh khuyên răn Phùng Sinh
cũng không được).
Một hôm, Sinh cùng các bè bạn họp nhau đánh tử sắc. Đổ bỏ ra trăm vạn đồng
tiền để đánh và đòi Sinh đánh băng Nhị Khanh. Trọng Quỳ quen mui vẫn được
luôn, chẳng suy nghĩ gì, liền bằng lòng cách ấy. Giấy giao kèo viết xong rồi vừa
uống rượu vừa gieo quân. Trọng Quỳ gieo ba lần đều thua cả ba, sắc mặt tái mét; cử
toạ cũng đều n ngác buồn rầu hộ.
Trọng Quỳ phải cho gọi Nhị Khanh đến, bảo rõ thực tình, đưa tờ giao kèo cho
xem và yên ủi rằng:
– Tôi vì nỗi nghèo nó bó buộc, để luỵ đến nàng. Việc đã đến thế này, hối lại
cũng không kịp nữa. Thôi thì bi hoan tản tụ cũng là việc thường của người ta. Nàng
nên tạm về với người mới, khéo chiều chuộng hẳn, rồi bất nhật tôi sẽ đem tiền đến
chuộc.
Nàng liệu cơ không thể thoát khỏi, giả vờ nói tử tế rằng:
- Bỏ nghèo theo giàu, thiếp lẽ đâu từ chối. Số giời xếp đặt, hả chẳng là tiền định
hay sao! Nếu chồng mới không nỡ rẻ bỏ, còn đoái thu đến cái dung nhan tàn tạ này,
thiếp xin sửa túi nâng khăn, hết lòng hầu hạ như đã đối với chàng xưa nay. Nhưng
xin cho uống một chén rượu, mượn làm một chén tiễn biệt và cho về từ giã các con
một chút.

Đỗ cả mừng, rót đầy một chén rượu xà cừ đưa mời nàng uống. Uống xong, nàng
về nhà ôm lấy hai con, vỗ vào lưng mà bảo rằng:
Cha con bạc tình, mẹ đau buồn lắm. Biệt li là việc thường thiên hạ, một cái chết
với mẹ có khó khăn gì. Nhưng mẹ chỉ nghĩ thương các con mà thôi:
Nói xong, lấy đoạn dây tơ thắt cổ mà chết.
(Lược một đoạn: Sau khi vợ chết, Trọng Quỳ hối hận vô cùng. Một hôm, đi
đường xa, ngủ dưới gốc cây thì được Nhị Khanh báo mộng, hẹn gặp ở đền Trưng
Vương. Trọng Quỳ đúng hẹn đến trước đền, đợi từ chiều tà đến quá nửa đêm thì Nhị
Khanh xuất hiện, báo tin cho Trọng Quỳ).
Khi nói đến việc hiện thời, Nhị Khanh chau mày:
– Thiếp thường theo chầu tả hữu Đức Bà ở đây, được trộm nghe chư tiên nói
chuyện với nhau, bảo Hồ triều sẽ hết vào năm Bính Tuất, binh cách nổi lớn, số
người bị giết chóc đến chừng hơn 20 vạn, ấy là chưa kể số bị bắt cướp đi. Nếu
không phải người trồng cây đức đã sâu e ngọc đá đều bị cháy cả. Bấy giờ có một vị
chân nhân họ Lê, từ miền tây nam xuất hiện; chàng nên khuyên hai con bền chỉ đi
theo vị ấy, thiếp dù chết cũng không nát.
Trời gần sáng, Nhị Khanh vội dậy để cáo biệt, vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn lại,
rồi thoắt chốc thì biến đi mất.
Trọng Quỳ bèn không lấy ai nữa, chăm chỉ nuôi hai con cho nên người. Đến khi
vua Lê Thái Tổ tuốt gươm đứng dậy ở Lam Sơn, hai người con trai đều đi theo, trải
làm đến chức Nhập thị nội. Đến nay ở Khoái Châu hiện còn con cháu.
(Trích Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1(NB): Câu chuyện kể về nhân vật nào?
Câu 2(NB): Chủ đề chính của câu chuyện là gì?
Câu 3 (TH): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn:
“Chả lẽ đành để cha ba đào muôn dặm, lam chướng nghìn trùng, hiểm nghèo giữa
đám kình nghê, cách trở trong vùng lèo mán, sớm hôm không người săn sóc, không
kẻ đỡ thay”?
Câu 4 (TH): Cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa Nhị Khanh và Trọng Quỳ tại đền Trưng
Vương có ý nghĩa gì?
Câu 5 (VD): Qua câu chuyện Người nghĩa phụ ở Khoái Châu, em có nhận xét về
quan niệm hiếu đạo trong xã hội phong kiến xưa?
ĐỀ 3
Đ c đo n trích:ọ ạ

CHUYỆN TỪ THỨC LẤY VỢ TIÊN
Trong năm Quang Thái đời nhà Trần, người ở Hóa Châu tên là Từ Thức, vì có
phụ ấm được bổ làm Tri huyện Tiên Du. Bên cạnh huyện có một tòa chùa danh
tiếng, trong chùa trồng một cây mẫu đơn, đến kỳ hoa nở thì người các nơi đến xem
đông rộn rịp, thành một đám hội xem hoa tưng bừng lắm. Tháng 2 Bính Tý, người
ta thấy có cô con gái, tuổi độ 15, 16 phấn son điểm phớt, nhan sắc xinh đẹp tuyệt
vời, đến hội ấy xem hoa. Cô gái vin một cành hoa, không may cành giòn mà gãy
khấc, bị người coi hoa bắt giữ lại, ngày đã sắp tối vẫn không ai đến nhận. Từ Thức
cũng có mặt ở đám hội, thấy vậy động lòng thương, nhân cởi tấm áo cừu gấm trắng,
đưa vào tăng phòng để chuộc lỗi cho người con gái ấy. Mọi người đều khen quan
huyện là một người hiền đức. Song Từ Thức vốn tính hay rượu, thích đàn, ham thơ,
mến cảnh, việc sổ sách bỏ ùn cả lại thường bị quan trên quở trách rằng:
- Thân phụ thầy làm đến Đại thần mà thầy không làm nổi một chức Tri huyện
hay sao!
Từ than rằng:
- Ta không thể vì số lương năm đấu gạo đỏ mà buộc mình trong áng lợi danh.
Âu là một mái chèo về, nước biếc non xanh vốn chẳng phụ gì ta đâu vậy. Bèn cởi
trả ấn tín, bỏ quan mà về. Vốn yêu cảnh hang động ở huyện Tống Sơn, nhân làm
nhà tại đấy để ở. Thường dùng một thằng nhỏ đem một bầu rượu, một cây đàn đi
theo, mình thì mang mấy quyển thơ của Đào Uyên Minh, hễ gặp chỗ nào thích ý thì
hý hửng ngả rượu ra uống. Phàm những nơi nước tú non kỳ như núi Chích Trợ,
động Lục Vân, sông Lãi, cửa Nga, không đâu không từng có những thơ đề vịnh.
Một hôm Từ Thức dậy sớm trông ra bể Thần Phù ở phía ngoài xa vài chục dặm,
thấy có đám mây ngũ sắc đùn đùn kết lại như một đóa hoa sen mọc lên, vội chèo
thuyền ra thì thấy một trái núi rất đẹp. Từ kinh ngạc bảo lái thuyền rằng:
- Ta đã từng lênh đênh trên áng giang hồ, các thắng cảnh miền đông nam, không
biết trái núi này từ đâu lại mọc ra trước mắt, ý giả là non tiên rụng xuống, vết thần
hiện ra đây chăng? Sao trước không mà nay lại có? Bèn buộc thuyền lên bờ thì thấy
những vách đá cao vút nghìn trượng, sừng sững đứng thẳng, nếu không có cánh thì
vị tất đã trèo lên thăm cảnh đó được.
(Lược một đoạn: Từ Thức phát hiện ra rằng mình đã vào một thế giới tiên cảnh
với lâu đài nguy nga, mây xanh ráng đỏ và cỏ hoa kỳ diệu. Anh gặp hai cô gái áo
xanh, và sau đó được dẫn đến gặp Ngụy phu nhân, một tiên nữ ở Nam Nhạc. Từ
Thức nhận ra rằng anh đang ở động Phù Lai, một trong 36 động tiên ở biển cả.
Ngụy phu nhân tiết lộ rằng Từ Thức đã từng cứu con gái của bà, Giáng Hương, và

vì vậy bà muốn Giáng Hương kết duyên với anh. Sau khi tổ chức lễ thành hôn, Từ
Thức được tham dự tiệc cùng quần tiên. Trong buổi tiệc, anh chứng kiến cảnh tiên
giới, với những món ăn kỳ lạ và những cuộc đối thoại về cuộc sống tiên giới. Sau
buổi tiệc, Từ Thức và Giáng Hương tiếp tục sống trong cảnh tiên giới, tuy nhiên Từ
Thức vẫn mang trong mình nỗi nhớ về cõi trần và cuối cùng trở về trần gian).
- Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biển cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu. Rồi
nhân lúc rỗi, chàng nói với nàng rằng:
- Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng cỏ héo hon,
dám xin thể tình mà cho được tạm về, chẳng hay ý nàng nghĩ thế nào? Giáng Hương
bùi ngùi không nỡ dứt. Từ lang nói:
- Tôi xin hẹn trong một thời kỳ bao nhiêu lâu, để về cho bạn bè gặp mặt và thu
xếp việc nhà cho yên, sẽ lại đến đây để với nàng cùng già ở chốn làng mây bến
nước. Giáng Hương khóc mà nói:
- Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản mối lòng quê hương của chàng.
Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng về nhưng chỉ e liễu sân
hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày trước nữa. Nàng nhân thưa với phu
nhân, phu nhân nói:
- Không ngờ chàng lại mắc mớ vì mối lòng trần như vậy. Nhân cho một cỗ xe
cẩm vân để chàng cưỡi về. Nàng cũng đưa cho chàng một bức thư viết vào lụa mà
nói:
- Người khác trông thấy vật này, xin đừng quên mối tình ngày cũ. Rồi tràn nước
mắt mà chia biệt. Chàng đi chỉ thoắt chốc đã về đến nhà, thì thấy vật đổi sao dời,
thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi
khe làvẫn không thay đổi sắc biếc mầu xanh thủa nọ. Bèn đem tên họ mình hỏi thăm
những người già cả thì thấy có người nói:
- Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào
núi mất đến nay đã hơn 80 năm, nay đã là năm thứ 5 niên hiệu Diên Ninh là đời ông
vua thứ ba của triều Lê rồi. Chàng bấy giờ mới hậm hực bùi ngùi; muốn lại lên xe
mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay mất. Mở thư ra đọc,
thấy có câu: "Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tìm non tiên ở trên bể
dịp khác còn đâu!” mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly
biệt. Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, (30) rồi sau
không biết đi đâu mất.
Lời bình:

Than ôi, nói chuyện quái sợ loạn chuyện thường, cho nên thánh hiền không nói.
Nhưng việc Từ Thức lấy vợ tiên, cho là thực không ư? Chưa hẳn là không; Cho là
thực có ư? Chưa hẳn là có. Có không lờ mờ, câu chuyện tựa hồ quái đản. Nhưng có
âm đức thì tất có dương báo, cũng là lẽ thường. Những bậc quân tử sau này khi để
mắt đến sẽ liệu mà thêm bớt, bỏ chỗ quái mà để chỗ thường thì phỏng có gì là hại.
(Trích Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1(NB): Nhân vật chính trong câu chuyện là ai? Được giới thiệu như thế nào?
Câu 2 (NB): Từ Thức đã làm gì để cứu cô gái trong hội hoa?
Câu 3 (TH): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ trong câu: "Những
đêm gió thổi, những sáng sương sa, bóng trăng sáng dòm qua cửa sổ, tiếng thủy
triều nghe vẳng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy
nhiễu khiến không sao ngủ được”.
Câu 4 (TH): Từ Thức quyết định từ bỏ quan chức để về sống ẩn dật. Điều này cho
thấy quan niệm của ông về cuộc sống và danh lợi như thế nào?
Câu 5 (VD): Nếu em là Từ Thức, em có quyết định trở về trần gian như chàng
không? Tại sao? Hãy liên hệ với khát vọng tự do và sự gắn bó với quê hương của
bản thân? (Viết đoạn văn khoảng 5 -7 câu)
ĐỀ 4:
Đọc đoạn trích:
CHUYỆN LỆ NƯƠNG
Nguyễn Thị Diễm là người một họ lớn ở huyện Đông Sơn em họ ngoại của Trần
Khát Chân; cùng người đàn bà họ Lý quê ở huyện Cẩm Giàng, cùng mở ngôi hàng
bán phấn đối cửa nhau tại bên ngoài thành Tây Đô. Xóm giềng gần gặn, tình nghĩa
ngày một thân nhưng cả hai đều chưa con cái. Một hôm, đến động Hồ Công làm lễ
cầu tự. Lý thị bảo với Nguyễn thị rằng:
- Chúng ta ở trong phố vẫn quen thân nhau, việc đi lễ cầu tự hôm nay lại không
hẹn mà cùng giống nhau. Nếu mà hương lửa có duyên, sau này ta sẽ cho các con
sánh nên đôi lứa. Bình dân ta lại làm bạn với bình dân, chẳng cần phải kén chọn con
ông cháu cha gì cả; nói có Sơn thần chứng giám, tôi quyết không sai lời. Rồi đó,
Nguyễn Thị quả sinh con gái đặt tên là Lệ Nương, Lý thị quả sinh con trai đặt tên là
Phật Sinh. Hai trẻ đến khi trưởng thành đều ham nghề nghiên bút. Vì cớ hai bên cha
mẹ thân mật, nên họ cùng đi lại với nhau suồng sã, thường cùng nhau xướng họa
thơ từ. Tuy kỳ cưới xin chưa định, nhưng hai tình gắn bó, đã chẳng khác chi vợ
chồng vậy.

Niên hiệu Kiến Tân năm Kỷ Mão (1399) đời Trần, xảy ra cái vạ Trần Khát
Chân, Lệ Nương bị bắt vào trong cung, Phật Sinh rất là thất vọng. Gặp đêm trừ tịch
gần hết canh năm, Sinh còn đương nằm ngủ, chợt ngiếng ấm ới. Sinh vùng dậy đẩy
cửa ra xem, thấy có hơn trăm chiếc kiệu hoa rậm rịch đi qua, và có một bức thư
bằng lụa cài vào ngưỡng cửa, trong thư chính là bút tích của Lệ Nương đã viết.
(Lược một đoạn: Trong bức thư, Lệ Nương phản ánh về sự chia ly giữa cô và
Phật Sinh. Cô nhắc đến quy luật của trời đất và con người, cho rằng cả hai không
thể tránh khỏi số phận. Lệ Nương cảm thấy đau lòng vì sự chia xa và tiếc nuối về
mối tình đã không thể bền lâu. Cô miêu tả cảnh vật xung quanh và tâm trạng của
mình, từ hình ảnh của mùa xuân trong cảnh tù đày đến những biểu hiện của nỗi
buồn và nước mắt. Lệ Nương cầu mong Phật Sinh sẽ giữ gìn bản thân và không để
mối tình ngắn ngủi này ảnh hưởng đến kế hoạch lâu dài của cuộc đời. Cuối thư, Lệ
Nương bày tỏ sự đau đớn không thể diễn tả hết và hy vọng rằng Phật Sinh sẽ hiểu
được tâm trạng của cô, dù chưa biết rõ ý của anh).
Sinh được thư rất là đau thương, bỏ cả ăn ngủ. Rồi vì cớ hôn sự đã hỏng, bèn
thiên ra ở ngoài miền đông. Nhưng nặng tình với Lệ Nương, Sinh chưa nỡ lấy ai cả.
Cuối đời nhà Hồ, tướng Minh là Trương Phụ chia binh vào cướp, lấn chiếm Kinh
kỳ. Sinh nghe Hán Thương phải chạy, đoán chắc là Lệ Nương cũng phải đi theo,
bèn từ biệt mẹ đi vào Nam, mong được gặp mặt. Lặn lội hàng tuần mới đến cửa bể
Thần Phù, nghe tướng giặc Lã Nghị bắt cướp mấy trăm phụ nữ hiện đóng giữ ở phủ
Thiên Trường trơ trọi không có quân ứng viện, Sinh đoán chắc Lệ Nương cũng ở
trong ấy. Nhưng đất khách tay không, chẳng làm gì được. Chợt gặp khi vua Giản
Định nổi quân lên ở châu Trường An, nhưng vì ít binh không địch nổi với số nhiều
của quân giặc, muốn lui về Nghệ An.
(Lược một đoạn: Sinh dâng lên vua, bày tỏ mong muốn chiếm lại Lệ Nương và
đưa ra những kế hoạch cụ thể để đánh bại kẻ thù. Dưới đây là tóm tắt nội dung
chính: Sinh trình bày rằng thành công trong việc dẹp loạn phụ thuộc vào vận may
và mưu lược. Ông khẳng định rằng việc đánh bại kẻ thù cần phải biết rõ cách thức
đối phó và chuẩn bị kỹ lưỡng. Sinh kể về sự sụp đổ của triều Hồ và sự tàn phá của
quân Ngô, làm cho đất nước rối loạn. Sinh nêu rõ những kế hoạch cụ thể như sử
dụng các tướng giỏi, chia quân để chặn đường và chiến đấu, không để kẻ thù có chỗ
ẩn náu. Ông kêu gọi vua quyết đoán, tập trung sức mạnh quân đội, và không bỏ lỡ
cơ hội để giành lại quyền kiểm soát. Sinh nhấn mạnh rằng sự do dự sẽ làm lỡ mất
cơ hội và kêu gọi vua lập tức hành động để khôi phục lại sự yên bình cho đất nước).

Bài sách ấy dâng lên, vua Giản Định xem mà khen là người giỏi, cấp cho năm
trăm quân, sai đi đánh phủ Thiên Trường. Sinh khảng khái thề cùng quân sĩ, dụ bảo
họ về sự hưng phục nghiệp Trần, ai nấy đều hăng hái, hăm hở. Bèn nhân nước thủy
triều đương lên tiến đánh. Lã Nghị quả nhiên phải nhổ trại chạy trốn, lùi lên phía
bắc đóng ở Xương Giang. Phá luôn một trận nữa, giặc phải lùi lên trạm Bắc Nga
thuộc về Lạng Sơn. Sinh lại đóng án ngữ ở cửa Quỷ Môn, lần lượt vận tải binh
lương đến. Chợt ở Yên Kinh có chiếu thư rút quân ban xuống, Trương Phụ đốc xuất
các quân sắp sửa kéo về. Sinh vốn vì sự tìm vợ mà đến đây, không phải có chí lập
công, nay nghe quân Tầu sắp rút về, bèn cùng các tướng sĩ chia tay từ biệt, lần đến
trạm Bắc Nga vào một buổi tối. Bấy giờ nhà trạm vắng tanh không có ai mà hỏi han
cả. Chợt gặp một bà già, hỏi thăm thì bà cau mày bảo:
- Đây là chỗ quân đóng vừa rồi, đầy những sát khí, trời lại đã tối, chàng ở đâu
đến đây mà giờ chưa tìm vào nhà trọ? Sinh rầu rĩ kể rõ sự mình, bà già nói:
- Tội nghiệp! Quả có người họ tên và trạc tuổi như lời chàng nói, nhưng chẳng
may đã chết oan rồi. Sinh giật mình hỏi, bà già nói:
- Trước đây năm hôm, quân Tầu sắp rút, người đàn bà họ Nguyễn ấy bảo với hai
bà phu nhân họ Chu họ Trịnh rằng: “Chúng ta vóc mềm tựa liễu, mệnh bạc như vôi,
nước vỡ nhà tan lưu ly đến đó. Nay nếu lại theo họ sang qua cửa ải tức là đến nước
non quê người. Chẳng thà chết rấp ở ngòi lạch, gần gũi quê hương, còn hơn là sang
làm những cái cô hồn ở bên đất Bắc”. Thế rồi mấy người đều cùng nhau tự tận.
Tướng Tầu thương là có tiết tháo, dùng lễ mà táng ở trên núi.
Nói xong, bà già đưa Sinh đến, trỏ từng ngôi mộ cho biết và bảo:
- Trinh thuần cương liệt, ấy chỉ có mấy người này, còn thì đều bị nhuốc nhơ cả.
Sinh đau thương vô hạn. Đêm hôm ấy chàng ngủ ở mộ, khóc mà nói rằng:
- Ta vì nàng mà từ xa đến đây, nàng có thể cùng ta gặp gỡ trong giấc chiêm bao
để cho ta một lời yên ủi hay không?
(Lược một đoạn: Lệ Nương khóc kể về cuộc đời đầy gian truân của mình. Cô
cảm thấy mình xuất thân từ gia đình tầm thường, chưa kịp tận hưởng cuộc sống
hạnh phúc thì đã phải chịu đựng nhiều khổ đau. Cô kể về những ngày tháng đau
khổ và mất mát, sự chia ly với Sinh, và cảm giác không còn tin vào tương lai. Lệ
Nương mô tả sự tàn tạ của bản thân và những khó khăn phải trải qua. Cô than thở
về số phận nghiệt ngã, với sự xâm lăng của quân Hồ và sự tàn phá của cung điện.
Lệ Nương cảm thấy cuộc sống của mình đã trôi qua quá nhiều đau đớn và nỗi buồn,
và hiện tại, cô không còn mong chờ gì ngoài việc chấp nhận số phận. Cô cảm thấy
mình đã chịu đựng quá nhiều và không còn ham sống nữa).

Vợ chồng bèn cùng nhau âu yếm chuyện trò, y như lúc sống. Sinh nói:
- Nàng đã không may, vậy anh đem linh thần về, khỏi uổng một chuyến đi
không lại trở về rồi.
Nàng nói:
- Thiếp rất cảm tấm thâm tình ấy. Song thiếp cùng hai vị mỹ nhân gần gụi lâu
ngày, giao tình thân mật, không một sớm bỏ đi. Phương chi chốn này nước non
trong sáng, mây khói vật vờ, thần yên phách yên, bất tất phiền chàng dời đổi nữa.
Sau khi gà gáy ba hồi, hai người vội cùng nhau đứng dậy từ biệt. Ngày hôm sau,
Sinh đem mấy lạng bạc, mua quan tài và nước thơm, cải táng cho nàng và cả hai mỹ
nhân. Đêm sau mộng thấy ba người đến tạ ơn, chàng đương toan lại cùng trò chuyện
thì thoắt chốc cả ba đều biến mất.
Chàng buồn rầu quay về, từ đấy không lấy ai nữa. Đến sau vua Lê Thái Tổ khởi
nghĩa ở Lam Sơn, Sinh vì mối hờn oán cũ, đem quân ứng mộ, phàm gặp tướng sĩ
nhà Minh đều chém giết dữ dội cho hả. Cho nên vua Lê phá diệt quân Minh, Sinh
có dự nhiều công.
Lời bình:
Than ôi! điều tín ước gần với lẽ phải thì lời nói tất nên giữ đúng, nếu đối với lẽ
phải mà chưa được ổn thì sự giữ đúng không cần. Như chàng họ Lý kia, vì mối ân
tình, giữ bền ước cũ, lưu ly hoạn nạn, vẫn chẳng quên lời, tình thật đáng thương,
mà lẽ phải thì chưa được ổn. Bởi sao? Cảm tình mà đi tìm thì nên, liều chết mà đi
tìm thì không nên, liều chết để đi tìm đã không nên, huống nữa lại thôi không lấy vợ,
để đứt dòng giống của tiên nhân phỏng có nên không? Cho nên người quân tử phải
biết tòng quyền chứ không nên chấp nhất. Giữ điều nhỏ để mất điều lớn, chẳng là
gã Lý Sinh này ư?
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1 (NB): Xác định ngôi kể của người kể chuyện?
Câu 2 (NB): Lệ Nương bị bắt vào cung vì lí do gì?
Câu 3 (TH): Tại sao Phật Sinh quyết định từ biệt mẹ và đi vào Nam, và điều này thể
hiện điều gì về tình cảm của anh đối với Lệ Nương?
Câu 4 (TH): Lời bình cuối chuyện nhấn mạnh điều gì về sự giữ lời hứa và sự cân
nhắc trong các quyết định?
Câu 5 (VD): Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất
đối với cuộc sống hôm này và lí giải tại sao?

ĐỀ 5
Đọc đoạn trích:
NAM KHA THÁI THÚ
(Lược dẫn đoạn đầu: Hưởng Vu Phần, một người đàn ông nghiện rượu, tên
của anh phản ánh tính cách và hoàn cảnh của anh. Hưởng Vu Phần đã tiêu tốn tài
sản vào rượu và cuộc sống buông thả, dẫn đến sự bần cùng và thất bại trong sự
nghiệp. Dù đã từng là sĩ quan, anh bị cách chức do uống rượu say và vi phạm mệnh
lệnh nên bị cách chức. Hiện tại, anh sống lông bông, cùng bạn bè uống rượu và tiêu
xài hoang phí. Chàng sống ở cố hương gần miền Quảng Lăng, cách thành khoảng
ba dặm, gần một cây hòe cổ thụ mà anh thường tụ tập với bạn bè. Cây hòe đã sống
nhiều năm và gợi nhớ cho anh những kỷ niệm thời thơ ấu. Trong cơn say, Hưởng
Vu Phần cảm thấy xúc động và khóc khi nhìn cây hòe, cảm thấy tiếc nuối về cuộc
đời đã qua và sự thất bại hiện tại của mình. Bạn bè phải dìu anh vào nhà và đặt anh
nằm nghỉ).
- Cậu chợp mắt đi một chốc, là khỏe lại ngay. Bọn tớ đi cho ngựa ăn, tắm rửa
cho ngựa, đợi cậu khá một chút rồi mới về.
Hưởng Vu Phần thiêm thiếp ngủ say. Vừa nhắm mắt thì thấy có hai sứ giả áo
tím đến vái chào, cung kính nói:
- Quốc vương Hòe An đang đợi tiên sinh, đã phái xe ngựa ra đón, mời tiên sinh
nhập triều ngay cho.
Hưởng Vu Phần lập tức ngồi dậy, thay quần áo mói đẹp. Ra đến cổng
nhà‡thấy‡có cỗ xe màu lục, tháng bốn con ngựa lớn, ngựa mang dây cương vàng,
dây đai hồng.
Một đội tùy viên của Hoàng gia khoảng bảy, tám người đang đứng chờ. Chàng
vừa leo lên ngồi xuống, xe liền phóng xuống dốc. Rễ cây thô lớn quấn quanh, hình
thành một cái động lớn. Ngoài ý liệu của chàng, cỗ xe cứ phóng thẳng vào trong
động. Vào cửa mới thấy có cả một dải giang sơn phong quang đẹp đẽ trước nay
chàng chưa bao giờ được thấy. Ba bốn dặm phía trước, có thành cao vây quanh, trên
tường thành chòi canh san sát, lầu trên cao vót. Dọc đường lớn dẫn đến cổ thành, xe
ngựa đi lại như nước chảy, giao thông nhộn nhịp. Khách bộ hành đứng ở hai bên
dường nhường đường cho xe đi qua, ai nấy đều chăm chú nhìn vị khách quý. Đến
trước cổng thành, Hưởng Vu Phần thấy trên thượng lâu của thành viết ba chữ vàng
"HÒE AN QUỐC". Tường thành vây quanh vài chục dặm, trên đường, nhân dân
chen vai thích cánh tựa hồ họ đều là những người cần lao hoạt bát. Tất cả đều tề
chỉnh sạch sẽ, lễ phép, lịch sự đến không ngờ. Họ chào hỏi nhau rất tử tế, dừng chân

chưa đầy một sao lại dóng xe lên đường trước như thể công tác bận bịu mà ngày giờ
thì không có nhiều. Chàng không biết tại sao dân ở đây lại vội vã như vậy. Trên đầu
những người phu đội những chiếc mũ lớn. Ngoài ra, cùng còn những trạm đồn lính,
những người lính canh tuân, quân phục chỉnh tề sạch sẽ.
Vị đặc sứ của Quốc vương đứng đợi ở cổng thành nghênh tiếp, sau đó cùng
chàng đến một tòa dinh thự nguy nga tráng lệ, tòa dọc dãy dài có những hoa viên
tuyệt đẹp. Đây là nơi ở của khách của nước.
Đến nơi, thị tùng vào thông báo có tể tướng đến thăm. Chủ khách gặp gỡ. Tể
Tướng nói đến việc hướng dẫn chàng đi yết kiến hoàng thượng. Tể Tướng bảo:
- Hoàng đế muốn gả công chúa thứ hai cho Phò mã tiên sinh.
Hưởng Vu Phần nói:
- Kẻ hèn mọn này dám đâu nhận vinh dự‡lớn‡lao ấy.
Tuy nói vậy, nhưng lại hết sức mừng rỡ trước diễm phúc lớn lao này. Bụng
nghĩ: "Cuối cùng thì vận may của ta cũng đã đến. Ta sẽ làm cho nhân dân
cả‡nước‡rõ mặt Hưởng Vu Phần này là người như thế nào. Ta nhất, định sẽ là một vị
quan trung thực, trên thờ minh quân, dưới vỗ yên trăm họ. Những ngày lêu lỏng
trước đây coi như tuốt tuột quẳng vào quá khứ, để mọi người thấy ta đây một phen
dựng xây công nghiệp".
(Lược một đoạn: Hưởng Vu Phần, được Hoàng Đế gả công chúa Dao Phượng
làm vợ, cảm thấy vô cùng vinh dự và hạnh phúc. Sau khi được phong làm Phò mã,
anh được Hoàng Đế giao cho chức vụ Thái Thú Quận Nam Kha. Trong thời gian ở
Nam Kha, anh và công chúa sống cuộc sống viên mãn và được dân chúng yêu mến
vì công chúa chăm sóc cho dân và xử lý công việc hiệu quả. Hưởng Vu Phần mặc
dù lười biếng và khó khăn trong công việc chính trị, nhưng anh vẫn được công chúa
hỗ trợ và cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại. Anh thường cùng vợ đi dạo và
thưởng thức cuộc sống, cảm thấy cuộc đời mình đã đủ đầy và mỹ mãn. Ít lâu sau
công chúa lâm bệnh nặng mà chết, Hưởng Vu Phần chìm đắm trong rượu và đau
khổ, dẫn đến sự suy sụp và bị hoàng đế và dân chúng xa lánh. Cuối cùng, khi được
Hoàng Hậu cho phép trở về quê, anh trở về Quảng Lăng).
Hưởng Vu Phần giật mình tỉnh dậy, thấy bạn bè lão Chu, lão Điền đang đứng
rửa chân ở sân, tịch dương đổ bóng râm in trên vách tường đông. Chàng thảng thốt
kêu lên:
- Đời người như giấc mộng a!
Lão Chu, lão Điền chạy vội đến hỏi:
- Sao, cái gì? Đã thấy tỉnh chút nào chưa?

Chàng kể lại giấc mộng ly kỳ‡ở‡nước Hòe An cho hai người nghe, cả hai đều
kinh lạ. Chàng dẫn Chu, Điền hai gã ra dưới gốc hòe, chỉ chỗ rễ cây ngoằn ngoèo
uốn khúc, dưới có một cái hang lớn bảo:
- Đây chính là nơi cỗ xe ngựa đưa tôi đi vào, tôi còn nhớ rất rõ.
- Nhất định cậu bị tinh cây mê hoặc đây, Cây hòe này già lắm rồi.
Hưởng Vu Phần nói:
- Sáng mai hai cậu trở lại, mình cùng xem xét cái động này xem sao.
Hôm sau, chàng sai đầy tớ cầm rìu đào cái động nọ lên. Sau khi chặt đứt một số
rễ cây lớn thì phát hiện cái động này vuông cỡ mười thước (Tàu). Trong động,
đường đi quanh co dọc ngang. Ở mé Đông, có bãi đất trống bằng phẳng có một tòa
thành nhỏ, có đường đi, có địa khu, có đường thông, nghìn vạn con kiến đang vây
quanh. Ở giữa có một‡đài cao, phía trên có hai con kiến lớn cánh trắng, đầu trắng,
có rất nhiều kiến lớn đứng bốn phía. Hưởng Vu Phần kinh ngạc quá nói:
- Đây chính là Hòe An Quốc. hoàng đế đang ngồi trong cung đó.
Giữa động có một đường thông đạo dài đến một cành cây mé Nam,‡ở‡đó có một
cái động lớn, phía ngoài có một con kiến, bên trong kiến trúc bằng bùn, cũng có
đường thông. Sắc kiến‡ở‡đây so với những con ở giữa trung tâm động thì đen hơn.
Chàng nhận ra đó là lầu thành của Quận Nam Kha, cái thành thị nhỏ nơi chàng từng
sống quá một năm êm ấm. Sào huyệt của kiến bị người quậy phá. Chàng thấy lũ
bách lính dưới tay chàng trị lý năm xưa đang kinh hoàng chạy cuống cuồng khắp
nơi, lòng chợt xót xa không nỡ. Tận cùng chỗ mục nát của rễ cây được khoét thành
một đường rãnh, cạnh bên có một miếng rêu xanh, không ngờ gì nữa, đây chính là
chỗ chàng và công chúa đã từng sống qua những ngày sướng vui vô hạn ở chốn
rừng rậm. Gần đó có một cái động nhỏ, chính trong động này vợ từng khuyên bảo
chàng:
- Thôi đủ rồi, không nên uống nữa!
Hưởng Vu Phần khôn xiết kinh lạ, chàng lại đo lường con đường thông đến
trung tâm động nọ. Con đường này chàng từng cùng công chúa dong cỗ xe ngựa đi
suốt ba ngày trời. Sau cùng chàng còn phát hiện một cái động nhỏ khác, xa về mé
Đông cờ mười thước (Tàu). Ở đó, có ít cục đá chỉ nhỏ cao chừng ba tấc, trên có một
cục đá nhỏ ở chỗ vách đá cheo leo cao vút. Nhìn qua hình dạng, lập tức chàng nghĩ
đến lăng tẩm của công chúa. Vẫn biết rằng đó chỉ là giấc mộng, nhưng đối với tình
ân ái của còng chúa, chàng vẫn như xưa không thể nào nguôi. Chàng không nén
được cảm thán nỗi hư vô không huyễn của kiếp nhân sinh, hệt như khói mây trôi
qua mắt. Chàng thở dài quay bảo Chu, Điền hai người:

- Tôi cứ tưởng mình nằm mộng, dế đâu bây giờ mới biết Hòe An Quốc hoàn
toàn là thật. Giữa ban ngày ban mặt, không tơ hào là giả. Đại khái, chúng mình đều
là đang mộng cả đấy thôi.
Từ đó về sau, Hưởng Vu Phần khác hẳn. Chàng xuất gia làm sư, lại uống rượu
lại, càng uống dữ dội hơn. Ba năm sau thì chết.
(Trích Truyện truyền kì Trung Quốc, Lâm Ngữ Đường)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1 (NB): Xác định nhân vật chính trong câu chuyện?
Câu 2 (NB): Chỉ ra một chi tiết hoang đường, tưởng tượng trong câu chuyện?
Câu 3 (TH): Những chi tiết nào trong giấc mơ của Hưởng Vu Phần phản ánh rõ nét
đặc trưng của thể loại truyền kỳ?
Câu 4 (TH): Tại sao Hưởng Vu Phần lại nhận ra cuộc đời của mình chỉ như một
giấc mộng sau khi tỉnh dậy?
Câu 5 (VD): Qua câu chuyện tác giả muốn gửi gắm đến người đọc thông điệp gì?
Thông điệp ấy có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống?
ĐỀ 6
Đọc đoạn trích:
Chuyện Lệ Nương
Nguyễn Thị Diễm là người một họ lớn ở huyện Đông Sơn em họ ngoại của
Trần Khát Chân; cùng người đàn bà họ Lý quê ở huyện Cẩm Giàng, cùng mở ngôi
hàng bán phấn đối cửa nhau tại bên ngoài thành Tây Đô, Xóm giềng gần gặn, tình
nghĩa ngày một thân nhưng cả hai đều chưa con cái. Một hôm, đến động Hồ Công
làm lễ cầu tự. Lý thị bảo với Nguyễn thị rằng:
- Chúng ta ở trong phố vẫn quen thân nhau, việc đi lễ cầu tự hôm nay lại không hẹn
mà cùng giống nhau. Nếu mà hương lửa có duyên, sau này ta sẽ cho các con sánh
nên đôi lứa. Bình dân ta lại làm bạn với bình dân, chẳng cần phải kén chọn con ông
cháu cha gì cả; nói có Sơn thần chứng giám, tôi quyết không sai lời. Rồi đó, Nguyễn
Thị quả sinh con gái đặt tên là Lệ Nương, Lý thị quả sinh con trai đặt tên là Phật
Sinh. Hai trẻ đến khi trưởng thành đều ham nghề nghiên bút. Vì cớ hai bên cha mẹ
thân mật, nên họ cùng đi lại với nhau suồng sã, thường cùng nhau xướng họa thơ từ.
Tuy kỳ cưới xin chưa định, nhưng hai tình gắn bó, đã chẳng khác chi vợ chồng vậy.
(Lược một đoạn: Chẳng bao lâu, Lệ Nương bị bắt vào cung sau biến cố Trần Khát
Chân, khiến Phật Sinh đau buồn. Một đêm, Sinh nhận được bức thư của Lệ Nương,

nàng bày tỏ nỗi u sầu về sự chia lìa và khuyên chàng nên lo liệu cuộc đời mới. Sinh
vì thương nhớ nàng, đã tìm cách giải cứu khi quân Minh xâm lược, nhưng không
thành công. Cuối cùng, Sinh gia nhập nghĩa quân và dâng sớ xin kế sách đánh giặc
để mong cướp lại Lệ Nương).
Bài sách ấy dâng lên, vua Giản Định xem mà khen là người giỏi, cấp cho năm
trăm quân, sai đi đánh phủ Thiên Trường. Sinh khảng khái thề cùng quân sĩ, dụ bảo
họ về sự hưng phục nghiệp Trần, ai nấy đều hăng hái, hăm hở. Bèn nhân nước thủy
triều đương lên tiến đánh. Lã Nghị quả nhiên phải nhổ trại chạy trốn, lùi lên phía
bắc đóng ở Xương Giang. Phá luôn một trận nữa, giặc phải lùi lên trạm Bắc Nga
thuộc về Lạng Sơn. Sinh lại đóng án ngữ ở cửa Quỷ Môn, lần lượt vận tải binh
lương đến.
Chợt ở Yên Kinh có chiếu thư rút quân ban xuống, Trương Phụ đốc xuất các
quân sắp sửa kéo về. Sinh vốn vì sự tìm vợ mà đến đây, không phải có chí lập công,
nay nghe quân Tầu sắp rút về, bèn cùng các tướng sĩ chia tay từ biệt, lần đến trạm
Bắc Nga vào một buổi tối. Bấy giờ nhà trạm vắng tanh không có ai mà hỏi han cả.
Chợt gặp một bà già, hỏi thăm thì bà cau mày bảo:
- Đây là chỗ quân đóng vừa rồi, đầy những sát khí, trời lại đã tối, chàng ở đâu đến
đây mà giờ chưa tìm vào nhà trọ? Sinh rầu rĩ kể rõ sự mình, bà già nói:
- Tội nghiệp! Quả có người họ tên và trạc tuổi như lời chàng nói, nhưng chẳng may
đã chết oan rồi.
Sinh giật mình hỏi, bà già nói:
- Trước đây năm hôm, quân Tầu sắp rút, người đàn bà họ Nguyễn ấy bảo với hai bà
phu nhân họ Chu họ Trịnh rằng: "Œchúng ta vóc mềm tựa liễu, mệnh bạc như vôi,
nước vỡ nhà tan lưu ly đến đó. Nay nếu lại theo họ sang qua cửa ải tức là đến nước
non quê người. Chẳng thà chết rấp ở ngòi lạch, gần gũi quê hương, còn hơn là sang
làm những cái cô hồn ở bên đất Bắc". Thế rồi mấy người đều cùng nhau tự tận.
Tướng Tầu thương là có tiết tháo, dùng lễ mà táng ở trên núi.
Nói xong, bà già đưa Sinh đến, trỏ từng ngôi mộ cho biết và bảo:
- Trinh thuần cương liệt, ấy chỉ có mấy người này, còn thì đều bị nhuốc nhơ
cả.
Sinh đau thương vô hạn. Đêm hôm ấy chàng ngủ ở mộ, khóc mà nói rằng:
- Ta vì nàng mà từ xa đến đây, nàng có thể cùng ta gặp gỡ trong giấc chiêm
bao để cho ta một lời yên ủi hay không?
Lời bình:

Than ôi! điều tín ước gần với lẽ phải thì lời nói tất nên giữ đúng, nếu đối với lẽ phải
mà chưa được ổn thì sự giữ đúng không cần. Như chàng họ Lý kia, vì mối ân tình,
giữ bền ước cũ, lưu ly hoạn nạn, vẫn chẳng quên lời, tình thật đáng thương, mà lẽ
phải thì chưa được ổn. Bởi sao? Cảm tình mà đi tìm thì nên, liều chết mà đi tìm thì
không nên, liều chết để đi tìm đã không nên, huống nữa lại thôi không lấy vợ, để đứt
dòng giống của tiên nhân phỏng có nên không? Cho nên người quân tử phải biết
tòng quyền chứ không nên chấp nhất. Giữ điều nhỏ để mất điều lớn, chẳng là gã Lý
Sinh này ư?
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1 (NB): Xác đinh ngôi kể của người kể chuyện?
Câu 2 (NB): Lệ Nương và Phật Sinh là con của những ai?
Câu 3 (TH): Điều gì trong câu chuyện cho thấy sự kết hợp giữa yếu tố kỳ ảo và hiện
thực?
Câu 4 (TH): Theo lời bình cuối truyện, tại sao việc Phật Sinh không lấy vợ được coi
là sai lầm?
Câu 5 (VD): Thông điệp chính mà tác giả muốn truyền tải qua câu chuyện này là
gì? (viết đoạn văn khoảng 5 đến 7 câu).
ĐỀ 7
Đọc đoạn trích
Cuộc nói chuyện thơ ở Ki
(Nguyên văn: Kim Hoa thi thoại ký)
(Lược đoạn đầu: Chuyện kể về Ngô Chi Lan, một phụ nữ tài năng thời Lê, nổi bật
với khả năng thơ văn rất nhanh và không cần sửa chữa gì. Bà được vua Thánh
Tông mời vào cung, dạy dỗ cung nữ. Ít lâu sau khi bà mất, Mao Tử Biên, một học
trò, tình cờ gặp gỡ một gia đình bí ẩn trong một đêm mưa gió trên đường trở về
thăm quê. Trong nhà có một ông già và một mỹ nhân tài hoa. Câu chuyện kết thúc
với việc Tử Biên đọc bốn bài từ về bốn mùa của mỹ nhân này).
Ông khách đọc xong than rằng:
- Nam Châu nếu không có tôi, biết đâu phu nhân chẳng là tay tuyệt xướng, mà tôi
nếu không có phu nhân, biết đâu chẳng là tay kiệt xuất trong một thời.
Thế mới biết lời đồn quả không ngoa thật.
Phu nhân nói:
- Tài tôi nhỏ mọn, đâu dám so sánh với ngài trong muôn một. May mà gặp được
tiên triều, hằng chầu hầu nghiên bút, cho nên mới thông lề luật, chắp thành bài. Một

hôm tôi nhân đi chơi núi Vệ Linh tức là nơi đức Đổng Thiên vương bay lên trời, tôi
có đề rằng:
Vệ Linh xuân thụ bạch vân nhàn,
Vạn tử thiên hồng diệm thế gian.
Thiết mã tại thiên danh tại sử
Anh uy lẫm lẫm mãn giang san.
Dịch:
Vệ Linh mây trắng tỏa cây xuân,
Hồng tía muôn hoa đẹp cảnh trần.
Ngựa sắt về trời, danh ở sử,
Oai thanh còn dậy khắp xa gần.
Sau vài tháng, bài ấy truyền khắp trong cung, đức Hoàng thượng rất là khen ngợi,
ban cho một bộ áo. Lại một hôm, Hoàng thượng ngự ở cửa Thanh Dương, sai quan
Thị thư họ Nguyễn làm bài từ khúc uyên ương. Bài làm xong nhưng Hoàng thượng
không vừa ý, ngoảnh bảo tôi rằng:
- Văn nàng cũng hay lắm, hãy thử đem tài hoa gấm cho trẫm xem nào. Tôi vâng
mệnh, cầm bút làm xong ngay, có hai câu cuối thế này:
Ngưng bích phi thành kim điện ngõa,
Trứu hồng chức tựu Cẩm Giang la.
Dịch:
Biếc đọng kết nên ngói đền vàng,
Hồng châu dệt thành lụa Cẩm Giang.
(Lược một đoạn: Hoàng thượng ban khen Ngô Chi Lan, phong danh hiệu "Phù gia
nữ học sĩ" và tặng 5 đĩnh vàng. Nhờ tài năng và sự giúp đỡ của Tiên hoàng, bà trở
nên nổi tiếng và được giới văn chương kính trọng. Khi vua Thuần hoàng qua đời,
bà làm bài thơ viếng, ca ngợi công lao của nhà vua trong việc mở mang đất nước,
đồng thời bày tỏ nỗi buồn và sự nhớ thương về thời kỳ vinh quang đã qua. Ông
khách khen bài thơ của Ngô Chi Lan phù hợp với phong cách người xưa, đồng thời
phê phán người đời nay thường châm biếm trong thơ văn. Phu nhân buồn bã kể
rằng dù trung thành với vua, bà vẫn bị bịa đặt và chế giễu. Ông khách an ủi, cho
rằng nhiều người trinh liệt xưa cũng từng chịu cảnh tương tự.).
Phu nhân thu nước mắt rồi nói:
- Không có tiên sinh biết cho, có lẽ tôi thành một hòn ngọc khuê có dấu vết,
lấy gì mài cho sáng, rũa cho sạch được. Song đêm đẹp dễ qua, tiệc vui khó kiếm.

Bữa nay vợ chồng tôi cùng tiên sinh hội ngộ, chúng ta chẳng nói những chuyện ấy
nữa, chỉ thêm buồn vô ích mà thôi. Nhân bàn đến thơ văn bản triều, ông khách nói:
- Thơ ông Chuyết Am kỳ lạ mà tiêu tao, thơ ông Vu Liêu cao vọi mà khích
thích, thơ ông Tùng Xuyên như chàng trai xông trận, có vẻ sấn sổ, thơ ông Cúc Pha
như cô gái chơi xuân, có vẻ mềm yếu. Đến như ông Đỗ ở Kim Hoa, ông Trần ở
Ngọc Tái, ông Đàm ở Ông Mặc, ông Vũ ở Đường An, không phải là không ngang
dọc tung hoành, nhưng cầu lấy lời chín lẽ tới, có thể khiến cho làng phong ñ phải
phục thì chỉ duy những bài đầy lời trung ái của ông Nguyễn ức Trai, lòng lúc nào
cũng chẳng quên vua, có thể chen vào môn hộ của Đỗ Thiếu Lăng được. Còn đến
giọng thơ biến hóa được khói mây, lời thơ quan hệ đến phong giáo, thì lão phu đây
cũng chẳng kém thua ai mấy. Câu chuyện như vậy có thể chép ra đến bốn năm
nghìn chữ, nhưng Tử Biên không thể nhớ hết. Chàng đứng nghe lóng ở kẽ vách đến
một hồi lâu. Bỗng chàng để có tiếng sột soạt, bị ông khách nhận thấy, ông nói:
- Cuộc hội họp hôm nay thật là hiếm được, vậy mà tựa như có người nghe trộm.
Những câu chuyện phong lưu của chúng mình, sợ bị họ đem phao truyền ra. Tiên
sinh không thấy biết gì ư?
(Lược đoạn cuối: Phu nhân chấp nhận rằng người đời sau có thể xem bà và ông
khách là nói nhảm. Mao Tử Biên nhận được từ ông khách một cuốn sách, nhưng khi
tỉnh dậy thấy mình nằm cạnh hai ngôi mộ và cuốn sách chỉ có bốn chữ "Lã Đường
thi tập". Sau đó, chàng mới nhận ra ông khách là Lã Đường Sái tiên sinh và quyết
tâm sưu tầm thơ của ông, góp phần giúp tập thơ của Lã Đường trở nên thịnh hành
trong triều Lê).
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn)
Câu 1 (NB): Ngô Chi Lan là ai và bà nổi bật với tài năng gì?
Câu 2 (NB): Mao Tử Biên đã gặp gia đình bí ẩn trong hoàn cảnh nào?
Câu 3 (TH): Chỉ ra 01 chi tiết hoang đường, tưởng tượng được sử dụng trong đoạn
trích? Nêu tác dụng của chi tiết hoang đường đó?
Câu 4 (TH): Ông khách cho rằng thơ văn của thời đại ông khác với người đời xưa
như thế nào?
Câu 5: (VD): Thông qua việc Mao Tử Biên quyết tâm sưu tầm và bảo tồn thơ của
Lã Đường, bạn có thể rút ra bài học gì về tầm quan trọng của việc gìn giữ giá trị văn
hóa và di sản văn học?
ĐỀ 8
Đọc đoạn trích:
Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang

Năm Bính Dần (1386) , vua Trần Phế đế đi săn, đỗ lại trên bờ bắc sông Đà,
đêm mở bữa tiệc ở trong trướng. Có một con cáo từ dưới chân núi đi về phía nam,
gặp một con vượn già, nhân bảo:
- Vua tôi Xương Phù vào rừng săn bắn, để ý vào bọn ta lắm đó. Tính mệnh các
loài chim muông, thật là treo ở sợi dây cung. Nếu tuyết chưa xuống, gió chậm về,
mình sẽ nguy mất, nếu không vẫy đuôi xin thương thì ắt bị cày sân lấp ổ. Tôi định
đến kiếm một lời nói để ngăn cản, bác có vui lòng đi với tôi không?
Vượn già nói:
- Nếu bác có thể đem lời nói mà giải vây được, đó thật là một việc hay. Nhưng
chỉ e nói năng vô hiệu, họ lại sinh nghi, trốn sao khỏi cái nạn thành cháy vạ lây, há
chẳng nghe câu chuyện hoa biểu hồ tinh ngày trước?
Con cáo nói:
- Những người theo nhà vua đi săn, phần nhiều là võ nhân, bụng không bác
vật như Trương Hoa, mắt không cao kiến như Ôn Kiệu, vậy chắc không việc gì mà
sợ. Bèn cùng nhau hóa làm hai người đàn ông mà đi, một người xưng là tú tài họ
Viên, một người xưng là xử sĩ họ Hồ đương đêm đến gõ cửa hành cung, nhờ kẻ nội
thị chuyển đệ lời tâu vào rằng:
- Tôi nghe thánh nhân trị vì, càn khôn trong sáng, minh vương sửa đức, chim
muông hòa vui. Nay chúa thượng đương kỳ thái hạnh, làm chủ dân vật, tưởng nên
mở lưới vơ hiền, giăng chài vét sĩ, đương gội thì quấn mái tóc, lên xe thì dành bên
tả , đem xe bồ ngựa tứ săn những người hiền trong chỗ quê lậu, lấy lễ hậu lời khiêm
đón những kẻ sĩ trong đám ẩn dật, khiến trong triều nhiều bậc lương tá để ban ân
trạch cho sinh dân, đưa tất cả cuộc đời vào cõi nhân thọ. Cớ sao lại đi săn gấu bắt
thỏ, tranh cả công việc của chức Sơn ngu như vậy! Bấy giờ vua say rượu đương
muốn đi nằm, sai thủ tướng Quý Ly mời hai người vào tiếp đãi, ở phía dưới thềm
khách, và hiểu bảo cho biết săn bắn là phép tắc đời xưa, sao lại nên bỏ.
(Lược một đoạn: Hồ và Quý Ly tranh luận về việc đi săn của nhà vua. Hồ cho
rằng việc săn bắn trong mùa hè không phù hợp, gây khổ dân và phá hoại mùa
màng. Ông khuyên nhà vua dừng việc săn bắn để giữ sự yên bình cho người và vật.
Tuy nhiên, Quý Ly phản bác, cho rằng nhà vua không săn bắn vì ham thích thú, mà
để trừ diệt một loài hồ ly nghìn năm, ngăn chặn những điều xấu xa. Hồ tiếp tục
phản biện, nhấn mạnh rằng đất nước còn nhiều vấn đề lớn cần giải quyết, như giặc
giã và tình hình bất ổn, thay vì lo săn đuổi hồ ly. Quý Ly cảm thấy bối rối vì lý lẽ
sắc bén của Hồ, và nhận ra rằng cuộc tranh luận đã không diễn ra như ông mong
đợi. Hai người trách Quý Ly vì là thủ tướng nhưng lại không tiến cử người tài giúp
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.