




Preview text:
Bối cảnh Việt Nam sau 1975
Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước ta bước vào một kỷ nguyên
mới: Tổ quốc hoàn toàn độc lập, thống nhất, quá độ đi lên chủ nghĩa xã
hội. Giai đoạn này có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn. – Thuận lợi:
+ Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954 – 1975) đã đạt
những thành tựu to lớn và toàn diện, xây dựng được những cơ sở vật chất
– kĩ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội.
+ Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất. Chế độ thực
dân mới của Mĩ và bộ máy chính quyền Sài Gòn trung ương sụp đổ. – Khó khăn:
+ Nền kinh tế nông nghiệp còn lạc hậu, phổ biến ở thời kì này vẫn là hình
thức sản xuất nhỏ. (cả Nam cả Bắc)
+ Miền Bắc: bị tàn phá nghiêm trọng sau hai cuộc chiến tranh phá hoại của
Mĩ, gây hậu quả lâu dài đối với miền Bắc.
+ Miền Nam: hậu quả của 30 năm chiến tranh (1945 – 1975) để lại hết sức
nặng nề (Nhiều làng mạc, đồng ruộng bị tàn phá, bỏ hoang, chất độc hóa
học và bom mìn còn bị vùi lấp nhiều nơi,…), tàn dư của chế độ thực dân
còn nhiều. Sau chiến tranh giải ph
óng miền Nam, nguồn viện trợ của quốc
tế cho Việt Nam từ các nước Liên Xô, Trung Quốc, Cuba, Campuchia giảm
dần và kết thúc; cùng với đó là chính sách thù địch, bao vây, cấm vận của
Mỹ, đặt nước ta vào tình thế bị cô lập với thế giới.
(Thêm hình ảnh những nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam) Đến nay,
Việt Nam ghi nhận đời thứ 4 bị di chứng của chất độc màu da cam (Khoảng 2,000 người).
=> Vừa phải đối phó với chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía
Bắc. Các cuộc chiến đấu này tuy không kéo dài nhưng đã gây tổn thất, ảnh
hưởng đến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quan hệ đối ngoại. Bên
cạnh đó, các thế lực thù địch sử dụng những thủ đoạn thâm độc chống phá
cách mạng Việt Nam. Đã có không ít các hoạt động phá hoại, những âm
mưu bạo loạn và lật đổ kích động và chia rẽ nội bộ dân tộc, tất cả đều có
sự tiếp sức của các thế lực phản động bên ngoài. Có thể kể đến
Theo đó, rất nhiều nhiệm vụ đã được Đảng đặt ra như: Hoàn thành
thống nhất đất nước về mặt nhà nước, khắc phục hậu quả của chiến tranh,
khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội ở hai miền Nam, Bắc.
(Đặt câu hỏi tương tác: “Đâu là nhiệm vụ quan trọng, được Đảng,
Chính phủ tập trung giải quyết ở giai đoạn này?”)
Hồ Chủ Tịch đã từng nói: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam
là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ
thay đổi”. Thế nhưng ở giai đoạn này mỗi miền đất nước lại có một hình
thức tổ chức nhà nước khác nhau, thực tế đó trái với nguyện vọng, tình
cảm thiêng liêng của nhân dân hai miền Nam – Bắc là sớm được sum họp
thành một đại gia đình, mong muốn có một chính phủ thống nhất, một cơ
quan đại diện quyền lực chung cho nhân dân cả nước. Vậy nên, nhiệm vụ
đầu tiên, bức thiết nhất là thống nhất nước nhà về mặt nhà nước cụ thể là
thống nhất 2 chính quyền: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền
Bắc và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở miền Nam. Văn học/ Nghệ thuật:
“Tiến quân ca” là một sáng tác để đời của người nhạc sĩ tài hoa Văn Cao
và được ra đời trong giai đoạn này.
“Bài ca không bao giờ quên" (Phan Huỳnh Điểu) thể hiện tình yêu và lòng
biết ơn với những người chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh.
Ca trù: * Loại hình hòa nhạc truyền thống được bảo tồn và phát triển sau 1975.
Đây cũng là khoảng thời gian khai sinh ra nền văn học mới, vận động
theo khuynh hướng dân chủ hóa, phát huy tính sáng tạo với những tìm tòi, thể nghiệm mới.
- Giai đoạn sau năm 1975, thơ không còn phát triển mạnh mẽ như trước
mà nở rộ những tác phẩm trường ca. Khuynh hướng chung của trường ca
là tổng kết, khái quát về chiến tranh, những tác phẩm tiêu biểu gồm:
“Đường tới thành phố” của Hữu Thỉnh, “Trường ca sư đoàn” của Nguyễn Đức Mậu…
- Tác phẩm văn xuôi tiêu biểu: “Mùa lá rụng trong vườn” (Ma Văn Kháng),
“Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh)...
- Tác phẩm kịch tiêu biểu: “Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt” (Lưu Quang Vũ)...