Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA SAU ĐẠI HỌC ------ BÀI THẢO LUẬN
KINH TẾ HỌC VỀ TIỀN TỆ, NGÂN HÀNG
VÀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Đề tài: Các công cụ của chính sách tiền tệ? Thực trạng điều hành chính
sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thời gian qua?
Ý kiến bình luận của bạn? NHÓM 1- CH25A.KT.T1 MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN..................................................................................................................1
LỜI CAM ĐOAN............................................................................................................2
PHẦN MỞ ĐẦU..............................................................................................................3
1. Tầm quan trọng của đề tài...................................................................................3
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài...........................................................................3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài..........................................................................3
4. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu..............................................................................4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ............................................5
1. Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ:.............................................................5
1.1. Khái niệm:........................................................................................................5
1.2. Vị trí chính sách tiền tệ:..................................................................................5
2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ:..........................................................................5
2.1. Ổn định giá trị đồng tiền:................................................................................5
2.2. Tăng công ăn việc làm:...................................................................................6
2.3. Tăng trưởng kinh tế:.......................................................................................6
3. Các công cụ của chính sách tiền tệ:.....................................................................6
3.1. Nghiệp vụ thị trường mở:................................................................................6
3.2. Dự trữ bắt buộc:..............................................................................................7
3.3. Chính sách tái chiết khấu...............................................................................7
3.4. Quản lý hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại.........................8
3.5. Quản lý lãi suất của các ngân hàng thương mại:..........................................9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI GIAN QUA ( 2015 ĐẾN NAY)...................10
1. Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ:.........................................10
2. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước những
năm qua (từ năm 2015 trở lại đây)
..........................................................................11
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÁC
CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM...........................................18
1. Một số quan điểm về thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của NHNN...18
2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ ở VN19
2.1. Hoàn thiện thể chế pháp luật NH và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật 19
2.2. Phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa & các chính sách KT vĩ mô khác 19
KẾT LUẬN....................................................................................................................20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................21
1. PTS. Lê Vinh Danh: “Tiền và hoạt động Ngân hàng”. NXB CTQ6- H19.............21
2. Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam” NXB CTQG, H 1998..................................21
3. Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Đức Hưởng (2016), Tiền tệ
ngân hàng và thị trường tài chính, NXB Lao Động.......................................................21
4. Trịnh Thị Mai Hoa (2004), Giáo trình kinh tế học tiền tệ- ngân hàng, NXB Đại
Học Quốc Gia Hà Nội....................................................................................................21
5. www.sbv.gov.vn......................................................................................................21
6. http://tapchinganhang.gov.vn..................................................................................21
7. Tapchitaichinh.vn....................................................................................................21
8. PTS. Nguyễn Anh Dũng - Lân Hồng Cường: “chính sách tiền tệ trên nền tảng lý
luận và thực tiễn Việt Nam. TC Ngân hàng số 6/1996..................................................21
9. Nguyễn Sơn Tùng: “ Về chính sách tiền tệ mềm dẻo”. TC Ngân hàng 8/1997......21
10. PTS Mai Bạn: “Xây dựng và điều hành CSTT sát hợp với thực tế Việt..............21
Nam” TC Ngân hàng số 12/1998...................................................................................21
11. Th.S Tô Kim Ngọc: “ Hạn chế của cơ chế điều chỉnh trực tiếp trong điều hành
CSTT ở Việt Nam” TC Ngân hàng số 1+2/2000...........................................................21
12. Th.S Nguyễn Thị Thuý Vân: “ Hoàn thiện các công cụ điều hành CSTT ở Việt
Nam hiện nay” TC Ngân hàng số 12/1999....................................................................21
13. PTS Nguyễn Văn Thắng: “ Chuyển đổi công cụ của CSTT từ trực tiếp sang gián
tiếp” TC Ngân hàng số 12/1999.....................................................................................21
14. TS. Vũ Viết Ngoạn “Toàn cầu hoá - cơ hội và thách thức đối với CSTT của Việt
Nam” TC Ngân hàng số 2/1999.....................................................................................21 PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tầm quan trọng của đề tài
Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, việc hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng
giao lưu quan hệ thương mại với các quốc gia là xu hướng tất yếu và cũng là cơ hội
để đưa Việt Nam trở thành một đất nước có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, việc
hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới trong thời gian qua đã tạo ra sức ép
ngày càng lớn cho hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam,
làm tăng các giao dịch vốn và rủi ro của hệ thống ngân hàng. Theo đó, công tác điều
hành chính sách tiền tệ vẫn tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mà
việc quan trọng là cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng các công cụ của chính sách
tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.
Nhận thức được tầm quan trọng của chính sách tiền tệ cũng như thực trạng điều
hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong thời gian vừa qua,
nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Các công cụ của chính sách tiền tệ? Thực trạng
điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thời gian qua? Ý
kiến bình luận của bạn?”
để nghiên cứu và thảo luận.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về các công cụ của chính
sách tiền tệ cũng như tìm hiểu thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam thời gian qua, các thành viên trong nhóm đã vận dụng những
hiểu biết về chính sách pháp luật hiện hành trong lĩnh vực Tài chính ngân hàng để
đưa ra ý kiến bình luận và một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ
của chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra với đề tài gồm:
- Nghiên cứu lý thuyết về về các công cụ của chính sách tiền tệ cũng như tìm hiểu
thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thời gian qua. Trang 1
- Đưa ra ý kiến bình luận và một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các
công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo Bài tiểu luận này gồm ba phần chính:
Chương 1: Tổng quan về chính sách tiền tệ
Chương 2: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam thời
gian qua (2015 đến nay)
Chương 3: Một số quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ của
chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
4. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Về lý luận: Đề tài hệ thống hóa những lý thuyết căn bản về chính sách tiền tệ
cũng như các công cụ của chính sách tiền tệ.
- Về thực tiễn: Nghiên cứu giúp nhóm Tác giả làm giàu tri thức thông qua việc
tìm hiểu về các công cụ của chính sách tiền tệ cũng như thực trạng điều hành chính
sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong thời gian vừa qua, từ đó giúp
nhóm Tác giả hiểu được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng các
công cụ của chính sách tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Trang 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1. Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ:
1.1. Khái niệm:
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương
khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm đạt các mục
tiêu, ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế.
Tùy điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể xác lập theo hai hướng:
chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh
doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng - chính sách tiền tệ chống thất nghiệp)
hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào
sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng - chính sách
tiền tệ ổn định giá đồng tiền).
1.2. Vị trí chính sách tiền tệ:
Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước thì chính sách tiền tệ
là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực
lưu thông tiền tệ. Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với chính sách kinh tế vĩ mô
khác như chính sách tài khóa, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại. Đối
với ngân hàng nhà nước Việt Nam việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là
hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ
quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn.
2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ:
2.1. Ổn định giá trị đồng tiền:
Ngân hàng nhà nước Việt Nam thông qua chính sách tiền tệ có thể tác động
đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn định được
xem xét trên hai mặt : sức mua đối nội của đồng tiền và sức mua đối ngoại của đồng
tiền. Tuy vậy chính sách tiền tệ hướng tới ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là
tỉ lệ lạm phát bằng 0 vì như vậy nền kinh tế không phát triển được, để có một tỷ lệ
lạm phát phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên.
2.2. Tăng công ăn việc làm: Trang 3
Chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh từ đó ảnh
hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế. Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm thì phải
chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên.
2.3. Tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế luôn là một mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch
định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình. Để giữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn
định đặc biệt việc ổn đinh giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng, nó để thể hiện lòng
tin của nhân dân với chính phủ. Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu
trên đạt được một cách hài hòa. Mối quan hệ giữa các mục tiêu : có mối quan hệ
chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không tách rời. nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì
các mục tiêu này có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau. Vậy để đạt
được các mục tiêu trên một cách hài hòa thì ngân hàng nhà nước Việt Nam trong khi
thực hiện chính sách tiền tệ cần phải có sự phối hợp với chính sách kinh tế vĩ mô khách.
3. Các công cụ của chính sách tiền tệ:
3.1. Nghiệp vụ thị trường mở:
- Khái niệm: là những hoạt động mua bán chứng khoán do ngân hàng trung
ương thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ sở tiền tệ qua đó điều tiết lượng tiền cung ứng.
- Cơ chế tác động: khi ngân hàng trung ương mua (bán) chứng khoán thì sẽ
làm cho cơ số tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi).
Nếu thị trường mở chỉ có ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại thì
hoạt động này sẽ làm thay đổi lượng tiền dự trữ của các ngân hàng thương mại (R) nếu
bao gồm cả công chúng thì nó sẽ làm thay đổi ngay lượng tiền mặt trong lưu thông (C)
- Đặc điểm: do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là một
công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của chính sách tiền tệ vì khối lượng
chứng khoán mua ( bán) tỷ lệ với quy mô lượng tiền cung ứng cần điều chỉnh, ít tốn
kém về chi phí, dễ đảo ngược tình thế. Tuy vậy, vì được thực hiện thông qua quan Trang 4
hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thị trường và
mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cần phải có sự phát triển đồng bộ của thị
trường tiền tệ, thị trường vốn.
3.2. Dự trữ bắt buộc:
- Khái niệm: số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các ngân hàng phải giữ lại
do ngân hàng trung ương quy định, gửi tại ngân hàng trung ương không hưởng lãi,
không được dùng để đầu tư, cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất
định trên tổng số tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn
định của hệ thống ngân hàng.
- Cơ chế tác động: việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến
số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của các ngân hàng thương
mại. Mặt khác khi tăng ( giảm) , làm cho lãi suất vay tăng ( giảm ) từ đó làm cho
lượng cung tiền giảm ( tăng).
- Đặc điểm: đây là công cụ mang tính quản lý nhà nước nên giupsngaan hàng
trung ương chủ động trong việc điều chỉnh tiền cung ứng và tác động của nó rất
mạnh. Song tính linh hoạt của nó không cao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm,
phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của
các ngân hàng thương mại.
3.3. Chính sách tái chiết khấu
- Khái niệm: đây là hoạt động mà ngân hàng trung ương thực hiện cho vay
ngắn hạn đối với các ngân hàng thương mại thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng
việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay tái
chiết khấu (cửa sổ chiết khấu)
- Cơ chế tác động: khi ngân hàng trung ương tăng ( giảm ) lãi suất tái triết
khấu sẽ hạn chế ( khuyến khích ) việc các ngân hàng thương mại vay tiền ngân hàng
trung ương làm cho khả năng cho vay của ngân hàng thương mại giảm ( tăng ) từ đó
làm cho mức cung tiền trong nền kinh tế giảm ( tăng). Mặt khác khi ngân hàng trung
ương muốn hạn chế ngân hàng thương mại vay chiết khấu của mình thì thực hiện
việc khép cửa sổ chiết khấu lại. Trang 5
Ngoài ra ở các nước có thị trường chưa phát triển, thương phiếu chưa phổ biến
để có thể làm công cụ tái chiêts khấu thì ngân hàng trung ương còn thực hiện nghiệp
vụ này thông qua việc cho vay tái cấp vốn ngắn hạn đối với các ngân hàng thương mại.
- Đặc điểm: chính sách tái chiết khấu giúp ngân hàng thương mại thực hiện
vai trò người cho vay cuối cùng đối với các ngân hàng thương mại khi các ngân
hàng thương mại gặp khó khăn trong thanh toán, và có thể kiểm soát được hoạt động
tín dụng của ngân hàng thương mại, đồng thời có thể tác động tới việc điều chỉnh cơ
cấu đầu tư đối với nền kinh tế thông qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ
thể. Tuy vậy, hiệu quả của công cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động cho vay của
các ngân hàng thương mại mặt khác mức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó,
sai lệch thông tin về cung cầu vốn trên thị trường.
Đây là ba công cụ tác động gián tiếp tới quy mô lượng tiền cung ứng, trong
một nền kinh tế ngân hàng trung ương sử dụng hiệu quả các công cụ này thì sẽ
không cần đến bất cứ một công cụ nào khác. Tuy vậy trong những điều kiện cụ thể
thì để đạt được mục tiêu của mình ngân hàng trung ương có thể sử dụng các công cụ
điều tiết trực tiếp như:
3.4. Quản lý hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại
- Khái niệm: là việc ngân hàng trung ương quy định tổng mức dư nợ của ngân
hàng thương mại không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất
định ( một năm ) để thực hiện vai trò kiểm soát nước cung tiền của mình. Việc định
ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
(tốc độ tăng trưởng, lạm phát tiêu thụ …) sau đó ngân hàng trung ương quy định.
- Cơ chế tác động : đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với
lượng cung tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho
nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với quy mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu
của ngân hàng thương mại.
- Đặc điểm: giúp ngân hàng trung ương điều chỉnh kiểm soát được lượng tiền
cung ứng khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của nó Trang 6
rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao của nền
kinh tế. song nhược điểm của nó rất lớn: trieeutj tiêu động lực cạnh tranh giữa các
ngân hàng thương mại làm hiệu quả phân bổ vốn trong nền kinh tế dễ phát sinh
nhiều hình thức tín dụng ngoài sự kiểm soát của ngân hàng trung ương và nó sẽ trở
nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên.
3.5. Quản lý lãi suất của các ngân hàng thương mại:
- Khái niệm: ngân hàng trung ương đưa ra một khung lãi suất hay ấn định
một trần lãi suất cho vay để hướng các ngân hàng thương mại điều chỉnh lãi suất
theo giới hạn đó, từ đó ảnh hưởng tới quy mô tín dụng của nền kinh tế và ngân hàng
trung ương có thể đạt được quản lý mức cung tiền của mình.
- Cơ chế tác động: việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô huy động và cho vay của các ngân hàng thương mại
làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo.
- Đặc điểm: giúp cho ngân hàng trung ương thực hiện quản lý lượng tiền cung
ứng theo mục tiêu của từng thời kì, điều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có
điều kiện để phát huy tác dụng các công cụ gián tiếp. Song nó dễ làm mất đi tính
khách quan của lãi suất trong nền kinh tế, vì thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn do
vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế.
Mặt khác việc thay đổi quy định điều chỉnh lãi suất dễ làm cho các ngân hàng
thương mại bị động, tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM THỜI GIAN QUA ( 2015 ĐẾN NAY)
1. Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ: Trang 7
- Từ năm 2015 đến nay ngân hàng nhà nước Việt Nam đã lựa chọn mục tiêu
kiềm chế, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô là mục tiêu xuyên suốt, chủ đạo
cho điều hành chính sách tiền tệ quốc gia. Mục tiêu này được nhấn mạnh tại chỉ thị
số 01/CT-NHNN ngày 10/01/2017 của ngân hàng nhà nước Việt Nam và được thực
hiện nhất quán trong toàn ngành ngân hàng suốt năm 2017. Mục tiêu mà ngân hàng
Nhà nước tiếp tục đặt ra trong thời gian tới là bám sát nghị quyết về phát triển kinh
tế -xã hội của chính phủ, tập chung vào kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và
tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, góp phần tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý.
Khác với tư duy ưu tiên tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn trước, từ năm 2015 đến
nay Ngân hàng nhà nước Việt Nam luôn thể hiện rõ cam kết duy trì lạm phát ổn định
trong trung và dài hạn. Trước những khó khăn mà nền kinh tế phải đối diện, Ngân
hàng Nhà nước đã triển khai quyết định liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt
động sản xuất kinh doanh hỗ trợ thị trường.
- Năm 2016 Ngân hàng Nhà nước ban hành chính sách điều hành tỷ giá mới theo
cơ chế tỷ giá trung tâm giữa VND và USD. Tỷ giá tính chéo giữa VND và một số
ngoại tệ với cơ chế linh hoạt, biến động hàng ngày.
- Đặc biệt năm 2018 có chỉ thị thực hiện đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ,
với những biện pháp quyết liệt để giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Trong đó việc giữ ổn
định kinh tế vĩ mô, duy trì sự thúc đẩy tăng trưởng (những năm trước đây) và hỗ trợ
tăng trưởng (những năm sau này) là những nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng và xuyên
suốt trong thời gian qua. Điều này phản ánh trên ba phương diện là :
+ Ổn định kinh tế vĩ mô : là mục tiêu hàng đầu xuyên suốt những năm qua
+ Hỗ trợ tăng trưởng kinh tế: trong bối cảnh khó khăn và thử thách từ các yếu
tố khách quan cũng như từ thị trường thế giới thì những thành tựu đạt được đã khẳng
định hiệu quả của chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước góp phần quan trọng
duy trì sản xuất, phục hồi phát triển sản xuất. Trang 8
+ Ổn định và thúc đẩy hoạt động ngân hàng phát triển: cơ chế chính sách của
Ngân hàng Nhà nước giữ vai trò quan trọng góp phần vào sự ổn định tăng trưởng và
phát triển của hoạt động ngân hàng.
- Năm 2019: Chính sách tiền tệ sẽ được dần tiêu chuẩn hóa. Các công cụ của
chính sách tiền tệ sẽ được sử dụng một cách linh hoạt, đồng bộ và phù hợp với điều
kiện ở Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ không đông cứng, đóng băng như các thời kỳ trước.
2. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước những
năm qua (từ năm 2015 trở lại đây)
Năm 2015: đi qua với bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp và khó
lường, đặt ra nhiều thử thách với việc điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
+ Năm 2015 là năm bản lề đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có ý
nghĩa quyết định đến việc hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (giai
đoạn: 2011- 2015) cũng như tạo tiền đề vững chắc tiếp tục xây dựng triển khai kế
hoạch 5 năm tiếp theo. Ngân hàng nhà nước tổ chức điều hành chính sách tiền tệ một
cách hiệu quả, kiểm soát các kênh cung ứng tiền theo mục tiêu hỗ trợ ổn định tỷ giá
và thị trường ngoại hối, kiểm soát lạm phát nhưng vẫn đảm bảo hài hòa với mục tiêu
giảm lãi suất, tăng tín dụng hợp lý, xử lý quyết liệt tình trạng nợ xấu, bằng cách thực
hiện linh hoạt bơm tiền ra, rút tiền về, trọng tâm là thị trường mở, lượng tiền cung ứng
đã được kiểm soát tốt, góp phần làm ổn định lạm phát ở mức thấp tăng (tăng 0,6% so
với cuối năm 2014) lạm phát tính bình quân tăng 0.63% là mức tăng thấp nhất kể từ năm 2001.
+ Công cụ tỷ giá được điều hành linh hoạt phù hợp với điều kiện tình hình
mới, kịp thời ứng phó, chung hòa các tác động bất lợi từ thị trường tài chính quốc tế
trên cơ sở đảm bảo lợi ích tổng thể nền kinh tế. Nhờ đó tỷ giá và thị trường ngoại tệ
được giữ ổn định, niềm tin vào đồng tiền được củng cố, tình trạng đô la hóa tiếp tục giảm… Trang 9
+ Giảm mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của các TCTD, đồng thời để tạo
điều kiện lãi suất thấp Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, duy
trì các lãi suất điều hành, trần lãi suất cho vay nhờ đó mặt bằng lãi suất giảm khoảng
0.2-0.5%/năm trong đó lãi suất vay trung bình dài hạn khoảng 0,3-0,5%/năm là rất
tích cực. Kết quả là năm 2015 đã đưa lãi suất về chỉ bằng 50% mức lãi suất cuối năm 2011.
+ Triển khai quyết liệt các giải pháp tín dụng. kết quả là tín dụng tăng trưởng
tốt ngay từ những ngày đàu năm 2015, những tháng đầu năm tín dụng ước khoảng
18% cao hơn năm 2014, hỗ trợ cho việc đạt trưởng kinh tế vượt mục tiêu năm 2015.
Trong năm 2015 dù nhiều biến động nhưng điều hành chính sách tài chính của
ngân hàng nhà nước đã đạt được những thành tựu to lớn như mặt bằng lãi suất tiếp
tục giảm, thị trường tiền tệ ổn định, tín dụng sau một thời gian tăng chậm đã được
khơi thông và tăng trưởng ngay từ đầu năm, hỗ trợ đắc lực cho tăng trưởng kinh tế.
Tỷ giá, thị trường ngoại tệ và thị trường vàng tiếp tục được giữ ổn định, từ dó góp
phần quan trọng vào việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, lạm phát cả năm ở mức thấp,
hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất trong 5 năm trở về trước.
Năm 2016: Ngân hàng Nhà nước cũng gặp không ít những khó khăn và thử
thách trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Kinh tế trong nước phục hồi chậm,
thương mại toàn cầu suy giảm, Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ. Ngân hàng
nhà nước đã điều hành các công cụ chính sách tiền tệ linh hoạt và đồng bộ. Cụ thể là:
+ Ngân hàng nhà nước đã điều hành đồng bộ công cụ, giải pháp chính sách
tiền tệ đảm bảo các chỉ tiêu tiền tệ, tín dụng tăng theo đúng đề hướng đặt ra, lạm
phát cả năm tăng 4,74% đạt mục tiêu kiểm soát dưới 5%, giữ lạm phát cơ bản ổn định 1,875.
+ Nỗ lực ổn định lãi suất thị trường trong bối cảnh lạm phát tăng trở lại, tín
dụng tăng ngay từ đầu năm, Ngân hàng nhà nước đã chủ động điều tiết tiền tệ cho
phép thanh khoản của hệ thống dư thừa, lãi suất thị trường liên ngân hàng ở mức
thấp, giảm sức ép lãi suất cho vay nhưng không gây áp lực tăng lạm phát. Đồng thời
cân đối vốn duy trì ổn định lãi suất huy động, tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả Trang 10
kinh doanh để có điều kiện giảm lãi suất cho vay. Năm 2016 lãi xuất cho vay nằm ở
khoảng 6-9% đối với ngắn hạn và 9-11% đối với dài hạn.
+ Tỷ giá và thị trường ngoại hối tương đối ổn định là kết quả được ghi nhận
trong khi tình hình bối cảnh thị trường tài chính thế giới biến động hết sức phức tạp.
Từ đầu năm 2016 chuyển sang điều hành theo tỷ giá trung tâm, theo đó, Ngân hàng
Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm biến động linh hoạt hàng ngày theo sát diễn biến
thị trường trong, ngoài nước. Qua đó hỗ trợ thị trường ngoại tệ diễn biến ổn định, tỷ
giá giao dịch liên ngân hàng phù hợp với diễn biến tiền tệ, kinh tế vĩ mô.
Năm 2016 cũng đầy biến động, nhưng nhờ chính sách tiền tệ góp phần quan
trọng vào việc giảm lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời việc điều hành công
cụ và giải pháp chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước là đồng bộ, phù hợp mục
tiêu và bối cảnh trong nước và quốc tế.
Năm 2017: là một năm chịu nhiều biến động của nền kinh tế vĩ mô trong và
ngoài nước nên Ngân hàng Nhà nước đã điều hành linh hoạt công cụ lãi suất.
+ Ngân hàng nhà nước tập chung điều tiết thanh khoản hệ thống hợp lý để hỗ
trợ Tổ chức tín dụng ổn định lãi suất, yêu cầu các ngân hàng thương mại phải giữ ổn
định lãi suất. Kết quả là mặt bằng lãi suất vẫn giữ được ổn định trong đó lãi suất huy
động vốn kì hạn dưới 6 tháng là 4,8-5,4%/ năm, trên 6 tháng là 5,4-7,2%/ năm. Lãi
suất cho vay nội tệ phổ biến 6-7%/ năm.
+ Lạm phát có diễn biến tăng chậm, cụ thể tháng 6 năm 2017 chỉ số giá tiêu
dùng tăng 0,2% so với cuối năm 2016, tăng 2,54% so với cùng kì 2016.
+ Điều hành ổn định tỉ giá, thị trường ngoại tệ và tăng quỹ dự trữ ngoại tệ. tỷ
giá USD/VND chỉ tăng 1,2%. Cùng với đó thanh khoản thị trường ngoại tệ thông
suốt. dự trữ ngoại hối nhà nước tăng kỷ lục, thị trường vàng biến đổi tương đối ổn.
+ Tổ chức chỉ đạo thực hiện các chính sách theo mục tiêu điều hành chính
sách tiền tệ. Văn bản số 4060/NHNN-TTGSNH nêu rõ giải pháp về tín dụng và
thanh khoản thời gian còn lại trong năm, giúp điều tiết tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 18%. Trang 11
Tổng kết 2017: Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã điều hành thành công chính
sách tiền tệ góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của đất nước.
Năm 2018: có thể coi là năm khá thành công của ngành ngân hàng trong hoạt
động điều hành chính sách tiền tệ.
+ Điều hành cung tiền ra thị trường hợp lý, hiệu quả, tín dụng đang dần được
kiểm soát chặt chẽ đảm bảo mục tiêu ổn định vĩ mô. Đến hết 20/12 tăng trưởng tín
dụng đạt 13,3% ước tính tín dụng cả năm đạt 15% thấp hơn mục tiêu đưa ra là 17%
tuy nhiên dòng tiền đã đi đúng hướng và vào đúng các lĩnh vực được ưu tiên
+ Tăng trưởng tín dụng có sự thay đổi, so với các năm tăng trưởng tín dụng
thường khá cao để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng vĩ mô thì năm 2018 lại có chiều
hướng giảm. tín dụng tăng 14-15% thấp hơn 3-4% so với năm 2-17, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2015.
+ Tình hình nợ xấu giảm so với năm 2017 ở mức 2,4% ( 2017 là 2,5%) giá trị
sử lý nợ tăng 30% so với 2017
+ Các công cụ chính sách tiền tệ được thực hiện đồng bộ linh hoạt để ổn định
thị trường ngoại tệ góp phần kiểm soát lạm phát ở 3,54% hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
đạt 7,08% cao nhất 11 năm trở lại đây
+ Mặt bằng lãi suất duy trì ổn định trong khi bối cảnh lãi suất thị trường quốc
tế tăng, ngân hàng nhà nước đã điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tễ vĩ
mô và tiền tệ, tập chung điều tiết đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản cho các
TCTD, duy trì lãi suất thị trường ở mức hợp lý
+ Ngành ngân hàng đi đầu ứng dụng các thành tự cách mạng công nghệ 4.0
nâng cao chất lượng dịch vụ , sử dụng mã phản hồi, … nâng cao độ bảo mật thông
tin khách hàng, dịch vụ và chăm sóc sau bán.
+ Bên cạnh siết chỉ tiêu chung, thêm một nhịp nữa, Ngân hàng Nhà nước siết
lại tiêu chuẩn an toàn: giảm giới hạn tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn
từ 45% xuống 40%, nâng hệ số rủi ro cho vay bất động sản từ 150% lên 200%. Trang 12
+ Lạm phát 2018 đã tiếp tục được kiểm soát thành công, an toàn hệ thống tiến
thêm một bậc nhưng 2018 không hẳn là một năm suôn sẻ. Nó chia thành hai nửa
khác biệt kết nối với nhau uyển chuyển hơn trong điều hành, điều ít thấy ở nhiều năm trước.
oNửa đầu năm thuận lợi đến mức ngân hàng nhà nước phải phòng xa
trong điều tiết, đó là lần đầu tiên cơ quan này vận dụng vụ mua ngoại tệ kỳ hạn
trước nguồn cung lớn. Bước uyển chuyển đầu tiên ở việc mua ngoại tệ kỳ hạn ba
tháng, giãn các tác động để chủ động điều tiết.
oBước thứ hai, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước phát hành xuất hiện các
kỳ hạn dài, giãn lượng vốn VND "để dành" cho mùa cao điểm cuối năm. Và đúng
ngày 28/12 kết thúc năm, 3.000 tỷ đồng tín phiếu lưu hành cuối cùng đã đáo hạn.
oXen giữa những cân đối này, tham số lượng tiền gửi ngân sách ứ đọng
trong hệ thống ngân hàng, gắn với tốc độ giải ngân đầu tư công chậm, có ảnh hưởng
lớn. Giải pháp điều chuyển tới khoảng 150 nghìn tỷ về "kho" Ngân hàng Nhà nước
từng được đề cập giữa năm 2018 được xem như một sự chia lửa cho chính sách tiền tệ.
Nhưng, thuận lợi nguồn và dòng chảy ngoại tệ gần như đảo chiều nửa sau 2018.
+ Tháng 5/2018, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc nổi lên, gia tăng
ảnh hưởng và diễn biến phức tạp. Từ tháng 6, đồng Nhân dân tệ liên tiếp mất giá
mạnh. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) liên tiếp tăng lãi suất với căng thẳng đến tận
tháng cuối cùng của năm…Đó cũng là khoảng thời gian tỷ giá USD/VND bắt đầu
biến động, có những thời điểm căng thẳng, kéo dài đến cuối tháng 10. Mục tiêu ổn
định tỷ giá chịu áp lực lớn, Ngân hàng Nhà nước có những đợt bán ra ngoại tệ. Lãi
suất VND có xu hướng tăng lên trong nửa sau 2018 khác biệt đó.
Nhưng tổng kết chung, năm 2018, Ngân hàng Nhà nước vẫn mua ròng được
lượng lớn ngoại tệ, dự trữ ngoại hối quốc gia tăng mạnh; tỷ giá USD/VND cơ bản
ổn định, không có xáo trộn lớn; thị trường vàng lặng sóng; lãi suất vẫn được bình ổn
trong bối cảnh hàng chục ngân hàng trung ương trên thế giới phải tăng.
Năm 2019: Hướng tới ổn định vĩ mô, hướng đến việc tăng lãi suất điều hành
để giảm áp lực cho tỷ giá và lạm phát. Đây là năm đầy hứa hẹn với một sự thành Trang 13
công hơn những năm đã qua. Mới đây ngân hàng nhà nước Việt Nam đã tổ chức
tổng kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2019 và đề ra kế hoạch cho nửa năm còn lại.
+ Trên cơ sở các mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ và diễn biến kinh tế vĩ mô,
tiền tệ, trong 6 tháng cuối năm, NHNN sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ
(CSTT) chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và
các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát; duy trì ổn định kinh tế
vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối. Cụ thể:
oĐiều hành nghiệp vụ thị trường mở, điều tiết thanh khoản của các tổ
chức tín dụng (TCTD) ở mức hợp lý, ổn định thị trường tiền tệ, góp phần thực hiện
mục tiêu CSTT. Điều hành công cụ dự trữ bắt buộc đồng bộ với các công cụ CSTT
khác, phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ và mục tiêu CSTT.
oĐiều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến thị
trường và mục tiêu CSTT; kết hợp đồng bộ các công cụ CSTT, biện pháp can thiệp
thị trường ngoại hối khi cần thiết để ổn định thị trường ngoại hối.
oĐiều hành tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng, đi đôi với nâng
cao chất lượng tín dụng. Chỉ đạo các TCTD nâng cao chất lượng tín dụng; tập trung
tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ
trương của Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của
doanh nghiệp và người dân. Kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi
ro như bất động sản, chứng khoán…; tăng cường quản lý rủi ro đối với các dự án
BOT, BT giao thông, tín dụng tiêu dùng. Kiểm soát cho vay bằng ngoại tệ và có lộ
trình phù hợp giảm dần cho vay bằng ngoại tệ.
oTiếp tục đẩy mạnh triển khai Đề án Cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với
xử lý nợ xấu đến năm 2020, trong đó, tập trung xử lý hiệu quả các TCTD yếu kém.
Thực hiện quyết liệt và hiệu quả Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí
điểm xử lý nợ xấu của các TCTD; đẩy mạnh xử lý nợ xấu theo cơ chế thị trường,
kiểm soát nợ xấu mới phát sinh và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu; Phấn đấu đưa tỷ lệ
nợ xấu nội bảng xuống dưới 2%; Trang 14
+ Bên cạnh đó, tỷ giá trung tâm tiếp tục được NHNN điều hành linh hoạt, phù
hợp với diễn biến thị trường trong và ngoài nước, các cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục
tiêu chính sách tiền tệ; phối hợp đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, tận dụng
điều kiện thị trường thuận lợi để mua được lượng lớn ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại
hối nhà nước. Thị trường tương đối ổn định, tỷ giá diễn biến bám sát điều kiện thị
trường; thanh khoản đảm bảo, giao dịch ngoại tệ thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ
hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời.
Mọi cải cách thủ tục hành chính thực chất là các giải pháp nhằm tăng thêm
khả năng tiếp cận tín dụng và các dịch vụ tiền tệ ngân hàng đối với doanh nghiệp và
người dân trong toàn bộ quy trình, điều kiện và thủ tục vay vốn và cung ứng dịch vụ
tiền tệ ngân hàng; Quan điểm và trọng tâm trong điều hành của NHNN là điều hành
chính sách tiền tệ và đẩy mạnh cải cách hành chính để đảm bảo mục tiêu kép vừa
thúc đẩy sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp, phục vụ người dân, đồng thời
giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, cải
thiện môi trường kinh doanh tích cực bền vững.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
1. Một số quan điểm về thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của NHNN
Qua phần nội dung thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng
Nhà nước những năm gần đây cho thấy: để có thể điều hành chính sách tiền tệ một Trang 15
cách đúng đắn, thành công đòi hỏi phải kết hợp rất nhiều yếu tố. Bên cạnh đó, việc
sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ phải phù hợp với tình hình phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước; bám sát mục tiêu, tôn trọng nguyên tắc thị trường của chính sách tiền tệ.
Sự thành công của chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước trong những
năm qua là sự hợp lý, phù hợp và tôn trọng thị trường trong quá trình thực hiện mục
tiêu kép: ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế những năm gần đây.
Các yếu tố như lãi suất, tỷ giá, giá vàng là các yếu tố thị trường, luôn biến
động gắn với quan hệ cung cầu. Ngân hàng nhà nước đã vận dụng các yếu tố này để
định hướng đề ra mục tiêu của chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, hiệu quả của chính
sách phụ thuộc vào việc tuân thủ kỷ cương, kỷ luật trong việc chấp hành. Theo đó,
để thực hiện tốt cơ chế chính sách đòi hỏi các cơ quan đơn vị trực thuộc trung ương,
các TCTD theo dõi nắm bắt, đánh giá kết quả, khó khăn vướng mắc, tồn tại, hạn chế
của cơ chế chính sách từ đó đưa ra kiến nghị điều chỉnh chính sách phù hợp.
Từ những nội dung nêu trên cho thấy quy trình điều hành chính sách tiền tệ
rất phức tạp, chịu nhiều tác động từ môi trường bên trong lẫn bên ngoài đất nước.
Mặc dù hiện nay nền kinh tế khá ổn định, hoạt động của các ngân hàng có nhiều
chuyển biến tích cực, lòng tin của nhân dân được phục hồi, song trên thực tế vẫn tồn
tại rất nhiều những tác động trái chiều của chính sách tiền tệ ảnh hưởng không nhỏ
đến hoạt động của các ngân hàng và thông qua đó ảnh hưởng đến nền kinh tế. Vấn
đề này cần phải được giải quyết bởi lẽ ngân hàng là nơi cung cấp vốn - điều kiện
đầu vào cho mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
, nếu khả năng tiếp
cận nguồn vốn ngân hàng gặp khó khăn thì mọi quá trình sản xuất kinh doanh sẽ
không được hoạt động bình thường. Khi đó thì kinh tế khó có thể phát triển được,
nhất là trong điều kiện lạm phát đang được kiểm soát nhưng giảm phát và suy thoái
kinh tế lại là nỗi lo chung của toàn xã hội.
2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ ở VN
2.1. Hoàn thiện thể chế pháp luật NH và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
- Tập trung rà soát, sửa đổi, ban hành các văn bản, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho
hoạt động điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động thanh toán, chính sách an toàn vĩ Trang 16