




Preview text:
Kiểu nhà n c v ướ à hình thái nhà n c ướ Ki u ể nhà n c ướ -
KN: khác vs phân biệt đặc trưng NN -
Phân biệt: cơ sở KT (giai cấp nắm giữ tư liệu SX của XH, chế độ sở hữu: công hữu, tư hữu), CSXH( kết cấu tầng
lớp:thống trị, bị trị), bản chất Nhà n c ướ ch ủ nô:NN đ u ầ tiên -
QHSX phản ánh chủ nô nắm tư liệu sx=> tổ chức, quẩn lí, phân phối cho nô lệ Nhà n c ướ phong ki n ế -
Địa chủ>< nông dân: ttas cả phụ thuộc vào địa chủ -
NN: hình phạt trừng trị, nặng nề Nhà n c ướ tư sản -
Chưa bị sụp đổ, tồn tại song song XHCN Nhà nước nguyên bản
Nhà nước bóc lột, có tầng lớp nắm tư liệu SX Nhà n c ướ XHCN -
Là sự liên minh giai cấp, chế độ công hữu khác các NN khác -
NN VN vận động ngoại giao vắc xin => lợi ích chung, ko phân biệt đối xử
Nửa nhà nước, chỉ còn tính XH, ko còn tính giai cấp, đất đai thuộc sở hữu toàn dân
Trạng thái công sản chủ nghĩa => nn cuối cùng Hình th c ứ nhà nước 3 yếu tố Hình th c ứ chính thể -
Chính thể quân chủ: cha truyền con nối
Quân chủ tuyệt đối( chuyên chế): quyền lực nắm trong tay ng đứng đầu: hành pháp, tư pháp, pháp luật => phong kiến
Quân chủ hạn chế: Thái: có quốc vương vs nghị viện, Anh: nữ hoàng đại diện NN, có nghị viện -
Chính thể cộng hòa: bầu cử
Cộng hòa quý tộc: quyền đi bầu cử là quý tộc
Cộng hòa dân chủ: ai cũng bầu Hình th c ứ c u ấ trúc C u ấ trúc đ n ơ nh t ấ
Ng dân có duy nhất 1 quốc tịch C u ấ trúc liên bang
Tiểu bang có NN riêng, 2 hệ thống pháp luật, có ít nhất 2 qtich Ch ế đ ộ chính trị Dân chủ
Dân biết, dân bàn, dân làm, kiểm tra, giảm sát, thụ hưởng. Chưng cầu ý dân Phi dân chủ Phát xít đức.. Ti u ể k t ế Nhà n c C ướ HXNCN VN Bản chất (*) Cơ sở quyết định -
Cơ sở KT: vai trò chủ đạo - Cơ sở XH:
Biểu hiện trong NN: NN pháp quyền- thượng tôn pháp luật, chủ thể quyền lực của Nhân dân Chức năng Nguyên tắc t ổ ch c ứ và ho t ạ đ n ộ g BMNN H ệ th n ố g c ơ quan trong BMNN CQ quy n ề l c ự (CQ đại bi u ể dân c ) ử : thành l p ậ 6 c ơ quan khác Quốc hội (TW): V t ị rí c a N ủ N trong h t ệ h n ố g CT Đ n ả g cộng sản VN Nhà nước – Trung tâm h ệ th n ố g CT M t ặ tr n ậ T ổ Qu c ố và t ổ ch c ứ thành viên
Mang đầy đủ yếu tố NN XHCn
Nguyên tắc bảo đảm chủ quyền ND, quyền lực NN thống nhất
Phân chia theo nvu chức năg phạm vi thẩm quyền
Giữ vị trí trung tâm chính trị Ch n ươ g 2: Ngu n ồ g c ố ra đ i ờ c a ủ pháp lu t ậ -
Nguyên nhân ra đời NN là Nguyên nhân ra đời pháp luật Cách th c ứ hình thành -
Thừa nhận quy tắc xh tốt đẹp tồn tại trc đó => nâng cấp lên thành pháp luật -
Thừa nhận cách giải quyết VD làm khuôn mẫu -
Ban hành vb quy phạm pháp luật mới
- Pháp luật ra đời khách quan, khi XH phát triển đến 1 trình độ nhất định
Sự ra đời gắn liền hình thành NN Đ c ặ tr n ư g pháp lu t ậ Tính c n ưỡ g chế
Đặt ra y/c, đòi hỏi, cho phép: tham gia giao thông dùng trc đèn đỏ, tgia kinh doanh phải có nghĩa vụ đóng thuế Tính quy ph m ạ ph ổ bi n ế Tính xdd ch t ặ chẽ v ề m t ặ hình th c ư
Tập quán pháp, tiền lệ pháp, VB qui phạm PL Có tính hệ th n ố g Vai trò PL
Văn hóa, vừa truyền bá những khía cạnh tư tưởng, đạo đức Nho giáo một cách chủ định và không chủ định thông qua
việc dạy học và giao tiếp ở làng xã, vừa sáng tạo, lưu giữu văn hóa. Suốt trong quá trình lịch sử phát triển ở VN, Nho giáo
có “độ khúc xạ” do điều kiện xã hội, lịch sử và con người Việt Nam có khác Trung Hoa. Do vậy, Nho giáo ở Việt Nam có
những nét khác biệt với Nho giáo ở TQ. Những khái niệm nhân, lễ, nghĩa, trí, tín của nhà nho Việt Nam khác với TQ. Chữ Phong tục tập quán Phong tục hôn nhân
Hôn nhân là công cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triueern nguồn nhân lực. Để đáp ứng nhu cầu
nhân lực của nghề trồng lúa, khi xem xét con người trong hôn nhân, người nông nghiệp VN quan tâm trước hết đến năg
lực sinh sản của họ. Kén dâu, lấy vợ phải là: “Đàn bà thắt đáy lưng ong”, “Vừa khéo chiều chòng, vừa khéo nuôi con”.
Không chỉ suy trì nòi giống, người con tương lai còn có trách nhiệm làm lợi cho gia đình. Con gái phải đảm đang tháo vát,
đem lại nguồn lợi vật chất cho nhà chồng; con trai phải giỏi giang, đem lại vẻ vang cho gia đình vợ: “Trai khôn kén vợ chợ
đông, Gái khôn kén chồng giữa chốn ba quân”
Quan niệm chọn vợ chọn chồng cùng làng nhằm sự ổn định làng xã: “Ruộng đầu chợ, vợ giữa làng; Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng”.
Để quan hệ vợ chồng được bền vững, khi cưới, đôi vợ chồng trẻ thời Hùng Vương có tục trao cho nhau nắm đất và gói
muối: nắm đất tượng trưng cho lời nguyền gắn bó với đất đai – làng xóm; gói muối là lời lúc cho tình nghĩa giữa hai
người mặn mà thủy chung. Sau này, thay cho đất và muối, trong lễ vật dẫn cưới luôn có bánh su sê ( hay phu thê). Khi
làm lễ hợp cẩn, có tục hai vợ chồng ăn chung một đĩa cơm nếp, uống chung một chén rượu: ý nghĩa cầu chúc hai vợ
chồng luôn gắn bó với nhau, dính nhau như cơm nếp và say nhau như say rượu.
Khi cô dâu bước vào nhà, có tục mẹ chồng ôm bình vôi láng sang nhà hàng xóm. Trong gia đình nông nghiệp VN, người
phụ nữ được xem là nội tướng; người mẹ chồng lánh đi là có ý ngường quyền “nội tướng” tương lai cho con dâu để cho
trong gia đình trên thuận dưới hòa. PHONG TỤC TANG MA
Người Việt chuẩn bị khá chu đáo cho cái chết của mình: tự lo sắm áo quan, quan tài, tìm đất xây mộ. ở lĩnh vực tang lễ,
ta thấy tính cộng đồng: biết nhà có tang, bà con làng xóm giúp đỡ, to toan chỉ bảo. Người nông nghiệp sống gắn bó
không chỉ với lnagf xóm mà còn với thiên nhiên, cho nên khi chủ chết, cây cối cũng đau buồn để tang.
Theo luật âm dương là việc phân biệt tang cha với tang mẹ: khi con trai chống gậy để tang thì cha gậy tre, mẹ gậy vông.
Đó là vì thân tre tròn, biểu tượng dương; cành vông đẽo thành hình vuông, biểu tượng âm.
Phong tục lễ tết và lễ hội Lễ tết
Nghề lúa nước mang tính thời vụ cao, lúc có việc thì tối tăm mặt mũi cho nên lúc rảnh rỗi, người nông nghiệp có tâm lí chơi bù, ăn bù.
Các lễ tết được phân bố theo thời gian trong năm, xen vào các khoảng trống trong lịch thời vụ. Lễ tết gồm hai phần: cúng
tổ tiên và ăn uống bù cho lúc làm lụng đầu tắt mặt tối. Tết là phải ăn.
Đặc trưng VH điển hình nhất của Tết Nguyên Đán là nếp sống cộng đồng. Chợ Tết là thước đo sự ấm no của động đồng
trong năm, rời giết lợn, chung nhau gói bánh chứng, cùng ngồi bên bếp lửa canh nồi bánh. Tết là dịp duy nhất trong năm
có sự sum họp đầy đủ của tập thể gia đình, gia tiên và gia thần. Trước đây người Việt còn kỉ niệm cả ngày 9 và 10 tháng
Giêng: ngày 9 vía Trời , ngày 10 vía Đất. Hai số 9 vào 10 là hai số dương và âm tận cùng, là số của Trời và Đất, đó cũng là
“số phương” của Trời Đất.
Tết Hạ Nguyên: rằm tháng Mười, cũng là ngày Tết cơm mới, Trung Thu đánh dâu ngày trăng tròn nhất trong năm, lúc thời
tiết mát mẻ, tổ chức thả diều, hát trống quân... Tết Hàn Thực làm bánh trôi, bánh chay cũng gia tiên.23 tháng chạp là
ngày Tết Ông Táo, các gia đình cũng bộ ba Thổ Công – Thổ Địa – Thổ Kì cùng với các chép để ông lên chầu Trời. Lễ hội
Nếu lễ tết là hệ thống phân bố theo thời gian thì lễ hội là hệ thống phân bố theo không gian: vào mùa xuân và mùa thu,
khi công việc đồng áng rảnh rỗi nhất, lễ hội diễn ra liên tiếp, mỗi vùng có lễ hội riêng. Lễ hội có phần lễ và phần hội.
Phần lễ mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình. Có thể phân biệt 3 loại lê hội: lễ hội liên
quan đến cuộc sống trong quan hệ với môi trường tự nhiên ( lễ hội cầu mưa, hội đâm trâu, hội đua thuyền, hội cốm,...);
liên quan đến cuộc sống trong môi trường xã hội (kỉ niệm các anh hùng dựng nước và giữ nước – hội đền Hai Bà Trưng,
hội Gióng,... và liên quan đến đời sống cộng đồng (các lễ hội tôn giao và văn hóa – hội Chùa Hương, hội núi Bà Đen,...)
Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú. Xét về nguồn gốc, phần lớn các trò chơi này đều xuất phát từ
ước vọng thiêng liêng của con người nông nghiệp: xuất phát từ ước vọng cầu mưa là các trò tạo ra tiếng nổ mô phỏng
tiếng sấm để nhắc Trời làm mưanhuw thi đốy pháo, ném pháo đất... Ước vọng cầu cạn là các trò thi thả diều vào các hội
mùa hè mong gió lên, nắng lên để nước lụt mau rút xuống. Ước vọng phồn thực là các trò cướp cầu thả lỗ, ném còn,...
ước vọng luyện rèn sự nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo là các trò thi thổi cơm, vừa giữ trẻ vừa thổi cơm; thi luộc gà, thi
dọn cỗ,.... ước vọng rèn luyện sức khỏe và khả năng chiến đấu là các trò đấu vật, kéo co, chọi gà, chọi trâu,...
Lễ Tết và lễ hội đều là sự tổng hợp uyển chuyển của cái linh thiêng và cái trần thế, nhưng lễ Tết thiên về vật chất còn lễ
hợi thiên về tinh thần: “ăn Tết”, nhưng “chơi hội”. Văn hóa giao tiếp
Người Việt coi trọng việc giũ gìn các mối quan hệ tốt với mọi người nên coi trọng giao tiếp, thích giao tiếp. Văn hóa nông
nghiệp với đặc điểm trọng tình nên người Việt lấy tình cảm làm nguyên tắc ứng xử, lấy sự hài hòa âm dương làm trọng
nhưng vẫn thiên về âm, sônsg có tình có lí nhưng thiên về tình. Do tính cộng đồng, người Việt tự thấy có trách nhiệm
phải quan tâm đến người khác, muốn quan tâm thì cần biết rõ hoàn cảnh. Lối sống trọng tình cảm, mỗi cặp giao tiếp đều
có cách xưng hô riêng. Người Việt coi trọng danh sự, ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng sự hòa thuận. Thói quen giao tiếp “vòng
vo tam quốc” tạo nên thói quen đắn đo cân nhắc kĩ càng khi nói năng, từ đó thiếu tính quyết đoán. Tâm lí ưa thuận, luôn
nhường nhịn. Người Việt có hệ thống xưng hô phong phú, cách nói lịch sự.
Văn hóa nông nghiệp ưa ổn định, sống chú trọng đến không gian, người Việt phân biệt kĩ các lời chào theo quan hệ xã
hội và sắc thái tình cảm. Nghệ thuật ngôn từ
Có tính biểu trưng cao, xu hướng khái quát hóa, ước lệ hóa với những cấu trúc cân đối, hài hòa. Lối tư duy tổng hợp mọi
yếu tố, lối sống ưa ổn định và có quan hệ tốt với mọi người dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối hài hòa trong ngôn
từ.truyền thống văn chương VN thiên về thơ ca. Chửi nhau cũng bài bản, cân đối, nhịp nhàng, đầy chất thơ.
Rất giàu chất biểu cảm, thường có nhiều biến thể với sắc thái nghĩa biểu cảm.
Tính động linh hoạt ở hệ thống ngữ pháp, trong lời nói. Trong giao tiếp, người Việt có thiên hướng nói đến nội dung tĩnh
bằng hình thức động bằng hình thức tĩnh.