Câu 1: Hàng hóa hai thuộc tính của hàng hóa. Liên hệ thực tiễn hàng hóa
được sản xuất ở Việt Nam.
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, nền sản xuất hội đã trải qua những
bước chuyển mình vĩ đại, từ kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa.
Hàng hóa không chỉ đơn thuần những vật phẩm bày bán trên thị trường ẩn
chứa bên trong những quan hệ hội phức tạp, sự kết tinh của lao động
những mâu thuẫn nội tại thúc đẩy sự phát triển. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập
quốc tế sâu rộng, Việt Nam trên trường quốc tế sẽ giúp chúng ta nhìn nhận hơn
những thành tựu đã đạt được cũng như những điểm nghẽn cần khơi thông để nền
kinh tế đất nước cất cánh.
Nghiên cứu về nền sản xuất hàng hóa bắt đầu từ việc nhận diện chính xác
khái niệm hàng hóa. Hàng hóa sản phẩm của lao động, thể thỏa mãn nhu cầu
nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Trong nền kinh tế hiện đại, khái niệm phân loại hàng hóa cũng trở nên đa
dạng hơn. “Hàng hóa thể dạng vật thể hoặc phi vật thể”. Hàng hóa vật thể
những sản phẩm hữu hình như cái áo, chiếc xe, bao gạo. Hàng hóa phi vật thể, hay
còn gọi là dịch vụ, là loại hàng hóa vô hình mà quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn
ra đồng thời, không thể cất trữ.
Bất kỳ loại hàng hóa nào,vật thể hay phi vật thể, đều tồn tại đồng thời
hai thuộc tính cơ bản: giá trị sử dụng và giá trị. Đây là hai mặt đối lập nhưng thống
nhất trong một thể thống nhất là hàng hóa.
Thuộc tính thứ nhất giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng của hàng hóa là công
dụng của sản phẩm, thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm giá
trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của các yếu tố cấu thành nên hàng
hóa đó; Giá trị sử dụng của hàng hóa là để đáp ứng yêu cầu của người mua; Giá trị
sử dụng của hàng hóa là vật mang giá trị trao đổi.
Thuộc tính thứ hai, trừu tượng hơn mang bản chất hội sâu sắc, giá
trị của hàng hóa. Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất đã hao
phí để sản xuất ra hàng hóa, kết tinh trong hàng hóa. Giá trị hàng hóa biểu hiện
mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa phạm trù
có tính lịch sử. Khi nào có sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi đó có phạm trù giá trị
hàng hóa. Giá trị trao đổi hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị; giá trị
nội dung, là cơ sở của trao đổi. Khi trao đổi người ta ngầm so sánh lao động đã hao
phí ẩn giấu trong hàng hóa với nhau
Mối quan hệ giữa hai thuộc tính này vừa sự thống nhất, vừa sự mâu
thuẫn. Tính thống nhất thể hiện ở chỗ một vật muốn trở thành hàng hóa phải đủ
cả hai thuộc tính. Nếu không giá trị sử dụng (vô dụng), sẽ không được ai
mua, do đó không giá trị. Ngược lại, nếu công dụng nhưng không sự kết
tinh lao động (như không khí tự nhiên) hoặc không được trao đổi, cũng không
phải hàng hóa. Tuy nhiên, giữa chúng chứa đựng mâu thuẫn nội tại. Với người
sản xuất, mục đích của họ là giá trị (lợi nhuận), nhưng để đạt được mục đích đó, họ
phải tạo ra giá trị sử dụng cho người khác. Ngược lại, người tiêu dùng cần giá trị
sử dụng, nhưng muốn nó, họ phải trả giá trị cho người bán. Hơn nữa, quá trình
thực hiện hai thuộc tính này tách rời nhau về không gian thời gian: giá trị được
thực hiện trước trên thị trường (khi bán được hàng), còn giá trị sử dụng được thực
hiện sau trong quá trình tiêu dùng. Nếu hàng hóa không bán được (giá trị không
được thực hiện), thì giá trị sử dụng cũng không đến được tay người dùng, dẫn đến
nguy cơ khủng hoảng thừa.
Vận dụng hệ thống lý luận trên vào thực tiễn Việt Nam, chúng ta có thể nhìn
nhận bức tranh toàn cảnh về hàng hóa sản xuất trong nước với những gam màu
sáng tối đan xen, phản ánh nét sự chuyển mình của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ nhất, xét về thuộc tính giá trị của hàng hóa Việt Nam.Trong những năm
qua, ưu điểm nổi bật lượng giá trị trong nhiều mặt hàng của Việt Nam đang
xu hướng giảm, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh về giá trên thị trường quốc tế,
đặc biệt các mặt hàng nông sản như gạo, phê, hạt điều. Bên cạnh đó, giá trị
thương hiệu của hàng hóa Việt Nam ngày càng được nâng cao với các thương hiệu
như Vinamilk, Viettel, VinFast, góp phần đưa hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị
trường thế giới phân khúc cao hơn. Tuy nhiên, hạn chế so với hàng hóa nước
ngoài, lượng giá trị của nhiều sản phẩm Việt Nam vẫn còn tương đối cao, nhất
các mặt hàng công nghiệp công nghệ cao nên khả năng cạnh tranh còn hạn chế.
Thậm chí đối với hàng tiêu dùng thông thường, hàng hóa Việt Nam đang chịu sức
ép cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà từ hàng hóa Trung Quốc Thái Lan do
lượng giá trị thấp hơn. Đặt ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp nội địa trong
việc giữ vững thị phần.
Thứ hai, xét về thuộc tính giá trị sử dụng của hàng hóa Việt Nam, trong
những năm gần đây đã nhiều chuyển biến tích cực. Hàng hóa Việt Nam ngày
càng đa dạng về mẫu mã, chủng loại, số lượng chất lượng, đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của người tiêu dùng. Nhiều sản phẩm từ may mặc, giày dép đến thực phẩm chế
biến thiết kế hiện đại, tiện dụng hơn; các đặc sản địa phương thông qua chương
trình OCOP cũng được chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng an
toàn vệ sinh thực phẩm, thể hiện sự tiến bộ so với trước đây. Tuy nhiên, so với
hàng hóa của các nước phát triển, giá tr sử dụng của hàng Việt vẫn chưa thực sự
cạnh tranh. Tính tinh xảo, độ bền hàm lượng công nghệ còn hạn chế; nhiều
nông sản vẫn xuất khẩu thô, giá trị sử dụng giá trị gia tăng thấp. Trong lĩnh vực
công nghiệp công nghệ cao, sản phẩm “Make in Vietnam” chưa tạo được niềm
tin vững chắc ở phân khúc cao cấp, khiến sức cạnh tranh về mẫu mã, chủng loại và
chất lượng chưa ngang bằng hàng hóa nước ngoài.
Những thực trạng trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Ưu điểm đạt được nhờ đường lối đổi mới đúng đắn, chính sách hội nhập sự
năng động của doanh nghiệp trong tiếp thu khoa học công nghệ. Tuy nhiên, hạn
chế vẫn tồn tại do xuất phát điểm kinh tế thấp, lực lượng sản xuất chưa đồng đều,
quy doanh nghiệp nhỏ lẻ, thiếu vốn công nghệ, quản trị R&D còn yếu,
cùng với tư duy sản xuất ngắn hạn ở một bộ phận doanh nghiệp.
Để khắc phục, cần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế
tri thức, tăng đầu công nghệ nhằm nâng cao năng suất giảm giá trị hàng hóa
bền vững. Nhà nước cần hoàn thiện thể chế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng,
hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu xây dựng thương hiệu quốc
gia. Đồng thời, người sản xuất phải lấy thị trường làm định hướng, nâng cao chất
lượng, đổi mới sáng tạo theo hướng xanh, sạch, bền vững để hài hòa giữa giá trị và
giá trị sử dụng của hàng hóa Việt Nam.
Hàng hóa tế bào của nền kinh tế thị trường, mang trong mình những quy
luật vận động khách quan của đời sống kinh tế. Thực tiễn sản xuất hàng hóa tại
Việt Nam đã chứng minh sự đúng đắn của lý luận Mác – Lênin, từ đó là con đường
tất yếu để đưa nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, hướng tới
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Preview text:

Câu 1: Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa. Liên hệ thực tiễn hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam.

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, nền sản xuất xã hội đã trải qua những bước chuyển mình vĩ đại, từ kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa. Hàng hóa không chỉ đơn thuần là những vật phẩm bày bán trên thị trường mà ẩn chứa bên trong nó là những quan hệ xã hội phức tạp, sự kết tinh của lao động và những mâu thuẫn nội tại thúc đẩy sự phát triển. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam trên trường quốc tế sẽ giúp chúng ta nhìn nhận rõ hơn những thành tựu đã đạt được cũng như những điểm nghẽn cần khơi thông để nền kinh tế đất nước cất cánh.

Nghiên cứu về nền sản xuất hàng hóa bắt đầu từ việc nhận diện chính xác khái niệm hàng hóa. Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.

Trong nền kinh tế hiện đại, khái niệm phân loại hàng hóa cũng trở nên đa dạng hơn. “Hàng hóa có thể ở dạng vật thể hoặc phi vật thể”. Hàng hóa vật thể là những sản phẩm hữu hình như cái áo, chiếc xe, bao gạo. Hàng hóa phi vật thể, hay còn gọi là dịch vụ, là loại hàng hóa vô hình mà quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, không thể cất trữ.

Bất kỳ loại hàng hóa nào, dù là vật thể hay phi vật thể, đều tồn tại đồng thời hai thuộc tính cơ bản: giá trị sử dụng và giá trị. Đây là hai mặt đối lập nhưng thống nhất trong một thể thống nhất là hàng hóa.

Thuộc tính thứ nhất là giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của sản phẩm, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của các yếu tố cấu thành nên hàng hóa đó; Giá trị sử dụng của hàng hóa là để đáp ứng yêu cầu của người mua; Giá trị sử dụng của hàng hóa là vật mang giá trị trao đổi.

Thuộc tính thứ hai, trừu tượng hơn và mang bản chất xã hội sâu sắc, là giá trị của hàng hóa. Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất đã hao phí để sản xuất ra hàng hóa, kết tinh trong hàng hóa. Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là phạm trù có tính lịch sử. Khi nào có sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi đó có phạm trù giá trị hàng hóa. Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sở của trao đổi. Khi trao đổi người ta ngầm so sánh lao động đã hao phí ẩn giấu trong hàng hóa với nhau

Mối quan hệ giữa hai thuộc tính này vừa là sự thống nhất, vừa là sự mâu thuẫn. Tính thống nhất thể hiện ở chỗ một vật muốn trở thành hàng hóa phải có đủ cả hai thuộc tính. Nếu không có giá trị sử dụng (vô dụng), nó sẽ không được ai mua, do đó không có giá trị. Ngược lại, nếu có công dụng nhưng không có sự kết tinh lao động (như không khí tự nhiên) hoặc không được trao đổi, nó cũng không phải là hàng hóa. Tuy nhiên, giữa chúng chứa đựng mâu thuẫn nội tại. Với người sản xuất, mục đích của họ là giá trị (lợi nhuận), nhưng để đạt được mục đích đó, họ phải tạo ra giá trị sử dụng cho người khác. Ngược lại, người tiêu dùng cần giá trị sử dụng, nhưng muốn có nó, họ phải trả giá trị cho người bán. Hơn nữa, quá trình thực hiện hai thuộc tính này tách rời nhau về không gian và thời gian: giá trị được thực hiện trước trên thị trường (khi bán được hàng), còn giá trị sử dụng được thực hiện sau trong quá trình tiêu dùng. Nếu hàng hóa không bán được (giá trị không được thực hiện), thì giá trị sử dụng cũng không đến được tay người dùng, dẫn đến nguy cơ khủng hoảng thừa.

Vận dụng hệ thống lý luận trên vào thực tiễn Việt Nam, chúng ta có thể nhìn nhận bức tranh toàn cảnh về hàng hóa sản xuất trong nước với những gam màu sáng tối đan xen, phản ánh rõ nét sự chuyển mình của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ nhất, xét về thuộc tính giá trị của hàng hóa Việt Nam.Trong những năm qua, ưu điểm nổi bật là lượng giá trị trong nhiều mặt hàng của Việt Nam đang có xu hướng giảm, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh về giá trên thị trường quốc tế, đặc biệt là các mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, hạt điều. Bên cạnh đó, giá trị thương hiệu của hàng hóa Việt Nam ngày càng được nâng cao với các thương hiệu như Vinamilk, Viettel, VinFast, góp phần đưa hàng hóa Việt Nam tiếp cận thị trường thế giới ở phân khúc cao hơn. Tuy nhiên, hạn chế là so với hàng hóa nước ngoài, lượng giá trị của nhiều sản phẩm Việt Nam vẫn còn tương đối cao, nhất là các mặt hàng công nghiệp và công nghệ cao nên khả năng cạnh tranh còn hạn chế. Thậm chí đối với hàng tiêu dùng thông thường, hàng hóa Việt Nam đang chịu sức ép cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà từ hàng hóa Trung Quốc và Thái Lan do lượng giá trị thấp hơn. Đặt ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp nội địa trong việc giữ vững thị phần.

Thứ hai, xét về thuộc tính giá trị sử dụng của hàng hóa Việt Nam, trong những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hàng hóa Việt Nam ngày càng đa dạng về mẫu mã, chủng loại, số lượng và chất lượng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng. Nhiều sản phẩm từ may mặc, giày dép đến thực phẩm chế biến có thiết kế hiện đại, tiện dụng hơn; các đặc sản địa phương thông qua chương trình OCOP cũng được chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, thể hiện rõ sự tiến bộ so với trước đây. Tuy nhiên, so với hàng hóa của các nước phát triển, giá trị sử dụng của hàng Việt vẫn chưa thực sự cạnh tranh. Tính tinh xảo, độ bền và hàm lượng công nghệ còn hạn chế; nhiều nông sản vẫn xuất khẩu thô, giá trị sử dụng và giá trị gia tăng thấp. Trong lĩnh vực công nghiệp và công nghệ cao, sản phẩm “Make in Vietnam” chưa tạo được niềm tin vững chắc ở phân khúc cao cấp, khiến sức cạnh tranh về mẫu mã, chủng loại và chất lượng chưa ngang bằng hàng hóa nước ngoài.

Những thực trạng trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Ưu điểm đạt được là nhờ đường lối đổi mới đúng đắn, chính sách hội nhập và sự năng động của doanh nghiệp trong tiếp thu khoa học – công nghệ. Tuy nhiên, hạn chế vẫn tồn tại do xuất phát điểm kinh tế thấp, lực lượng sản xuất chưa đồng đều, quy mô doanh nghiệp nhỏ lẻ, thiếu vốn và công nghệ, quản trị và R&D còn yếu, cùng với tư duy sản xuất ngắn hạn ở một bộ phận doanh nghiệp.

Để khắc phục, cần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức, tăng đầu tư công nghệ nhằm nâng cao năng suất và giảm giá trị hàng hóa bền vững. Nhà nước cần hoàn thiện thể chế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và xây dựng thương hiệu quốc gia. Đồng thời, người sản xuất phải lấy thị trường làm định hướng, nâng cao chất lượng, đổi mới sáng tạo theo hướng xanh, sạch, bền vững để hài hòa giữa giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa Việt Nam.

Hàng hóa là tế bào của nền kinh tế thị trường, mang trong mình những quy luật vận động khách quan của đời sống kinh tế. Thực tiễn sản xuất hàng hóa tại Việt Nam đã chứng minh sự đúng đắn của lý luận Mác – Lênin, từ đó là con đường tất yếu để đưa nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.