Câu hỏi Ôn tập chương 3 + 4 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin | Đại học Tôn Đức Thắng

Giả định từ vị trí của người mua hàng hóa sức lao động, hãy thảo luận trong nhómvà cảm nhận vai trò đồng thời lý giải về vai trò của người lao động làm thuê đối với hoạtđộng của doanh nghiệp do bạn sở hữu. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!

Môn:
Trường:

Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu

Thông tin:
17 trang 5 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Câu hỏi Ôn tập chương 3 + 4 - Kinh tế chính trị Mác - Lênin | Đại học Tôn Đức Thắng

Giả định từ vị trí của người mua hàng hóa sức lao động, hãy thảo luận trong nhómvà cảm nhận vai trò đồng thời lý giải về vai trò của người lao động làm thuê đối với hoạtđộng của doanh nghiệp do bạn sở hữu. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!

43 22 lượt tải Tải xuống
BÀI TẬP LỚN LÀM THEO TỔ
CHƯƠNG 3
A. Vấn đề thảo luận
Giả định từ vị trí của người mua hàng hóa sức lao động, hãy thảo luận trong nhóm
và cảm nhận vai trò đồng thời lý giải về vai trò của người lao động làm thuê đối với hoạt
động của doanh nghiệp do bạn sở hữu? Nếu có một chủ thể chuyên lo khâu tiêu thụ hàng
hóa cho đơn vị của bạn, làm thế nào để chia sẻ lợi ích với họ? Nếu giả định vốn kinh
doanh cần phải đi vay, hàng hóa được tiêu thụ bởi trung gian thương mại và mặt bằng sản
xuất đi thuê, vậy doanh nghiệp phải có trách nhiệm gì với những chủ thể này?
a, Cảm nhận vai trò đồng thời giải về vai trò của người làm thuê đối với hoạt
động của doanh nghiệp do mình sở hữu
- Người lao động là yếu tố quyết định lực lượng sản xuất.
- Trên sở liệu sản xuất của doanh nghiệp, người lao động có vai trò quyết định tạo
ra giá trị thặng cho doanh nghiệp nguồn gốc cho sự giàu của chủ doanh
nghiệp.
- Người bán sức lao động phải biết bảo vệ lợi ích của bản than trong quan hệ lợi ích của
người mua hàng hóa sức lao động.
- Người lao động làm thuê phải chấp hành nghiêm chỉnh quy trình, kỷ luật lao động,
trách nhiệm với doanh nghiệp để sản xuất ra hàng hóa ngày càng nhiều, đáp ứng tốt hơn
nhu cầu của người tiêu dùng.
- Người lao động là yếu tố quyết định đến lợi nhuận và sự phát triển của công ty.
- Người lao động đóng vai trò then chốt trong mọi hoạt động.
- Với sự năng động sáng tạo, đặc biệt thế hệ người lao động trẻ sẽ giúp cho doanh
nghiệp rất nhiều trong việc tiếp thu cái mới, nhạy bén trong việc học hỏi nâng cao trí
thức.
b, Nếu có một chủ thể chuyên lo khâu tiêu thụ hàng hóa cho đơn vị của bạn, làm thế
nào để chia sẻ lợi ích với họ
- Chia theo thoả thuận (dựa trên hợp đồng kí kết).
- Chia dựa theo lợi nhuận, số lượng hàng hoá bán ra.
c, Nếu giả định vốn kinh doanh cần phải đi vay, hàng hóa được tiêu thụ bởi trung
gian thương mại mặt bằng sản xuất đi thuê, vậy doanh nghiệp phải trách
nhiệm với những chủ thể này
- Vốn kinh doanh cần đi vay: phải trả lợi tức cho người cho vay.
+ Lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân mà người đi vay phải trả cho người
cho vay.
+ bản cho vay một khái niệm của Kinh tế Mác-Lênin bản tiền tệ tạm
thời nhàn rỗi người chủ của cho nhà bản khác sử dụng trong thời gian
nhất định để nhận được số tiền nào đó (gọi là lợi tức).
+ Nguồn lợi tức do thành quả lao động của những lệ, nông thợ thủ
công.
- Hàng hóa được tiêu thụ bởi trung gian thương mại: chủ doanh nghiệp phải trả lợi nhuận
cho thương nghiệp. Lợi nhuận thương nghiệp là 1 phần giá trị thặng dư được tạo ra trong
quá trình sản xuất bản công nghiệp thường cho bản thương nghiệp để bản
thương nghiệp bán hàng cho mình.
- Nguồn gốc bản chất của lợi nhuận thương nghiệp: Việc tạo ra giá trị thặng phân
chia giá trị thặng dư là hai vấn để khác nhau. Lĩnh vực lưu thông cũng như hoạt động của
các nhà tư bản thương nghiệp đúng là không tạo ra được giá trị thặng dư, nhưng do vị trí,
tầm quan trọng của lưu thông đối với sự phát triển của sản xuất tái sản xuất nên các
nhà tư bản thương nghiệp vẫn được tham gia vào việc phân chia giá trị thặng dư cùng với
các nhà bản công nghiệp phần giá trị thặng các nhà bản thương nghiệp
được chia chính là lợi nhuận thương nghiệp.
- Mặt bằng sản xuất phải đi thuê: chủ doanh nghiệp phải trả địa tô cho chủ đất.
+ Địa tô là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi lợi nhuận bình quân
các nhà bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả cho chủ ruộng
đất.
NGUỒN:
https://www.studocu.com/vn/document/truong-dai-hoc-kinh-doanh-va-cong-nghe-ha-
noi/nguyen-hoang-tuan/ktct-gr2/59219762
https://www.studocu.com/vn/document/truong-dai-hoc-ngoai-thuong/kinh-te-chinh-
tri/neu-co-mot-chu-the-chuyen-lo-khau-tieu-thu-hang-hoa-cho-don-vi-minh/40748430
B. Câu hỏi ôn tập
1. Phân tích nguồn gốcbản chất của giá trị thặng dư? Các phương pháp sản xuất giá
trị thặng dư? Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư? Ý nghĩa thực tiễn?
a, Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư
Nguồn gốc của giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do
công nhân tạo ra, là kết quả của lao động không công của công nhân cho nhà bản. Ta
thể hiểu rằng: Để sản xuất, nhà bản đã mua hàng hóa sức lao động liệu sản
xuất, người công nhân (người được mua sức lao động) sẽ làm việc và tạo ra sản phẩm cho
nhà bản. Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dụng liệu sản xuất để bảo
tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá trị vào sản phẩm (tư bản bất biến); bằng lao động trừu
tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động (tư bản khả biến), phần
lớn hơn đó là giá trị thặng dư.
Bản chất:
- Gía trị thặng dư là kết quả của sự hao phí sức lao động.
- Mục đích của nhà tư bản giá trị thặng dư, người lao động làm thuê phải bán sức lao
động cho nhà tư bản.
- Trong điều kiện ngày nay, quan hệ đó vẫn diễn ra nhưng với trình độ mức độ rất
khác.
b, Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
- Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
- Sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
c, Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư - Ý nghĩa thực tiễn
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả
biến cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư đó.
- Chỉ trong tổng số giá trị nới do sức lao động tạo ra thì công nhân được hưởng bao
nhiêu, nhà tư bản chiếm đoạt bao nhiêu.
- Chỉ rõ, trong một ngày lao động, phần thời gian lao động thặng dư mà người công nhân
làm cho nhà tư bản chiếm bao nhiêu phần trăm so với thời gian lao động tất yếu làm cho
mình.
- Nói lên trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê,chưa nói rõ quy
bóc lột. Để phản ánh quy bóc lột, C. Mác sử dụng phạm trù khối lượng giá trị
thặng dư.
Khối lượng giá trị thặnglà tích số giữa tỷ suất giả trị thặngvà tổngbản khả
biến đã được sử dụng.
- Chủ nghĩa bản càng phát triển thì khối lượng giá trị thặng càng tăng, trình độ
bóc lột sức lao động càng tăng. Khối lượng giá trị thặng dư phản ánh quy mô của sự bóc
lột.
NGUỒN:
https://www.studocu.com/vn/document/truong-dai-hoc-kinh-te-dai-hoc-quoc-gia-ha-
noi/kinh-te-chinh-tri/ktct-mac-lenin-thi-giua-ki/28740595
https://loigiaihay.com/ty-suat-khoi-luong-gia-tri-thang-du-va-y-nghia-cua-no-
c126a20484.html
2. Tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy? Liên hệ và vận dụng?
a, Tích lũy tư bản
Tích lũy tư bản, trong kinh tế chính trị Mác - Lenin, là việc biến một bộ phận giá trị thặng
trở lại thành bản, còn trong các luận kinh tế học khác, đơn giản sự hình
thành tư bản (tăng lượng vốn dưới hình thức tư bản cố định và lưu kho của chính phủ và
tư nhân).
Đặc trưng của tái sản xuất bản chủ nghĩa tái sản xuất mở rộng. Muốn vậy, cần phát
triển một bộ phận giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm. Việc biến giá trị thặng dư trở lại
thành bản gọi tích lũy bản. Như vậy, thực chất của tích lũy bản bản hóa
giá trị thặng dư.
b, Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy - Liên hệ và vận dụng
Trình độ bóc lột giá trị thặng dư
Khi muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tăng thêm máy móc, thiết
bị và công nhân nhưng nhà tư bảnthể không tăng thêm nhân công mà bắt số nhân
công hiện tăng thời gian lao động cường độ lao động; đồng thời, tận dụng một
cách triệt để công suất của số máy móc hiện có, chỉ tăng thêm nguyên liệu tương ứng.
Năng suất lao động
Năng suất lao động hội tăng lên thì giá cả liệu sản xuất liệu tiêu dùng
giảm. Sự giảm này đem lại hay hệ quả cho tích lũy. Một là, với khối lượng giá trị
thặng nhất định, phần dành cho tích lũy thể lấn sang phần tiêu dùng, trong khi
sự tiêu dùng của nhàbản không giảm mà vẫn có thể bằng hoặc cao hơn trước. Hai
là, một lượng giá trị thặng nhất định dành cho tích lũy cũng thể chuyển hóa
thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều hơn trước.
Chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những liệu lao động mà toàn bộ quy hiện
vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm. Còn tư bản tiêu dùng
là phần giá trị những tư liệu lao động ấy được chuyển vào sản phầm theo từng chu
sản xuất dưới dạng khấu hao. Do đó, có sự chênh lệch giữa bản sử dụng vàbản
tiêu dùng. Sự chênh lệch này là tước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất.
Quy mô của tư bản ứng trước
Với trình độ bóc lột không thay đổi thì khối lượng giá trị thặng do khối lượng
bản khả biến quyết định. Do đó quycủa tư bản ứng trước, nhất là bộ phận bản
khả biến càng lớn, thì khối lượng giá trị thặng dư bóc lột càng lớn, do đó tạo điều kiện
tăng thêm quy của tích lũy bản. Từ sự nghiên cứu bốn nhân tố quyết định quy
mô của tích lũy tư bản có thể rút ra nhận xét chung là để tăng quy mô tích lũy tư bản,
cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động hội, tăng năng suất lao động, sử dụng
triệt để công suất của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu.
NGUỒN: https://luatminhkhue.vn/tich-luy-tu-ban-la-gi.aspx
3. Phân tích các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản? Ý nghĩa
thực tiễn?
a, Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản
Lợi nhuận
Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa
K (= C + V). Lợi nhuận là số dư ra ngoài chi phí sản xuất. Ký hiệu: P
Tỷ suất lợi nhuận
Là tỷ số tính theo % giữa GTTD (m) và toàn bộ tư bản ứng trước (c + v) hoặc tỷ số giữa
P và k. Ký hiệu: P
Lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất
Cạnh tranh trong nội bộ ngành và sự hình thành giá trị thị trường
+ Mục đích: Chạy theo giá trị thặng dư siêu ngạch nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch.
+ Kết quả: Hình thành giá cả thị trường (giá trị xã hội) của hàng hoá.
Cạnh tranh giữa các ngành và sự hình thành lợi nhuận bình quân
+ Mục đích: Chạy theo p’ cao.
+ Kết quả: p’ cao, thấp khác nhau bị bình quân hoá thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Lợi nhuận thương nghiệp
Tư bản thương nghiệp, xét về chức năng chỉ hoạt động trong lĩnh vực lưu thông.
Theo luận giá trị của Mác thì lưu thông không tạo ra giá trị, cũng không tạo ra giá trị
thặng dư và lợi nhuận.
Những người hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp
+ Mục đích: Lợi nhuận thương nghiệp
+ Kết quả: Thu được lợi nhuận thương nghiệp
Lợi tức
Lợi tức (z) một phần lợi nhuận bình quân nhà bản đi vay để hoạt động
phải trả cho người cho vay về quyền được tạm sử dụng tư bản tiền tệ.
Tỷ suất lợi tức: tỷ lệ phần trăm giữa số lợi tức thu được số bản cho vay
trong một thời gian nhất định.
Địa tô tư bản chủ nghĩa
Địa bản chủ nghĩa lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân
mà nhà bản kinh doanh nông nghiệp phải trả cho địa chủ vì đã kinh doanh trên
ruộng đất của địa chủ.
Địa chênh lệch lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân được
hình thành trên những ruộng đất có điều kiện kinh doanh trung bình và thuận lợi.
b, Ý nghĩa thực tiễn
Giá trị thặng dư được đề cập và nghiên cứu trong học thuyết kinh tế của C.Mác đã phơi
trần bản chất bóc lột của chủ nghĩa bản trong những thời kỳ trước đây. Giúp khơi
nguồn cho phong trào đấu tranh giữa giai cấp vô sản chống lại chủ nghĩa tư bản.
Giá trị thặng dư không chỉ giúp tồn tại xã hội tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư còn có thể
giúp kinh tế, xã hội phát triển và đổi mới của chủ nghĩa xã hội.
Giá trị thặng dư cấu thành động lực để giúp kinh tế tăng trưởng và phát triển. Từ đó, các
nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp sẽ đưa ra những kế hoạch, chiến lược sản xuất để có thể tạo
ra nhiều giá trị thặng dư, giúp thu lại lợi nhuận và doanh thu nhiều hơn.
Bên cạnh đó vẫn đảm bảo về quyền lợi, chế độ đãi ngộ tốt với công nhân, người lao
động.
Giá trị thặng dư thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất. Điều này giúp quá trình sản xuất được tối ưu, năng suất và hiệu suất được nâng cao,
giúp sản xuất ra nhiều sản phẩm, hàng hóa và thu về được nhiều giá trị thặng dư.
NGUỒN:
https://kctl.huit.edu.vn/app_web/images/documents/n00ct/chuong-3-ktct-mac-lenin.pdf
https://luatvietnam.vn/linh-vuc-khac/gia-tri-thang-du-la-gi-883-94688-article.html
CHƯƠNG 4
A. Vấn đề thảo luận
1. Những hệ luỵ kinh tế sẽ xảy ra khi xuất hiện sự cạnh tranh giữa các tổ chức
độc quyền trong nền kinh tế thị trường? Hãy thảo luận để làm rõ tính quy luật của sự hình
thành các tổ chức độc quyền trong nền kinh tế thị trường?.
a, Những hệ lụy kinh tế sẽ xảy ra khi xuất hiện sự cạnh tranh giữa các tổ chức độc
quyền trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tất yếu dẫn đến độc quyền. Khi xuất hiện các
tổ chức độ quyền đã đánh dấu chủ nghĩa tư bản chuyển sang một giai đoạn mới cao hơn –
giai đoạn độc quyền.
Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền diễn ra theo nhiều hình thức: cạnh tranh giữa
các tổ chức độc quyền trong cùng một ngành, cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền khác
ngành.
Xét về bản chất, nếu không có sự định hướng điều chỉnh, cạnh tranh sẽ phát triển
theo quá trình: từ cạnh tranh lành mạnh sang cạnh tranh không lành mạnh, đi tới cạnh
tranh mang tính độc quyền, cuối cùng xuất hiện độc quyền làm triệt tiêu cạnh tranh
trên thị trường và gây ra một số hệ lụy cho nền kinh tế và đời sống xã hội như:
+ Hạn chế, kiểm soát mức sản xuất, mức đầu tư cải tiến kỹ thuật
+ Nâng giá thu lợi nhuận độc quyền
+ Sự phá sản của một số doanh nghiệp
+ Dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc
+ Không hiệu quả về mặt kỹ thuật cũng như phân bổ, dẫn đến tổn thất phúc lợi
nghiêm trọng
+ Tài nguyên bị lãng phí
+ Có nhiều doanh nghiệp hoạt động trong thị trường cạnh tranh độc quyền làm cho sự
tiếp cận với nền kinh tế quy bị hạn chế. Đồng thời, việc có nhiều doanh nghiệp
tham gia cũng dẫn đến quá nhiều lựa chọn cho người tiêu dùng, điều này khiến cho chi
phí tìm kiếm cao hơn.
+ Quảng cáo đánh lừa người tiêu dùng. Chi phí cho việc quảng cáo thường sẽ được
cộng vào giá thành sản phẩm hàng hóa
+ Không lợi nhuận siêu ngạch dẫn đến sự hạn chế đổi mới đầu vào R&D
(nghiên cứu và phát triển)
b, Tính quy luật của sự hình thành các tổ chức độc quyền trong nền kinh tế thị
trường
Một là, do dự phát triển của lực lượng sản xuất. Tác động của tiến bộ khoa học
thuật đòi hỏi các doanh nghiệp phải ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất
kinh doanh. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nguồn vốn lớn, tuy nhiên một
sốdoanh nghiệp phải đẩy nhanh quá trình tích tụ tập trung sản xuất, hình thành các
doanh nghiệp quy mô lớn.
Hai là, do cạnh tranh. Cạnh tranh gat gắt làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỉ bị phá
sản hàng loạt; còn doanh nghiệp lớn tồn tại cũng bị suy yếu. Để tiếp tục phát triển,
cácdoanh nghiệp còn tồn tại phải tăng cường tích tụ, tập trung sản xuất, liên kết với nhau
thành các doanh nghiệp với quy mô ngày càng lớn. Lênin khẳng định: “...tự do cạnh tranh
đẻ ra tập trung sản xuất sự tập trung sản xuất này, khi phát triển tới một mứcđộ nhất
định lại dẫn tới độc quyền”.
Ba là, do khủng hoảng sự phát triển của hệ thống tín dụng. Sự phát triển của hệ
thống tín dụng trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình
thành, phát triển các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền.
NGUỒN: https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-ha-noi/kinh-te-chinh-tri/cau-
hoi-bai-tap-hoc-phan-kinh-te-chinh-tri/24497624
2. Độc quyền có tác động tích cực đối với nền kinh tế, vậy vì sao cần kiểm soát độc
quyền? thể kiểm soát độc quyền thực hiện lợi ích của các tổ chức này trong quan hệ
lợi ích với xã hội bằng những phương thức nào?.
a, Cần kiểm soát độc quyền vì
Mọi vấn đề đều có hai mặt trái ngược nhau và độc quyền trong kinh doanh cũng vậy.
Bên cạnh những mặt tích cực như tạo ra các tiềm năng to lớn trong nghiên cứu, tiến bộ
khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động của người làm việc thúc đẩy kinh tế phát
triển thì vẫn còn tồn tại những vấn đề tiêu cực khác. Cạnh tranh không lành mạnh, tăng
phân hóa giàu nghèo hay kìm hãm sự tiến bộ kỹ thuật đều là những hệ lụy của độc quyền.
Do đó cần có sự kiểm soát độc quyền, đặc biệt từ phía nhà nước.
b, thể kiểm soát độc quyền thực hiện lợi ích của các tổ chức này trong quan hệ
lợi ích với xã hội bằng những phương thức
- Phương thức thứ nhất, để kiểm soát việc độc quyền thì cần phải tiếp tục đổi mới
nhận thức về cạnh tranh, phải thống nhất quan điểm đánh giá vai trò của cạnh tranh trong
nền kinh tế đối với thị trường nước ta. Theo đó nên coi cạnh tranh trong nền kinh tế pháp
luật hợp thức động lực của sự phát triển nâng cao hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp. Xác định một cách ràng hợp vai trò của Nhà nước cũng như vai
trò chủ đạo của các doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế, hạn chế bớt những doanh
nghiệp Nhà nước độc quyền kinh doanh để thể tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy
phát triển kinh tế. Để làm được như vậy cần có những chính sách để thúc đẩy nhanh quá
trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước, giảm thiểu đi sự độc quyền của các doanh nghiệp
Nhà nước, các rào cản đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cần được
tháo gỡ dần nhằm giảm giá thành sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh chung của toàn bộ
nền kinh tế, tăng tính hấp dẫn đối với đầu nước ngoài. Bên cạnh đóthể giảm gánh
nặng cho ngân sách quốc gia.
- Phương thức thứ hai, cần đề ra quy định hợp để thể cải tổ pháp luật về cạnh
tranh để cho chế cạnh tranh được vận hành một cách thuần thục nhất cần hạn chế
những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường. Tạo các điều kiện gia nhập và
rút lui khỏi thị trường để khuyến khích các nhà đầu tham gia sản xuất kinh doanh.
Theo đó thì vấn đề việc hình thành nên khung pháp chung cho các loại hình kinh
doanh thuộc các khu vực kinh tế khác nhau là điều cần thiết. Việc cải tổ pháp luật về cạnh
tranh cần phải sửa đổi từ quy trình ban hành pháp luật.
- Phương thức thứ ba, tiến hành thực hiện xây dựng một quan chuyên trách theo
dõi, giám sát các hành vi liên quan đến cạnh tranh và độc quyền vì điều đó sẽ làm giảm đi
sự cạnh tranh nên nền kinh tế rất có thể sẽ bị đi xuống vì không có động lực. Theo đó cần
soát lại hạn chế bớt số lượng các lĩnh vực độc quyền, kiểm soát giám sát độc quyền
chặt chẽ hơn. Nhà nước cần giám sát chặt chẽ hơn các hành vi lạm dụng của các doanh
nghiệp lớn để cho những doanh nghiệp khác cũng có cơ hội phát triển đồng đều. Cần phải
đổi mới chế độ chứng từ, kế toán kiểm toán để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giám
sát tài chính của các doanh nghiệp.
- Phương thức thứ tư, đó là cần thực hiện những kế hoạch cải thiện môi trường thông
tin pháp luật theo hướng minh bạch kịp thời hơn, bên cạnh đó cũng phải nhanh
chóng cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
tham gia cạnh tranh.
NGUỒN: https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-y-duoc-thanh-pho-ho-chi-
minh/kinh-te-chinh-tri/ktct-doc-quyen-co-tac-dong-tich-cuc-doi-voi-nen-kinh-te-vay-vi-
sao-can-kiem-soat/30464460
B. Câu hỏi ôn tập
1. Trình bày nguyên nhân hình thành những đặc điểm kinh tế bản của độc
quyền trong chủ nghĩa tư bản? Những biểu hiện mới về kinh tế của độc quyền trong chủ
nghĩa tư bản ngày nay?.
a, Nguyên nhân hình thành độc quyền trong chủ nghĩa tư bản
- Lực lượng sản xuất phát triển - nguyên nhân cơ bản nhất.
- Cạnh tranh.
- Sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế.
- Khủng hoảng kinh tế.
- Sự phát triển của hệ thống tín dụng.
b, Những đặc điểm kinh tế cơ bản của độc quyền trong chủ nghĩa tư bản
- Tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền.
- Tư bản tài chính.
- Xuất khẩu tư bản.
- Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc quyền quốc tế.
- Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc.
c, Những biểu hiện mới về kinh tế của độc quyền trong chủ nghĩa tư bản ngày nay
- Biểu hiện mới của tích tụ và tập trung tư bản.
- Biểu hiện mới về vai trò của tư bản tài chính trong các tập đoàn độc quyền.
- Biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản.
- Biểu hiện mới của sự phân chia thị trường thế giới giữa các liên minh độc quyền.
- Biểu hiện mới về sự phân chia lãnh thổ ảnh hưởng dưới sự chi phối của các tập đoàn
độc quyền.
NGUỒN:
https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-kinh-te-quoc-dan/kinh-te-chinh-tri-mac-
le-nin/nguyen-nhan-hinh-thanh-va-dac-diem-cua-chu-nghia-tu-ban-doc-quyen/30121194
https://luatminhkhue.vn/nguyen-nhan-hinh-thanh-chu-nghia-tu-ban-doc-quyen.aspx
https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-hang-hai-viet-nam/kinh-te-chinh-tri/bieu-
hien-moi-cua-doc-quyen-trong-dieu-kien-ngay-nay/24373358
2. Phân tích nguyên nhân hình thành đặc điểm của độc quyền nhà nước trong
nền kinh tế thị trường bản chủ nghĩa? Vai trò hạn chế phát triển của chủ nghĩa
bản ngày nay?.
a, Nguyên nhân hình thành độc quyền nhà nước trong nền kinh tế thị trường tư bản
chủ nghĩa
Một là, tích tụ và tập trung tư bản càng lớn thì tích tụ và tập trung sản xuất càng cao.
Do đó đẻ ra những cấu kinh tế to lớn đòi hỏi một sự điều tiết hội đối với sản xuất
phân phối, yêu cầu kế hoạch hoá tập trung từ một trung tâm. Nói cách khác, sự phát
triển hơn nữa của trình độ hội hoá lực lượng sản xuất đã dẫn đến yêu cầu khách quan
là nhà nước phải đại biểu cho toàn bộ xã hội quản lý nền sản xuất. Lực lượng sản xuất xã
hội hoá ngây càng cao mâu thuẫn gay gắt với hình thức chiếm hữu nhân bản chủ
nghĩa, do đó tất yếu đòi hỏi phải có một hình thức mới của quan hệ sản xuất để lực lượng
sản xuất thể tiếp tục phát triển trong điều kiện còn sự thống trị của chủ nghĩa bản.
Hình thức mới đó là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
Hai là, sự phát triển của phân công lao dộng xã hội đã làm xuất hiện một số ngành mà
các tổ chức độc quyền bảnnhân không thể hoặc không muốn kinh doanhđầu
lớn, thu hồi vốn chậm ít lợi nhuận, nhất các ngành thuộc kết cấu hạ tầng như năng
lượng, giao thông vận tải, nghiên cứu khoa học bản... đòi hỏi nhà nước sản phải
đứng ra đảm nhiệm kinh doanh các ngành đó, tạo điều kiện cho các tổ chức độc quyền
nhân kinh doanh các ngành khác có lợi hơn.
Ba là, sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giữa giai cấp
sản với giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Nhà nước phải có những chính sách để xoa
dịu những mâu thuẫn đó như trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thu nhập quốc dân, phát triển
phúc lợi xã hội...
Bốn là, cùng với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự bành trướng của các liên
minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung đột lợi ích với
các đối thủ trên thị trường thế giới. Tình hình đó đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các nhà
nước của các quốc gia tư sản dể điều tiết các quan hệ chính trị và kinh tế quốc tế.
b, Vai trò của chủ nghĩa tư bản
- Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã giải phóng loài người khỏi "đêm trường trung cổ"
của hội phong kiến; đoạn tuyệt với nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp chuyển sang
phát triển kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa; chuyển sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn hiện
đại.
- Quá trình phát triển của chủ nghĩa bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển
mạnh mẽ với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao: từ kỹ thuật thủ công lên kỹ
thuật khí (thời kỳ của C.Mác V.I.Lênin) ngày nay các nước bản chủ nghĩa
cũng đang là những quốc gia đi đầu trong việc chuyển nền sản xuất của nhân loại từ giai
đoạn cơ khí hóa sang giai đoạn tự động hóa, tin học hóa và công nghệ hiện đại. Cùng với
sự phát triển của kỹ thuật công nghệ quá trình giải phóng sức lao động, nâng cao
hiệu quả khám phá chinh phục thiên nhiên của con người, đưa nền kinh tế của nhân
loại bước vào một thời đại mới: thời đại của kinh tế tri thức.
- Thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển mạnh và đạt tới mức điển hình nhất trong
lịch sử, cùng với nó là quá trình xã hội hóa sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu. Đó là sự
phát trển của phân công lao động hội, sản xuất tập trung với quy hợp lý, chuyên
môn hóa sản xuất hợp tác lao động sâu sắc, mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị, các
ngành, các lĩnh vực ngày càng chặt chẽ,... làm cho các quá trình sản xuất phân tán được
liên kết với nhau và phụ thuộc lẫn nhau thành một hệ thống, thành một quá trình sản xuất
xã hội.
- Thông qua cuộc cách mạng công nghiệp đã lần đầu tiên biết tổ chức lao động theo
kiểu công xưởng, do đó đã xây dựng được tác phong công nghiệp cho người lao động,
làm thay đổi nền nếp, thói quen của người lao động sản xuất nhỏ trong xã hội phong kiến.
- Lần đầu tiên trong lịch sử đã thiết lập nên nền dân chủ sản, nền dân chủ này tuy
chưa phải hoàn hào, song so với thể chế chính trị trong các hội phong kiến, lệ,
vẫn tiến bộ hơn rất nhiều bởi vì nó được xây dựng trên cơ sở thừa nhận quyền tự đo thân
thể của cá nhân.
c, Hạn chế phát triển của chủ nghĩa tư bản ngày nay
- Trước hết, về lịch sử ra đời của chủ nghĩa tư bản: như Mác đã phân tích chủ nghĩa
tư bản ra đời gắn liền với quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản. Thực chất,
đó là quá trình tích lũy tiền tệ nhờ vào những biện pháp ăn cướp, tước đoạt đối với những
người sản xuất hàng hóa nhỏ vả nông dân tự do: nhờ vào hoạt động buôn bán, trao đổi
không ngang giá qua đó mà thực hiện sự bóc lột, nô dịch đối với những nước lạc hậu. Về
quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa bản. C.Mác cho rằng, đó lịch sử đầy
máu và bùn nhơ, không giống như một câu chuyện tình ca, nó được sử sách ghi chép lại
bằng những trang đẫm máu và lửa không bao giờ phai.
- Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản là quan hệ bóc lột của nhà tư
bản đối với công nhân làm thuê. Mặc dù so với các hình thức bóc lột đã từng tồn tại trong
lịch sử, bóc lột bản chủ nghĩa cũng đã một sự tiến bộ, song theo sự phân tích của
C.Mác và V.I.Lênin thì chừng nào chủ nghĩa tư bản còn tồn tại thì chừng đó quan hệ bóc
lột còn tồn tại và sự bất bình đẳng, phân hóa xã hội vẫn là điều không tránh khỏi.
- Các cuộc chiến tranh thế giới với mục đích tranh giành thị trường, thuộc địa và khu
vực ảnh hưởng đã để lại cho loài người những hậu quả nặng nề: hàng triệu người tội
đã bị giết hại, sức sản xụất của xã hội bị phá hủy, tốc độ phát triển kinh tế của thế giới bị
kéo lùi lại hàng chục năm.
- Chủ nghĩa bản sẽ phải chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra hố ngăn cách
giữa các nước giàu các nước nghèo trên thế giới (thế kỷ XVIII chênh lệch về mức
sống giữa nước giàu nhất nước nghèo nhất mới chỉ là 2,5 lần, hiện nay số chênh lệch
ấy là 250 lần).
NGUỒN: https://loigiaihay.com/chuong-vi-hoc-thuyet-ve-chu-nghia-tu-ban-doc-
quyen-va-chu-nghia-tu-ban-doc-quyen-nha-nuoc-e3285.html
| 1/17

Preview text:

BÀI TẬP LỚN LÀM THEO TỔ CHƯƠNG 3
A. Vấn đề thảo luận
Giả định từ vị trí của người mua hàng hóa sức lao động, hãy thảo luận trong nhóm
và cảm nhận vai trò đồng thời lý giải về vai trò của người lao động làm thuê đối với hoạt
động của doanh nghiệp do bạn sở hữu? Nếu có một chủ thể chuyên lo khâu tiêu thụ hàng
hóa cho đơn vị của bạn, làm thế nào để chia sẻ lợi ích với họ? Nếu giả định vốn kinh
doanh cần phải đi vay, hàng hóa được tiêu thụ bởi trung gian thương mại và mặt bằng sản
xuất đi thuê, vậy doanh nghiệp phải có trách nhiệm gì với những chủ thể này?
a, Cảm nhận vai trò đồng thời lý giải về vai trò của người làm thuê đối với hoạt
động của doanh nghiệp do mình sở hữu
- Người lao động là yếu tố quyết định lực lượng sản xuất.
- Trên cơ sở tư liệu sản xuất của doanh nghiệp, người lao động có vai trò quyết định tạo
ra giá trị thặng dư cho doanh nghiệp và là nguồn gốc cho sự giàu có của chủ doanh nghiệp.
- Người bán sức lao động phải biết bảo vệ lợi ích của bản than trong quan hệ lợi ích của
người mua hàng hóa sức lao động.
- Người lao động làm thuê phải chấp hành nghiêm chỉnh quy trình, kỷ luật lao động, có
trách nhiệm với doanh nghiệp để sản xuất ra hàng hóa ngày càng nhiều, đáp ứng tốt hơn
nhu cầu của người tiêu dùng.
- Người lao động là yếu tố quyết định đến lợi nhuận và sự phát triển của công ty.
- Người lao động đóng vai trò then chốt trong mọi hoạt động.
- Với sự năng động và sáng tạo, đặc biệt là thế hệ người lao động trẻ sẽ giúp cho doanh
nghiệp rất nhiều trong việc tiếp thu cái mới, nhạy bén trong việc học hỏi và nâng cao trí thức.
b, Nếu có một chủ thể chuyên lo khâu tiêu thụ hàng hóa cho đơn vị của bạn, làm thế
nào để chia sẻ lợi ích với họ
- Chia theo thoả thuận (dựa trên hợp đồng kí kết).
- Chia dựa theo lợi nhuận, số lượng hàng hoá bán ra.
c, Nếu giả định vốn kinh doanh cần phải đi vay, hàng hóa được tiêu thụ bởi trung
gian thương mại và mặt bằng sản xuất đi thuê, vậy doanh nghiệp phải có trách
nhiệm với những chủ thể này
- Vốn kinh doanh cần đi vay: phải trả lợi tức cho người cho vay.
+ Lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân mà người đi vay phải trả cho người cho vay.
+ Tư bản cho vay là một khái niệm của Kinh tế Mác-Lênin và tư bản tiền tệ tạm
thời nhàn rỗi mà người chủ của nó cho nhà tư bản khác sử dụng trong thời gian
nhất định để nhận được số tiền nào đó (gọi là lợi tức).
+ Nguồn lợi tức là do thành quả lao động của những nô lệ, nông nô và thợ thủ công.
- Hàng hóa được tiêu thụ bởi trung gian thương mại: chủ doanh nghiệp phải trả lợi nhuận
cho thương nghiệp. Lợi nhuận thương nghiệp là 1 phần giá trị thặng dư được tạo ra trong
quá trình sản xuất mà tư bản công nghiệp thường cho tư bản thương nghiệp để tư bản
thương nghiệp bán hàng cho mình.
- Nguồn gốc bản chất của lợi nhuận thương nghiệp: Việc tạo ra giá trị thặng dư và phân
chia giá trị thặng dư là hai vấn để khác nhau. Lĩnh vực lưu thông cũng như hoạt động của
các nhà tư bản thương nghiệp đúng là không tạo ra được giá trị thặng dư, nhưng do vị trí,
tầm quan trọng của lưu thông đối với sự phát triển của sản xuất và tái sản xuất nên các
nhà tư bản thương nghiệp vẫn được tham gia vào việc phân chia giá trị thặng dư cùng với
các nhà tư bản công nghiệp và phần giá trị thặng dư mà các nhà tư bản thương nghiệp
được chia chính là lợi nhuận thương nghiệp.
- Mặt bằng sản xuất phải đi thuê: chủ doanh nghiệp phải trả địa tô cho chủ đất.
+ Địa tô là phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi lợi nhuận bình quân
mà các nhà tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp phải trả cho chủ ruộng đất. NGUỒN:
https://www.studocu.com/vn/document/truong-dai-hoc-kinh-doanh-va-cong-nghe-ha-
noi/nguyen-hoang-tuan/ktct-gr2/59219762
https://www.studocu.com/vn/document/truong-dai-hoc-ngoai-thuong/kinh-te-chinh-
tri/neu-co-mot-chu-the-chuyen-lo-khau-tieu-thu-hang-hoa-cho-don-vi-minh/40748430 B. Câu hỏi ôn tập
1. Phân tích nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư? Các phương pháp sản xuất giá
trị thặng dư? Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư? Ý nghĩa thực tiễn?
a, Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư
Nguồn gốc của giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do
công nhân tạo ra, là kết quả của lao động không công của công nhân cho nhà tư bản. Ta
có thể hiểu rằng: Để sản xuất, nhà tư bản đã mua hàng hóa sức lao động và tư liệu sản
xuất, người công nhân (người được mua sức lao động) sẽ làm việc và tạo ra sản phẩm cho
nhà tư bản. Bằng lao động cụ thể của mình, công nhân sử dụng tư liệu sản xuất để bảo
tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá trị vào sản phẩm (tư bản bất biến); bằng lao động trừu
tượng, công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động (tư bản khả biến), phần
lớn hơn đó là giá trị thặng dư. Bản chất:
- Gía trị thặng dư là kết quả của sự hao phí sức lao động.
- Mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng dư, người lao động làm thuê phải bán sức lao động cho nhà tư bản.
- Trong điều kiện ngày nay, quan hệ đó vẫn diễn ra nhưng với trình độ và mức độ rất khác.
b, Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
- Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
- Sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
c, Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư - Ý nghĩa thực tiễn
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả
biến cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư đó.
- Chỉ rõ trong tổng số giá trị nới do sức lao động tạo ra thì công nhân được hưởng bao
nhiêu, nhà tư bản chiếm đoạt bao nhiêu.
- Chỉ rõ, trong một ngày lao động, phần thời gian lao động thặng dư mà người công nhân
làm cho nhà tư bản chiếm bao nhiêu phần trăm so với thời gian lao động tất yếu làm cho mình.
- Nói lên trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê, nó chưa nói rõ quy
mô bóc lột. Để phản ánh quy mô bóc lột, C. Mác sử dụng phạm trù khối lượng giá trị thặng dư.
Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giả trị thặng dư và tổng tư bản khả
biến đã được sử dụng.
- Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì khối lượng giá trị thặng dư càng tăng, vì trình độ
bóc lột sức lao động càng tăng. Khối lượng giá trị thặng dư phản ánh quy mô của sự bóc lột. NGUỒN:
https://www.studocu.com/vn/document/truong-dai-hoc-kinh-te-dai-hoc-quoc-gia-ha-
noi/kinh-te-chinh-tri/ktct-mac-lenin-thi-giua-ki/28740595
https://loigiaihay.com/ty-suat-khoi-luong-gia-tri-thang-du-va-y-nghia-cua-no- c126a20484.html
2. Tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy? Liên hệ và vận dụng? a, Tích lũy tư bản
Tích lũy tư bản, trong kinh tế chính trị Mác - Lenin, là việc biến một bộ phận giá trị thặng
dư trở lại thành tư bản, còn trong các lý luận kinh tế học khác, nó đơn giản là sự hình
thành tư bản (tăng lượng vốn dưới hình thức tư bản cố định và lưu kho của chính phủ và tư nhân).
Đặc trưng của tái sản xuất tư bản chủ nghĩa là tái sản xuất mở rộng. Muốn vậy, cần phát
triển một bộ phận giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm. Việc biến giá trị thặng dư trở lại
thành tư bản gọi là tích lũy tư bản. Như vậy, thực chất của tích lũy tư bản là tư bản hóa giá trị thặng dư.
b, Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy - Liên hệ và vận dụng
Trình độ bóc lột giá trị thặng dư
Khi muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tăng thêm máy móc, thiết
bị và công nhân nhưng nhà tư bản có thể không tăng thêm nhân công mà bắt số nhân
công hiện có tăng thời gian lao động và cường độ lao động; đồng thời, tận dụng một
cách triệt để công suất của số máy móc hiện có, chỉ tăng thêm nguyên liệu tương ứng. Năng suất lao động
Năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
giảm. Sự giảm này đem lại hay hệ quả cho tích lũy. Một là, với khối lượng giá trị
thặng dư nhất định, phần dành cho tích lũy có thể lấn sang phần tiêu dùng, trong khi
sự tiêu dùng của nhà tư bản không giảm mà vẫn có thể bằng hoặc cao hơn trước. Hai
là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích lũy cũng có thể chuyển hóa
thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều hơn trước.
Chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ quy mô hiện
vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm. Còn tư bản tiêu dùng
là phần giá trị những tư liệu lao động ấy được chuyển vào sản phầm theo từng chu kì
sản xuất dưới dạng khấu hao. Do đó, có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản
tiêu dùng. Sự chênh lệch này là tước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất.
Quy mô của tư bản ứng trước
Với trình độ bóc lột không thay đổi thì khối lượng giá trị thặng dư do khối lượng tư
bản khả biến quyết định. Do đó quy mô của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản
khả biến càng lớn, thì khối lượng giá trị thặng dư bóc lột càng lớn, do đó tạo điều kiện
tăng thêm quy mô của tích lũy tư bản. Từ sự nghiên cứu bốn nhân tố quyết định quy
mô của tích lũy tư bản có thể rút ra nhận xét chung là để tăng quy mô tích lũy tư bản,
cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động xã hội, tăng năng suất lao động, sử dụng
triệt để công suất của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu.
NGUỒN: https://luatminhkhue.vn/tich-luy-tu-ban-la-gi.aspx
3. Phân tích các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản? Ý nghĩa thực tiễn?
a, Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản Lợi nhuận
Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa
K (= C + V). Lợi nhuận là số dư ra ngoài chi phí sản xuất. Ký hiệu: P Tỷ suất lợi nhuận
Là tỷ số tính theo % giữa GTTD (m) và toàn bộ tư bản ứng trước (c + v) hoặc tỷ số giữa P và k. Ký hiệu: P’
Lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất
Cạnh tranh trong nội bộ ngành và sự hình thành giá trị thị trường
+ Mục đích: Chạy theo giá trị thặng dư siêu ngạch nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch.
+ Kết quả: Hình thành giá cả thị trường (giá trị xã hội) của hàng hoá.
Cạnh tranh giữa các ngành và sự hình thành lợi nhuận bình quân
+ Mục đích: Chạy theo p’ cao.
+ Kết quả: p’ cao, thấp khác nhau bị bình quân hoá thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Lợi nhuận thương nghiệp
Tư bản thương nghiệp, xét về chức năng chỉ hoạt động trong lĩnh vực lưu thông.
Theo lý luận giá trị của Mác thì lưu thông không tạo ra giá trị, cũng không tạo ra giá trị thặng dư và lợi nhuận.
Những người hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp
+ Mục đích: Lợi nhuận thương nghiệp
+ Kết quả: Thu được lợi nhuận thương nghiệp Lợi tức
Lợi tức (z) là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay để hoạt động
phải trả cho người cho vay về quyền được tạm sử dụng tư bản tiền tệ.
Tỷ suất lợi tức: Là tỷ lệ phần trăm giữa số lợi tức thu được và số tư bản cho vay
trong một thời gian nhất định.
Địa tô tư bản chủ nghĩa
Địa tô tư bản chủ nghĩa là lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân
mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải trả cho địa chủ vì đã kinh doanh trên
ruộng đất của địa chủ.
Địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân được
hình thành trên những ruộng đất có điều kiện kinh doanh trung bình và thuận lợi.
b, Ý nghĩa thực tiễn
Giá trị thặng dư được đề cập và nghiên cứu trong học thuyết kinh tế của C.Mác đã phơi
trần bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản trong những thời kỳ trước đây. Giúp khơi
nguồn cho phong trào đấu tranh giữa giai cấp vô sản chống lại chủ nghĩa tư bản.
Giá trị thặng dư không chỉ giúp tồn tại xã hội tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư còn có thể
giúp kinh tế, xã hội phát triển và đổi mới của chủ nghĩa xã hội.
Giá trị thặng dư cấu thành động lực để giúp kinh tế tăng trưởng và phát triển. Từ đó, các
nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp sẽ đưa ra những kế hoạch, chiến lược sản xuất để có thể tạo
ra nhiều giá trị thặng dư, giúp thu lại lợi nhuận và doanh thu nhiều hơn.
Bên cạnh đó vẫn đảm bảo về quyền lợi, và chế độ đãi ngộ tốt với công nhân, người lao động.
Giá trị thặng dư thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất. Điều này giúp quá trình sản xuất được tối ưu, năng suất và hiệu suất được nâng cao,
giúp sản xuất ra nhiều sản phẩm, hàng hóa và thu về được nhiều giá trị thặng dư. NGUỒN:
https://kctl.huit.edu.vn/app_web/images/documents/n00ct/chuong-3-ktct-mac-lenin.pdf
https://luatvietnam.vn/linh-vuc-khac/gia-tri-thang-du-la-gi-883-94688-article.html CHƯƠNG 4
A. Vấn đề thảo luận
1. Những hệ luỵ kinh tế gì sẽ xảy ra khi xuất hiện sự cạnh tranh giữa các tổ chức
độc quyền trong nền kinh tế thị trường? Hãy thảo luận để làm rõ tính quy luật của sự hình
thành các tổ chức độc quyền trong nền kinh tế thị trường?.
a, Những hệ lụy kinh tế sẽ xảy ra khi xuất hiện sự cạnh tranh giữa các tổ chức độc
quyền trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tất yếu dẫn đến độc quyền. Khi xuất hiện các
tổ chức độ quyền đã đánh dấu chủ nghĩa tư bản chuyển sang một giai đoạn mới cao hơn – giai đoạn độc quyền.
Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền diễn ra theo nhiều hình thức: cạnh tranh giữa
các tổ chức độc quyền trong cùng một ngành, cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền khác ngành.
Xét về bản chất, nếu không có sự định hướng và điều chỉnh, cạnh tranh sẽ phát triển
theo quá trình: từ cạnh tranh lành mạnh sang cạnh tranh không lành mạnh, đi tới cạnh
tranh mang tính độc quyền, cuối cùng là xuất hiện độc quyền làm triệt tiêu cạnh tranh
trên thị trường và gây ra một số hệ lụy cho nền kinh tế và đời sống xã hội như:
+ Hạn chế, kiểm soát mức sản xuất, mức đầu tư cải tiến kỹ thuật
+ Nâng giá thu lợi nhuận độc quyền
+ Sự phá sản của một số doanh nghiệp
+ Dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc
+ Không hiệu quả về mặt kỹ thuật cũng như phân bổ, dẫn đến tổn thất phúc lợi nghiêm trọng + Tài nguyên bị lãng phí
+ Có nhiều doanh nghiệp hoạt động trong thị trường cạnh tranh độc quyền làm cho sự
tiếp cận với nền kinh tế có quy mô bị hạn chế. Đồng thời, việc có nhiều doanh nghiệp
tham gia cũng dẫn đến quá nhiều lựa chọn cho người tiêu dùng, điều này khiến cho chi phí tìm kiếm cao hơn.
+ Quảng cáo đánh lừa người tiêu dùng. Chi phí cho việc quảng cáo thường sẽ được
cộng vào giá thành sản phẩm hàng hóa
+ Không có lợi nhuận siêu ngạch dẫn đến sự hạn chế đổi mới và đầu tư vào R&D
(nghiên cứu và phát triển)
b, Tính quy luật của sự hình thành các tổ chức độc quyền trong nền kinh tế thị trường
Một là, do dự phát triển của lực lượng sản xuất. Tác động của tiến bộ khoa học – kĩ
thuật đòi hỏi các doanh nghiệp phải ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất
kinh doanh. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải có nguồn vốn lớn, tuy nhiên một
sốdoanh nghiệp phải đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, hình thành các doanh nghiệp quy mô lớn.
Hai là, do cạnh tranh. Cạnh tranh gat gắt làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỉ bị phá
sản hàng loạt; còn doanh nghiệp lớn tồn tại cũng bị suy yếu. Để tiếp tục phát triển,
cácdoanh nghiệp còn tồn tại phải tăng cường tích tụ, tập trung sản xuất, liên kết với nhau
thành các doanh nghiệp với quy mô ngày càng lớn. Lênin khẳng định: “...tự do cạnh tranh
đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này, khi phát triển tới một mứcđộ nhất
định lại dẫn tới độc quyền”.
Ba là, do khủng hoảng và sự phát triển của hệ thống tín dụng. Sự phát triển của hệ
thống tín dụng trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình
thành, phát triển các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền.
NGUỒN: https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-ha-noi/kinh-te-chinh-tri/cau-
hoi-bai-tap-hoc-phan-kinh-te-chinh-tri/24497624
2. Độc quyền có tác động tích cực đối với nền kinh tế, vậy vì sao cần kiểm soát độc
quyền? Có thể kiểm soát độc quyền thực hiện lợi ích của các tổ chức này trong quan hệ
lợi ích với xã hội bằng những phương thức nào?.
a, Cần kiểm soát độc quyền vì
Mọi vấn đề đều có hai mặt trái ngược nhau và độc quyền trong kinh doanh cũng vậy.
Bên cạnh những mặt tích cực như tạo ra các tiềm năng to lớn trong nghiên cứu, tiến bộ
khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động của người làm việc và thúc đẩy kinh tế phát
triển thì vẫn còn tồn tại những vấn đề tiêu cực khác. Cạnh tranh không lành mạnh, tăng
phân hóa giàu nghèo hay kìm hãm sự tiến bộ kỹ thuật đều là những hệ lụy của độc quyền.
Do đó cần có sự kiểm soát độc quyền, đặc biệt từ phía nhà nước.
b, Có thể kiểm soát độc quyền thực hiện lợi ích của các tổ chức này trong quan hệ
lợi ích với xã hội bằng những phương thức
- Phương thức thứ nhất, để kiểm soát việc độc quyền thì cần phải tiếp tục đổi mới
nhận thức về cạnh tranh, phải thống nhất quan điểm đánh giá vai trò của cạnh tranh trong
nền kinh tế đối với thị trường nước ta. Theo đó nên coi cạnh tranh trong nền kinh tế pháp
luật hợp thức là động lực của sự phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp. Xác định một cách rõ ràng và hợp lý vai trò của Nhà nước cũng như vai
trò chủ đạo của các doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế, hạn chế bớt những doanh
nghiệp Nhà nước độc quyền kinh doanh để có thể tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy
phát triển kinh tế. Để làm được như vậy cần có những chính sách để thúc đẩy nhanh quá
trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước, giảm thiểu đi sự độc quyền của các doanh nghiệp
Nhà nước, các rào cản đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cần được
tháo gỡ dần nhằm giảm giá thành sản xuất, tăng năng lực cạnh tranh chung của toàn bộ
nền kinh tế, tăng tính hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó có thể giảm gánh
nặng cho ngân sách quốc gia.
- Phương thức thứ hai, cần đề ra quy định hợp lý để có thể cải tổ pháp luật về cạnh
tranh để cho cơ chế cạnh tranh được vận hành một cách thuần thục nhất và cần hạn chế
những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường. Tạo các điều kiện gia nhập và
rút lui khỏi thị trường để khuyến khích các nhà đầu tư tham gia sản xuất kinh doanh.
Theo đó thì vấn đề việc hình thành nên khung pháp lý chung cho các loại hình kinh
doanh thuộc các khu vực kinh tế khác nhau là điều cần thiết. Việc cải tổ pháp luật về cạnh
tranh cần phải sửa đổi từ quy trình ban hành pháp luật.
- Phương thức thứ ba, tiến hành thực hiện xây dựng một cơ quan chuyên trách theo
dõi, giám sát các hành vi liên quan đến cạnh tranh và độc quyền vì điều đó sẽ làm giảm đi
sự cạnh tranh nên nền kinh tế rất có thể sẽ bị đi xuống vì không có động lực. Theo đó cần
soát lại và hạn chế bớt số lượng các lĩnh vực độc quyền, kiểm soát giám sát độc quyền
chặt chẽ hơn. Nhà nước cần giám sát chặt chẽ hơn các hành vi lạm dụng của các doanh
nghiệp lớn để cho những doanh nghiệp khác cũng có cơ hội phát triển đồng đều. Cần phải
đổi mới chế độ chứng từ, kế toán kiểm toán để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giám
sát tài chính của các doanh nghiệp.
- Phương thức thứ tư, đó là cần thực hiện những kế hoạch cải thiện môi trường thông
tin và pháp luật theo hướng minh bạch và kịp thời hơn, bên cạnh đó cũng phải nhanh
chóng cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh. NGUỒN:
https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-y-duoc-thanh-pho-ho-chi-
minh/kinh-te-chinh-tri/ktct-doc-quyen-co-tac-dong-tich-cuc-doi-voi-nen-kinh-te-vay-vi- sao-can-kiem-soat/30464460 B. Câu hỏi ôn tập
1. Trình bày nguyên nhân hình thành và những đặc điểm kinh tế cơ bản của độc
quyền trong chủ nghĩa tư bản? Những biểu hiện mới về kinh tế của độc quyền trong chủ nghĩa tư bản ngày nay?.
a, Nguyên nhân hình thành độc quyền trong chủ nghĩa tư bản
- Lực lượng sản xuất phát triển - nguyên nhân cơ bản nhất. - Cạnh tranh.
- Sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế. - Khủng hoảng kinh tế.
- Sự phát triển của hệ thống tín dụng.
b, Những đặc điểm kinh tế cơ bản của độc quyền trong chủ nghĩa tư bản
- Tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền. - Tư bản tài chính. - Xuất khẩu tư bản.
- Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc quyền quốc tế.
- Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc.
c, Những biểu hiện mới về kinh tế của độc quyền trong chủ nghĩa tư bản ngày nay
- Biểu hiện mới của tích tụ và tập trung tư bản.
- Biểu hiện mới về vai trò của tư bản tài chính trong các tập đoàn độc quyền.
- Biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản.
- Biểu hiện mới của sự phân chia thị trường thế giới giữa các liên minh độc quyền.
- Biểu hiện mới về sự phân chia lãnh thổ ảnh hưởng dưới sự chi phối của các tập đoàn độc quyền. NGUỒN:
https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-kinh-te-quoc-dan/kinh-te-chinh-tri-mac-
le-nin/nguyen-nhan-hinh-thanh-va-dac-diem-cua-chu-nghia-tu-ban-doc-quyen/30121194
https://luatminhkhue.vn/nguyen-nhan-hinh-thanh-chu-nghia-tu-ban-doc-quyen.aspx
https://www.studocu.com/vn/document/dai-hoc-hang-hai-viet-nam/kinh-te-chinh-tri/bieu-
hien-moi-cua-doc-quyen-trong-dieu-kien-ngay-nay/24373358
2. Phân tích nguyên nhân hình thành và đặc điểm của độc quyền nhà nước trong
nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa? Vai trò và hạn chế phát triển của chủ nghĩa tư bản ngày nay?.
a, Nguyên nhân hình thành độc quyền nhà nước trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
Một là, tích tụ và tập trung tư bản càng lớn thì tích tụ và tập trung sản xuất càng cao.
Do đó đẻ ra những cơ cấu kinh tế to lớn đòi hỏi một sự điều tiết xã hội đối với sản xuất
và phân phối, yêu cầu kế hoạch hoá tập trung từ một trung tâm. Nói cách khác, sự phát
triển hơn nữa của trình độ xã hội hoá lực lượng sản xuất đã dẫn đến yêu cầu khách quan
là nhà nước phải đại biểu cho toàn bộ xã hội quản lý nền sản xuất. Lực lượng sản xuất xã
hội hoá ngây càng cao mâu thuẫn gay gắt với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa, do đó tất yếu đòi hỏi phải có một hình thức mới của quan hệ sản xuất để lực lượng
sản xuất có thể tiếp tục phát triển trong điều kiện còn sự thống trị của chủ nghĩa tư bản.
Hình thức mới đó là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước.
Hai là, sự phát triển của phân công lao dộng xã hội đã làm xuất hiện một số ngành mà
các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân không thể hoặc không muốn kinh doanh vì đầu tư
lớn, thu hồi vốn chậm và ít lợi nhuận, nhất là các ngành thuộc kết cấu hạ tầng như năng
lượng, giao thông vận tải, nghiên cứu khoa học cơ bản... đòi hỏi nhà nước tư sản phải
đứng ra đảm nhiệm kinh doanh các ngành đó, tạo điều kiện cho các tổ chức độc quyền tư
nhân kinh doanh các ngành khác có lợi hơn.
Ba là, sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giữa giai cấp tư
sản với giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Nhà nước phải có những chính sách để xoa
dịu những mâu thuẫn đó như trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thu nhập quốc dân, phát triển phúc lợi xã hội...
Bốn là, cùng với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự bành trướng của các liên
minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung đột lợi ích với
các đối thủ trên thị trường thế giới. Tình hình đó đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các nhà
nước của các quốc gia tư sản dể điều tiết các quan hệ chính trị và kinh tế quốc tế.
b, Vai trò của chủ nghĩa tư bản
- Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã giải phóng loài người khỏi "đêm trường trung cổ"
của xã hội phong kiến; đoạn tuyệt với nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp chuyển sang
phát triển kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa; chuyển sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn hiện đại.
- Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển
mạnh mẽ với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao: từ kỹ thuật thủ công lên kỹ
thuật cơ khí (thời kỳ của C.Mác và V.I.Lênin) và ngày nay các nước tư bản chủ nghĩa
cũng đang là những quốc gia đi đầu trong việc chuyển nền sản xuất của nhân loại từ giai
đoạn cơ khí hóa sang giai đoạn tự động hóa, tin học hóa và công nghệ hiện đại. Cùng với
sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ là quá trình giải phóng sức lao động, nâng cao
hiệu quả khám phá và chinh phục thiên nhiên của con người, đưa nền kinh tế của nhân
loại bước vào một thời đại mới: thời đại của kinh tế tri thức.
- Thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển mạnh và đạt tới mức điển hình nhất trong
lịch sử, cùng với nó là quá trình xã hội hóa sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu. Đó là sự
phát trển của phân công lao động xã hội, sản xuất tập trung với quy mô hợp lý, chuyên
môn hóa sản xuất và hợp tác lao động sâu sắc, mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị, các
ngành, các lĩnh vực ngày càng chặt chẽ,... làm cho các quá trình sản xuất phân tán được
liên kết với nhau và phụ thuộc lẫn nhau thành một hệ thống, thành một quá trình sản xuất xã hội.
- Thông qua cuộc cách mạng công nghiệp đã lần đầu tiên biết tổ chức lao động theo
kiểu công xưởng, do đó đã xây dựng được tác phong công nghiệp cho người lao động,
làm thay đổi nền nếp, thói quen của người lao động sản xuất nhỏ trong xã hội phong kiến.
- Lần đầu tiên trong lịch sử đã thiết lập nên nền dân chủ tư sản, nền dân chủ này tuy
chưa phải là hoàn hào, song so với thể chế chính trị trong các xã hội phong kiến, nô lệ,
vẫn tiến bộ hơn rất nhiều bởi vì nó được xây dựng trên cơ sở thừa nhận quyền tự đo thân thể của cá nhân.
c, Hạn chế phát triển của chủ nghĩa tư bản ngày nay
- Trước hết, về lịch sử ra đời của chủ nghĩa tư bản: như Mác đã phân tích chủ nghĩa
tư bản ra đời gắn liền với quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản. Thực chất,
đó là quá trình tích lũy tiền tệ nhờ vào những biện pháp ăn cướp, tước đoạt đối với những
người sản xuất hàng hóa nhỏ vả nông dân tự do: nhờ vào hoạt động buôn bán, trao đổi
không ngang giá qua đó mà thực hiện sự bóc lột, nô dịch đối với những nước lạc hậu. Về
quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản. C.Mác cho rằng, đó là lịch sử đầy
máu và bùn nhơ, không giống như một câu chuyện tình ca, nó được sử sách ghi chép lại
bằng những trang đẫm máu và lửa không bao giờ phai.
- Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản là quan hệ bóc lột của nhà tư
bản đối với công nhân làm thuê. Mặc dù so với các hình thức bóc lột đã từng tồn tại trong
lịch sử, bóc lột tư bản chủ nghĩa cũng đã là một sự tiến bộ, song theo sự phân tích của
C.Mác và V.I.Lênin thì chừng nào chủ nghĩa tư bản còn tồn tại thì chừng đó quan hệ bóc
lột còn tồn tại và sự bất bình đẳng, phân hóa xã hội vẫn là điều không tránh khỏi.
- Các cuộc chiến tranh thế giới với mục đích tranh giành thị trường, thuộc địa và khu
vực ảnh hưởng đã để lại cho loài người những hậu quả nặng nề: hàng triệu người vô tội
đã bị giết hại, sức sản xụất của xã hội bị phá hủy, tốc độ phát triển kinh tế của thế giới bị
kéo lùi lại hàng chục năm.
- Chủ nghĩa tư bản sẽ phải chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra hố ngăn cách
giữa các nước giàu và các nước nghèo trên thế giới (thế kỷ XVIII chênh lệch về mức
sống giữa nước giàu nhất và nước nghèo nhất mới chỉ là 2,5 lần, hiện nay số chênh lệch ấy là 250 lần). NGUỒN:
https://loigiaihay.com/chuong-vi-hoc-thuyet-ve-chu-nghia-tu-ban-doc-
quyen-va-chu-nghia-tu-ban-doc-quyen-nha-nuoc-e3285.html