-
Thông tin
-
Quiz
Câu hỏi ôn tập - Pháp luật đại cương | Đại học Tôn Đức Thắng
Tham ô, lãng phí là những tệ nạn nguy hiểm. Muốn chống tham ô, lãng phí hiệu quả, cần phải tìm hiểu nguồn gốc, nguyên nhân của chúng. Hồ Chí Minh đã nói: "Tham ô và lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra”. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Pháp luật đại cương (PL101) 799 tài liệu
Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu
Câu hỏi ôn tập - Pháp luật đại cương | Đại học Tôn Đức Thắng
Tham ô, lãng phí là những tệ nạn nguy hiểm. Muốn chống tham ô, lãng phí hiệu quả, cần phải tìm hiểu nguồn gốc, nguyên nhân của chúng. Hồ Chí Minh đã nói: "Tham ô và lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra”. Tài liệu được sưu tầm và soạn thảo dưới dạng file PDF để gửi tới các bạn sinh viên cùng tham khảo, ôn tập đầy đủ kiến thức, chuẩn bị cho các buổi học thật tốt. Mời bạn đọc đón xem!
Môn: Pháp luật đại cương (PL101) 799 tài liệu
Trường: Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Đại học Tôn Đức Thắng
Preview text:
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
CÂU 1: TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ THAM NHŨNG VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG
Nghiên cứu tham nhũng và công tác đấu tranh chống tham nhũng, chúng ta không
thể không nghiên cứu những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư
tưởng của Người về một nhà nước của dân, do dân, vì dân là nền tảng cốt lõi cho
việc xây dựng một nhà nước dân chủ, chính vì vậy, Người có thái độ hết sức
nghiêm khắc đối với "tệ tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu"; Người thường xuyên
giáo dục toàn Đảng, toàn dân đấu tranh không khoan nhượng đối với tệ nạn này.
Những lời dạy của Người vừa sâu sắc, toàn diện vừa căn bản lâu dài; vừa có tính
khái quát, vừa cụ thể, dễ hiểu, luôn giữ được tính thời sự và còn nguyên giá trị, là
kim chỉ nam hướng dẫn chúng ta trong cuộc đấu tranh với tệ nạn tham nhũng trong tình hình hiện nay.
1. Quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về tham nhũng
a) Quan niệm về tham nhũng, lãng phí
Chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu là mối quan tâm lớn, thường xuyên của Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí là tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Hồ Chí Minh
chỉ rõ bản chất của tham ô: là lấy của công làm của tư, là gian lận tham lam, tham
ô là trộm cướp. Hồ Chí Minh nêu ra một khái niệm khái quát, làm rõ bản chất tham ô: “Tham ô là gì?
- Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là:
Ăn cắp của công làm của tư Đục khoét của nhân dân Ăn bớt của bộ đội.
Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa
phương mình, đơn vị mình, cũng là tham ô.
- Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là:
Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”[1].
Theo Hồ Chí Minh, đặc trưng của hành vi tham ô là biến "của công" thành "của
tư". "Của công" chính là tài sản của nhân dân, do nhân dân đóng góp, phục vụ mục
đích chung là giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. "Của công" thành "của tư"
tức là tài sản chung khi không nhằm phục vụ mục đích chung mà chỉ dành làm của
riêng, quỹ riêng cho một tập thể, một địa phương.
Bất cứ hành vi lấy "của công" làm "của tư" nào cũng đều bị Hồ Chí Minh coi là
hành vi tham ô. Đây chính là hành vi tham ô hiểu theo nghĩa rộng. Theo nghĩa này,
chủ thể của hành vi tham ô không chỉ là cán bộ, công chức - những người nắm
chức vụ, quyền hạn nhất định trong bộ máy nhà nước. Người dân bình thường, nếu
"ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế" cũng có thể là chủ thể của hành vi tham ô.
Sâu sắc hơn nữa, Hồ Chí Minh còn chỉ ra một hình thức tham ô tinh vi, rất khó
nhận thấy trong cuộc sống đời thường, đó là tham ô gián tiếp. Hồ Chí Minh nêu ra
một ví dụ về tham ô gián tiếp: “Thí dụ: một cán bộ, Chính phủ, nhân dân trả lương 1
hằng tháng đều cho, nhưng lại kém lòng trách nhiệm, đứng núi này trông núi nọ,
làm việc chậm chạp, ăn cắp giờ của Chính phủ, của nhân dân”[2]. Đây là hình
thức tham ô đặc biệt, tuy không nhanh chóng gây hậu quả nghiêm trọng như
những hành vi trực tiếp chiếm đoạt tài sản công, nhưng tham ô gián tiếp xảy ra
hằng ngày, thường xuyên, liên tục, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động đúng
đắn của bộ máy nhà nước, hiệu lực của quản lý nhà nước, là một trong những mối
nguy hại lớn đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước.
b) Nguyên nhân của tệ tham ô, lãng phí
Tham ô, lãng phí là những tệ nạn nguy hiểm. Muốn chống tham ô, lãng phí hiệu
quả, cần phải tìm hiểu nguồn gốc, nguyên nhân của chúng. Hồ Chí Minh đã nói:
"Tham ô và lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra”[3]. Người chỉ rõ tệ quan liêu
chính là căn nguyên sâu xa, nguyên nhân trực tiếp, là điều kiện của tham ô, lãng
phí. Người khẳng định nơi nào có tệ quan liêu thì ở đó có tham ô, lãng phí; mà
quan liêu càng nặng thì tham ô, lãng phí càng nhiều.
Theo Hồ Chí Minh, quan liêu là "bệnh giấy tờ, bệnh hình thức, không thực tế, là
xa cách quần chúng, không theo đường lối quần chúng, làm không đúng chính
sách của Chính phủ và của đoàn thể”2. Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực
tế, không đi sâu đi sát công việc, việc gì cũng không nắm vững, chỉ đạo một cách
đại khái, chung chung. Quan liêu là xa rời quần chúng, không rõ lai lịch, tư tưởng
và công tác của cán bộ mình, không lắng nghe ý kiến của quần chúng, sợ phê bình
và tự phê bình. Tác phong của người cán bộ mắc bệnh quan liêu là thiếu dân chủ,
không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách.
Theo Hồ Chí Minh, người cán bộ mắc bệnh quan liêu còn có biểu hiện như: “Đối
với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu
vấn đề. Chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra
đến nơi, đến chốn”3. Khi triển khai thực hiện công việc của bản thân, giao nhiệm
vụ cho cấp dưới mà không biết kiểm tra thì sẽ không có điều kiện giải thích,
hướng dẫn, đôn đốc cấp dưới, không kịp thời phát hiện, chấn chỉnh hay xử lý vi
phạm, điều này dẫn đến công việc không có hiệu quả, gây thiệt hại về tài sản, tiền
bạc, công sức của Nhà nước, của nhân dân.
c) Tác hại của tệ tham ô, lãng phí, quan liêu
Hồ Chí Minh khẳng định quan liêu, tham ô, lãng phí là "bạn đồng minh của thực
dân, phong kiến", "Kẻ thù của nhân dân, của bộ đội, của Chính phủ"[4]. Bởi vì,
tham ô, lãng phí có tác hại rất lớn. Trước hết và trực tiếp, nó gây thiệt hại cho tài
sản của Nhà nước, của nhân dân. Cán bộ được giao quản lý tài sản của Nhà nước,
của nhân dân, tài sản do những nước bạn đóng góp, giúp đỡ để phục vụ cho kháng
chiến, kiến quốc, nâng cao đời sống của nhân dân. Nhưng do chủ nghĩa cá nhân, tư
lợi, một số cán bộ đã tham ô, chiếm đoạt của công, biến của công thành của tư,
xâm phạm đến tài sản của Nhà nước, của tập thể, làm hại đến sự nghiệp xây dựng
nước nhà, đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân.
Tham ô, lãng phí làm tha hoá, suy thoái đạo đức cách mạng của cán bộ, phá hoại
tinh thần trong sạch, ý chí vượt khó của cán bộ, nhân dân, xói mòn lòng tin của
nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Hồ Chí Minh khẳng định: phần đông cán bộ, đảng 2
viên, đoàn viên, công nhân viên chức ta đều trong sạch, tận tụy, đều mang bản
chất, đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính. Họ không ngại gian khổ, hy
sinh vì cách mạng, vì nhân dân. Nhưng vẫn còn một bộ phận cán bộ do tham ô,
quan liêu, lãng phí, do mưu lợi cá nhân đã thoái hoá, biến chất, không giữ được
đạo đức cách mạng. Điều này làm giảm sức chiến đấu của Đảng, giảm lòng tin của
nhân dân vào Đảng, Nhà nước, làm hại đến sự nghiệp cách mạng.
Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước tiến lên chủ
nghĩa xã hội, cả nước phải huy động và đã huy động được mọi nguồn lực: của cải
vật chất, công sức, tinh thần… Vì sự nghiệp cách mạng của đất nước, "chiến sĩ thì
hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi nước mắt để đóng góp"[5].
Những kẻ tham ô, lãng phí đã chiếm đoạt, đã phí phạm, huỷ hoại những nguồn lực
ấy. Điều này dẫn đến một hậu quả nguy hại lớn hơn nữa đó là sự cản trở, phá hoại
sự nghiệp cách mạng, "làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta".
2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về chống tham nhũng
a. Về vai trò, ý nghĩa của công tác chống tham nhũng
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng, chống tham ô, lãng phí là cách mạng, là dân chủ.
Sự nghiệp cách mạng do toàn thể hệ thống chính trị, toàn thể quần chúng nhân dân
tiến hành, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đấu tranh giành
độc lập dân tộc, tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến, xây dựng đất nước tiến lên
xã hội chủ nghĩa là nội dung, mục tiêu của cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định:
"tham ô, lãng phí, quan liêu là những xấu xa của xã hội cũ"[6], tham ô là đặc
trưng, gắn liền với thực dân, phong kiến. Đấu tranh chống thực dân, phong kiến,
xây dựng xã hội mới phải bao hàm cả đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu.
Cách mạng không thể thành công hoàn toàn nếu vẫn còn tham ô, lãng phí. Vì vậy,
chống tham ô, lãng phí là một nội dung, nhiệm vụ quan trọng của cách mạng.
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Quyền lực thuộc về nhân dân.
Tất cả tài sản là của nhân dân. Nhân dân đóng góp mồ hôi xương máu, tiền của
cho công cuộc kháng chiến, xây dựng đất nước. Vì vậy, bảo vệ tài sản công, chống
tham ô, lãng phí là bảo vệ tài sản của nhân dân, bảo vệ quyền dân chủ của nhân
dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ: "phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu ắt phải
dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công"2. Dân chủ tức là nhân dân làm
chủ. Cán bộ là người được giao quản lý tài sản để thực hiện các nhiệm vụ do nhân
dân giao phó. Vì vậy, nhân dân có quyền và nghĩa vụ giám sát, phê bình cán bộ,
đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, tham ô, lãng phí. Sự tham gia của quần
chúng quyết định sự thành công của công cuộc đấu tranh phòng, chống tham ô,
lãng phí. Quần chúng tham gia tích cực, đông đảo thì cuộc đấu tranh càng mang
lại hiệu quả cao. Hồ Chí Minh khẳng định: "Quần chúng tham gia càng đông,
thành công càng đầy đủ, mau chóng"[7].
b) Quan điểm chỉ đạo công tác phòng, chống tham ô, lãng phí
Công tác chống tham ô, lãng phí rất quan trọng, cần phải được tất cả các cấp, các
ngành quan tâm và tiến hành thường xuyên. Cũng như các mặt trận khác, muốn
giành thắng lợi trên mặt trận chống tham ô, lãng phí, chúng ta phải nắm được quan 3
điểm chỉ đạo cuộc đấu tranh trên mặt trận đó. Hồ Chí Minh nêu rõ: “phải có chuẩn
bị, kế hoạch, tổ chức, ắt phải có lãnh đạo và trung kiên”2. Đấu tranh chống tham
ô, lãng phí cần phải bằng hệ thống các biện pháp đồng bộ, cả trước mắt và lâu dài,
kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Cùng với việc xây dựng cơ chế phòng,
chống, tấn công tham ô, lãng phí trên tất cả các lĩnh vực, cần xác định và tập trung
vào các lĩnh vực trọng tâm. Yếu tố quan trọng, quyết định hiệu lực, hiệu quả của
cuộc đấu tranh phòng, chống tham ô, lãng phí chính là công tác lãnh đạo. Sự lãnh
đạo tập trung thống nhất của Đảng, thông qua các chủ trương, chính sách mang
tính chỉ đạo, thông qua các cấp uỷ đảng quyết định sự thành bại của cuộc đấu
tranh chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu.
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh phải kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục và
cưỡng chế, trong đó lấy tuyên truyền, giáo dục là nền tảng, cơ sở. Người nói:
“Trong phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu, giáo dục là chính, trừng phạt
là phụ”[8]. Việc tuyên truyền, giáo dục cần được đặc biệt coi trọng, làm sao để cán
bộ hiểu được sự nguy hại, xấu xa của tham ô, lãng phí, từ đó có các hành động tích
cực nhằm phòng, chống. Đồng thời, công tác tuyên truyền, giáo dục sẽ giúp nêu
gương tốt, lên án các hành vi tham ô, lãng phí, góp phần tích cực vào việc ngăn
chặn nạn tham ô, lãng phí. Nhưng khi cần thiết, đối với những người đã suy thoái
về đạo đức, không chịu rèn luyện, cố tình tư lợi, chiếm đoạt tài sản của nhà nước,
của nhân dân, phá hoại sự nghiệp cách mạng, phải bị xử lý nghiêm khắc để bảo vệ
sự nghiêm minh của pháp luật và để răn đe, làm gương cho những người khác.
c) Các biện pháp phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc sự nguy hiểm, tìm ra bản chất, nguyên nhân của tham
ô, lãng phí, quan liêu, Hồ Chí Minh đã nêu ra hàng loạt biện pháp nhằm đấu tranh
phòng, chống. Trong các biện pháp phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, Hồ
Chí Minh đặc biệt chú trọng biện pháp giáo dục tư tưởng cho quần chúng. Người
nói: “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng
trăm, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn
pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn
nấp”[9]. Quần chúng là lực lượng chính của cách mạng, sự tham gia tích cực của
quần chúng quyết định sự thành bại của cách mạng. Trong cuộc đấu tranh phòng,
chống tham ô, lãng phí, quan liêu, quần chúng nhân dân giám sát cán bộ, công
chức, kịp thời phát hiện sai phạm, phê bình, lên án các biểu hiện tiêu cực của cán
bộ. Sự giám sát chặt chẽ của quần chúng nhân dân đối với cán bộ, công chức nhà
nước, thông qua các hình thức khác nhau là một cơ chế ngăn ngừa tham ô, lãng
phí hữu hiệu. Đồng thời, các phản ánh, kiến nghị kịp thời của nhân dân qua công
tác giám sát sẽ giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sớm phát hiện các hành
vi tham ô, lãng phí, từ đó có các biện pháp xử lý phù hợp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng, phát động, chỉ đạo và hướng dẫn
phong trào phê bình và tự phê bình trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người chỉ
đạo: "bộ đội, cơ quan, đoàn thể và nhân dân phải tổ chức một phong trào thật thà
tự phê bình và phê bình từ cấp trên xuống, từ cấp dưới lên"[10]. Trong phong trào
này, mỗi cán bộ, Đảng viên phải luôn ý thức tự phê bình và phê bình, không phải 4
để đả kích nhau, mà để cùng nhau nhận thức các sai lầm, khuyết điểm, cùng bàn
cách khắc phục, sửa chữa, để thực hiện chức trách, công vụ tốt hơn. Người nêu các
bước thực hiện tự phê bình và phê bình. Trước hết, tự phê bình và phê bình ở các
"tiểu tổ". Sau đó, cơ quan triển khai kiểm thảo chung. Phê bình và tự phê bình phải
tiến hành từ trên xuống, từ dưới lên, phải làm thường xuyên, liên tục, phải có báo
cáo, điều tra, hướng dẫn việc kiểm thảo. Sau khi công khai, thật thà tự phê bình và
phê bình, cán bộ, đảng viên phải kiên quyết sửa đổi những sai lầm, khuyết điểm.
Hồ Chí Minh coi các biện pháp về tư tưởng như giáo dục, thuyết phục, các biện
phápphòng ngừa là nền tảng trong cuộc đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan
liêu. Đồng thời, Người luôn nhấn mạnh việc nghiêm trị các hành vi tham ô, lãng
phí. Việc xử lý nghiêm khắc hành vi tham ô, lãng phí phải đúng các quy định của
pháp luật, không được nể nang người có chức vụ, địa vị, với mục đích bảo vệ công
lý, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, răn đe, làm gương cho những người
đang hoặc có ý định tham ô. Người chỉ thị: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị
những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”. Đại tá Trần Dụ
Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu, vốn là người có công với cách mạng, nhưng đã
có hành động tham ô tài sản của Nhà nước. Toà án kết án Trần Dụ Châu tử hình.
Gia đình Trần Dụ Châu đã làm đơn gửi Hồ Chí Minh xin được ân giảm. Nhưng
Hồ Chí Minh bác đơn xin ân giảm đó. Và hình phạt đã được thi hành. Đây chính là
sự thể hiện sinh động, cụ thể, rõ nét quan điểm, sự nghiêm khắc của Bác đối với hành vi tham ô, lãng phí.
d) Vai trò của các cơ quan thanh tra nhà nước trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí
Trong công cuộc đấu tranh chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu, các cơ
quan thanh tra nhà nước đóng vai trò rất quan trọng. Hồ Chí Minh huấn thị: “các
ban thanh tra phải chú ý kiểm tra chống lãng phí, tham ô. Phát hiện ra những việc
lãng phí, tham ô, chẳng những cần báo cáo với Trung ương và Chính phủ giải
quyết mà còn phải giúp các cấp lãnh đạo địa phương tìm ra được những biện pháp
để tích cực chống lãng phí, tham ô”[11].
Như vậy, thanh tra, kiểm tra không những để phát hiện vi phạm, phát hiện tham ô,
lãng phí để xử lý. Quan trọng hơn, qua kiểm tra, các cơ quan thanh tra nhà nước
tìm hiểu nguyên nhân tham ô, lãng phí, từ đó, kiến nghị với các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, với bản thân các cơ quan là đối tượng thanh tra, kiểm tra để có các
giải pháp hữu hiệu nhằm chống tham ô, lãng phí có hiệu quả.
Quan liêu là nguyên nhân, nguồn gốc của nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy, các cơ
quan thanh tra nhà nước chẳng những kiểm tra chống lãng phí, tham ô mà còn
phải chống quan liêu để giúp các cơ quan Nhà nước đổi mới công tác, giữ gìn kỷ
luật, thực hành dân chủ, góp phần củng cố bộ máy nhà nước.
Để thực hiện tốt, có hiệu quả nhiệm vụ của mình, cơ quan thanh tra nhà nước phải
tự chống tham ô, lãng phí, bệnh quan liêu trong nội bộ cơ quan mình trước. Hồ
Chí Minh yêu cầu người cán bộ thanh tra phải tự mình nghiêm chỉnh, phải có đạo
đức cách mạng, tự mình phải gương mẫu cho người khác. Người chỉ thị rõ ràng:
“phái anh tham ô đi thanh tra tham ô thì không được, phái người lười đi thanh tra 5
công việc người khác cũng không được”[12]. Người cán bộ thanh tra khi đi thanh
tra chống quan liêu thì trước hết bản thân mình không được quan liêu. Thanh tra
muốn biết, muốn thấy, muốn hiểu rõ sự thật ở cơ quan, ở địa phương nào đấy phải
đến tận nơi, nghe ngóng, tìm hiểu, chịu khó. Quan liêu sẽ không làm được nhiệm vụ.
CÂU 2: PHÂN TÍCH NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
* Pháp chế xã hội chủ nghĩa:
– Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung quan trọng của học
thuyết Mác– Lenin và nhà nước và pháp luật. Vì vậy, nghiên cứu các vấn đề về
nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa không thể tách rời vấn đề pháp chế xã hội chủ nghĩa.
– Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước xã hội chủ nghĩa .
– Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị – xã
hội và các đoàn thể quần chúng.
– Nguyên tắc xử sự của công dân.
– Pháp chế xã hội chủ nghĩa có quan hệ mật thiết với chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.
=> Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của cuộc sống chính trị xã
hội, tổ chức xã hội, và mọi công dân phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một
cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác. * Nội dung: Trang 27 – 28
* Yêu cầu cơ bản của pháp chế XHCN:
– Tôn trọng tối cao của Hiến pháp và luật: Đó là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, tạo
điều kiện cho hệ thống phát triển ngày càng hoàn thiện, làm cơ sở để thiết lập trật
pháp luật củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
– Bảo đảm tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc: Thực hiện tốt yêu
cầu này là điều kiện quan trọng để thiết lập một trật tự kỷ cương trong đó cơ quan
cấp dưới phải phục tùng cơ quan cấp trên.
– Các cơ quan xây dựng pháp luật, cơ quan tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật
phải hoạt động một các tích cực, chủ động và có hiệu quả: một trong những yêu
cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa là phải có những biện pháp nhanh chóng và hữu
hiệu để xử lý nghiêm minh và kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật. nhất là tội phạm.
– Không tách rời công tác pháp chế với văn hóa : trình độ văn hóa nói chung và
trình độ pháp lý nói riêng của viên chức nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và
công dân có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa. 6
Trình độ văn hóa của công chungs càng cao thì pháp chế càng được củng cố vưng
mạnh. Vì vậy, phải gắn công tắc pháp chế với việc nâng cao trình độ văn hóa nói
chung và văn hóa pháp lý nói riêng của các viên chức nhà nước, nhân viên các tổ
chức xã hội và công dân.
* Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa: (đề hỏi thì ghi)
– Để củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa phải áp dụng nhiều biện
pháp đồng bộ trong đó các biện pháp cơ bản như tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với công tác pháp chế, đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật xã hội chủ nghĩa tăng cường công tác tổ chức thực hiện và áp dụng pháp
luật, tăng cường kiểm công tác kiểm tra giám sát, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật.
– Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế
+ Là biện pháp cơ bản bao trùm xuyên suốt trong quá trình củng cố tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa, sự lãnh đạo của Đảng thể hiện trước hết ở việc Đảng đề
ra chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.
+ Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
– Pháp luật xã hội chủ nghĩa là tiền đề của pháp chế xã hội chủ nghĩa. Muốn tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và quản lý xã hội bằng pháp luật thì phải có một
hệ thống kịp thời thể chế hóa các chủ trương, chính sách đường lối của Đảng.
– Thường xuyên tiến hành rà soát, hệ thống hóa pháp luật để phát hiện và loại bỏ
những quy định pháp luật trùng lặp
– Kịp thời thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật.
– Có kế hoạch xây dựng pháp luật phù hợp với mỗi giai đoạn cụ thể…
– Tăng cường công tác tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống
– Đây là biện pháp gồm nhiều mặt:
+ Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý .
+ Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và giáo dục pháp luật.
– Chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ pháp lý có đủ trình độ phẩm chất
chính trị và khả năng công tác để sắp xếp vào các cơ quan làm công tác pháp luật.
– Tăng cường kiểm tra, giám sát xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp
luật là biện pháp nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật.
CÂU 3: CÁCH PHÂN TÍCH CẤU THÀNH VI PHẠM PHÁP LUẬT ( Sách 1 – Trang 79 ) - Chủ thể: - Khách thể: - Mặt khách quan: + Hành vi: + Hậu quả: + Mối quan hệ nhân quả: + Thời gian: + Địa điểm: 7 + Phương tiện: - Mặt chủ quan: + Lỗi: + Động cơ: + Mục đích:
+ Loại vi phạm pháp luật CÂU 4: CÁCH PHÂN
TÍCH TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ ( Sách 1 – Trang 84)
CÂU 5: CĂN CỨ VÀO DẤU HIỆU VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐỂ XÁC ĐỊNH
HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT ( Trang 78 – 79 / Sách 1 )
CÂU 6: CÁCH PHÂN TÍCH CẤU THÀNH CÁC QUAN HỆ PHÁP LUẬT ( Sách 1 – Trang 68)
Đ – S: (Đề các năm)
- Nhà nước ban hành pháp luật và bảo đảm Đ – Trang 13 Sách 1
cho pháp luật được thực thi.
- Trong văn bản, quy phạm pháp luật bao giờ S – Trang 50 Sách 1
cũng thể hiện đầy đủ 3 bộ phận là: Gỉa định, quy định, chế tài.
- Trách nhiệm pháp lý chỉ phát sinh khi có Đ – Trang 36 Sách 2
hành vi vi phạm pháp luật.
- Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pl S – Trang 74 Sách 1
mà bất kỳ chủ thể nào cũng có quyền thực hiện. S – Trang 13 Sách 3
- NN không chỉ bảo vệ lợi ích của giai c ấp
thống trị mà còn bảo vệ các giai câp, tầng
lớp khác trong xã hội, vì vậy nhà nước là của mọi giai cấp? Đ – Trang 47 Sách 1
- Chỉ có NN mới có thẩm quyền ban hành qui phạm PL. S – Trang 73 Sách 1
- Hành vi xe dừng lại của A khi đèn giao
thông chuyển sang màu đỏ là hành vi áp dụng pháp luật. S – Câu 10
- PL luôn tác động tích cực đến kt, thúc đẩy kt phát triển.
Đ – Trang 30 giấy cô.
- Lạm quyền trong thi hành công vụ là hành vi tham nhũng. Đ – Trang 82 Sách 1
- Mọi cá nhân đều có thể thành chủ thể của vi phạm pl hình sự. 8
S – Vì đối tượng điều chỉnh của luật
- Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là
hình sự Việt nam là quan hệ xã hội
mối quan hệ giữa tội phạm và nạn nhân của phát sinh giữa nhà nước và người tội phạm.
phạm tội khi người này thực hiện tội phạm.
- Hành vi được thực hiện với lỗi vô ý không
Đ – Vi phạm pháp luật phải là hành
phải là hành vi vi phạm pháp luật.
vi có lỗi của chủ thể, tức là khi thực
hiện hành vi trái pháp luật, chủ thể
có thể nhận thức được hành vi của
mình và hậu quả của hành vi đó,
đồng thời điều khiển được hành vi
của mình. Như vậy, chỉ những hành
vi trái pháp luật mà có lỗi của chủ
thể thì mới bị coi là vi phạm pháp
luật. Còn trong trường hợp chủ thể
thực hiện một xử sự có tính chất trái
pháp luật nhưng chủ thể không
nhận thức được hành vi của mình và
hậu quả của hành vi đó gây ra cho
xã hội hoặc nhận thức được hành vi
và hậu quả của hành vi của mình
nhưng không điều khiển được hành
vi của mình thì không bị coi là có lỗi
và không phải là vi phạm pháp luật.
- Người đủ 18 tuổi trở lên là chủ thể của mọi quan hệ pl.
S – Câu 24/ phần 3 + theo khoản 1
điều 12 BLHS thì người từ đủ 16 tuổi
trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự
- Hành vi trái pl là hành vi vi phạm pl. về mọi tội phạm.
- Thuế là biểu hiện của sự bóc lột. Đ – Trang 58 Sách 3
- Pl là phương tiện mô hình hóa cách thứ c sử S – Tự chép xự của con người. Đ – Trang 40 Sách 1
- Hình thức chính thể quân chủ là hình thức
mà ở đó toàn bộ quyền lực tối cao thuộc về S – Trang 19 Sách 1 một người.
- NN là một hiện tượng XH vĩnh hằng.
S - Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa
Mác - Lênin đã kế thừa có chọn lọc
những hạt nhân hợp lý của các nhà
tư tưởng trước đó, lần đầu tiên đã 9
giải thích đúng đắn nguồn gốc xuất
hiện nhà nước. Dựa trên quan điểm
duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử đã chứng minh nhà nước không
phải là hiện tượng vĩnh cửu, bất
biến. Nhà nước là phạm trù lịch sử,
có quá trình phát sinh, phát triển,
tiêu vong. Nhà nước chỉ xuất hiện
khi xã hội loài người phát triển đến
một giai đoạn nhất định và sẽ tiêu
- Người thực hiện hành vi trái PL
và gây thiệt vong khi những điều kiện khách
hại cho XH là người vi phạm PL và phải
quan cho sự tồn tại của nó mất đi.
chịu trách nhiệm pháp lý.
Đ – Sách 1 Trang 77 – 78 -79
- Khi phát hiện 1 hành vi vi phạm pháp luật
thì bất kỳ cá nhân nào cũng có quyền áp dụng pháp luật.
S – Sách 1 Trang 73 – 74
- Khi một di chúc được lập hợp pháp thì việc
phân chia di sản thừa kế phải luôn đúng với nội dung di chúc. Đ – Tự chép
- Giải thích pháp luật chính thức sẽ làm phát
sinh văn bản pháp luật mới trong thực tiễn Đ
Nhận định đúng sai môn lý luận nhà nước & pháp luật
1.Tập quán và những tín điều tôn giáo trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ
chính là pháp luật bởi đó chính là những quy tắc xử sự hình thành trật tự của xã hội.
>>> Sai. Bởi PL chỉ ra đời trong xã hội có Nhà nước. NN và PL là 2 phạm trù
luôn luôn tồn tại song hành. Khi mâu thuẫn xã hội gay gắt không thể điều hòa dẫn
tới hình thành NN, để duy trì sự tồn tại của NN thì giai cấp cầm quyền đã ban
hành PL, PL trở thành công cụ để duy trì tật tự xã hội, bảo vệ cho giai cấp cầm quyền.
2. Pháp luật chỉ có thể được hình thành bằng con đường ban hành của Nhà nước. 10
>>> Sai. vì PL là những quy tắc xử sự chung, do NN ban hành hoặc thừa nhận.
Ngoài việc ban hành Nhà nướccòn có thể thừa nhận những tập quán trong xã hội
bằng cách pháp điển hóa, ghi nhận trong luật thành văn. Chẳng hạn như K4 Đ 409
BLDS 2005: “Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được
giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng”.
3. Việc pháp luật đưa ra khuôn mẫu, chuẩn mực cho hành vi xử sự của con
người thể hiện tính xác định chặt chẽ về hình thức của pháp luật.
>>> Sai. Hình thức chặt chẽ của PL thể hiện ở ngôn từ pháp lí, cách sắp xếp các điều luật, …
4. Tiền lệ pháp là hình thức pháp luật lạc hậu, thể hiện trình độ pháp lý thấp.
>>> Sai. Rất nhiều nước tiến bộ trên thế giới bây giờ trong hệ thống PL của họ
chủ yếu là tồn tại dưới dạng không thành văn, thừa nhận rất nhiều Án lệ: những
nước trong hệ thống luật Anh- Mĩ.
5. Tập quán pháp và tiền lệ pháp có cùng điểm chung?
>>> Đúng. Vì là cùng dựa trên cơ sở các quy tắc xử sự đã tồn tại trong cuộc sống
để hình thành các quy định pháp luật.
6. Nền chính trị của giai cấp cầm quyền quy định bản chất, nội dung của pháp luật.
>>> Sai. Bởi vì PL là phạm trù thuộc về ý thức, kiến trúc thượng tầng, trong khi
đó kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với cơ sở hạ tầng. Cho nên khi ban hành PL
cần thiết phải dựa trên nền tảng về quan hệ trong xã hội về điều kiện cơ sở vật
chất: quan hệ về tư liệu sản xuất, quan hệ sở hữu, về nhu cầu, phương hướng phát
triển của xã hội… Điều này sẽ quyết định nội dung, bản chất của PL. Tức là vật
chất quyết định ý thức, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng đấy.
7. Lợi ích giai cấp thống trị luôn là sự ưu tiên và luôn là được lựa chọn có tính
quyết định khi hình thành các quy định pháp luật.
>>> Đúng: Bởi PL là ý chí của giai cấp thống trị được nâng lên thành luật. PL duy
trì trật tự xã hội, bảo vệ cho giai cấp cầm quyền, phù hợp với ý chí, nguyện vọng
của đại bộ phận quần chúng trong xã hội (điểm này thì thể hiện rõ hơn trong các
NN XHCN, bởi theo như NN VN là NN của dân, do dân, vì dân)
8. Quyền lực kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất so với quyền lực chính trị
và tư tưởng bởi nó tạo nên sự lệ thuộc cơ bản nhất giữa giai cấp bị trị đối với giai cấp thống trị.
>>> Đúng. Bởi kinh tế đóng vai trò rất quan trọng. Ai sở hữu tư liệu sản xuất sẽ
có quyền tổ chức, quản lí kinh doanh và phân phối sản phẩm. Hơn nữa kinh tế là
phạm trù thuộc về vật chất, về cơ sở hạ tầng, sinh ra thì phải có ăn cái đã, không
có cái ăn thì chẳng thể làm nổi chính trị. Và mâu thuẫn cơ bản giữa các giai cấp
trong xã hội chẳng phải cũng xuất phát từ kinh tế đó sao?
9. Mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội của nhà nước luôn luôn mâu thuẫn với nhau.
>>> Sai. Chẳng hạn trong NN XHCN thì tính giai cấp và tính xã hội song hành và
hỗ trợ nhau. Vì là NN của giai cấp công nhân và nông dân nên một mặt thể hiện
tính giai cấp: ý chí của giai cấp cầm quyền; một mặt thể hiện tính xã hội đó là NN 11
với công cụ là Pháp luật phải nhằm phục vụ quần chúng nhân dân, là NN của dân,
do dân, vì dân (đôi khi chỉ là trên lí thuyết vì thực tế thì người dân vẫn chưa tham
gia tích cực vào việc quản lí NN cho lắm
10. Pháp luật luôn tác động tích cực đối với kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển.
>>> Sai. Nếu PL tiến bộ, phản ánh được thực tiễn, dự báo được tình hình phát
triển của xã hội thì sẽ thúc đẩy tiến bộ xã hội. Ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển xã hội.
11. Pháp luật là tiêu chuẩn (chuẩn mực) duy nhất đánh giá hành vi của con người.
>>> Sai. Ngoài PL còn rất nhiều những chuẩn mực khác: Đạo đức chẳng hạn.
13. Tập quán pháp và tiền lệ pháp có điểm chung là cùng dựa trên cơ sở các
quy tắc xử sự đã tồn tại trong cuộc sống để hình thành các quy định pháp luật.
14. Các quy phạm xã hội luôn đóng vai trò hỗ trợ việc thực hiện pháp luật.
>>> Đúng. Các QPXH khác như QP đạo đức thể hiện phong tục tập quán, tư
tưởng của quần chúng nhân dân. Nếu QPPL được ban hành hợp tình, hợp lí thì
việc thực hiện trên thực tế sẽ dễ dàng hơn. Nó đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ thực hiện PL.
15. Mọi nhà nước đều phải trải qua 4 kiểu nhà nước.
>>> Sai: ví dụ điển hình như Việt Nam chẳng hạn, VN không trải qua NN Tư bản
chủ nghĩa mà từ phong kiến tiến lên XHCN. Trong Cương lĩnh của Nguyễn Ái
Quốc 3-2-1930 có đề cập. Thực tiến cũng chứng minh như thế: sau CM T8, Nhà
Nguyễn sụp đổ chấm dứt sự tồn tại của chế độ PK ở VN, VN xây dựng NN
XHCN, bỏ qua giai đoạn Tư bản chủ nghĩa.
______________________________________________
Nhận định đúng sai môn lý luận nhà nước & pháp luật 2
a. Tương ứng với mỗi hình thái xã hội là một kiểu nhà nước.
>>> Sai. Chủ nghĩa xã hội không phải là 1 hình thái kinh tế – xã hội (mà chỉ là 1
bước quá độ để đi lên Chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản mới là 1 hình thái
kinh tế – xã hội), nhưng Nhà nước xã hội chủ nghĩa là 1 kiểu nhà nước.
Hoặc: Hình thái XH nguyên thuỷ không có nhà nước
b. Quyền lực chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp
>>>Sai. Thực ra quyền lực đã xuất hiện ở trong xã hội cộng sản nguyên thủy, ví
dụ như các tù trưởng, thủ lĩnh…
c. Mọi người sinh sống trên lãnh thổ việt nam đều là công dân thường trực của nhà nước việt nam
>>>Sai. Ví dụ như người nước ngoài định cư ở Việt Nam không hẳn đã là công
dân thường trực của nhà nước Việt Nam nếu họ không nhập quốc tịch.
d. Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp và mâu thuẫn
giai cấp gay gắt ko thể điều hòa. 12
>>>Sai. Ví dụ như con đường hình thành các nhà nước ở phương Đông. Nó do
yếu tố trị thủy, chống ngoại xâm hình thành nên chứ ko phải do sự phân chia giai
cấp và mâu thuẫn giai cấp gay gắt. Hay như Nhà nước Giecmanh, do bộ tộc
Giecmanh xâm chiếm 1 quốc gia và áp đặt bộ máy thống trị của mình mà hình
thành nên nhà nước, nghĩa là hình thành bằng con đường chiến tranh chứ ko phải
con đường phân chia giai cấp.
* NHẬN ĐỊNH ĐÚNG, SAI, GIẢI THÍCH: LÍ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT 3
Câu 1: Mọi trường hợp cá nhân không có năng lực hành vi đều có thể thông
qua người thứ 3 để thực hiện các quyền cho mình.
Trả lời: Sai. Vì trong 1 số trường hợp cá nhân không có năng lực hành vi không
thể thông qua người thứ 3 để thực hiện các quyền cho mình như việc kết hôn, hoặc ly hôn.
Câu 2: Thẩm quyền của cơ quan Nhà nước do Quốc Hội quy định.
Trả lời: Sai. Vì do pháp luật quy định.
Câu 3: Hình thức của nhà nước gồm: Hình thức chính thể, hình thức cấu trúc và chế độ chính trị.
Trả lời: Đúng. Vì hình thức Nhà nước phải bao gồm 3 yếu tố là hình thức chính
thể, hình thức cấu trúc và chế độ chính trị.
Câu 4: Sự ra đời của Nhà nước XHCN luôn gắn liền với Cách mạng XHCN.
Trả lời: Đúng. Vì cách mạng XHCN xoá bỏ áp bức bóc lột.
Câu 5: Pháp luật do Nhà nước ban hành và chỉ được thể hiện bằng hình thức
văn bản quy phạm pháp luật.
Trả lời: Sai. Vì ngoài văn bản quy phạm pháp luật, thì pháp luật còn thể hiện dưới
hình thức tập quán pháp và tiền lệ pháp.
Câu 6: Người nghiện ma tuý hoặc các chất kích thích dẫn đến phá tài sản gia
đình là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Trả lời: Sai. Vì phải có quyết định của Toà án tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Câu 7: Nhà nước ra đời xuất phát từ nhu cầu của xã hội cần phải có một bộ máy quản lý xã hội.
Trả lời: Sai. Vì còn bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị.
Câu 8: Pháp luật là tiêu chuẩn (chuẩn mực) duy nhất đánh giá hành vi con người.
Trả lời: Sai. Vì ngoài các quy phạm pháp luật còn có các quy phạm đạo đức, tôn giáo…
Câu 9: Sự thay thế kiểu Nhà nước này bằng kiểu Nhà nước khác là một quá
trình đấu tranh của giai cấp thống trị.
Trả lời: Sai. Vì sự thay thế kiểu Nhà nước này bằng kiểu Nhà nước khác là một
quá trình đấu tranh của giai cấp thống trị với giai cấp bị trị trong xã hội.
Câu 10: Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự được áp dụng một lần trong đời sống xã hội. 13
Trả lời: Sai. Vì được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội.
Câu 11: Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Trả lời: Sai. Vì trong một số trường hợp vi phạm pháp luật không truy cứu trách
nhiệm pháp lý như: Quá thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý.
Câu 12: Nhà nước pháp quyền là kiểu Nhà nước tiến bộ nhất.
Trả lời: Sai. Vì Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu Nhà nước.
Câu 13: Không hành động cũng có thể vi phạm pháp luật.
Trả lời: Đúng. Vì hành vi vi phạm pháp luật có thể là hành vi hành động hoặc là
hành vi không hành động. Ví dụ: Hành vi không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm.
Câu 14: Năng lực hành vi của cá nhân có từ khi cá nhân đó được sinh ra và mất khi chết.
Trả lởi: Sai. Vì khi cá nhân mới sinh ra thì chưa có năng lực hành vi, năng lực
hành vi của cá nhân có kể từ khi đạt độ tuổi nhất định và những điều kiện nhất định.
Câu 15: Tiền lệ pháp chỉ được hình thành từ cơ quan hành pháp.
Trả lời: Sai. Vì tiền lệ pháp: Là hình thức Nhà nước thừa nhận các quyết định của
cơ quan hành chính hoặc xét xử giải quyết những vụ việc cụ thể để áp dụng đối
với các vụ việc tương tự. Vì vậy tiền lệ pháp được hình thành từ cơ quan hành pháp và tư pháp.
Câu 16: Để xác định một hệ thống pháp luật hoàn thiện chỉ dựa vào 2 tiêu
chí: Tính toàn diện, đồng bộ và tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Trả lời: Sai. Vì ngoài ra còn tính phù hợp, tính khả thi và ngôn ngữ, kỹ thuật xây dựng pháp luật.
Câu 17: Pháp luật và pháp chế không thể tách rời và không phụ thuộc vào
trình độ văn hoá của cán bộ, công chức, công dân.
Trả lời: Sai. Vì pháp luật và pháp chế muốn phát huy hiệu quả cần phải phụ thuộc
vào trình độ văn hoá của cán bộ, công chức, công dân.
Câu 18: Ý thức của pháp luật được cấu thành từ: Ý thức pháp luật thông
thường, ý thức pháp luật có tính lý luận khoa học và ý thức pháp luật nghề nghiệp.
Trả lời: Sai. Vì ý thức pháp luật được cấu thành từ hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật.
Câu 19: Một quy phạm pháp luật có thể khuyết 3 yếu tố: Giả định, quy định và chế tài.
Trả lời: Sai. Vì theo nguyên tắc thì một quy phạm pháp luật sẽ bao gồm đủ 3 yếu
tố, tuy nhiên, trong những trường hợp ngoại lệ thì vẫn có những quy phạm pháp
luật khuyết một trong 3 yếu tố.
Câu 20: Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời khi các giai cấp bóc lột bị xoá bỏ
và quan hệ sản xuất dựa trên sự công hữu về tư liệu sản xuất.
Trả lời: Đúng. Vì Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời dựa trên cơ sở kinh tế và cơ sở xã hội chủ nghĩa.
Câu 21: Tiền lệ pháp không phải là một hình thức pháp luật chính yếu ở Việt 14 Nam.
Trả lời: Đúng. Vì ở Việt Nam hình thức pháp luật chính là văn bản quy phạm pháp luật.
Câu 22: Trong lịch sử loài người chỉ có văn bản quy phạm pháp luật mới
được coi là hình thức của pháp luật.
Trả lời: Sai. Vì ngoài văn bản quy phạm pháp luật còn có tập quán pháp và tiền lệ pháp.
Câu 23: Tiền lệ pháp được hình thành từ cơ quan lập pháp.
Trả lời: Sai. Vì được thành lập từ cơ quan tư pháp, hành pháp.
Câu 24: Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên đều có năng lực pháp lý.
Trả lời: Sai. Vì nếu đủ 18 tuổi mà mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm
mất năng lực trách nhiệm hành vi thì sẽ không có năng lực pháp lý.
Câu 25: Tương ứng với mổi hình thái kinh tế xã hội là một kiểu nhà nước.
Trả lời: Sai. Vì hình thái kinh tế xã hội công xã nguyên thuỷ không có Nhà nước.
Câu 26: Nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam không áp dụng học
thuyết tam quyền phân lập.
Trả lời: Sai. Vì Nhà nước Việt Nam đã áp dụng hạt nhân cơ bản của học thuyết
tam quyền phân lập khi chia các cơ quan Nhà nước thành cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Câu 27: Pháp luật chỉ do Nhà nước ban hành để điều chỉnh tất cả các quan hệ diễn ra trong xã hội.
Trả lời: Sai. Vì chỉ điều chỉnh những quan hệ phổ biến, quan trọng chứ không điều
chỉnh tất cả các quan hệ xã hội.
Câu 28: Việt Nam đã trải qua 3 hình thái kinh tế xã hội và 2 kiểu Nhà nước.
Trả lời: Sai. Vì Việt Nam chỉ trải qua 2 hình thái kinh tế xã hội và 2 kiểu nhà nước.
Câu 29: Nhà nước ra đời và tồn tại bất biến, vĩnh cửu.
Trả lời: Sai. Vì Nhà nước có nguyên nhân ra đời có thời kỳ phát triển và thời điểm
tiêu vong khi mà những điều kiện cho sự tồn tại của Nhà nước không còn nữa. Do
vậy Nhà nước không thể nào là vĩnh cửu bất biến được.
Câu 30: Người sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn thì không
được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Trả lời: Sai. Vì nếu như người sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987
mà không đăng ký kết hôn thì pháp luật vẫn công nhận họ là vợ chồng.
Câu 31: Tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.
Trả lời: Sai. Vì nếu như trong thời ký hôn nhâ vợ, chồng được thừa kế riêng hoặc
tặng cho riêng thì tài sản đó là tài sản riêng của vợ, chồng.
______________________________________________ Đề mẫu 1
Câu I: (4 điểm) Những nhận định sau đúng hay sai, tại sao?
1. Pháp luật chỉ mang tính giai cấp.
Đáp án: sai, bởi vì pháp luật còn mang tính xã hội. 15
2. Hệ thống cơ quan xét xử gồm: Tòa án và Viện kiểm sát.
Đáp án: sai, bởi vì hệ thống cơ quan xét xử là Tòa án.
3. Người đứng đầu Nhà nước trong hình thức chính thể cộng hòa luôn là tổng thống.
Đáp án: sai, bởi vì hình thức chính thể cộng hòa đại nghị thì người đứng đầu đất
nước luôn là Thủ tướng.
4. Chỉ có hành vi hợp pháp của con người mới trở thành sự kiện pháp lý.
Đáp án: sai, bởi vì ngoài ra còn sự biến pháp lý không do hành vi của con người.
5. Người bị phạt tù là người hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Đáp án: sai, bởi vì người bị phạt tù không phải là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
6. Việc ly hôn giữa người Việt Nam và người nước ngoài được tiến hành tại UBND cấp tỉnh.
Đáp án: sai, bởi vì việc ly hôn chỉ được giải quyết tại Tòa án.
7. Tuổi bắt đầu có năng lực hành vi dân sự là đủ 15 tuổi.
Đáp án: sai, bởi vì tuổi bắt đầu có năng lực hành vi dân sự là đủ 6 tuổi.
8. Theo quy định của Luật hình sự Việt Nam, án treo là hình phạt nhẹ nhất
trong hệ thống hình phạt.
Đáp án: sai, bởi vì án treo không phải là hình phạt. Câu II: (3 điểm)
Cho một ví dụ cụ thể về hành vi vi phạm pháp luật và phân tích cấu thành vi
phạm pháp luật trong ví dụ đó.
Đáp án: Sinh viên phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Một ví dụ cụ thể về một hành vi vi phạm pháp luật cụ thể (ví dụ là vi phạm pháp
luật giao thông đường bộ).
- Phân tích cấu thành vi phạm pháp luật trong ví dụ đã cho thì phải làm rõ những nội dung sau :
+ Về chủ thể của vi phạm pháp luật
+ Về khách thể của vi phạm pháp luật
+ Về chủ quan của vi phạm pháp luật
+ Về khách quan của vi phạm pháp luật
Câu III: (3 điểm) Giải quyết tình huống sau:
Năm 1989, Ông A và bà B kết hôn với nhau. Họ có hai người con là C (1990) và D
(1996). Tài sản của chung của A và B gồm có: 1 căn nhà mang tên 2 vợ chồng (có
giá 1,2 tỉ đồng) và một mảnh đất do bố ông A cho ông A năm 1987 (mảnh đất này
do ông A đứng tên có giá trị là 900 triệu đồng), một sổ tiết kiệm mang tên ông A
được mở năm 2009, trong tài khoản có 300 triệu đồng.
a. Năm 2012, ông A bị tòa án tuyên bố đã chết và không để lại di chúc. Hãy chia di sản của ông A.
b. Giả sử trước đó ông A để lại di chúc cho toàn bộ tài sản của mình cho cháu nội
là K. D cho rằng mình là con dù không có tên vẫn được hưởng thừa kế. Bố mẹ K
thì bảo ông A cho ai thì người đó hưởng. Hãy giải quyết tranh chấp trên. Đáp án: 16
a. Chia di sản thừa kế của A:
Thời điểm mở thừa kế của A: năm 2012 Di sản thừa kế của A:
Xác định di sản thừa kế của A là:
Theo đề bài thì tài sản chung của A và B bao gồm: căn nhà 1,2 tỷ, mảnh đất 900
triệu, sổ tiết kiệm 300 triệu. Đây là tài sản chung của A và B do vậy để xác định di
sản thừa kế của A thì trong trường hợp trên ta phải chia đôi khối tài sản chung đó.
(phần này sinh viên xác định không đúng phần di sản thì vẫn cho điểm nếu việc
chia di sản thừa kế thực hiện đúng, nhưng không đạt điểm tuyệt đối).
Do vậy di sản thừa kế của A là: (1,2 tỷ + 900 triệu + 300 triệu)/2 = 1,2 tỷ đồng.
Trong trường hợp A không để lại di chúc thì di sản thừa kế của A được chia theo pháp luật như sau:
Áp dụng điều 676 BLDS 2005 ta có:
Hàng thừa kế thứ nhất của A là (tổng cộng có 3 người): vợ của A là B và 2 (là C và
D) con, mỗi người nhận được:
1,2 tỷ đồng/3 = 400 triệu đồng.
b. Trong trường hợp trên ông A có để lại di chúc. Tuy nhiên có con (là D) của A là
chưa thành niên và vợ của A được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc cụ thể như sau:
Thời điểm mở thừa kế của A năm 2012:
Di sản thừa kế của A là 1,2 tỷ đồng:
Áp dụng điều 669 BLDS ta có:
1 suất thừa kế theo pháp luật của A nếu di sản của A được chia theo pháp luật là
1,2 tỷ đồng/3 = 400 triệu đồng.
áp dụng điều 669 thì B được hưởng di sản của A như sau: 2/3 x 400 triệu = 266,7 triệu đồng.
Con của A là D được hưởng như sau: 2/3 x 400 triệu = 266,7 triệu đồng
Còn lại chia theo di chúc cho K là: 1,2 tỷ đồng – (266,7 triệu + 266,7 triệu) = 666,6 triệu đồng./. Đề mẫu 2
1/ Quyết định của Chủ tịch nước về bổ nhiệm Phó Thủ Tướng, Bộ Trưởng và
các thành viên khác của chính phủ là văn bản QPPL.
2/ Mọi chủ thể là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi đều được công nhận có
đủ năng lực pháp luật.
3/ Nhà nước là chủ thể của mọi mối quan hệ pháp luật.
4/Tất cả các cá nhân thực hiện hành vi trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội
đều bị truy cứu trách nhiệm pháp lý.
5/chủ thể của pháp luật là chủ thể của quan hệ pháp luật
6/ Mọi vi phạm pháp luật đều do người có năng lực trách nhiệm Đáp án:
1. Sai. Vì sai thẩm quyền ban hành, theo khoản 2 điều 114 Hiến Pháp (Quyết định
bổ nhiệm Phó thủ tướng là loại văn bản áp dụng pháp luật vì nó quy định áp dụng
trực tiếp đối với 1 người và chỉ được sử dụng 1 lần duy nhất.) 17
2. Sai. vì năng lực pháp luật do pháp luật quy định.
3.Sai. Hôn nhân gia đình thì chủ thể không phải là nhà nước
4 Sai. hành vi gây ra do người chưa đủ yếu tố về độ tuổi, thể chất…thì không bị
truy cứu trách nhiệm pháp lí
5. Sai. vì hai khái niệm pháp luật và quan hệ pháp luật khác nhau 6. Sai. tương tự câu 4
1: Quy phạm pháp luật là gì? Phân tích cấu trúc của quy phạm pháp luật.
(lấy ví dụ minh họa)
a. Quy phạm pháp luật:
- Là quy tắc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện,
thể hiện ý chí và lợi ích của nhân dân lao động, nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội.
- Quy phạm pháp luật xã hội là một quy phạm pháp luật
- Quy phạm pháp luật luôn gắn liền với nhà nước.
- Quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống có tính chất bắt buộc.
b. Cấu trúc của quy phạm pháp luật:
* Bộ phận giả định:
- Đây là bộ phận của quy phạm quy định địa điểm thời gian chủ thể, các hoàn
cảnh, tình huống có thể xảy ra trong thực tế mà nếu tồn tại chúng thì phải hành
động theo quy tắc mà quy phạm đặt ra.
- Các loại giả định đơn giản hoặc phức tạp giả định xác định và giả định xác định
tương đối, giả định trừu tượng…sở dĩ có nhiều loại giả định như vậy vì đời sống
thực tế rất phong phú và phức tạp.
- Nhưng để đảm bảo tính xác định chặt chẽ của pháp luật thì giả định dù phù hợp
loại nào thì cũng phải có tính xác định tới mức có thể được phù hợp với tính chất
của loại giả định đó.
VD : “Người nào thấy người khác trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng , tuy
có điều kiện mà không cứu giúp, dẫn đến hậu quả người đó chết ” ( Điều 102 – Bộ
luật hình sự năm 1999) là bộ phận giả thiết của quy phạm * Quy định:
- Là bộ phận trung tâm của quy phạm pháp luật, vì chính đây là quy tắc xử sự thể
hiện ý chí nhà nước mà mọi người phải thi hành khi xuất hiện những điều kiện mà
phần giả định đặt ra.
- Với ví dụ trên thì bộ phận quy định “ tuy có điều kiện mà không cứu giúp” có
hàm ý là phải cứu người bị nạn.
- Có nhiều các phân loại phần quy định, mỗi các phân loại cần dựa vào một tiêu chuẩn nhất định.
- Phụ thuộc vào vai trò của chúng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội chúng ta có 18
quy định điều chỉnh bảo vệ quy định định nghĩa, phụ thuộc vào mức độ xác định
của quy tắc hanh vi ta có quy định xác định quy định tùy nghi, tùy thuộc vào tính
phức tạp của nó mà người ta quy định đơn giản và phức tạp. phụ thuộc vào
phương thức thể hiện nội dung ra có hai hệ thống phân loại, .. Vì phần quy định là
bộ phận trung tâm của quy phạm pháp luật nên cách phân loại này có thể áp dụng
để phân loại quy phạm pháp luật nói chung. * Chế tài:
- Chế tài là bộ phận của quy phạm pháp luật chỉ ra những biện pháp tác động mà
nhà nước sẽ áp dụng đối với chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
mệnh lệnh của nhà nước đã nêu trong phần quy định của quy phạm pháp luật.
- Có nhiều loại chế tài : Tùy theo mức độ xác định ta có chế tài xác định chế tài
xác định tương đối, chế tài lựa chọn, theo tính chất các biện pháp được áp dụng, ta
cso thể có chế tài hình phạt, chế tài khôi phục pháp luật hoặc chế tài đơn giản, chế tài phức tạp.
Ví dụ trên bộ phận này : “bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm
hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm
Câu 6: Vi phạm pháp luật là gì? Phân tích cấu thành của vi phạm pháp luật
(Lấy ví dụ minh họa).
* Vi phạm pháp luật:
- Là hình vi trái pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ dó
các chủ thể có năng lực hành vi thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý gây hậu quả thiệt hại cho xã hội.
VD : Một em bé 6 tuổi hoặc một người điên đốt cháy nhà người khác thì đó là
hành vi trái pháp luật, nhưng không phải là vi phạm pháp luật vì thiếu yếu tố năng
lực trách nhiệm pháp lý.
* Cấu thành của vi phạm pháp luật:
- Yếu tố thứ nhất: là mặt khách quan của vi phạm pháp luật. Yếu tố này bao gồm
các dấu hiệu : hành vi trái pháp luật hậu quả, quan hệ nhân quả, thời gian, địa
điểm, phương tiện vi phạm.
- Yếu tố thứ 2 : là khách thể của vi phạm pháp luật. Khách thể của vi phạm là quan
hệ xã hội bị xâm hại, tính chất của khách thể là một tiêu chí quan trọng đẻ xác
định mức độ nguy hiểm của hành vi. VD hành vi xâm phạm an ninh quốc gia hoặc
tính mạng con người nguy hiểm nhiều hơn hành vi gây rối trật tự công cộng.
- Yếu tố thứ 3 là mặt chủ quan của vi phạm pháp luật. Mặt chủ quan gồm các dấu 19
hiệu thể hiện trạng thái tâm lý của chủ thể, khía cạnh bên trong của vi phạm đó là
các dấu hiệu lỗi của vi phạm thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý, động cơ, mục
đích vi phạm có ý nghĩa vô cùng quan trọng để định tội danh trong luật hình sự
nhưng đối với nhiều loại hành vi hành chính thì nó không quan trọng lắm.
- Yếu tố thứ 4 là chủ thể của vi phạm pháp luật. Chủ thể của vi phạm pháp luật
phải có năng lực hành vi. Đó có thể là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân. Đã là cơ
quan tổ chức thì luôn có năng lực hành vi nhưng chủ thể cá nhân thì điều quan
trọng là phải xác định họ có năng lực hành vi hay không. Nếu là trẻ em dưới 14
tuổi thì không được coi là chủ thể vi phạm hành chính và tội phạm. Dưới 16 tuổi
nói chúng không được coi là chủ thể vi phạm kỷ luật lao động bởi vì họ được pháp
luật coi là chưa có năng lực hành vi trong lĩnh vực pháp luật tương ứng… người
điên , tâm thần,… Cũng được coi là không có năng lực hành vi.
Câu 7: Trình bày khái niệm, đặc điểm và các loại trách nhiệm pháp lý. * Khái niệm:
- Trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước (thông
qua các cơ quan có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi
phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế
nhà nước được quy định ở chế tài các quy định pháp luật. * Đặc điểm:
- Cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý và vi phạm pháp luật. Chỉ khi có vi phạm
pháp luật mới áp dụng trách nhiệm pháp lý.
- Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định do cơ quan
nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành trên cơ sở xem xét, giải quyết vụ
việc vi phạm đã có hiệu lực pháp luật.
- Các biện pháp trách nhiệm pháp lý là một loại biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc
thù : mang tính chất trừng phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích bị xâm
hại và đồng thời được áp dụng chỉ trên cơ sở những quyết định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền.
* Phân loại: Có 4 loại trách nhiệm pháp lý:
- Trách nhiệm pháp lý hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất do
Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội
được quy định trong Bộ luật hình sự.
- Trách nhiệm pháp lý hành chính là loại trách nhiệm pháp lý do cơ quan quản lý
nhà nước áp dụng đối với mọi chủ thể khi họ vi phạm pháp luật hành chính.
- Trách nhiệm pháp lý dân sự là loại trách nhiệm pháp lý do Tòa án áp dụng đối
với mọi chủ thế khi họ vi phạm pháp luật dân sự.
- Trách nhiệm pháp lý kỷ luật là loại trách nhiệm pháp lý do thủ trưởng các cơ 20