



















Preview text:
Câu: Tư tưởng HCM về đạo đức? Phân tích tình trạng xuống cấp của sinh viên hiện
nay? Là sinh viên ĐHQGTPHCM, a/c cần làm gì để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức theo TTHCM?
Tư tưởng HCM về đạo đức:
1. Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, đã được hình thành trong
trường kỳ lịch sử, đồng thời kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông, những tinh hoa đạo
đức của nhân loại, đặc biệt quan trọng là những tư tưởng đạo đức của Mác, Ăngghen, Lênin
cũng như những tấm gương đạo đức trong sáng mà các ông đã để lại.
Hồ Chí Minh tiếp thu các các giá trị đạo đức của nhân loại, tiếp thu tư tưởng từ bi, cứu
nạn cứu khổ, bình đẳng, hạnh phúc,... của Phật giáo, là sự bao dung nhân ái, hy sinh cao cả
của Thiên chúa giáo, là tư tưởng “tự do, bình đẳng, bác ái”, coi trọng con người trong văn
hóa phương Tây, trong tuyên ngôn độc lập của Mỹ, trong tuyên ngôn Nhân quyền và Dân
quyền của Pháp. Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo
đức đã có từ trước đánh dấu những bậc thang nhận thức của loài người.
Xuất phát từ thực tiễn việt Nam và thực hiện một công việc kế thừa có chọn lọc, thâu
hóa những giá trị đạo đức của quá khứ, Hồ Chí Minh đề xuất những tư tưởng, đạo đức
mới, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Bác sử dụng những
khái niệm, những phạm trù đạo đức đã từng quen thuộc với dân tộc Việt Nam từ lâu đời
đưa vào đó những nội dung mới, đồng thời bổ sung những khái niệm, những phạm. trù đạo
đức của thời đại mới. Chính vì vậy mà những giá trị đạo đức mới đã hòa nhập với những
giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm cho mỗi người Việt Nam đều cảm thấy gần gũi.
2. Đặc trưng, bản chất tư tưởng về đạo đức Hồ Chí Minh
Đặc trưng chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Thứ nhất, Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả phương diện lý luận và thực tiễn:
Về phương diện lý luận, Hồ Chí Minh đã nêu lên một hệ thống các quan điểm và các phạm
trù về đạo đức như trung, hiếu, cần, kiệm, liêm, chính.
Về phương diện thực tiễn, Hồ Chí Minh đề cao cách ứng xử nhân ái giữa con người với
con người, coi trọng tình yêu thương con người và lối sống có tình, có nghĩa.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh chủ nghĩa yêu nước, song Người cũng rất coi trọng tinh thần quốc
tế, bởi Người cho rằng, người cộng sản không chỉ giải phóng cho dân tộc mình mà còn giải
phóng cho toàn nhân loại.
Thứ hai, Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng, là cái gốc của người cách mạng:
Người cách mạng phải lấy đạo đức làm gốc, phải có đạo đức cách mạng. Xây dựng Đảng
về đạo đức là một trong những nội dung quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh, thực sự “là đạo đức, là văn minh”. Đạo đức cách mạng gắn với tinh thần lạc quan,
luôn kiên cường trước mọi khó khăn, gian khổ, vững tin vào sự nghiệp cách mạng; gắn với
đức tính giản dị, khiêm tốn, trung thực, có trách nhiệm.
Thứ ba, Hồ Chí Minh nhìn nhận đạo đức cách mạng bao gồm cả đức và tài:
Hồ Chí Minh đã khẳng định đức và tài là giá trị đạo đức cơ bản của một con người. Người
cho rằng, có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì
cũng khó. Tài và đức “phải đi liền với nhau, đức là gốc, là ngọn nguồn sức mạnh.”.
Thứ tư, Người đưa ra quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới:
Bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức:
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức mới, đạo đức cách mạng, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
trong sáng, suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân, suốt đời tranh đấu cho Đảng, cho cách mạng.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh luôn đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên
trên, lên trước lợi ích của cá nhân mình.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết hợp đạo đức truyền thống của dân tộc với tinh
hoa đạo đức của nhân loại, giữa phương Đông với phương Tây, được hình thành và phát
triển từ yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam. Phải nhận thức rằng, Hồ Chí
Minh đánh giá cao đạo đức truyền thống dân tộc, đó là những đức tính sống có tình có
nghĩa, có thủy có chung, có nhân có đức, có trước có sau, biết trung, biết hiếu.
Ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin thực sự đem đến cho Hồ Chí Minh một
cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức. Người nâng cao đạo đức truyền thống của dân
tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức phương Đông, phương Tây để xây dựng một nền đạo đức
mới Việt Nam, tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn, kết hợp với sức mạnh vật chất đưa dân tộc
Việt Nam đi tới những thắng lợi vẻ vang.
3. Quan điểm về vai trò và sức mạnh của đạo đức cách mạng
Đạo đức là gốc, là nền tảng tinh thần của xã hội, của người cách mạng
Hồ Chí Minh đã nêu: “Tư cách của người cách mệnh”, phải có 14 điều, nhưng điều trước
tiên phải có đạo đức”. Người khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con
người. Người nhiều lần nhấn mạnh đạo đức là gốc, là nền tảng, là sức mạnh, là tiêu chuẩn
hàng đầu của người cách mạng. Hồ Chí Minh coi đạo đức rất quan trọng như gốc của cây,
như ngọn nguồn của sông suối.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, là nhân tố quyết định sự thành bại của
mọi công việc, phẩm chất mỗi con người. Người cho rằng chiến sĩ cách mạng là người có
đạo đức hết lòng phục vụ nhân dân, làm gương mẫu gian khổ, chất phác, kính trọng của
công. Đạo đức ấy ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp thay đổi xã hội, xây dựng thuần phong mỹ tục.
Đạo đức cách mạng là chỗ dựa, là động lực giúp con người vững vàng trong mọi thử thách.
“Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè,
lùi bước..., khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”.
Nếu đạo đức là tiêu chuẩn cho mục đích hành động thì tài là phương tiện thực hiện hóa
mục đích đó. Sinh thời Bác đã nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà
không có tài làm việc gì cũng khó”. Cả đức và tài, phẩm chất và năng lực phải thống nhất
làm một. Tài năng phải gắn chặt, đặt vững trên nền tảng đạo đức. Hơn nữa, đạo đức còn là
thước đo lòng cao thượng của con người. Việc thực hành tốt đạo đức của bản thân không
chỉ tôn vinh, nâng cao giá trị chính mình mà còn tạo ra sức mạnh của nội tại giúp ta vượt qua mọi thử thách.
Đạo đức là nhân tố tạo nên sự hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội
Sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội chưa phải là ở mức sống vật chất dồi dào, ở tư tưởng
được tự do, giải phóng, mà trước hết là ở những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm chất của
những người cộng sản ưu tú, bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho
lý tưởng xã hội chủ nghĩa thành hiện thực.
Phong trào cộng sản công nhân quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh của loài
người không chỉ do chiến lược và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do
phẩm chất đạo đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành một sức mạnh vô địch.
4. Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng
Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất đạo đức bao trùm quan trọng nhất và chi phối
các phẩm chất khác. Trung và hiếu là những khái niệm đạo đức cũ đã có từ lâu trong tư
tưởng đạo đức truyền thống Việt Nam và phương Đông, phản ánh mối quan hệ lớn nhất và
cũng là phẩm chất bao trùm nhất: trung với vua, hiếu với cha mẹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh
sử dụng phẩm chất này với nội dung mới rộng lớn hơn: “Trung với nước, hiếu với dân”,
tạo nên cuộc cách mạng sâu sắc ở lĩnh vực đạo đức. Theo Người, “Đạo đức cũ như người
đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững
được dưới đất, đầu ngửng lên trời”; “Ngày nay thời đại mới, đạo đức cũng phải mới. Phải
trung với nước. Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào”. Đảng và Chính phủ là “đầy tớ của
nhân dân” chứ không phải “quan nhân dân để đè đầu cưỡi cổ nhân dân”, điều này càng làm
cho tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vượt xa lên phía trước. Phải yêu kính nhân dân. Phải
thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất gắn liền với hoạt động hằng ngày của
mỗi người, là nội dung cốt lõi của đạo đức cách mạng. Thời phong kiến ngày xưa, các tầng
lớp quý tộc địa chủ nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không làm mà bắt ép nhân dân ta
phải thực hiện vì quyền lợi của chúng Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cũng là những
khái niệm cũ được Người lọc bỏ và sửa đổi nội dung cho phù hợp và đáp ứng yêu cầu của cách mạng.
Cần tức là lao động cần cù siêng năng, có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động
với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng.
Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, là tiết kiệm sức lao động,
thời giờ, tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù.
Cần với kiệm phải luôn đi đôi với nhau như hai chân của con người. “Phải cần kiệm xây dựng nước nhà”.
Liêm tức là trong sạch, không tham lam, là không tham địa vị, tiền tài, sung sướng, không
ham người tâng bốc mình.
Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm cũng như chữ Kiệm đi đôi với chữ Cần. Có Kiệm mới
Liêm được. Chính nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn.
Chính nghĩa là không tà, là thẳng thắn, đúng đắn, được thể hiện rõ ở chỗ đối với bản thân
mình thì không được tự kiêu tự đại; đối với người khác thì không được nịnh hót người trên
khinh thường người dưới, phải chân thành khiêm tốn; đối với công việc thì phải đặt việc
nước lên trên việc nhà.
Bác cho rằng các đức tính cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau, ai cũng
phải thực hiện, nhưng cán bộ đảng viên phải thực hành trước để làm mẫu cho nhân dân.
Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.
Ngoài bốn đức tính trên, theo Bác mỗi người cần phải có chí công vô tư. Chí công vô tư là
hoàn toàn vì lợi ích chung, không vì tư lợi bản thân; là hết lòng vì dân vì nước, công tâm,
không thiên vị; luôn đặt lợi ích của Đảng và nhân dân, dân tộc lên hàng đầu.
Thực chất, chí công vô tư là tiếp nối cần, kiệm, liêm, chính, đây là nền tảng của đời sống
mới, của các phong trào thi đua yêu nước. Người coi cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức
tính của con người, giống như bốn mùa của trời, bốn phương của đất; “Thiếu một đức thì không thành người”.
Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa Chép giáo trình 229-230
Tinh thần quốc tế trong sáng Chép giáo trình 231-232
5. Quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng
Theo Người, muốn xây dựng đạo đức cách mạng, cần quán triệt các nguyên tắc sau:
Một là, nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức. Vận dụng nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn vào lĩnh vực đạo đức, Hồ Chí Minh khẳng định, “nói đi đôi với
làm”. Nói đi đôi với làm, suy nghĩ gắn liền với hành động là hành vi đạo đức có ý nghĩa
giáo dục to lớn, vì nó tác động trực tiếp đến tâm lý, từ đó khích lệ mọi người làm việc thiện
một cách nhanh chóng, hiệu quả. Nói đi đôi với làm giúp mọi người dễ dàng phân biệt
đúng - sai, phải - trái, đạo đức chân chính với đạo đức giả, chỉ nói mà không làm.
Để vận dụng nguyên tắc nói đi đôi với làm vào thực tế đời sống, Hồ Chí Minh đã đề xuất
phong trào “Nêu gương người tốt, việc tốt”. Nhiều cuốn sách với những tấm gương người
tốt, việc tốt đã nhanh chóng lan tỏa trong dân chúng, góp phần không nhỏ vào sự thành
công của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong công
cuộc xây dựng đất nước.
Hai là, xây đi đôi với chống. Nguyên tắc này là đòi hỏi của nền đạo đức mới, xây là xây
dựng các giá trị, các chuẩn mực đạo đức mới, chống là chống các biểu hiện, hành vi vô đạo
đức, suy thoái đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, làm cách mạng là một quá trình
gian nan, phức tạp, đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống. Trong mỗi con người
đều có hai mặt thiện và ác. Cái thiện thì nên xây, cái ác thì nên chống. Xây và chống có
mối quan hệ biện chứng. Muốn xây thành công thì phải chống, muốn chống có hiệu quả
thì ắt phải xây. Xây là xây dựng những phẩm chất đạo đức tốt đẹp như: cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư, ý thức trách nhiệm, tinh thần tự phê bình và phê bình, tự giác học
tập. Chống là chống những biểu hiện tiêu cực như: tham ô, lãng phí, quan liêu, háo danh,
xa hoa, hình thức, chủ nghĩa cá nhân, thói nịnh hót, cơ hội.
Để xây và chống có hiệu quả, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải phát động phong trào quần
chúng rộng rãi. Bởi vì, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Để tạo nên những con
người hoàn thiện về tài, đức, phục vụ sự nghiệp cách mạng, cần quán triệt nguyên tắc xây đi đôi với chống.
Ba là, phải tu dưỡng đạo đức suốt đời. Đạo đức chính là tiêu chí, là thước đo phẩm chất
của mỗi con người, nên Hồ Chí Minh cho rằng, ai cũng phải tu dưỡng đạo đức như “rửa
mặt hằng ngày”, bền bỉ suốt đời. Sự tu dưỡng phải xuất phát từ lương tâm của mỗi người,
gắn với thực tiễn cách mạng, hướng đến mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.
Phân tích đạo đức sinh viên hiện nay:
1. Đạo đức sinh viên ngày nay. Tích cực.
Trong thời thế hiện nay, đạo đức sinh viên đã được nâng lên một tầm cao mới, khi vận dụng
tư tưởng đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều này đã được thể hiện rõ ràng thông qua
những bước tiến đáng kể trong việc rèn luyện và tu dưỡng đạo đức của sinh viên ngày nay.
Về mặt nội dung, đạo đức sinh viên ngày nay có đặc tính là sự chú trọng đến việc học tập,
rèn luyện bản thân, tình yêu đất nước và nhân dân, sẵn sàng tham gia vào những hoạt động
cộng đồng có tính chất xã hội. Sinh viên ngày nay không chỉ là những người học tập tốt,
mà còn là những người có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội.
Một trong những ví dụ thể hiện rõ nét về tính đạo đức của sinh viên ngày nay là việc họ
luôn đặt lợi ích của cộng đồng lên hàng đầu. Họ sẵn sàng tham gia vào các hoạt động vì
cộng đồng mà không đòi hỏi bất cứ lợi ích cá nhân nào. Sinh viên luôn sẵn sàng giúp đỡ
các bạn cùng trường trong việc học tập, sẵn sàng tham gia vào các hoạt động cộng đồng,
từ thiện, giúp đỡ những người nghèo khó.
Điều khác biệt so với thời kỳ trước đây đó là sinh viên không chỉ học tập để có một công
việc ổn định trong tương lai, mà họ còn đam mê và tìm hiểu để có thể đóng góp cho xã hội
trong tương lai. Sinh viên hiện nay luôn đặt chữ "tâm" lên hàng đầu, luôn sẵn sàng trau dồi
kiến thức để có thể học hỏi và phát triển bản thân mình.
Ngoài ra, sinh viên còn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để rèn luyện và tu dưỡng đạo đức
qua các hoạt động diễn ra tại trường học. Những bộ môn ngoại khoá như Đội Thiếu niên
Tiền phong, Đoàn Thanh niên, vòng tay nhân ái, tình nguyện viên đã trở thành một phần
không thể thiếu trong cuộc sống sinh viên. Đây cũng là một trong những phúc lợi của hệ
thống giáo dục Việt Nam, giúp sinh viên phát triển nhân cách, tư duy sáng tạo và đạo đức
tình người trong cuộc sống.
Nhìn chung, đạo đức sinh viên ngày nay với tư tưởng Hồ Chí Minh đã có những bước tiến
vượt bậc. Sinh viên ngày nay không chỉ là người học tập, mà còn là người có sứ mệnh với
xã hội và đất nước. Với tình yêu và sự công bằng, sinh viên đã và đang trở thành những
người tiên phong, đóng góp cho sự phát triển của xã hội và đất nước Việt Nam. Tiêu cực.
Bên cạnh những mặt tích cực, vẫn còn tồn tại đâu đó những mặt tiêu cực trong lối sống,
đạo đức sinh viên ngày nay. Những biểu hiện thực dụng trong quan niệm đạo đức và hành
vi ứng xử ở một bộ phận không nhỏ sinh viên. Trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ
thông tin và việc nâng cao dân trí,... đã làm ý thức cá nhân, cụ thể là sinh viên được tăng
lên, ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân, coi lợi ích cá nhân quan
trọng hơn tất cả. Sinh viên coi trọng giá trị vật chất, lấy đồng tiền làm thước đo giá trị trong
cuộc sống và không cần quan tâm đến vấn đề đạo đức, từ đó có thái độ sai lệch đối với những người xung quanh.
Mặc dù, các phong trào tình nguyện được phát động khá nhiều rộ trong sinh viên, nhằm
giáo dục và tuyên truyền tinh thần vì cộng đồng nhưng một số sinh viên so đo sự hy sinh
và quan tâm đến người khác đem lại lợi ích gì cho bản thân. Sự phát triển xã hội đã dần
dần làm không ít sinh viên xa rời các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp vốn có, không ít
sinh viên đã hình thành tư tưởng hưởng thụ, ăn chơi, đua đòi, tệ nạn xã hội, bị dao động về
mặt đạo đức và lối sống trong bối cảnh một nền kinh tế, xã hội hội nhập toàn cầu hóa. Có
không ít sinh viên sống thiếu lý tưởng, hoài bão, thiếu tinh thần học tập, việc học hành
mang tính đối phó, nhiều sinh viên trốn học, nhờ điểm danh, không chịu học tập, nghiên
cứu, quay cóp, thuê làm khoá luận, đồ án tốt nghiệp, hoặc thi hộ,... Hiện tượng mua bằng,
bán điểm, chạy điểm không còn là chuyện hiếm thấy ở một số trường cao đẳng, đại học và trung học hiện nay.
2. Nguyên nhân của biểu hiện lệch lạc đạo đức sinh viên.
Bước chân vào môi trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp có thể là cuộc
sống xa nhà, quy định ràng buộc cũng không còn gắt gao như cấp 3 nên sinh viên được
sống trong một môi trường tự do. Chính sự tự do đó đã làm giảm ý thức sống của sinh viên,
đẩy họ vào cuộc sống buông thả, đua đòi vì lạm dụng sự tự do một cách vô tội vạ.
Thứ nhất, sinh viên có nhận thức còn mơ hồ về chính trị - xã hội, phai nhạt về mục tiêu lý
tưởng, thiếu lòng tin vào con đường quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta, hiện nay
đang xuất hiện “làn sóng ngầm” trong sinh viên khi họ thể hiện thái độ đòi bỏ các môn
khoa học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong chương trình đào tạo tại các trường
Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp. Nguy hiểm hơn, có một bộ phận sinh viên
đang mơ hồ về những âm mưu, hoạt động chống phá nhà nước Việt Nam của các thế lực
thù địch, phản động, sinh viên là đối tượng vừa bước vào đời, có nhiều băn khoăn về cuộc
sống và lực lượng còn chưa hoàn toàn có lý tưởng vững vàng nên rất dễ bị kích động, lôi
kéo và gián tiếp tiếp tay, tạo cơ hội cho các thế lực này thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa
bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa.
Thứ hai, một bộ phận sinh viên chưa ý thức cao về trao đồi tri thức, thiếu trung thực trong
học tập, thi cử và cuộc sống.
Thứ ba, đời sống văn hóa của sinh viên diễn biến theo chiều hướng phức tạp, xa rời những
giá trị tốt đẹp của dân tộc.
Thứ tư, những thay đổi lớn trong cuộc sống. Bên cạnh những thay đổi theo hướng tích cực
thì có một số vấn đề tiêu cực đã, đang và ngày càng thịnh hành trong đời sống của chúng
ta, đó là sống vì lợi ích của mình và đề cao cái tôi.
Thứ năm, rời xa các giá trị truyền thống, lối sống đua đòi và chạy theo những giá trị không có thật.
Những biểu hiện lệch lạc chuẩn đạo đức ngày càng diễn ra nhiều và lan rộng trong cộng
đồng sinh viên. Chúng ta cần có những biện pháp kịp thời để ngăn cản việc bình thường
hóa những hành vi như thế này nếu không thì sẽ là những hậu quả khôn lường cho cả thế
hệ về sau và cả đất nước này.
3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong rèn luyện, tu dưỡng đạo đức sinh viên.
Phương hướng nâng cao đạo đức sinh viên
Một là, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục, rèn
luyện đạo đức, lối sống cho sinh viên. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các
lực lượng cùng chăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho sinh viên, trước hết, gia
đình chăm lo bồi dưỡng đạo đức cho thế hệ sau. Gia đình cần giữ gìn đạo đức, nếp sống
văn hóa, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống góp phần bồi dưỡng tư tưởng đạo đức
cho thế hệ con cháu. Nhà trường không chỉ dạy chữ mà còn là nơi dạy người. Giáo dục lý
tưởng, đạo đức làm người là mục tiêu hàng đầu trong nhà trường hiện nay phải đặc biệt coi
trọng. Các tổ chức, đoàn thể, các đơn vị lực lượng vũ trang nhất là Đoàn thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh cần tổ chức nhiều hoạt động để tuyên truyền giáo dục thanh thiếu niên,
rèn luyện theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng.
Hai là, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, vị trí của đạo đức sinh viên. Việc
tuyên truyền, giáo dục nhằm xây dựng đời sống đạo đức sinh viên lối sống đạo đức lành
mạnh, trong sáng cho sinh viên. Xác định đây là công việc của cả xã hội, có định hướng
đúng cho sinh viên về mặt phẩm chất, tư cách, nguyên tắc đạo đức. Các phương tiện thông
tin đại chúng biểu dương kịp thời tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, phê phán những biểu
hiện lệch lạc trong đạo đức, lối sống và sinh hoạt văn hoá của sinh viên. Tuyên truyền rộng
rãi cuộc vận động sinh viên “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Ba là, nâng cao tính tự học, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của sinh viên. Hình
thành trong sinh viên ý chí, quyết tâm để phấn đấu hoàn thiện bản thân, tự làm chủ, học
tập, cầu tiến vươn lên. Học tập, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, những tư tưởng tiến
bộ, khoa học kỹ thuật hiện đại,... nhưng phải tiếp thu có chọn lọc, phù hợp với bản sắc văn
hóa của Việt Nam. Đồng thời phải phát huy tích cực những nét đẹp văn hóa truyền thống
đã được lưu giữ từ xưa của dân tộc, đó là tinh thần yêu nước, là tình thương yêu con người,
là nét đẹp trong văn hóa ứng xử giữa người với người, là đức tính cần cù, sáng tạo, yêu lao
động, là lòng quyết tâm, ý chí vượt qua thử thách, vượt qua mọi khó khăn gian khổ như
Bác Hồ đã dạy: “gian nan rèn luyện mới thành công”.
Bốn là, có tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng trong mọi hoạt động. Tinh thần đoàn kết,
hợp tác sẽ giúp cho sinh viên xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân, xóa bỏ những tư tưởng cô độc, hẹp
hòi, cố chấp, thành kiến tự cao, tự đại, tự ái, tự phụ, nghi kỵ vô căn cứ. Trong công cuộc
xây dựng và phát triển đất nước, trước vận hội mới của dân tộc đòi hỏi tất cả người Việt
Nam, trong đó có sinh viên phải đoàn kết thống nhất vì sự phát triển bền vững của quê hương, đất nước.
Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về tầm quan trọng của việc giáo dục đạođức
cách mạng cho sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần chú trọng tuyên truyền, giáo
dục, xây dựng thanh niên trở thành những người “vừa hồng”, “vừa chuyên” để họ nhận
thấy rõ vị trí, vai trò to lớn của mình, từ đó đặt ra những yêu cầu cao cho bản thân trong
quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.
Hai là, đa dạng hóa các nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục đạo đức cách mạng
cho sinh viên. Hình thức, biện pháp giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh viên cần linh
hoạt, sáng tạo; không rập khuôn, thụ động, căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ, đặc điểm ở mỗi
khu vực, địa bàn đưa ra hình thức, biện pháp cho phù hợp.
Ba là, phát huy tính tích cực, chủ động của sinh viên trong tự rèn luyện đạo đức cách
mạng. Mỗi sinh viên cần chủ động, tích cực học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh, đặc biệt là tinh thần, ý chí vượt khó, tự rèn luyện, học tập ở mọi lúc,
mọi nơi; bản thân thấy yếu mặt nào thì tập trung vào học tập, nghiên cứu, tự hoàn thiện bản
thân; chủ động xây dựng kế hoạch học tập, rèn luyện một cách toàn diện đầy đủ, trong đó
tập trung rèn luyện đạo đức cách mạng; đặt ra những yêu cầu cho bản thân trong quá trình
tự giáo dục đạo đức cách mạng; thường xuyên đối chiếu, so sánh kế hoạch tự phấn đấu tu
dưỡng, rèn luyện của bản thân với yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương, từ
đó có những điều chỉnh, bổ sung cho hợp lý; phối hợp chặt chẽ với các bộ phận, lực lượng
trong quá trình tự giác tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng của sinh viên.
Mặt khác, cần tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động xã hội, phù hợp với môi
trường, điều kiện công tác; tự đấu tranh với chính bản thân mình trong quá trình rèn luyện
đạo đức cách mạng, không vì những khó khăn, thất bại trước mắt mà nản lòng, nhụt ý chí,
không có động cơ, mục tiêu phấn đấu; càng ở trong tình huống khó khăn, thử thách càng
phải tỏ rõ bản lĩnh vững vàng, bình tĩnh, kiên định đưa ra phương hướng giải quyết hợp lý, hiệu quả.
Bốn là, cần phải có cái nhìn phê phán mạnh mẽ những sinh viên, thanh niên không
chịu học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng.
Là sinh viên ĐHQGTPHCM, a/c cần làm gì để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức theo TTHCM:
Tìm hiểu tư tưởng, đạo đức, phong cách, tấm gương HCM về tinh thần trách nhiệm,
trung thực, nói đi đôi với làm, phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện đạt danh hiệu "Sinh viên 5 tốt"
với các tiêu chí: Đạo đức tốt, Học tập tốt, Thể lực tốt, Tình nguyện tốt, Hội nhập tốt.
Tích cực tuyên truyền, làm cho nhiều người xung quanh mình có nhận thức đúng
đắn, đầy đủ về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng, lợi ích to lớn của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải dám nghĩ, dám làm và dám
chịu trách nhiệm về việc làm của mình chứ không phải đùn đẩy việc sai cho người khác
hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh.
Không ngừng học tập, rèn luyện, thực hành đạo đức cách mạng: trung thành, dũng cảm, khiêm tốn
Rèn luyện sức khỏe, có lối sống lành mạnh, không vướng vào tệ nạn xã hội, không
nói dối thầy cô, cha mẹ, không gian lận trong thi cử, làm tròn trách nhiệm của người con ngoan, trò giỏi.
Vận dụng kiến thức học được từ nhà trường áp dụng vào cuộc sống hằng ngày, vào
công việc, đấu tranh với quay cóp, học hộ, thi hộ, bằng giả,…
Lối sống giản dị, không chạy theo các giá trị rời xa giá trị truyền thống.
Câu: Quan điểm HCM về tính chất, đặc điểm, nhiệm vụ của thời kì quá độ lên
CNXH ở VN. Liên hệ với thực tiễn trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay?
Định nghĩa “thời kỳ quá độ”: là thời kỳ còn tồn tại đan xen giữa cái cũ và cái mới,
những cái cũ đã bị đánh đổ, nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn và những cái mới đã
ra đời, nhưng còn non yếu.
Thời kỳ quá độ (TKQĐ) lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), theo V.I.Lênin nhận định:
“giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, là xã hội vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ
nghĩa sau những cơn đau đẻ kéo dài”. Đó là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, là thời điểm mà, đồng thời cùng tồn tại những
đặc điểm, đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ
nghĩa và diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu
diệt hẳn và chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng còn rất non yếu. Như vậy, thời kỳ quá
độ là một giai đoạn độc lập có vị trí riêng biệt nằm giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội.
Hai hình thức cơ bản của TKQĐ lên CNXH:
Một là, quá độ trực tiếp - từ những nước tư bản phát triển lên CNXH.
Hai là, quá độ gián tiếp - từ những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa lên CNXH. Nói về thời kỳ quá độ của Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận định: “Đặc
điểm to nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, tức là Việt Nam trải qua hình thức quá độ gián
tiếp. Bởi lẽ với các đặc điểm xã hội thực dân, phong kiến của nước ta, việc xóa bỏ triệt để
các tàn tích của chế độ và gây dựng các mầm mống cho CNXH phát triển phải được thực
hiện từng bước, tất yếu dẫn đến việc bỏ qua giai đoạn chủ nghĩa tư bản để tiến dần đến CNXH.
2. Tính chất, đặc điểm
Tính chất: Đây là thời kỳ cải biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ.
Theo Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải
biến xã hội cũ thành xã hội mới - một xã hội chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Thời kỳ
dân tộc ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ
sâu xa hàng ngàn năm; phải xóa bỏ giai cấp bóc lột; phải biến một nước dốt nát, cực khổ
thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc trong điều kiện nước ta là một
nước nông nghiệp lạc hậu, mới thoát khỏi ách thực dân, phong kiến nên nó là công cuộc
biến đổi sâu sắc nhất, khó khăn nhất, thậm chí còn khó khăn, phức tạp hơn cả việc đánh
giặc, vì vậy, tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể một sớm một chiều không thể làm mau
được mà phải làm dần dần.
Đặc điểm: đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ ở Việt Nam là từ một nước nông
nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Bước vào thời kỳ quá độ, Việt Nam cũng có những đặc điểm giống như đặc điểm
của các nước khác khi bước vào thời này như sự tồn tại đan xen giữa các yếu tố của xã hội
cũ bên cạnh những yếu tố của xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống; là giai đoạn
đầu, khi các yếu tố của xã hội cũ còn cụm lại thành một thế lực thì khi nó còn chiến thắng
những yếu tố của xã hội mới vừa xuất hiện,... “Đặc điểm to nhất là từ một nước nông nghiệp
lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.
Cùng với những đặc điểm khác và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, đặc điểm này quy định
nhiệm vụ của dân tộc ta trong thời kỳ quá độ.
Nhiệm vụ: Đấu tranh cải tạo, xóa bỏ tàn tích của chế độ xh cũ, xd các yếu tố mới phù
hợp với quy luật tiến lên CNXH trên tất cả các lĩnh vực đời sống.
Chính trị: Phải xây dựng được chế độ dân chủ vì đây là bản chất của chủ nghĩa
xã hội. Muốn xây dựng được chế độ dân chủ, theo Hồ Chí Minh, phải chống tất cả các biểu
hiện của chủ nghĩa cá nhân, trước hết ở trong Đảng, trong bộ máy chính quyền từ cấp cơ
sở đến Trung ương đồng thời phải bồi dưỡng, giáo dục để nhân dân có tri thức, có năng lực
làm chủ chế độ xã hội.
Kinh tế: Cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới có công nghiệp và
nông nghiệp hiện đại. Đây là quá trình xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội. Giữa cải tạo và xây dựng thì xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài
và phải luôn gắn với việc thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.
Văn hóa: Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của
văn hóa đế quốc, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp
thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ trên thế giới để xây dựng một nền văn hóa Việt
Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng.
Các quan hệ xã hội: Phải thay đổi triệt để những quan hệ cũ đã trở thành thói
quen trong lối sống, nếp sống của con người; xây dựng được một xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh, tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và
bảo đảm cho nó được thỏa mãn để mỗi người có điều kiện cải thiện đời sống riêng của
mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình trong sự hài hòa với đời
sống chung, với lợi ích chung của tập thể.
Liên hệ thực tiễn trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay:
Câu: Quan điểm HCM về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Vận dụng trong xây dựng và bảo vệ độc lập dân tộc VN hiện nay?
Độc lập dân tộc là cơ sở, tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, con đường cách mạng Việt Nam có hai giai đoạn: cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong cách mạng dân tộc dân
chủ có hai nhiệm vụ chiến lược cơ bản, trong đó giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu,
nhiệm vụ dân chủ được rải ra thực hiện từng bước và phục tùng nhiệm vụ giải phóng dân
tộc. Vì thế, ở giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ thì độc lập dân tộc là mục tiêu trực
tiếp, trước mắt, cấp bách. Kết luận này được Hồ Chí Minh rút ra từ sự phân tích tình hình
thực tế và những mâu thuẫn khách quan tồn tại của xã hội Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến.
Giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc là mục tiêu đầu tiên của cách mạng, là cơ
sở, tiền đề cho mục tiêu tiếp theo: CNXH và CNCS. Theo TTHCM, độc lập dân tộc bao
gồm cả dân tộc và dân chủ, độc lập phải gắn liền với thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ. Hơn nữa, độc lập dân tộc cũng phải gắn liền với tự do, cơm no, áo ấm, hạnh phúc,
vì vậy khi nêu lên mục tiêu giải phóng, HCM đã định hướng đến mục tiêu CNXH.
Khi nhấn mạnh mục tiêu độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh không bao giờ coi đó là mục
tiêu cuối cùng của cách mạng, mà là tiền đề cho một cuộc cách mạng tiếp theo – cách mạng
xã hội chủ nghĩa. Do vậy, cách mạng dân tộc dân chủ càng sâu sắc, triệt để thì tạo ra tiền
đề thuận lợi, sức mạnh to lớn cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng giải phóng dân
tộc ở VN được HCM khẳng định là con đường cách mạng vô sản, vì vậy ngay từ đầu, cuộc
cách mạng này mang định hướng XHCN.
Tính chất tạo tiền đề của cách mạng dân tộc dân chủ được thể hiện:
- Về chính trị: xác định và xây dựng các yếu tố của hệ thống chính trị do giai cấp công nhân lãnh đạo.
- Về kinh tế: bước đầu xây dựng được các cơ sở kinh tế mang tính chất xã hội chủ nghĩa,
từng bước cải thiện đời sống nhân dân
- Về văn hoá, xã hội, đời sống tinh thần: trong cách mạng dân tộc dân chủ, khối quần
chúng công - nông - trí thức và các giai tầng xã hội khác đã có ý thức giác ngộ, đoàn kết
trong một mặt trận dân tộc thống nhất; những nhân tố mới của văn hoá, giáo dục đã được
hình thành dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tóm lại, độc lập dân tộc tạo tiền đề, điều kiện để nhân dân lao động tự quyết định con
đường đi tới chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Ví dụ: Thời kỳ 1945-1954 – thời kỳ bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng những cơ sở đầu
tiên của chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ này, Hồ Chí Minh tiếp tục bổ sung và phát triển
thêm những quan điểm lý luận về con đường cách mạng Việt Nam. Nội hàm khái niệm cách
mạng dân tộc dân chủ, chế độ dân chủ mới đã được Hồ Chí Minh làm rõ bằng cách xác
định mục tiêu, động lực, các điều kiện để thắng lợi ở từng giai đoạn cách mạng, trong mỗi
giai đoạn đều kết hợp giải quyết các nhiệm vụ dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, tạo
tiền đề đẩy cách mạng phát triển lên giai đoạn cao hơn nhưng đồng thời cũng đầy khó
khăn và phức tạp hơn, kiên trì phát huy cao độ ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường đồng
thời với ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế.
Chủ nghĩa xã hội là điều kiện để đảm bảo vững chắc độc lập dân tộc
Chép giáo trình trang 116-117.
Về lý luận, độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội thể hiện mối quan hệ giữa mục
tiêu trước mắt và mục tiêu cuối cùng; mối quan hệ giữa hai giai đoạn của một quá trình
cách mạng. Logic lịch sử khách quan cho thấy: thực hiện mục tiêu trước mắt là điều kiện
tiên quyết để đi tới mục tiêu cuối cùng và chỉ thực hiện được mục tiêu cuối cùng thì mục
tiêu trước mắt mới củng cố vững chắc một cách hoàn toàn, triệt để. Giữa hai giai đoạn
cách mạng không có bức tường ngăn cách, cách mạng dân tộc dân chủ xác lập cơ sở, tiền
đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa, cách mạng xã hội chủ nghĩa khẳng định và bảo vệ
vững chắc nền độc lập dân tộc.
Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao giờ cũng gắn liền với đời sống ấm no, hạnh
phúc của quần chúng nhân dân, những người đã trực tiếp làm nên thắng lợi của cách mạng
dân tộc dân chủ. Để đảm bảo vững chắc độc lập dân tộc, để không rơi vào lệ thuộc, đói
nghèo lạc hậu, chặng đường tiếp theo chỉ có thể là đi lên chủ nghĩa xã hội. Do những đặc
trưng nội tại của mình, chủ nghĩa xã hội sẽ củng cố những thành quả đã giành được trong
cách mạng dân tộc dân chủ, tạo điều kiện để bảo đảm cho độc lập và phát triển dân tộc.
Ví dụ: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi là tấm gương, là nguồn cổ vũ to
lớn cho các quốc gia – dân tộc đang mất độc lập ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ La-tinh, nhất
là đối với các nước láng giềng. Trong đó có ảnh hưởng sâu sắc đến với Miên và Lào –
nhân dân của hai nước cùng nổi lên chống đế quốc và đòi độc lập, nhờ vào sự thành công
của Cách mạng Tháng Tám.
Hồ Chí Minh chỉ rõ, chủ nghĩa xã hội càng phát triển, càng đạt đến độ chín muồi
thì các tiềm lực, nhất là tiềm lực vật chất kỹ thuật của dân tộc càng mạnh, đất nước càng
có điều kiện củng cố độc lập của mình, tăng cường khả năng phòng thủ. Không có một chế
độ xã hội nào có thể đảm bảo vững chắc độc lập dân tộc bằng chủ nghĩa xã hội.
Trong toàn bộ cấu trúc nội tại của mình, chủ nghĩa xã hội thể hiện khả năng tự bảo
vệ và biết cách bảo vệ. Hồ Chí Minh khẳng định, trong chủ nghĩa xã hội, nhân dân lao
động là người chủ duy nhất. Đó là sự khác biệt về chất giữa chủ nghĩa xã hội với các chế
độ xã hội trước đó. Chế độ dân chủ là chế độ do nhân dân làm chủ, dân chủ là vấn đề
thuộc bản chất của nhà nước ta. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ xã hội chủ nghĩa phải được
phát huy trên tất cả các lĩnh vực, phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được hoàn thiện,
nâng cao trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và nâng cao dân trí. Đây là điều kiện
cơ bản và quyết định vận mệnh của dân tộc, tạo ra sức đề kháng trên phạm vi xã hội, loại
trừ và có khả năng chống trả bất kỳ một hành động nào đe dọa độc lập, tự do của dân tộc.
Thực hiện được một xã hội như vậy thì độc lập dân tộc mới thực sự vững chắc, sự nghiệp
giải phóng dân tộc mới thắng lợi một cách hoàn toàn và triệt để.
Những điều kiện bảo đảm cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Một là, đảm bảo vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản trong suốt tiến trình Cách
mạng. Không có sự lãnh đạo của Đảng thì Cách mạng Việt Nam không thể đi theo con
đường Cách mạng vô sản và không thể giành được độc lập dân tộc. Theo Hồ Chí Minh,
càng phải củng cố, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nếu không Đảng sẽ mất vai trò
lãnh đạo và chủ nghĩa xã hội sẽ sụp đổ và tan rã.
Ví dụ: Năm 1973, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới, Goóc-ba-chốp lên
nắm quyền lãnh đạo Đảng đề ra đường lối cải tổ vào tháng 3/1985. Nhưng do không có
đường lối chiến lược toàn diện, nhất quán nên công cuộc cải tổ nhanh chóng rơi vào tình
trạng bị động, khó khăn. Đất nước ngày càng lún sau vào khủng hoảng. Ngày 25/12/1991,
Goóc-ba-chốp tuyên bố từ chức, lá cờ Liên bang Xô viết trên nóc điện Crem-li bị hạ xuống,
đánh dấu sự chấm dứt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên bang Xô viết sau 74 năm tồn tại.
Đây là một tổn thất nặng nề đối với phong trào cách mạng thế giới. Hồ Chí Minh chỉ rõ
vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính khách quan. Để hoàn
thành sứ mệnh của mình, Đảng phải trong sạch, vững mạnh và thường xuyên chỉnh đốn để
nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, đủ trí tuệ, đủ bản lĩnh vượt qua những thử
thách gay gắt nhất, phải thực hiện xây dựng Đảng về mọi mặt: chính trị, tư tưởng và tổ
chức, trong đó công tác cán bộ bao giờ cũng là vấn đề cốt tử.
Hai là, xây dựng, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc mà nền tảng là
khối liên minh công - nông. Người xác định: công - nông là gốc, là chủ lực của cách mạng,
các giai tầng, cá nhân yêu nước là bầu bạn của cách mạng, đại đoàn kết có ý nghĩa chiến
lược, quyết định sự thành bại của cách mạng. Khi đất nước bước vào xây dựng chủ nghĩa
xã hội Người đòi hỏi công nông trí thức đoàn kết lại. Tất cả được tập hợp trong Mặt trận
dân tộc thống nhất.
Ví dụ: Thực tế lịch sử vừa qua đã cho thấy rõ: từ một đất nước thiếu đói vào những
năm 80 của thế kỷ trước, đến nay Việt Nam đã trở thành một trong những nước đứng đầu
trong việc xuất khẩu gạo, hạt tiêu, hạt điều... trên thế giới. Đó là minh chứng cho vai trò
liên minh giữa nhà nông và công nhân nông nghiệp, chế biến sản phẩm nông nghiệp với
các nhà khoa học, cùng với thương nghiệp, tài chính... Các ngành kinh tế khác cũng có
những thành quả đáng khích lệ, tất cả đều là do khối liên minh công –nông và tri thức góp phần tạo nên.
Ba là, phải đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với cách mạng thế giới. Đoàn kết quốc tế là
tạo ra sức mạnh to lớn cho cách mạng và góp phần chung cho nền hòa bình, độc lập, dân chủ và Cnxh trên TG.
Hồ Chí Minh chỉ rõ Việt Nam là một bộ phận của thế giới, cách mạng Việt Nam và
cách mạng thế giới liên hệ chặt chẽ với nhau. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình, Hồ Chí Minh luôn có những chủ trương, đường lối và biện pháp phù hợp để tranh
thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, hoà bình dân chủ trên thế giới. Thắng
lợi của cách mạng Việt Nam Tháng Tám 1945, trong những năm chống Pháp, chống Mỹ,
trong thời kỳ hoà bình, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều không tách rời sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế.
Ba nhân tố nêu trên gắn bó chặt chẽ với nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp quyết định
mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh kết luận: “Đó là ba bài học lớn mà
mỗi cán bộ và đảng viên ta cần ghi sâu vào lòng và phát huy thêm mãi” Như vậy, độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan. Tính tất yếu đó chỉ được
hiện thực hoá khi gắn liền với những điều kiện bảo đảm, trong đó yếu tố quan trọng nhất
là xác lập và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vận dụng trong xây dựng và bảo vệ độc lập dân tộc hiện nay:
Kiên định mục tiêu và con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh đã xác định.
Tiến tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là quá trình hợp quy luật, phù hợp
với khát vọng của nhân dân Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn của Hồ Chí Minh và sự
khẳng định của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phát huy sức mạnh dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Phát huy sức mạnh dân chủ xã hội chủ nghĩa là phát huy sức mạnh bản chất ưu việt
của chế độ xã hội chủ nghĩa; là bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; là
dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống để
nhân dân tham gia vào tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định có liên quan
đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Phát huy sức mạnh dân chủ xã hội chủ nghĩa không tách rời quá trình hoàn thiện hệ
thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân
theo tinh thần của Hiến pháp hiện hành. i đôi với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm
công dân và đạo đức xã hội, phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình
thức và xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ làm mất an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội cũng như tất cả những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân.
Củng cố, kiện toàn, phát huy sức mạnh và hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị.
Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam là nhất nguyên và tính thống nhất: Nhất
nguyên về chính trị, về tổ chức, về tư tưởng; thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, thống nhất về mục tiêu chính trị. Các tổ chức trong hệ thống chínhtrị ở Việt
Nam có tính chất, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ khác nhau, phương thức hoạt động
khác nhau nhưng gắn bó mật thiết với nhau tạo nên một thể thống nhất, phát huy sức mạnh
để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trên tất
cả các lĩnh vực. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước,
của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Như vậy,
củng cố, kiện toàn, phát huy sức mạnh và hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống chính
trị thực chất là để nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện, quyền làm chủ của nhân
dân được phát huy đầy đủ.
Đấu tranh chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống
và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Tăng cường xây dựng…quá độ đi lên CNXH. (giáo trình trang 122)
Câu: Quan điểm HCM về vai trò đại đoàn kết dân tộc. Sinh viên cần làm gì để góp
phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở VN hiện nay?
Vai trò của đại đoàn kết:
Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng.
Đại đoàn kết toàn dân tộc là chiến lược lâu dài, nhất quán của cách mạng Việt Nam.
Trong từng thời kì, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính
sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với tình hình đất nước, nhưng Đại
đoàn kết toàn dân tộc luôn được Người coi là vấn đề sống còn của cách mạng.
Từ thực tiễn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Hồ Chí Minh đã khái quát
thành nhiều luận điểm mang tính chân lý về vai trò và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”, “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng
lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”, “Bây giờ còn một điểm rất quan
trọng, cũng là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn
kết”. Người đã đi đến kết luận:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”
Đại đoàn kết toàn dân tộc là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam
Đại đoàn kết không chỉ là khẩu hiệu chiến lược mà còn là mục tiêu lâu dài của cách
mạng. Đảng là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam nên tất yếu đại đoàn kết toàn dân
tộc phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và nhiệm vụ này phải được quán
triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách, tới hoạt động thực tiễn của Đảng.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng và vì quần chúng. Đại đoàn
kết là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là đòi hỏi khách quan của quần chúng
nhân dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng bởi nếu không đoàn kết thì chính họ sẽ thất
bại trong cuộc đấu tranh giành lợi ích của chính mình. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp,
đoàn kết quần chúng tạo thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân
tộc, tự do cho dân nhân, hạnh phúc cho con người.
Sinh viên cần làm gì để xây dựng khối dại đoàn kết dân tộc:
- Mỗi sinh viên cần phải có những ý thức đúng đắn về vai trò của mình đối với đại đoàn
kết dân tộc. Cần phải phấn đấu, tu dưỡng đạo đức và lối sống của bản thân theo gương của Hồ Chí Minh.
- Luôn nỗ lực học tập, rèn luyện kỹ năng và kiến thức để hoàn toàn có thể thích ứng với
điều kiện kèm theo xã hội mới.
- Sinh viên cần phải thực hiện tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng, pháp lý của
nhà nước đến quần chúng nhân dân. Cần phải có tư tưởng chính trị vững vàng, xác lập
phấn đấu vì một tiềm năng chung là hiệu suất cao việc làm, không gây mất đoàn kết trong nội bộ.
- Tương trợ, giúp sức lẫn nhau để cùng văn minh, đoàn kết nhưng không có nghĩa là bao
che cho khuyết điểm của người khác mà mỗi cá thể cần nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình.
- Cần dám nhận những thiếu sót, những khuyết điểm của bản thân, của người khác và thẳng
thắn góp ý để cùng xây dựng cùng chia sẻ những cái hay cái tốt và loại bỏ dần những
khuyết điểm, hạn chế còn tồn tại.
Câu: Phân tích, chứng minh quan điểm HCM: “Cách mạng giải phóng dân tộc muốn
thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản”. Ý nghĩa với cách mạng nước ta?
Cơ sở lý luận: là chủ nghĩa Mác-Lênin
Hồ Chí Minh đọc sơ thảo lần thừ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc
địa của Lênin. Nội dung:
- Quyền tự quyết của dân tộc
- Những người CM ở chính quốc phải giúp đỡ những người CM ở thuộc địa và những
người CM ở thuộc địa phải tranh thủ sự giúp đỡ của những người CM ở chính quốc.
- Nhiệm vụ cách mạng: đấu tranh chống đế quốc, chống phản động dân tộc.
- Sau khi CM thành công với sự giúp đỡ của 1 nước XHCN đi lên mà không qua TBCN.
- Nga và Xô Viết là căn cứ địa.
Từ đó, HCM khẳng định không có con đường nào khác ngoài con đường giải phóng dân
tộc nếu muốn cứu nước và chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng dân tộc và
cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của CNCS và CMTG.
Cơ sở thực tiễn:
Rút ra bài học từ sự thất bại của các con đường cứu nước theo khuynh hướng tư tưởng
phong kiến, con đường cứu nước theo khuynh hướng tư tưởng tư sản, sự khủng hoảng
về đường lối cứu nước ở Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX.
Việt Nam cũng như nhiều dân tộc khác ở châu Á, châu Phi vào giữa thế kỉ XIX đã
trở thành đối tượng xâm lược của chủ nghĩa thực dân đế quốc. Năm 1858 thực dân Pháp
xâm lược Việt Nam, sau khi cơ bản kết thúc giai đoạn vũ trang xâm lược, thực dân Pháp
tiến hành khai thác thuộc địa, bóc lột nhân dân ta.
Từ 1858 đến cuối thế kỉ XIX, phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp rầm rộ
bùng lên, dâng cao và lan rộng ra cả nước, từ Nam Bộ, miền Trung đến miền Bắc. Các
cuộc nổi dậy đều được thúc đẩy bởi tinh thần yêu nước nhiệt thành và chí căm thù giặc sục
sôi. Bước sang đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta chuyển
sang xu hướng dân chủ tư sản. Tất cả các phong trào cứu nước của ông cha ta, mặc dù đã
diễn ra vô cùng anh dũng với tinh thần “người trước ngã, người sau đứng dậy” nhưng cuối
cùng đều bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Đó là tình trạng khủng hoảng về đường lối
cứu nước ở Việt Nam đầu thế kỉ XX. Yêu cầu lịch sử lúc này đòi hỏi là phải tìm ra con
đường cứu nước mới.
Mặc dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của ông cha, Hồ Chí Minh không tán
thành con đường cứu nước của họ mà quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mới.
Ngày 5/6/1911, Người rời đất nước đến nhiều quốc gia và châu lục trên thế giới để khảo
nghiệm, tìm tòi con đường cứu nước hữu hiệu hơn để về giúp đồng bào.
Cách mạng tư sản là cách mạng không triệt để:
Nguyễn Ái Quốc đã kết hợp tìm hiểu lý luận và khảo sát thực tiễn, nhất là ba nước
tư bản đang phát triển: Anh, Pháp, Mỹ. Người đọc Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, tìm hiểu
thực tiễn cuộc cách mạng tư sản Mỹ, đọc Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của cách
mạng Pháp, tìm hiểu cách mạng tư sản Pháp. Người nhận thấy: đây là cách mạng tư sản,
chưa triệt để và VN không thể đi theo con đường cách mạng này.
Điểm đúng đắn trong con đường giải phóng dân tộc:
Năm 1917, Cách mạng tháng 10 Nga thành công, Hồ Chí Minh thấy được Cách
mạng tháng Mười Nga không chỉ là một cuộc cách mạng vô sản mà còn là một cuộc cách
mạng giải phóng dân tộc. Người “hoàn toàn tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba”, chính vì
Lênin và Quốc tế thứ ba đã “bênh vực cho các dân tộc bị áp bức”. Người thấy trong lý luận
của Lênin một phương hướng mới để giải phóng dân tộc: con đường cách mạng vô sản.
Trong bài Cuộc kháng Pháp, Hồ Chí Minh viết: “chỉ có cách mạng giai cấp vô sản thì mới
giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa
cộng sản và của cách mạng thế giới”.
Hồ Chí Minh đã đến với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và lựa
chọn khuynh hướng chính trị vô sản. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng
dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”, “chỉ có chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những lao
động trên thế giới khỏi ách nô lệ”, từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới, chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc muốn
thành công phải đi theo con đường cách mạng vô sản”. Nội dung:
Giải phóng dân tộc gắn với phải giải phóng giai cấp, trong đó giải phóng dân tộc là
trước hết, trên hết, tiến hành giải phóng dân tộc giải phóng xã hội – giải phóng giai cấp –
giải phóng con người dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân với lực lượng cách mạng là
khối đại đoàn kết toàn dân, nòng cốt là liên minh công-nông. Độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH và từng bước đi lên CNXH. Ý nghĩa:
Thực tế lịch sử đã chứng minh sự lựa chọn đúng đắn đó. Năm 1930, Đảng cộng sản
Việt Nam thành lập, đánh dấu sự thắng lợi của khuynh hướng cách mạng vô sản. Thắng
lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, thắng lợi cuộc kháng chiến chống pháp (1954) và
kháng chiến chống Mỹ (1975) cũng như thắng lợi của công cuộc Đổi mới hiện nay càng
chứng tỏ hướng đi đúng đắn của dân tộc và người có vai trò quan trọng nhất trong việc tìm
ra và đặt nền tảng cho cách mạng Việt Nam không ai khác, đó là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh vĩ đại.
Đường lối đúng đắn đó đã đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta vào quỹ đạo
cách mạng vô sản trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực
dân, đế quốc, và đi tới thắng lợi cuối cùng là đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, dân tộc
Việt Nam được tự do, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Cách mạng tháng 8 thành công, sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày
2/9/1945 đã đánh dấu bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam. Và đến đại thắng mùa xuân
1975 - một kỷ nguyên lịch sử mới của dân tộc đã được mở ra, kỷ nguyên đất nước độc lập
thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Câu: Tư tưởng HCM về độc lập dân tộc, vận dụng trong bảo vệ chủ quyền biển đảo nước ta?
Độc lập tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của các dân tộc và là khát
vọng lớn nhất của dân tộc Việt Nam.
Độc lập, tự do là những phạm trù nền tảng của việc hình thành một quốc gia mà ở
đó con người tìm kiếm được đời sống thông thường của mình, đời sống phát triển của mình
và hạnh phúc của mình. Độc lập là sự toàn vẹn của lãnh thổ và toàn vẹn về các giá trị của
dân tộc. Tự do là quyền phát triển, tự do không phải chỉ đơn thuần là quyền chính trị. Tự
do mà gắn liền với độc lập tức là tự do gắn liền với sự cư trú của người dân trên chính lãnh thổ của họ.
Hồ Chí Minh đã tiếp cận vấn đề độc lập dân tộc từ quyền con người. Điển hình là
chân lý được trích trong “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ (1776) và “Tuyên ngôn nhân quyền
và dân quyền” của Pháp (1791). Người đã khái quát nên chân lý về quyền cơ bản của các