Chế định phân loại tội phạm trong Bộ luật Hình sự năm 2015
MỤC LỤC
I. Mở đầu
II. Nội dung
1. Khái quát về tội phạm
1.1. Khái niệm tội phạm
1.2. Đặc điểm về tội phạm
2. Khái quát về việc phân loại tội phạm
2.2. Khái niệm phân loại tội phạm trong pháp luật hình sự
2.3. Tiêu chí phân loại
2.3.1. Khái niệm tiêu chí phân loại
2.3.2. Phân loại tiêu chí phân loại trong phân loại tội phạm
2.3.3. Tiêu chí phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự 2015
3. Chế định phân loại tội phạm trong Bộ luật dân sự 2015
4. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm
4.1. Ý nghĩa luận
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
5. Những hạn chế tồn tại của chế định phân loại tội phạm
5.1. Những hạn chế của chế định phân loại tội phạm
5.2. Những tồn tại của chế định phân loại tội phạm
III. Kết luận
Tài liệu tham khảo
I. MỞ ĐẦU
GS.TSKH Văn Cảm từng viết trong cuốn “Những vấn đề bản trong
khoa học luật hình sự (phần chung)” về phân loại tội phạm rằng: “Phân loại tội
phạm trong luật hình sự chia những hành vi nguy hiểm cho hội luật hình sự
cấm thành từng loại (nhóm) nhất định theo những tiêu chí này hoặc những tiêu
chí khác để làm tiền đề cho việc thể hóa trách nhiệm hình sự hình phạt
hoặc tha miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt”. vậy, tội phạm hành vi
nguy hiểm cho hội, thể lỗi ý hoặc lỗi cố ý, được quy định trong luật
hình sự người đủ năng lức trách nhiệm hình sự thực hiện phải chịu hình
phạt. Những hành vi phạm tội cụ thể không những sự khác nhau về nguyên
nhân, về tính chất của các quan hệ hội bị xâm hại còn sự khác nhau
ngay tính chất mức độ nguy hiểm của hậu quả do hành vi phạm tội gây ra
hoặc đe dọa gây ra cũng như nhiều tình tiết khách quan chủ quan khác. Tội
phạm tính chất mức độ nguy hiểm khác nhau nên cần sự phân biệt để
chính sách xử phù hợp. thế, phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự vai
trò quan trọng trong luận, nhiều ý nghĩa căn cứ để xác định đúng tội
danh trong thực tiễn xét xử. Sự phân hoá thành bốn nhóm tội phạm như vậy vừa
biểu hiện bản của sự phân hoá trách nhiệm hình sự vừa sở thống nhất
cho sự phân hoá trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự. Sự phân hoá này
sở thống nhất cho việc xây dựng các khung hình phạt cho các tội phạm cụ thể
cũng như cho việc xây dựng trong luật hình sự trong các ngành luật khác
liên quan các quy định thể hiện sự phân hoá trong chống các loại tội phạm khác
nhau. Đó những căn cứ pháp thống nhất để các chủ thể áp dụng pháp luật
thực hiện được nguyên tắc thể hoá trách nhiệm hình sự khi áp dụng luật hình
sự. Tiêu chí phân loại tội phạm trong khoa học luật hình sự nói chung Bộ luật
hình sự năm 2015 nói riêng một số vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu chế định
phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự, tiếp thu những kinh nghiệm lập pháp
hình sự của Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996, từ đó đề ra những kiến
nghị để tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự hiện hành, hướng tới xây dựng Bộ
luật hình sự tương lai một cách chặt chẽ, khoa học, góp phần đấu tranh phòng,
chống tội phạm, công cụ hữu hiệu trong việc bảo vệ các quan hệ hội
hướng tới giáo dục người phạm tội nói riêng mọi công dân nói chung ý
thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật.
II. NỘI DUNG
1. Khái quát về tội phạm
1.1. Khái niệm tội phạm
Theo như Khoản 1 Điều 8. Khái niệm tội phạm của Bộ luật hình sự 2015
thì: Tội phạm hành vi nguy hiểm cho hội được quy định trong Bộ luật
hình sự, do người năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại
thực hiện một cách cố ý hoặc ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn
hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm
phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật hội chủ nghĩa theo quy
định của Bộ luật này phải bị xử hình sự.”
Khác với các Bộ luật thì Bộ luật hình sự 2015 đã điểm mới hơn khi
quy định chủ thể pháp nhân thương mại. Cụ thể theo định nghĩa trên của
Khoản 1 Điều 8 của Bộ luật hình sự 2015 thì tội phạm hành vi gây ra nguy
hiểm cho hội chủ thể thực hiện hành vi đây người năng lực trách
nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại. Ngoài ra Khoản 2 Điều 8 của Bộ luật
hình sự cũng giúp ta hiểu rõ hơn về tội phạm : Những hành vi tuy dấu hiệu
của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho hội không đáng kể thì không
phải tội phạm được xử bằng các biện pháp khác”. Như vậy, theo như định
nghĩa trên thì quan điểm về tội phạm của nhà nước sở để thể xác định
được hành vi nguy hiểm cho hội bị coi tội phạm cụ thể trong Bộ luật hình
sự hay trong quá trình xây dựng pháp luật áp dụng hình sự ngoài ra còn
sở để phân hóa thể hóa trách nhiệm hình sự. Sau tất cả thì khái niệm
tội phạm đã trải qua nhiều năm lập pháp nhưng nội hàm của khái niệm này vẫn
không những thay đổi về bản chất vẫn được coi hành vi nguy hiểm cho
hội chỉ bị xử khi hành vi đó được quy định cụ thể trong luật hình sự.
1.2. Đặc điểm về tội phạm
thể nói, trong bốn loại vi phạm pháp luật thì tội phạm vi phạm pháp
luật hình sự nên phải chứa đầy đủ các đặc điểm của vi phạm pháp luật nói
chung. Trước hết, ta hiểu tội phạm phải hành vi của con người hoặc pháp nhân
thương mại. Đối với pháp nhân thương mại thì khi hoạt động thì phải hoạt
động dựa trên hoạt động nhân hay thể nói nhân người đại diện cho
pháp nhân thương mại tham gia vào quan hệ hội. vậy, tội phạm bao gồm
cả hành vi của pháp nhân thương mại. Hành vi cách xử sự của con người,
thể đó hành động phạm tội hoặc hành động không phạm tội tác động ra bên
ngoài thế giới khách quan, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho hội
phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự với người thực hiện hành vi đó. Nhưng
đối với hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức thì không tính nguy hiểm
cho hội không phải tội phạm. Không những thế, còn đặc điểm
mang tính đặc thù riêng của để dựa vào đó thể phân biệt được tội phạm với
các vi phạm pháp luật khác. Khái niệm tội phạm đã thể hiện nét nhất về những
đặc điểm đó :
Đầu tiên, tính nguy hiểm đáng kể cho hội của tội phạm tính khách
quan, tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào sự áp đặt chủ quan của con người.
Bất kỳ một hành vi vi phạm nào cũng đều mang tính chất nguy hiểm cho hội
nhưng đối với tội phạm tính nguy hiểm cho hội thì luôn mức độ cao hơn
so với các loại vi phạm pháp luật khác. Để đánh gia một người hành vi nguy
hiểm với hội hay không hay người nào đó phải tội phạm hay không thì
những người làm luật phải áp dụng pháp luật dựa vào những tình tiết hành vi
khách quan hoặc liên quan đến hành vi khách quan như tính chất, thiệt hại hoặc
đe dọa thiệt hại do hành vi gây ra, phương thức, thủ đoạn, thời gian, đặc điểm,
hoàn cảnh thực hiện hành vi, tính chất mức độ lỗi,... Các hành vi như giết
người, cướp tài sản,...là hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự nguy
hiểm cho hội bị coi tội phạm. Điều 123 của Bộ luật hình sự 2015 đã
được các nhà làm luật đặt ra những tiêu chí nhất định về tội phạm cụ thể về tội
giết người. Bên cạnh đó cũng những Điều luật không quy định các tiêu chí để
xác định hành vi nào nguy hiểm cho hội như Điều 155 của Bộ luật hình sự
2015. Như vậy, tính nguy hiểm cho hội dấu hiệu bản quan trọng nhất vi
quyết định các dấu hiệu khác của tội phạm. Tính nguy hiểm cho hội mặt
nội dung, quy định tính trái pháp luật.
Thứ hai, tính lỗi dấu hiệu bắt buộc của tội phạm. Biện pháp cưỡng
chế nghiêm khắc nhất một người thguwjc hiện hành vi phạm tội luôn bị đe dọa
nên phải áp dụng hình phạt. Mục đích của hình phạt không chỉ nhằm mục đích
trừng phạt người tội còn nhằm cải tạo, giáo dục họ. Nếu như theo Khoản 1
Điều 8 của Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội phạm thì lỗi đây chủ thể
phải tự lựa chọn hành vi phạm tội quyết định thực hiện hành vi đó khi đầy
đủ điều kiện nhận thức làm chủ hành vi, không bị bắt ép hay đe dọa mục
đích gây thương tích hoặc giết nạn nhân. Còn nếu người không lỗi thực hiện
thì không được coi hành vi nguy hiểm cho hội, không coi tội phạm. Như
vậy, thực hiện hành vi phạm tội họ đầy đủ điều kiện khả năng để lựa chọn
một biện pháp xử sự khác không gây thiệt hại cho hội nhưng họ đã thực hiện
hành vi bị luật hình sự cấm gây hậu quả nguy hiểm cho hội. Đối với việc thừa
nhận nguyên tắc trách nhiệm lỗi một trong những nguyên tắc bản của
luật hình sự khi xuất phát từ việc coi lỗi thái độ phủ định chủ quan của người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội trước yêu cầu đòi hỏi của hội
coi mục đích của trách nhiệm hình sự, hình phạt giáo dục, cải tạo người phạm
tội.
Thứ ba, tính trái pháp luật hình sự theo như Điều 2 Bộ luật hình sự thì
chỉ người nào phạm một tội đã được bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách
nhiệm hình sự”. Bất kỳ một hành vi nào bị coi tội phạm cũng đều được quy
định trong Bộ luật hình sự. Tính trái pháp luật tính nguy hiểm cho hội của
tội phạm quan hệ biện chứng gắn với nhau về mặt hình thức pháp lý
nội dung chính trị - hội. Khác với tính nguy hiểm cho hội thì tính trái với
pháp luật hình sự của tội phạm thể hiện hình thức pháp của tội phạm, thuộc
tính bên ngoài biểu hiện cho tính nguy hiểm cho hội của tội phạm. Như vậy,
một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội đến đâu nhưng hành vi
hành vi đó chưa được quy định trong Bộ luật hình sự thì không bị coi tội
phạm. Để xem hành vi nào đó của tội phạm phải hành vi được quy định trong
Bộ luật hình sự hay không rồi sau đó xem tính chất nguy hiểm cho hội
không thì ta xem xét Khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự 2015: “Những hành vi tuy
dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho hội không đáng kể
thì không phải tội phạm được xử bằng các biện pháp khác”.
Thứ tư, tính phải chịu hình phạt của tội phạm nghĩa bất cứ một hành
vi phạm tội nào cũng bị đe dọa phải áp dụng một hình phạt đã được quy định
trong Bộ luật hình sự. Hình phạt biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của
nhà nước để áp dụng đối với người phạm tội. Hình phạt chỉ được thực hiện khi
người thực hiện hành vi đó được luật hình sự coi tội phạm. Đặc điểm này
không được nêu trong khái niệm tội phạm một dấu hiệu độc lập tính
quy kết kèm theo của tính nguy hiểm cho hội tính trái pháp luật hình sự.
Hệ quả của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội, lỗi, tính trái pháp
luật hình sựu bị coi tội. Tuy nhiên, tội phạm vẫn thể không phải chịu
trách nhiệm hình sự nếu hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được
miễn hình phạt. Trong luật hình sự, các quy định về tội phạm cụ thể luôn đi kèm
với quy định về hình phạt cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội. Từ việc
phân tích các đặc điểm của tội phạm thể đưa ra khái niệm tội phạm theo các
đặc điểm của nó: tội phạm hành vi nguy hiểm cho hội, lỗi, được quy
định trong bộ luật hình sự phải chịu hình phạt.
2. Khái quát về việc phân loại tội phạm
Dựa trên nhiều cách hiểu khác nhau về phân loại tội phạm trong pháp
hình sự thì ta thể định nghĩa như sau: sự phân loại dựa trên những tiêu chí
nhất định tương ứng với các lĩnh vực hoạt động của nhằm đảm bảo cho hiệu
quả của công tác phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm. Phân loại tội phạm
trong pháp hình sự về bản thì chia thành bốn lĩnh vực tương ứng với bốn
phạm trù nghiên cứu chủ yếu
Thứ nhất, phân loại tội phạm trong tội phạm học sự phân loại dựa trên
những tiêu chí như các dấu hiệu thể hiện ra tính chất của định hướng trái hội
của nhân thân người phạm tội hoặc chế hay phương pháp xâm hại của tội
phạm.
Thứ hai, phân loại tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự sự phân loại
dựa trên những tiêu chí quy định thẩm quyền điều tra, truy tố xét xử của các
quan tiền tố hình sự.
Thứ ba, phân loại tội phạm trong pháp luật thi hành án hình sự sự phân
loại dựa trên những tiêu chí phản ánh các đặc điểm của việc chấp hành hình phạt
cải tạo phạm nhân.
Thứ tư, phân loại tội phạm trong pháp luật hình sự
2.2. Khái niệm phân loại tội phạm trong pháp luật hình sự
Việc phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự dựa trên sở khoa học
thực tiễn ý nghĩa quan trong trong việc áp dụng đúng đắn chính xác các
quy định của pháp luật trong truy cứu trách nhiệm hình sự nhân pháp nhân
thương mại phạm tội, xác định thẩm quyền điều tra, truy tố xét xử, xác
định các nguyên tắc xử lý, các điều kiện để áp dụng các loại hình phạt một số
biện pháp pháp. Để tội phạm hóa tức để đưa một hành vi nào đó vào danh
mục những hành vi nguy hiểm cho hội bị pháp luật hình sự cấm quy định
tội phạm hình sự hóa quy định hình phạt đối với việc thực hiện hành vi
đó một cách lỗi cố ý hoặc ý phân chia những hành vi đó thành các loại
tội phạm khác nhau. Việc phân loại tội phạm còn sở thống nhất cho việc
xây dựng các chế định khác về tội phạm hình phạt, về việc quy định thời hạn,
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, đối với việc tái phạm, tái phạm nguy
hiểm. Không chỉ như vậy, việc phân loại tội phạm còn sở chính để thực
hiện nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự nhân hóa hình phạt đối với
nhân pháp nhân thương mại phạm tội.
Phân loại tội phạm trong pháp luật hình sự việc chia những hành vi nguy
hiểm cho hội bị pháp luật hình sự cấm thành từng loại nhất định theo những
tiêu chí này hoặc những tiêu chí khác để làm tiền đề cho việc thể hóa trách
nhiệm hình sự hình phạt hoặc tha miễn trách nhiệm hình sự hình phạt. Một
nhà khoa học từng viết về vai trò giá trị thực tiễn của chế định phân loại tội
phạm rằng: “Phân loại tội phạm đúng không chỉ một trong những căn cứ quan
trọng để phân hóa trách nhiệm hình sự hình phạt, cũng như áp dụng chính xác
một loạt các chế định khác của Phần chung luật hình sự (như miễn trách nhiệm
hình sự, miễn hình phạt, án treo, xác định tái phạm..), còn tạo điều kiện thuận
lợi cho việc xây dựng một cách chính xác khoa học các chế tài pháp hình
sự trong Phần riêng ( phần các tội phạm ) của nó”. Phân loại tội phạm việc xếp
các hành vi phạm tội vào các nhóm khác nhau dựa trên sự kết hợp cùng lúc các
tiêu chí nhất định tuỳ vào mục đích ý nghĩa các nhà làm luật muốn hướng
tới, thông qua đó thể hiện được nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự
thể hóa hình phạt đối với nhân pháp nhân thương mại phạm tội.
2.3. Tiêu chí phân loại
2.3.1. Khái niệm tiêu chí phân loại
Nhìn theo góc độ khoa học luật hình sự thì ta thể hiểu tiêu chí phân loại
tội phạm dấu hiệu để làm sở nhận biết sự khác nhau khi chia những hành vi
nguy hiểm cho hội bị pháp luật hình sự cấm thành các loại nhất định. Tính
chất mức độ gây nguy hiểm cho hội cũng như nguyên nhân hay điều kiện
phát sinh, tính chất của các quan hệ bị xâm hại, những tình tiết khách quan, chủ
quan những đặc điểm tạo ra những hành vi phạm tội khác nhau. Thông
thường, sự phân loại tội phạm trong pháp luật hình sự được tiến hành trong cả
Phần chung Phần riêng bởi các nhà làm luật trong đó thì phần chung
sở, tiền đề cho phần riêng cho việc phân loại tội phạm. Pháp luật hình sự đều
những tiêu chí phân loại tội phạm riêng để được một chế định phân loại
pháp khả thi thì các nhà làm luật phải dựa trên những tiêu chí nhất định. Bởi
vì, tội phạm đều chung tính nguy hiểm cho hội nhưng mức độ gây nguy
hiểm đó không giống nhau thế trong luận đòi hỏi phải sự phân hóa
trách nhiệm hình sự giữa các loại tội phạm để từ đó thể hóa trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội trên thực tiễn. Ngoài ra, các nhà làm luật cũng phải
xây dựng các chế tài khác để áp dụng đối với các loại tội phạm tương ứng. Do
đó, rất nhiều tiêu chí để phân loại tội phạm nhưng nhìn chung vẫn phải dựa
trên tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của từng loại tội hậu quả pháp
hình sự đối với tội phạm tương ứng.
2.3.2. Phân loại tiêu chí phân loại trong phân loại tội phạm
Trên sở các quy phạm pháp luật về phân loại tội phạm cũng như việc
xuất phát từ việc nghiên cứu thực tiễn xét xử luận về phân loại tội phạm,
theo quan điểm của chúng tôi ta thể chỉ ra 6 tiêu chí bản dưới đây (trong đó
Phần chung 4 tiêu chí Phần riêng 2 tiêu chí )
Đầu tiên về bốn tiêu chí của phần chung:
Thứ nhất, tính chất nguy hiểm cho hội của tội phạm thuộc tính khách
quan, tiêu chí phản ánh nội dung của tội phạm được thực hiện trong việc
gây ra thiệt hại hoặc đe doa gây ra thiệt hại cho các mối quan hệ hội được bảo
vệ bởi pháp luật hình sự. Đây một tiêu chí khách quan về lượng, phản ánh
thuộc tính vật chất bản nhất của hành vi phạm tội thể hiện trong việc
gây nên thiệt hại cho các quan hệ hội, cho lợi ích của con người, cho nhà
nước, cho hội được bảo vệ bởi pháp luật hình sự. Bởi tiêu chí này dấu
hiệu khách quan khẳng định bản chất hội của tội phạm không phụ thuộc
vào ý chí chủ quan của các nhà làm luật.
Thứ hai, mức độ nguy hiểm cho hội của tội phạm tiêu chí khách quan
về số, tính chất bổ sung để thể phân biệt hơn về từng loại tội phạm
đây cũng sự biểu hiện cụ thể của của tiêu chí thứ nhất. Từ đây các quan
thực tiễn của pháp hình sự thể cho ta thấy hậu quả của sự gây nguy hiểm
cho hội của tội phạm đến chừng mực nào cho các khách thể được bảo vệ bởi
pháp luật hình sự. Mức độ nguy hiểm cho hội cũng sự biểu hiện tính chất
nguy hiểm cho hội của tội phạm cũng sở để xác định hậu quả tội
phạm gây ra cho các khách thể được bảo vệ bởi pháp luật hình sự.
Thứ ba, tính chất lỗi thể do cố ý hoặc ý của tội phạm hay còn tên
gọi khác hình thức lỗi của tội phạm đã được thực hiện tiêu chí chủ quan
tính chất bổ sung để thể phân biệt hơn từng loại tội phạm. Không những
thế còn sự biểu hiện cụ thể thái độ tâm của người phạm tội đối với hành
vi hậu quả do hành vi đó gây ra. Ngoài ra cũng góp phần thực thi hiệu
quả một loạt các nguyên tắc tiến bộ của pháp luật hình sự. Tiêu chí này để đánh
giá thái độ của người thực hiện hành vi đối với hành vi phạm tội hậu quả xảy
ra. Tiêu chí này dấu hiệu chủ quan phản ánh một mức độ đáng kể tính chất
nguy hiểm cho hội của nhân thân người phạm tội như thế nào khi thực hiện
tội phạm.
Thứ tư, chế tài do pháp luật hình sự quy định đối với việc thực hiện loại
tội phạm tương ứng tiêu chí pháp tính chất bổ sung với cách thước
đo để các quan pháp hình sự phân biệt được rõ ràng nhất từng loại tội
phạm. Ngoài ra, còn phản ánh cụ thể nhất kỹ thuật lập pháp, niềm tin nội tâm,
trình độ khoa học, sự hiểu biết về pháp luật thực tiễn đời sống hội của nhà
làm luật trong việc nhận thức các tiêu chí. Khi xây dựng các chế tài pháp hình
sự trong các cấu thành tội phạm phần riêng của Bộ luật hình sự, tiêu chí này
hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chính nhà làm luật.
2.3.3. Tiêu chí phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự 2015
Nếu Bộ luật hình sự 1999 dựa trên ba tiêu chí tính chất nguy hiểm cho
hội của hành vi phạm tội, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi mức
hình phạt cao nhất do luật định đối với tội phạm tương ứng để từ đó chia tội
phạm ra thành bốn loại là: tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng, tội
phạm rất nghiêm trọng tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tiếp tục kế thừa
lĩnh hội những tiêu chí này để Bộ luật hình sự 2015 phân loại tội phạm.
Thứ nhất, tiêu chí căn theo tính chất nguy hiểm cho hội của hành vi
phạm tội thể hiện thông qua các thuật ngữ như: nghiêm trọng, ít nghiêm trọng,
rất nghiêm trọng đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ hai, tiêu chí căn cứ theo mức độ nguy hiểm cho hội của tội phạm
được biểu hiện thông qua các thuật ngữ như: không lớn, lớn, rất lớn đặc biệt
lớn.
Thứ ba, tiêu chí căn cứ theo mức hình phạt áp dụng với các tội phạm
tương ứng được thể hiện thông qua các thuật ngữ: từ ba năm đến, từ bảy năm
đến, đến mười lăm năm từ hay trên mười lăm năm tù, chung thân, tử hình.
Ngoài ra cần lưu ý, mức cao nhất mức tối đa của từng khung hình phạt chứ
không phải mức cao nhất của khung hình phạt cao nhất quy định đối với
từng loại tội phạm.
3. Chế định phân loại tội phạm trong Bộ luật dân sự 2015
Việc phân loại tội phạm đều dựa trên nhiều tiêu chí không bị giới hạn.
nhiều cách phân loại dựa trên nhiều tiêu chí, ý nghĩa mục đích phân loại
khác nhau dựa vào mục đích của nhà lập pháp nhưng mục đích chung nhất vẫn
thực hiện hóa nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự thể hóa hình phạt
đối với người phạm tội. nhiều tiêu chí để phân loại tội phạm như lỗi thể
dựa theo lỗi cố ý hoặc lỗi ý để phân chia tội phạm. Ngoài ra còn thể dựa
theo độ tuổi của người thực hiện tội phạm để chia người đó tội phạm do chưa
thành niên thực hiện hay tội phạm do người thành niên thực hiện. Bộ luật hình sự
2015 được các nhà làm luật chia tội phạm ra bốn loại dựa trên tính chất mức
độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội: tội phạm ít nghiêm trọng, tội
phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng. Điều 9 Bộ luật hình s 2015 đã thể hiện ràng đầy đủ về bốn loại tội
phạm:
Tội phạm ít nghiêm trọng tội phạm tính chất mức độ nguy hiểm
cho hội không lớn mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy
định đối với tội ấy phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt đến 03
năm.
dụ như anh B bị Tòa án nhân dân Quận Y tuyên phạt 2 năm về tội
“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Khoản 1
Điều 173 khung hình phạt từ 6 tháng đến 3 năm. Ta thể thấy, mức cao
nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 3 năm nên tội
phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Tội phạm nghiêm trọng tội phạm tính chất mức độ nguy hiểm cho
hội lớn mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối
với tội ấy từ trên 03 năm đến 07 năm tù.
dụ, anh A bị Tòa án nhân dân Quận X tuyên phạt 4 năm về tội “Tổ
chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Khoản 1
Điều 322 khung hình phạt từ 1 năm đến 5 năm. Ta thấy, mức cao nhất của
khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự 5 năm, nằm
trong khoảng từ 3 đến 7 năm nên thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng.
Tội phạm rất nghiêm trọng tội phạm tính chất mức độ nguy hiểm
cho hội rất lớn mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy
định đối với tội ấy từ trên 07 năm đến 15 năm tù.
dụ, anh A bị Tòa án nhân dân Quận V tuyên phạt 10 năm về tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật
Hình sự. Khoản 2 Điều 251 khung hình phạt từ 7 năm đến 15 năm. Ta thấy,
mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình
sự 15 năm, nằm trong khoảng từ 7 đến 15 năm nên thuộc trường hợp tội
phạm rất nghiêm trọng.
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng tội phạm tính chất mức độ nguy
hiểm cho hội đặc biệt lớn mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật
này quy định đối với tội ấy từ trên 15 năm đến 20 năm tù, chung thân
hoặc tử hình.
dụ, anh C bị Tòa án nhân dân Quận Z tuyên tử hình về tội “Giết người”
theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 123 khung
hình phạt 20 năm, chung thân hoặc tử hình. Ta thấy, mức cao nhất của
khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự tử hình nên
thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng.
Bộ luật hình sự 2015 đã học hỏi Bộ luật hình sự Nga về việc phân loại tội
phạm dựa trên sự kết hợp các tiêu chí như tính chất, mức độ nguy hiểm cho
hội của tội phạm, khung hình phạt cao nhất hình thức lỗi thực hiện tội phạm.
Việc căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm để phân chia tội phạm thành các
loại thì các nhà làm luật đã phải căn cứ vào định tính. Nhưng việc căn cứ vào
tính chất mức độ nguy hiểm cho hội chỉ mang ý nghĩa luận. Cùng với
trách nhiệm phải thể hiện xu hướng thể hoá phân hoá trách nhiệm hình
sự tối đa trong pháp luật hình sự tạo điều kiện thuận lợi cho thực tiễn áp dụng,
nhà làm luật nên quy định ràng, sâu sắc, thuyết phục hơn vấn đề phân loại tội
phạm do nhân thực hiện làm tiền đề cho việc phân loại tội phạm do người
được đại diện hoặc người được uỷ quyền của pháp nhân thương mại thực hiện.
Để làm được điều này, các nhà làm luật nên kết hợp đồng thời cáctiêu chí - tính
chất mức độ gây nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội; chế tài do pháp
luật hình sự quy định đối với loại tội phạm tương ứng hình thức lỗi thực hiện
tội phạm để phân loại tội phạm. Như vậy, việc xếp các tội phạm vào các nhóm
tội phạm tương ứng sẽ cụ thể, khách quan, công bằng hơn đối với những tội
phạm được thực hiện do ý do cố ý.
4. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm
4.1. Ý nghĩa luận
Phân loại tội phạm sở để xác định xây dựng các biện pháp pháp
hình sự tương ứng với tính nguy hiểm cho hội của tội phạm, xác định chính
sách hình sự cụ thể đối với từng hành vi phạm tội cụ thể. Trong hoạt động lập
pháp, phân loại tội phạm sở để xây dựng các chế định về tội phạm hình
phạt, sở thống nhất để xây dựng các khung hình phạt cho tội phạm cụ thể.
Ngoài ra, phân loại tội phạm còn sở để xác định đường lối đấu tranh với
các tội phạm khác nhau cũng như các ngành tính nguy hiểm cho hội của tội
phạm, yêu cầu phân hóa trách nhiệm hình sự được đặt ra trở thành nguyên
tắc của Luật hình sự. Phân loại tội phạm cũng vai trò quan trọng trong việc
triển khai chính sách hình sự thông qua nhận thức phản ứng của Nhà nước đối
với các tội tính nguy hiểm cho hội khác nhau thì biện pháp xử khác
nhau. Phân loại tội phạm chi phối hầu hết các quy định của pháp luật hình sự,
thẩm quyền điều tra,...Phân loại tội phạm thành các nhóm khác nhau biểu hiện
của sự phân hóa trách nhiệm hình sự góc độ lập pháp. Bên cạnh đó, nghiên cứu
chế định phân loại tội phạm trong mối quan hệ thống nhất các chế định khác sẽ
tạo tiền đề cho việc nhận thực đúng bản chất của tội phạm, đánh giá đúng tính
nguy hiểm cho hội của tội phạm, sở để hoàn thiện pháp luật hình sự.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Phân loại tội phạm đòi hỏi cần thiết cho việc phân hóa trách nhiệm hình
sự trong luật cũng như áp dụng luật, chính thế vấn đề này được đặt ra trong
các bộ luật. Việc phân loại tội phạm chẳng những hỗ trợ cho việc áp dụng đúng
luật nếu nhìn rộng ra, nhà làm luật còn thể dựa vào tính nguy hiểm cho
quan hệ hội xâm hại để đánh giá, nhằm bảo vệ cho chế độ chính trị
hiệu quả hơn. Ngoài ra, việc phân loại tội phạm còn ý nghĩa chi phối đối với
việc áp dụng một số chế định của luật tố tụng hình sự. Việc bắt người trong
trường hợp khẩn cấp chỉ được thực hiện khi căn cứ cho rằng người đó đang
chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; các quy
định về thời hạn đưa vụ án ra xét xử hoặc ra các quyết định cụ thể đối với từng
loại tội phạm cụ thể...
5. Những hạn chế tồn tại của chế định phân loại tội phạm
5.1. Những hạn chế của chế định phân loại tội phạm
Thứ nhất, các nhà làm luật phân loại tội phạm do pháp nhân thương mại
thực hiện dựa trên các tiêu chí, sự phân loại do nhân phạm tội chưa chặt chẽ
bởi nếu quy định như vậy thì khi xét xử, trách nhiệm của pháp nhân thương mại
được xem xét dưới 04 loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất
nghiêm trọng đặc biệt nghiêm trọng. Để truy cứu trách nhiệm hình sự của
pháp nhân thương mại trước tiên phải xác định được chủ thể thực hiện tội
phạm của pháp nhân thương mại, phải những phạm trù quy định những hoạt
động của pháp nhân thương mại thế nào phạm tội. Ngoài ra, nếu tội phạm
xảy ra thì các nhà làm luật phải quy định chế tài xử phạt đối với cả pháp nhân
thương mại do việc thiếu trách nhiệm để người được uỷ quyền hoặc người đại
diện nhân danh pháp nhân thực hiện các tội phạm được quy định tại Điều 76 Bộ
luật hình sự. thể nói đây tiêu chí quan trọng nhất để phân biệt cách phân
loại tội phạm do nhân thực hiện hoặc do pháp nhân thương mại phải liên đới
chịu trách nhiệm hình sự.
Thứ hai, các nhà làm luật quy định những hình phạt được áp dụng cho tội
phạm ít nghiêm trọng tại hai điều Điều 9 Điều 34 đã không được thống
nhất trùng khớp với nhau.
Thứ ba, khoản 2 cho thấy Bộ luật hình sự còn chưa thống nhất, chưa chặt
chẽ về mặt khoa học còn tồn tại những quy định mang tính hình thức chưa
tính thực tiễn cao. Lỗi của pháp nhân thương mại thiếu trách nhiệm trong
công tác quản đã để cho người được đại diện hoặc người được uỷ quyền nhân
danh pháp nhân với đầy đủ các điều kiện được quy định Điều 75 BLHS năm
2015 thực hiện hành vi phạm tội nêu tại Điều 76, do vậy, pháp nhân thương mại
không thể trực tiếp thực hiện tội phạm chỉ phải chịu trách nhiệm liên đới
cùng với nhân phạm tội.
5.2. Những tồn tại của chế định phân loại tội phạm
Thứ nhất, Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung điểm bắt đầu để xác định mức
cao nhất của khung hình phạt giúp các quan bảo vệ pháp luật dễ dàng hơn
trong việc xác định các loại tội phạm.
Thứ hai, Bộ luật hình sự năm 2015 đã bảo đảm về mặt kỹ thuật lập pháp
khi đã tách riêng chế định phân loại tội phạm thành một điều luật riêng biệt
thông qua Điều 9 bổ sung thêm những quy định cụ thể, ràng hơn.
Thứ ba, các nhà làm luật đã bổ sung thêm một chủ thể mới của tội phạm
pháp nhân thương mại. Đây một điểm mới đáng ca ngợi khi các nhà làm luật
đã nhận thức đúng đắn tính chất, mức độ nguy hại của pháp nhân thương mại khi
để cho người được đại diện hoặc người được uỷ quyền nhân danh pháp nhân
phạm tội hoặc liên kết pháp nhân thương mại này với pháp nhân thương mại
khác để thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, những nhà lập pháp nhận thấy
cần phải những quy định để xác định trách nhiệm hình sự, từ đó, quy định
hình phạt đối với chủ thể liên đới này nhằm thực hiện tối đa nhiệm vụ phòng,
chống tội phạm.
III. KẾT LUẬN
Các quy phạm về phân loại tội phạm được ghi nhận tại Điều 9 Bộ luật
Hình sự năm 2015 với cách một chế định độc lập thuộc chế định về tội
phạm. Trong lịch sử lập pháp hình sự từ trách nhiệm hình sự năm 1985 đến nay
thì việc phân loại tội phạm đã sự phát triển tính chất kế thừa. Ứng dụng
việc phân loại tội phạm giúp những nhà làm luật sở để áp dụng những
chính sách đối với việc tha trước thời hạn điều kiện đồng thời phân chia
những người phạm tội thành các nhóm khác nhau, phục vụ cho quá trình giáo
dục, cải tạo hay giúp họ hòa nhập cộng đồng trở thành người lương thiện, hạn
chế khả năng tái phạm - đây chính nhiệm vụ, mục đính quan trọng pháp
luật hình sự nói riêng hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung đã đang
hướng tới. Như vậy, chế định phân loại tội phạm một trong những bộ phận
quan trọng cấu thành nền tảng vững chắc của luận về tội phạm. Bởi để
định tội danh quy định hình phạt đối với chủ thể tội phạm thì các nhà làm luật
phải xác định hành vi vi phạm pháp luật hình sự đó thuộc các loại hoặc các nhóm
tội phạm nào. Hơn nữa, việc phân loại tội phạm còn ý nghĩa trong việc thống
nhất các quy định của Phần chung Phần các tội phạm Bộ luật hình sự, giữa Bộ
luật hình sự Bộ luật tố tụng hình sự của pháp luật hình sự.
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung, GS.TSKH Văn Cảm,
Nxb Đại học Quốc gia Nội.
2. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Trường
Đại học Luật Nội, Nxb. Công an nhân dân Nội
3. Bộ luật hình sự 2015.
4. Các căn cứ phân loại tội phạm theo Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ
sung 2017, GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa.
5. Phân loại tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam vấn đề tiếp tục
hoàn thiện chế định này trong tương lai, Cảm Mạc Minh Quang, Nxb Khoa
học kiểm sát.
6. n về phân loại tội phạm trong bộ luật hình sự năm 2015, Ngô Hương
Ly.
7. Phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại phạm tội trong bộ luật
hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, ThS. Mai Thị Duyên.
8. Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nguyễn Ngọc (chủ
biên), Nxb. Học viện an ninh nhân dân, Nội.
9. Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 (Phần thứ nhất), Đinh Văn Quế,
Nxb. Thông tin truyền thông.

Preview text:

Chế định phân loại tội phạm trong Bộ luật Hình sự năm 2015 MỤC LỤC I. Mở đầu II. Nội dung
1. Khái quát về tội phạm 1.1. Khái niệm tội phạm
1.2. Đặc điểm về tội phạm
2. Khái quát về việc phân loại tội phạm
2.1. Khái niệm về phân loại tội phạm trong tư pháp hình sự
2.2. Khái niệm phân loại tội phạm trong pháp luật hình sự 2.3. Tiêu chí phân loại
2.3.1. Khái niệm tiêu chí phân loại
2.3.2. Phân loại tiêu chí phân loại trong phân loại tội phạm
2.3.3. Tiêu chí phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự 2015
3. Chế định phân loại tội phạm trong Bộ luật dân sự 2015
4. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm 4.1. Ý nghĩa lý luận 4.2. Ý nghĩa thực tiễn
5. Những hạn chế và tồn tại của chế định phân loại tội phạm
5.1. Những hạn chế của chế định phân loại tội phạm
5.2. Những tồn tại của chế định phân loại tội phạm III. Kết luận Tài liệu tham khảo I. MỞ ĐẦU
GS.TSKH Lê Văn Cảm từng viết trong cuốn “Những vấn đề cơ bản trong
khoa học luật hình sự (phần chung)” về phân loại tội phạm rằng: “Phân loại tội
phạm trong luật hình sự là chia những hành vi nguy hiểm cho xã hội luật hình sự
cấm thành từng loại (nhóm) nhất định theo những tiêu chí này hoặc những tiêu
chí khác để làm tiền đề cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt
hoặc tha miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt”. Vì vậy, tội phạm là hành vi
nguy hiểm cho xã hội, có thể là lỗi vô ý hoặc lỗi cố ý, được quy định trong luật
hình sự và người đủ năng lức trách nhiệm hình sự thực hiện và phải chịu hình
phạt. Những hành vi phạm tội cụ thể không những có sự khác nhau về nguyên
nhân, về tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại mà còn có sự khác nhau
ngay ở tính chất và mức độ nguy hiểm của hậu quả do hành vi phạm tội gây ra
hoặc đe dọa gây ra cũng như ở nhiều tình tiết khách quan và chủ quan khác. Tội
phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau nên cần có sự phân biệt để có
chính sách xử lý phù hợp. Vì thế, phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự có vai
trò quan trọng trong lý luận, có nhiều ý nghĩa và là căn cứ để xác định đúng tội
danh trong thực tiễn xét xử. Sự phân hoá thành bốn nhóm tội phạm như vậy vừa
là biểu hiện cơ bản của sự phân hoá trách nhiệm hình sự vừa là cơ sở thống nhất
cho sự phân hoá trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự. Sự phân hoá này là
cơ sở thống nhất cho việc xây dựng các khung hình phạt cho các tội phạm cụ thể
cũng như cho việc xây dựng trong luật hình sự và trong các ngành luật khác có
liên quan các quy định thể hiện sự phân hoá trong chống các loại tội phạm khác
nhau. Đó là những căn cứ pháp lý thống nhất để các chủ thể áp dụng pháp luật
thực hiện được nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự khi áp dụng luật hình
sự. Tiêu chí phân loại tội phạm trong khoa học luật hình sự nói chung và Bộ luật
hình sự năm 2015 nói riêng và một số vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu chế định
phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự, tiếp thu những kinh nghiệm lập pháp
hình sự của Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996, từ đó đề ra những kiến
nghị để tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự hiện hành, hướng tới xây dựng Bộ
luật hình sự tương lai một cách chặt chẽ, khoa học, góp phần đấu tranh phòng,
chống tội phạm, là công cụ hữu hiệu trong việc bảo vệ các quan hệ xã hội và
hướng tới giáo dục người phạm tội nói riêng và mọi công dân nói chung có ý
thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. II. NỘI DUNG
1. Khái quát về tội phạm 1.1. Khái niệm tội phạm
Theo như Khoản 1 Điều 8. Khái niệm tội phạm của Bộ luật hình sự 2015
thì: “ Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật
hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn
hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm
phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy
định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.”
Khác với các Bộ luật cũ thì Bộ luật hình sự 2015 đã có điểm mới hơn khi
quy định chủ thể là pháp nhân thương mại. Cụ thể là theo định nghĩa trên của
Khoản 1 Điều 8 của Bộ luật hình sự 2015 thì tội phạm là hành vi gây ra nguy
hiểm cho xã hội mà chủ thể thực hiện hành vi ở đây là người có năng lực trách
nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại. Ngoài ra Khoản 2 Điều 8 của Bộ luật
hình sự cũng giúp ta hiểu rõ hơn về tội phạm : “ Những hành vi tuy có dấu hiệu
của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không
phải tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Như vậy, theo như định
nghĩa ở trên thì quan điểm về tội phạm của nhà nước là cơ sở để có thể xác định
được hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm cụ thể trong Bộ luật hình
sự hay trong quá trình xây dựng pháp luật và áp dụng hình sự và ngoài ra nó còn
là cơ sở để phân hóa và cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Sau tất cả thì khái niệm
tội phạm đã trải qua nhiều năm lập pháp nhưng nội hàm của khái niệm này vẫn
không có những thay đổi về bản chất nó vẫn được coi là hành vi nguy hiểm cho
xã hội và chỉ bị xử lý khi hành vi đó được quy định cụ thể trong luật hình sự.
1.2. Đặc điểm về tội phạm
Có thể nói, trong bốn loại vi phạm pháp luật thì tội phạm là vi phạm pháp
luật hình sự nên nó phải chứa đầy đủ các đặc điểm của vi phạm pháp luật nói
chung. Trước hết, ta hiểu tội phạm phải là hành vi của con người hoặc pháp nhân
thương mại. Đối với pháp nhân thương mại thì khi hoạt động thì nó phải hoạt
động dựa trên hoạt động cá nhân hay có thể nói cá nhân là người đại diện cho
pháp nhân thương mại tham gia vào quan hệ xã hội. Vì vậy, tội phạm bao gồm
cả hành vi của pháp nhân thương mại. Hành vi là cách xử sự của con người, có
thể đó là hành động phạm tội hoặc là hành động không phạm tội tác động ra bên
ngoài thế giới khách quan, gây thiệt hại hoặc là đe dọa gây thiệt hại cho xã hội
và phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự với người thực hiện hành vi đó. Nhưng
đối với hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức thì không có tính nguy hiểm
cho xã hội và không phải là tội phạm. Không những thế, nó còn có đặc điểm
mang tính đặc thù riêng của nó để dựa vào đó có thể phân biệt được tội phạm với
các vi phạm pháp luật khác. Khái niệm tội phạm đã thể hiện rõ nét nhất về những đặc điểm đó :
Đầu tiên, tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội của tội phạm có tính khách
quan, tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào sự áp đặt chủ quan của con người.
Bất kỳ một hành vi vi phạm nào cũng đều mang tính chất nguy hiểm cho xã hội
nhưng đối với tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội thì luôn có mức độ cao hơn
so với các loại vi phạm pháp luật khác. Để đánh gia một người có hành vi nguy
hiểm với xã hội hay không hay người nào đó có phải tội phạm hay không thì
những người làm luật phải áp dụng pháp luật dựa vào những tình tiết có hành vi
khách quan hoặc liên quan đến hành vi khách quan như tính chất, thiệt hại hoặc
đe dọa thiệt hại do hành vi gây ra, phương thức, thủ đoạn, thời gian, đặc điểm,
hoàn cảnh thực hiện hành vi, tính chất và mức độ lỗi,... Các hành vi như giết
người, cướp tài sản,...là hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự là nguy
hiểm cho xã hội và bị coi là tội phạm. Điều 123 của Bộ luật hình sự 2015 đã
được các nhà làm luật đặt ra những tiêu chí nhất định về tội phạm cụ thể là về tội
giết người. Bên cạnh đó cũng có những Điều luật không quy định các tiêu chí để
xác định hành vi nào là nguy hiểm cho xã hội như Điều 155 của Bộ luật hình sự
2015. Như vậy, tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản quan trọng nhất vi
nó quyết định các dấu hiệu khác của tội phạm. Tính nguy hiểm cho xã hội là mặt
nội dung, quy định tính trái pháp luật.
Thứ hai, tính có lỗi là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm. Biện pháp cưỡng
chế nghiêm khắc nhất là một người thguwjc hiện hành vi phạm tội luôn bị đe dọa
nên phải áp dụng hình phạt. Mục đích của hình phạt không chỉ nhằm mục đích
trừng phạt người có tội mà còn nhằm cải tạo, giáo dục họ. Nếu như theo Khoản 1
Điều 8 của Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội phạm thì có lỗi ở đây là chủ thể
phải tự lựa chọn hành vi phạm tội và quyết định thực hiện hành vi đó khi có đầy
đủ điều kiện nhận thức và làm chủ hành vi, không bị bắt ép hay đe dọa mà mục
đích gây thương tích hoặc giết nạn nhân. Còn nếu người không có lỗi thực hiện
thì không được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không coi là tội phạm. Như
vậy, thực hiện hành vi phạm tội họ có đầy đủ điều kiện và khả năng để lựa chọn
một biện pháp xử sự khác không gây thiệt hại cho xã hội nhưng họ đã thực hiện
hành vi bị luật hình sự cấm gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Đối với việc thừa
nhận nguyên tắc trách nhiệm có lỗi là một trong những nguyên tắc cơ bản của
luật hình sự khi xuất phát từ việc coi lỗi là thái độ phủ định chủ quan của người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trước yêu cầu và đòi hỏi của xã hội và
coi mục đích của trách nhiệm hình sự, hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội.
Thứ ba, tính trái pháp luật hình sự theo như Điều 2 Bộ luật hình sự thì “
chỉ người nào phạm một tội đã được bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách
nhiệm hình sự”. Bất kỳ một hành vi nào bị coi là tội phạm cũng đều được quy
định trong Bộ luật hình sự. Tính trái pháp luật và tính nguy hiểm cho xã hội của
tội phạm có quan hệ biện chứng và gắn bó với nhau về mặt hình thức pháp lý và
nội dung chính trị - xã hội. Khác với tính nguy hiểm cho xã hội thì tính trái với
pháp luật hình sự của tội phạm thể hiện hình thức pháp lý của tội phạm, là thuộc
tính bên ngoài biểu hiện cho tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Như vậy,
một người thực hiện hành vi dù nguy hiểm cho xã hội đến đâu nhưng hành vi
hành vi đó chưa được quy định trong Bộ luật hình sự thì không bị coi là tội
phạm. Để xem hành vi nào đó của tội phạm có phải hành vi được quy định trong
Bộ luật hình sự hay không rồi sau đó xem nó có tính chất nguy hiểm cho xã hội
không thì ta xem xét Khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự 2015: “Những hành vi tuy
có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể
thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”.
Thứ tư, tính phải chịu hình phạt của tội phạm có nghĩa là bất cứ một hành
vi phạm tội nào cũng bị đe dọa phải áp dụng một hình phạt đã được quy định
trong Bộ luật hình sự. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của
nhà nước để áp dụng đối với người phạm tội. Hình phạt chỉ được thực hiện khi
mà người thực hiện hành vi đó được luật hình sự coi là tội phạm. Đặc điểm này
không được nêu trong khái niệm tội phạm mà nó là một dấu hiệu độc lập có tính
quy kết kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự.
Hệ quả của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, tính trái pháp
luật hình sựu bị coi là có tội. Tuy nhiên, tội phạm vẫn có thể không phải chịu
trách nhiệm hình sự nếu hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được
miễn hình phạt. Trong luật hình sự, các quy định về tội phạm cụ thể luôn đi kèm
với quy định về hình phạt cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội. Từ việc
phân tích các đặc điểm của tội phạm có thể đưa ra khái niệm tội phạm theo các
đặc điểm của nó: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy
định trong bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt.
2. Khái quát về việc phân loại tội phạm
2.1. Khái niệm về phân loại tội phạm trong tư pháp hình sự
Dựa trên nhiều cách hiểu khác nhau về phân loại tội phạm trong tư pháp
hình sự thì ta có thể định nghĩa như sau: sự phân loại dựa trên những tiêu chí
nhất định tương ứng với các lĩnh vực hoạt động của nó nhằm đảm bảo cho hiệu
quả của công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Phân loại tội phạm
trong tư pháp hình sự về cơ bản thì chia thành bốn lĩnh vực tương ứng với bốn
phạm trù nghiên cứu chủ yếu
Thứ nhất, phân loại tội phạm trong tội phạm học là sự phân loại dựa trên
những tiêu chí như các dấu hiệu thể hiện ra tính chất của định hướng trái xã hội
của nhân thân người phạm tội hoặc cơ chế hay phương pháp xâm hại của tội phạm.
Thứ hai, phân loại tội phạm trong pháp luật tố tụng hình sự là sự phân loại
dựa trên những tiêu chí quy định thẩm quyền điều tra, truy tố và xét xử của các
cơ quan tiền tố hình sự.
Thứ ba, phân loại tội phạm trong pháp luật thi hành án hình sự là sự phân
loại dựa trên những tiêu chí phản ánh các đặc điểm của việc chấp hành hình phạt và cải tạo phạm nhân.
Thứ tư, phân loại tội phạm trong pháp luật hình sự
2.2. Khái niệm phân loại tội phạm trong pháp luật hình sự
Việc phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự dựa trên cơ sở khoa học
thực tiễn có ý nghĩa quan trong trong việc áp dụng đúng đắn và chính xác các
quy định của pháp luật trong truy cứu trách nhiệm hình sự cá nhân và pháp nhân
thương mại phạm tội, xác định rõ thẩm quyền điều tra, truy tố và xét xử, xác
định các nguyên tắc xử lý, các điều kiện để áp dụng các loại hình phạt và một số
biện pháp tư pháp. Để tội phạm hóa tức là để đưa một hành vi nào đó vào danh
mục những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm – quy định nó
là tội phạm và hình sự hóa là quy định hình phạt đối với việc thực hiện hành vi
đó một cách có lỗi cố ý hoặc vô ý và phân chia những hành vi đó thành các loại
tội phạm khác nhau. Việc phân loại tội phạm còn là cơ sở thống nhất cho việc
xây dựng các chế định khác về tội phạm và hình phạt, về việc quy định thời hạn,
thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, đối với việc tái phạm, tái phạm nguy
hiểm. Không chỉ như vậy, việc phân loại tội phạm còn là cơ sở chính để thực
hiện nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá nhân hóa hình phạt đối với
cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội.
Phân loại tội phạm trong pháp luật hình sự việc chia những hành vi nguy
hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm thành từng loại nhất định theo những
tiêu chí này hoặc những tiêu chí khác để làm tiền đề cho việc cá thể hóa trách
nhiệm hình sự và hình phạt hoặc tha miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt. Một
nhà khoa học từng viết về vai trò và giá trị thực tiễn của chế định phân loại tội
phạm rằng: “Phân loại tội phạm đúng không chỉ là một trong những căn cứ quan
trọng để phân hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, cũng như áp dụng chính xác
một loạt các chế định khác của Phần chung luật hình sự (như miễn trách nhiệm
hình sự, miễn hình phạt, án treo, xác định tái phạm..), mà còn tạo điều kiện thuận
lợi cho việc xây dựng một cách chính xác và khoa học các chế tài pháp lý hình
sự trong Phần riêng ( phần các tội phạm ) của nó”. Phân loại tội phạm là việc xếp
các hành vi phạm tội vào các nhóm khác nhau dựa trên sự kết hợp cùng lúc các
tiêu chí nhất định tuỳ vào mục đích và ý nghĩa mà các nhà làm luật muốn hướng
tới, thông qua đó thể hiện được nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá
thể hóa hình phạt đối với cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội. 2.3. Tiêu chí phân loại
2.3.1. Khái niệm tiêu chí phân loại
Nhìn theo góc độ khoa học luật hình sự thì ta có thể hiểu tiêu chí phân loại
tội phạm là dấu hiệu để làm cơ sở nhận biết sự khác nhau khi chia những hành vi
nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm thành các loại nhất định. Tính
chất và mức độ gây nguy hiểm cho xã hội cũng như nguyên nhân hay điều kiện
phát sinh, tính chất của các quan hệ bị xâm hại, những tình tiết khách quan, chủ
quan là những đặc điểm tạo ra những hành vi phạm tội khác nhau. Thông
thường, sự phân loại tội phạm trong pháp luật hình sự được tiến hành trong cả
Phần chung và Phần riêng bởi các nhà làm luật mà trong đó thì phần chung là cơ
sở, là tiền đề cho phần riêng cho việc phân loại tội phạm. Pháp luật hình sự đều
có những tiêu chí phân loại tội phạm riêng mà để có được một chế định phân loại
tư pháp khả thi thì các nhà làm luật phải dựa trên những tiêu chí nhất định. Bởi
vì, tội phạm đều có chung tính nguy hiểm cho xã hội nhưng mức độ gây nguy
hiểm đó không giống nhau vì thế mà trong lý luận đòi hỏi phải có sự phân hóa
trách nhiệm hình sự giữa các loại tội phạm để từ đó cá thể hóa trách nhiệm hình
sự đối với người phạm tội trên thực tiễn. Ngoài ra, các nhà làm luật cũng phải
xây dựng các chế tài khác để áp dụng đối với các loại tội phạm tương ứng. Do
đó, có rất nhiều tiêu chí để phân loại tội phạm nhưng nhìn chung vẫn phải dựa
trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội và hậu quả pháp
lý hình sự đối với tội phạm tương ứng.
2.3.2. Phân loại tiêu chí phân loại trong phân loại tội phạm
Trên cơ sở các quy phạm pháp luật về phân loại tội phạm cũng như việc
xuất phát từ việc nghiên cứu thực tiễn xét xử và lý luận về phân loại tội phạm,
theo quan điểm của chúng tôi ta có thể chỉ ra 6 tiêu chí cơ bản dưới đây (trong đó
Phần chung có 4 tiêu chí và Phần riêng có 2 tiêu chí )
Đầu tiên là về bốn tiêu chí của phần chung:
Thứ nhất, tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là thuộc tính khách
quan, là tiêu chí phản ánh nội dung của tội phạm và được thực hiện trong việc
gây ra thiệt hại hoặc đe doa gây ra thiệt hại cho các mối quan hệ xã hội được bảo
vệ bởi pháp luật hình sự. Đây là một tiêu chí khách quan về lượng, phản ánh
thuộc tính vật chất và cơ bản nhất của hành vi phạm tội và thể hiện trong việc
gây nên thiệt hại cho các quan hệ xã hội, cho lợi ích của con người, cho nhà
nước, cho xã hội được bảo vệ bởi pháp luật hình sự. Bởi vì tiêu chí này là dấu
hiệu khách quan khẳng định bản chất xã hội của tội phạm mà không phụ thuộc
vào ý chí chủ quan của các nhà làm luật.
Thứ hai, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là tiêu chí khách quan
về số, có tính chất bổ sung để có thể phân biệt rõ hơn về từng loại tội phạm mà
đây cũng là sự biểu hiện cụ thể của của tiêu chí thứ nhất. Từ đây các cơ quan
thực tiễn của tư pháp hình sự có thể cho ta thấy hậu quả của sự gây nguy hiểm
cho xã hội của tội phạm đến chừng mực nào cho các khách thể được bảo vệ bởi
pháp luật hình sự. Mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng là sự biểu hiện tính chất
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và cũng là cơ sở để xác định hậu quả mà tội
phạm gây ra cho các khách thể được bảo vệ bởi pháp luật hình sự.
Thứ ba, tính chất lỗi có thể do cố ý hoặc vô ý của tội phạm hay còn có tên
gọi khác là hình thức lỗi của tội phạm đã được thực hiện là tiêu chí chủ quan có
tính chất bổ sung để có thể phân biệt rõ hơn từng loại tội phạm. Không những
thế nó còn là sự biểu hiện cụ thể thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành
vi và hậu quả do hành vi đó gây ra. Ngoài ra nó cũng góp phần thực thi có hiệu
quả một loạt các nguyên tắc tiến bộ của pháp luật hình sự. Tiêu chí này để đánh
giá thái độ của người thực hiện hành vi đối với hành vi phạm tội và hậu quả xảy
ra. Tiêu chí này là dấu hiệu chủ quan phản ánh ở một mức độ đáng kể tính chất
nguy hiểm cho xã hội của nhân thân người phạm tội như thế nào khi thực hiện tội phạm.
Thứ tư, chế tài do pháp luật hình sự quy định đối với việc thực hiện loại
tội phạm tương ứng là tiêu chí pháp lý có tính chất bổ sung với tư cách là thước
đo để các cơ quan tư pháp hình sự phân biệt được rõ ràng nhất từng loại tội
phạm. Ngoài ra, nó còn phản ánh cụ thể nhất kỹ thuật lập pháp, niềm tin nội tâm,
trình độ khoa học, sự hiểu biết về pháp luật và thực tiễn đời sống xã hội của nhà
làm luật trong việc nhận thức các tiêu chí. Khi xây dựng các chế tài pháp lý hình
sự trong các cấu thành tội phạm ở phần riêng của Bộ luật hình sự, tiêu chí này
hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chính nhà làm luật.
2.3.3. Tiêu chí phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự 2015
Nếu Bộ luật hình sự 1999 dựa trên ba tiêu chí là tính chất nguy hiểm cho
xã hội của hành vi phạm tội, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và mức
hình phạt tù cao nhất do luật định đối với tội phạm tương ứng để từ đó chia tội
phạm ra thành bốn loại là: tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng, tội
phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tiếp tục kế thừa và
lĩnh hội những tiêu chí này để Bộ luật hình sự 2015 phân loại tội phạm.
Thứ nhất, tiêu chí căn theo tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội thể hiện thông qua các thuật ngữ như: nghiêm trọng, ít nghiêm trọng,
rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ hai, tiêu chí căn cứ theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
được biểu hiện thông qua các thuật ngữ như: không lớn, lớn, rất lớn và đặc biệt lớn.
Thứ ba, tiêu chí căn cứ theo mức hình phạt tù áp dụng với các tội phạm
tương ứng được thể hiện thông qua các thuật ngữ: từ ba năm đến, từ bảy năm
đến, đến mười lăm năm từ hay trên mười lăm năm tù, tù chung thân, tử hình.
Ngoài ra cần lưu ý, mức cao nhất là mức tối đa của từng khung hình phạt chứ
không phải là mức cao nhất của khung hình phạt cao nhất mà quy định đối với từng loại tội phạm.
3. Chế định phân loại tội phạm trong Bộ luật dân sự 2015
Việc phân loại tội phạm đều dựa trên nhiều tiêu chí và không bị giới hạn.
Có nhiều cách phân loại dựa trên nhiều tiêu chí, ý nghĩa và mục đích phân loại
khác nhau dựa vào mục đích của nhà lập pháp nhưng mục đích chung nhất vẫn là
thực hiện hóa nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt
đối với người phạm tội. Có nhiều tiêu chí để phân loại tội phạm như lỗi có thể
dựa theo lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý để phân chia tội phạm. Ngoài ra còn có thể dựa
theo độ tuổi của người thực hiện tội phạm để chia người đó là tội phạm do chưa
thành niên thực hiện hay tội phạm do người thành niên thực hiện. Bộ luật hình sự
2015 được các nhà làm luật chia tội phạm ra bốn loại dựa trên tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: tội phạm ít nghiêm trọng, tội
phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng. Điều 9 Bộ luật hình sự 2015 đã thể hiện rõ ràng và đầy đủ về bốn loại tội phạm:
Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy
định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.
Ví dụ như anh B bị Tòa án nhân dân Quận Y tuyên phạt 2 năm tù về tội
“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Khoản 1
Điều 173 có khung hình phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Ta có thể thấy, mức cao
nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 là 3 năm tù nên tội
phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối
với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù.
Ví dụ, anh A bị Tòa án nhân dân Quận X tuyên phạt 4 năm tù về tội “Tổ
chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Khoản 1
Điều 322 có khung hình phạt từ 1 năm đến 5 năm. Ta thấy, mức cao nhất của
khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là 5 năm, nằm
trong khoảng từ 3 đến 7 năm tù nên thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng.
Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy
định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù.
Ví dụ, anh A bị Tòa án nhân dân Quận V tuyên phạt 10 năm tù về tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật
Hình sự. Khoản 2 Điều 251 có khung hình phạt từ 7 năm đến 15 năm. Ta thấy,
mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình
sự là 15 năm, nằm trong khoảng từ 7 đến 15 năm tù nên thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng.
Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật
này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Ví dụ, anh C bị Tòa án nhân dân Quận Z tuyên tử hình về tội “Giết người”
theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 123 có khung
hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Ta thấy, mức cao nhất của
khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là tử hình nên
thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng.
Bộ luật hình sự 2015 đã học hỏi Bộ luật hình sự Nga về việc phân loại tội
phạm dựa trên sự kết hợp các tiêu chí như tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã
hội của tội phạm, khung hình phạt cao nhất và hình thức lỗi thực hiện tội phạm.
Việc căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm để phân chia tội phạm thành các
loại thì các nhà làm luật đã phải căn cứ vào định tính. Nhưng việc căn cứ vào
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội chỉ mang ý nghĩa lý luận. Cùng với
trách nhiệm phải thể hiện rõ xu hướng cá thể hoá và phân hoá trách nhiệm hình
sự tối đa trong pháp luật hình sự tạo điều kiện thuận lợi cho thực tiễn áp dụng,
nhà làm luật nên quy định rõ ràng, sâu sắc, thuyết phục hơn vấn đề phân loại tội
phạm do cá nhân thực hiện làm tiền đề cho việc phân loại tội phạm do người
được đại diện hoặc người được uỷ quyền của pháp nhân thương mại thực hiện.
Để làm được điều này, các nhà làm luật nên kết hợp đồng thời cáctiêu chí - tính
chất và mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; chế tài do pháp
luật hình sự quy định đối với loại tội phạm tương ứng và hình thức lỗi thực hiện
tội phạm để phân loại tội phạm. Như vậy, việc xếp các tội phạm vào các nhóm
tội phạm tương ứng sẽ cụ thể, khách quan, công bằng hơn đối với những tội
phạm được thực hiện do vô ý và do cố ý.
4. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm 4.1. Ý nghĩa lý luận
Phân loại tội phạm là cơ sở để xác định và xây dựng các biện pháp pháp lý
hình sự tương ứng với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, xác định chính
sách hình sự cụ thể đối với từng hành vi phạm tội cụ thể. Trong hoạt động lập
pháp, phân loại tội phạm là cơ sở để xây dựng các chế định về tội phạm và hình
phạt, là cơ sở thống nhất để xây dựng các khung hình phạt cho tội phạm cụ thể.
Ngoài ra, phân loại tội phạm còn là cơ sở để xác định đường lối đấu tranh với
các tội phạm khác nhau cũng như các ngành tính nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm, mà yêu cầu phân hóa trách nhiệm hình sự được đặt ra và trở thành nguyên
tắc của Luật hình sự. Phân loại tội phạm cũng có vai trò quan trọng trong việc
triển khai chính sách hình sự thông qua nhận thức và phản ứng của Nhà nước đối
với các tội có tính nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì có biện pháp xử lý khác
nhau. Phân loại tội phạm chi phối hầu hết các quy định của pháp luật hình sự,
thẩm quyền điều tra,...Phân loại tội phạm thành các nhóm khác nhau là biểu hiện
của sự phân hóa trách nhiệm hình sự ở góc độ lập pháp. Bên cạnh đó, nghiên cứu
chế định phân loại tội phạm trong mối quan hệ thống nhất các chế định khác sẽ
tạo tiền đề cho việc nhận thực đúng bản chất của tội phạm, đánh giá đúng tính
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, là cơ sở để hoàn thiện pháp luật hình sự. 4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Phân loại tội phạm là đòi hỏi cần thiết cho việc phân hóa trách nhiệm hình
sự trong luật cũng như áp dụng luật, chính vì thế vấn đề này được đặt ra trong
các bộ luật. Việc phân loại tội phạm chẳng những hỗ trợ cho việc áp dụng đúng
luật mà nếu nhìn rộng ra, nhà làm luật còn có thể dựa vào tính nguy hiểm cho
quan hệ xã hội mà nó xâm hại để đánh giá, nhằm bảo vệ cho chế độ chính trị
hiệu quả hơn. Ngoài ra, việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa chi phối đối với
việc áp dụng một số chế định của luật tố tụng hình sự. Việc bắt người trong
trường hợp khẩn cấp chỉ được thực hiện khi có căn cứ cho rằng người đó đang
chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; các quy
định về thời hạn đưa vụ án ra xét xử hoặc ra các quyết định cụ thể đối với từng
loại tội phạm cụ thể...
5. Những hạn chế và tồn tại của chế định phân loại tội phạm
5.1. Những hạn chế của chế định phân loại tội phạm
Thứ nhất, các nhà làm luật phân loại tội phạm do pháp nhân thương mại
thực hiện dựa trên các tiêu chí, sự phân loại do cá nhân phạm tội là chưa chặt chẽ
bởi nếu quy định như vậy thì khi xét xử, trách nhiệm của pháp nhân thương mại
có được xem xét dưới 04 loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất
nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Để truy cứu trách nhiệm hình sự của
pháp nhân thương mại trước tiên là phải xác định được chủ thể thực hiện tội
phạm của pháp nhân thương mại, phải có những phạm trù quy định những hoạt
động của pháp nhân thương mại thế nào là phạm tội. Ngoài ra, nếu có tội phạm
xảy ra thì các nhà làm luật phải quy định chế tài xử phạt đối với cả pháp nhân
thương mại do việc thiếu trách nhiệm để người được uỷ quyền hoặc người đại
diện nhân danh pháp nhân thực hiện các tội phạm được quy định tại Điều 76 Bộ
luật hình sự. Có thể nói đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân biệt cách phân
loại tội phạm do cá nhân thực hiện hoặc do pháp nhân thương mại phải liên đới
chịu trách nhiệm hình sự.
Thứ hai, các nhà làm luật quy định những hình phạt được áp dụng cho tội
phạm ít nghiêm trọng tại hai điều là Điều 9 và Điều 34 đã không được thống
nhất và trùng khớp với nhau.
Thứ ba, khoản 2 cho thấy Bộ luật hình sự còn chưa thống nhất, chưa chặt
chẽ về mặt khoa học và còn tồn tại những quy định mang tính hình thức và chưa
có tính thực tiễn cao. Lỗi của pháp nhân thương mại là thiếu trách nhiệm trong
công tác quản lý đã để cho người được đại diện hoặc người được uỷ quyền nhân
danh pháp nhân với đầy đủ các điều kiện được quy định Điều 75 BLHS năm
2015 thực hiện hành vi phạm tội nêu tại Điều 76, do vậy, pháp nhân thương mại
không thể trực tiếp thực hiện tội phạm mà chỉ phải chịu trách nhiệm liên đới
cùng với cá nhân phạm tội.
5.2. Những tồn tại của chế định phân loại tội phạm
Thứ nhất, Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung điểm bắt đầu để xác định mức
cao nhất của khung hình phạt giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật dễ dàng hơn
trong việc xác định các loại tội phạm.
Thứ hai, Bộ luật hình sự năm 2015 đã bảo đảm về mặt kỹ thuật lập pháp
khi đã tách riêng chế định phân loại tội phạm thành một điều luật riêng biệt
thông qua Điều 9 và bổ sung thêm những quy định cụ thể, rõ ràng hơn.
Thứ ba, các nhà làm luật đã bổ sung thêm một chủ thể mới của tội phạm là
pháp nhân thương mại. Đây là một điểm mới đáng ca ngợi khi các nhà làm luật
đã nhận thức đúng đắn tính chất, mức độ nguy hại của pháp nhân thương mại khi
để cho người được đại diện hoặc người được uỷ quyền nhân danh pháp nhân
phạm tội hoặc liên kết pháp nhân thương mại này với pháp nhân thương mại
khác để thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, những nhà lập pháp nhận thấy
cần phải có những quy định để xác định trách nhiệm hình sự, từ đó, quy định
hình phạt đối với chủ thể liên đới này nhằm thực hiện tối đa nhiệm vụ phòng, chống tội phạm. III. KẾT LUẬN
Các quy phạm về phân loại tội phạm được ghi nhận tại Điều 9 Bộ luật
Hình sự năm 2015 với tư cách là một chế định độc lập thuộc chế định về tội
phạm. Trong lịch sử lập pháp hình sự từ trách nhiệm hình sự năm 1985 đến nay
thì việc phân loại tội phạm đã có sự phát triển và có tính chất kế thừa. Ứng dụng
việc phân loại tội phạm giúp những nhà làm luật có cơ sở để áp dụng những
chính sách đối với việc tha tù trước thời hạn có điều kiện đồng thời phân chia
những người phạm tội thành các nhóm khác nhau, phục vụ cho quá trình giáo
dục, cải tạo hay giúp họ hòa nhập cộng đồng trở thành người lương thiện, hạn
chế khả năng tái phạm - đây chính là nhiệm vụ, mục đính quan trọng mà pháp
luật hình sự nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung đã và đang
hướng tới. Như vậy, chế định phân loại tội phạm là một trong những bộ phận
quan trọng cấu thành và là nền tảng vững chắc của lý luận về tội phạm. Bởi để
định tội danh và quy định hình phạt đối với chủ thể tội phạm thì các nhà làm luật
phải xác định hành vi vi phạm pháp luật hình sự đó thuộc các loại hoặc các nhóm
tội phạm nào. Hơn nữa, việc phân loại tội phạm còn có ý nghĩa trong việc thống
nhất các quy định của Phần chung và Phần các tội phạm Bộ luật hình sự, giữa Bộ
luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự của pháp luật hình sự.
Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung, GS.TSKH Lê Văn Cảm,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Trường
Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân Hà Nội
3. Bộ luật hình sự 2015.
4. Các căn cứ phân loại tội phạm theo Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ
sung 2017, GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa.
5. Phân loại tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam và vấn đề tiếp tục
hoàn thiện chế định này trong tương lai, Lê Cảm – Mạc Minh Quang, Nxb Khoa học kiểm sát.
6. Bàn về phân loại tội phạm trong bộ luật hình sự năm 2015, Ngô Hương Ly.
7. Phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại phạm tội trong bộ luật
hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, ThS. Mai Thị Duyên.
8. Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nguyễn Ngọc Hà (chủ
biên), Nxb. Học viện an ninh nhân dân, Hà Nội.
9. Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 (Phần thứ nhất), Đinh Văn Quế,
Nxb. Thông tin và truyền thông.