Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

1.Tại sao mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam (Mỹ can thiệp vào năm 1950, xâm lược vào 1954)
Muốn biến miền Nam Việt Nam thành bàn đạp để tấn công Miền Bắc, từ đó xâm
chiếm toàn bộ khu vực CHÂU Á - TBD, phủ đầu Trung Quốc, Liên Xô - hai anh cả của
chế độ XHCN, dập tắt phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa và nửa thuộc
địa đang diễn ra sôi nổi trên thế giới.
Chúng đơn thuần nghĩ Việt Nam là một đất nước nhỏ, nghèo nàn, dễ xâm chiếm.
Ngoài ra Nam Việt Nam còn có một ví trí địa lí vô cùng đắc địa, từ đây có thể vươn ra
các quốc gia khác vô cùng thuận lợi. Muốn chặn phong trào giai phóng dân tộc đang phát
triển mạnh mẽ như vũ bão trên thế giới. thì ở Việt Nam chính là một trong ba điểm nóng
nhất lúc bấy giờ, dập được Việt Nam tức khắc sẽ dập tắt được các phong trào khác trên thế giới.
2.Kháng chiến miền Nam đánh bại các chiến lược chiến tranh nào của Mỹ vào
năm nào 1954-1975? ( tên tổng thống điều hành chiến tranh)
1. Chiến tranh đơn phương  Hoàn cảnh
Vào ngày 7/11/1954, Mỹ cử tướng Cô-lin sang làm đại sứ ở miền Nam của Việt
Nam với âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Để làm bàn đạp tiến công
miền Bắc và ngăn chặn làn sóng cách mạng ở Đông Nam Á.
Dựa vào Mỹ, Ngô Đình Diệm nhanh chóng dựng lên một chính quyền độc tài ở
miền Nam và ra sức chống phá cách mạng. Giữa năm 1954, Ngô Đình Diệm lập ra đảng
“Cần lao Nhân vị” làm đảng cầm quyền. Và vào cuối năm 1954, thành lập “phong trào
cách mạng quốc gia” và đưa ra mục tiêu “chống cộng, đả thực, bài phong”.  Âm mưu
Chiến tranh đơn phương là một trong các chiến lược chiến tranh của Mỹ ở Việt
Nam, được thực hiện với âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Mục đích để
làm bàn đạp tiến công miền Bắc và ngăn chặn làn sóng cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Đông Nam Á.  Thủ đoạn
Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh “đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật”. Và vào tháng
5/1959, ra đạo luật 10/59, lê máy chém khắp miền Nam để giết hại những người vô tội.
Chính quyền Diệm thực hiện chương trình cải cách điền địa nhằm lấy lại ruộng đất
mà cách mạng đã giao cho nhân dân. Và lập ra các khu dinh điền, khu trù mật để kìm kẹp nhân dân. 2. Chiến tranh đặc biệt  Hoàn cảnh
Vào cuối năm 1960, sau phong trào “Đồng khởi” ở miền Nam, Mỹ đã đề ra và
thực hiện một trong các chiến lược chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Đó là chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam. Trong thời điểm đó thì trên thế giới,
phong trào giải phóng dân tộc dâng lên mạnh mẽ, đe dọa đến hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.  Âm mưu
Đây là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới. Được tiến hành bằng
quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của Mỹ. Dựa vào vũ khí, phương tiện chiến tranh của
Mỹ, đế nhằm chống lại phong trào cách mạng của nhân dân ta.  Thủ đoạn
- Đề ra kế hoạch bình định miền Nam trong vòng 18 tháng.
- Tăng viện trợ quân sự cho Ngô Đình Diệm, tăng cường cố vấn Mỹ và lực
lượng quân đội Sài Gòn.
- Tiến hành dồn dân lập “Ấp chiến lược”, sử dụng các chiến thuật mới như “trực
thăng vận” và “thiết xa vận”.
- Thành lập Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam
- Nhiều cuộc hành quân càn quét được mở ra nhằm tiêu diệt lực lượng cách
mạng. Tiến hành hoạt động phá hoại miền Bắc, phong tỏa biên giới và vùng
biển. Tất cả để nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. 3. Chiến tranh cục bộ  Hoàn cảnh
Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ đã chuyển sang chiến lược
“Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam. Các chiến lược chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam này
được thành lập để cứu vãn tình hình ở miền Nam. Thời gian từ giữa 1965- 1968.  Âm mưu
“Chiến tranh cục bộ” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới. Được
tiến hành bằng quân đội Mỹ, quân một số nước đồng minh và quân đội Sài Gòn. Mục
đích để nhằm tạo ra ưu thế về quân sự, giành lại thế chủ động trên chiến trường.
Nhờ vào một trong các chiến lược chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Mỹ đã nhanh
chóng áp đảo về binh lực, hỏa lực quân ta, cố giành thắng lợi để lấy lại quyền chủ động
trên chiến trường. Chúng đã đẩy quân dân ta về thế phòng ngự và buộc ta phải phân tán
lực lượng, rút về biên giới, cho chiến tranh lụi tàn.  Thủ đoạn
Liên tục đổ quân viễn chinh Mỹ và các phương tiện chiến tranh tân tiến, hiện đại
vào miền Nam. Đến năm 1968, số quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam đã lên tới hơn 50 vạn.
Thực hiện tiến hành hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965 – 1966 và 1966
– 1967) bằng hàng loạt cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào “Đất thánh Việt Cộng”.
Tiêu huỷ tiềm lực kinh tế – quốc phòng miền Bắc, để ngăn chặn sự chi viện từ bên
ngoài vào miền Bắc và từ Bắc vào Nam. Và đồng thời làm lung lay quyết tâm chống Mỹ của nhân dân ta.
4. Việt Nam hoá chiến tranh  Hoàn cảnh
Vào năm Mậu Thân 1968, cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta đã làm
phá sản chiến lược “ Chiến tranh cục bộ”. Điều này đã làm chấn động nước Mỹ và thế
giới. Và bắt buộc Mỹ phải đưa ra một trong các chiến lược chiến tranh của Mỹ ở Việt
Nam mới để cứu vãn tình hình.
Đầu năm 1969, Tổng thống Níchxơn lên nắm quyền đã đề ra chiến lược toàn cầu
“Ngăn đe thực tế”. Và tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới, thực hiện
chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Chiến lược đã mở rộng chiến tranh ra toàn đông
dương là “Đông Dương hóa chiến tranh”.  Âm mưu
Chiến lược được đề ra với mục tiêu dùng người việt đánh người việt. Và dùng
người đông dương đánh người đông dương.  Thủ đoạn 5. Giai đoạn 1969-1972 
Rút dần quân Mỹ và quân đồng minh ra khỏi chiến tranh 
Nhằm tăng cường quân đội ngụy sài gòn trên chiến trường để “ thay màu da trên xác chết” 
Mở rộng để xâm lược Lào và Campuchia, thực hiện âm mưu “Dùng người Đông
Dương đánh người Đông Dương”. 
Tiến hành thủ đoạn ngoại giao xảo quyệt, lợi dụng mâu thuẫn giữa Trung – Xô.
Thỏa hiệp với Trung Quốc và hòa hoãn với Liên Xô nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các
nước này đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. 
Các chiến lược chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam nhằm tăng cường đánh phá miền Bắc bằng không quân.
6. Giai đoạn sau hiệp định Pari 1975 
Mỹ rút khỏi chiến trường nhưng vẫn giữ lại 2 vạn cố vấn và viện trợ cho quân
ngụy tiếp tục cuộc chiến tranh, ra sức phá hoại hiệp định pari. 
Tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ” và mở nhiều cuộc hành quân “lấn
chiếm” vùng giải phóng của nước ta.