










Preview text:
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VNDCCH GIAI ĐOẠN 1945-1946
Đề 3: ĐỀ CAO THẾ HỢP PHÁP VÀ SỨC MẠNH CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG
Trong bối cảnh khu vực và quốc tế sau Chiến tranh TG 2, phe Đồng minh thắng trận, chủ
nghĩa phát xít bị đánh bại. Nhờ đã có sự chuẩn bị sẵn sàng cho thời cơ đó, Việt Nam đã
giành được thắng lợi một cách nhanh chóng và triệt để trong Cách mạng tháng Tám 1945.
Sau thành công của cách mạng tháng Tám nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời.
Ngay từ khi ra đời, nước ta đã gặp rất nhiều khó khăn: miền Bắc 20 vạn quân Tưởng lấy cớ
là giải giáp quân đội Nhật tiến vào nước ta, phía Nam được sự hậu thuẫn Anh thực dân
Pháp âm mưu xâm lược trở lại nước ta, trong khi tình hình đất nước nạn đói, nạn dốt…
Trước những khó khăn này có thể nói rằng: “Vận mệnh nước ta như ngàn cân treo sợi tóc”.
Trong giai đoạn “ngàn cân treo sợi tóc” đó, chúng ta không chỉ nhanh chóng trong giành
chính quyền mà còn vô cùng khẩn trương tuyên bố độc lập để đóng vai trò chủ nhân của
một đất nước có chính quyền, đứng ra đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân phát xít
khi Thế chiến II kết thúc.
Trước tình hình thế giới có nhiều biến chuyển phức tạp, mau lẹ, Ngày 28/8/1945, đứng trước
yêu cầu cấp bách cần phải sớm ổn định tình hình, củng cố chính quyền cách mạng, biến
chính quyền đó thành công cụ đắc lực cho việc củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ
thành quả Cách mạng vừa giành được và để có cơ sở trong việc đấu tranh chống thù trong,
giặc ngoài, theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân
tộc giải phóng do Quốc dân Đại hội ở Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ Lâm thời
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đảng
phái yêu nước và những nhân sĩ tiến bộ.
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước cuộc mít tinh khổng lồ của hàng
vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với thế giới và toàn
thể quốc dân đồng bào về nền độc lập của dân tộc Việt Nam và sự thành lập Nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, chấm dứt sự tồn tại và hoạt động của chế độ quân chủ chuyên chế
ở Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập tự do và chủ
nghĩa xã hội. Chính phủ Lâm thời Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã long trọng ra mắt
quốc dân đồng bào.
Ngoài ra, để tạo thế hợp pháp cho chính quyền CM để đón tiếp Đồng Minh: chuyển Ủy ban
Dân tộc Giải phóng thành Chính phủ Lâm thời; Lễ tuyên bố Độc lập; Thông báo Chính sách
đối ngoại 03/10/1945; Tổ chức Tổng Tuyển cử (6/1/1946) bầu ra Quốc hội; Hiến pháp đầu tiên (9/11/1946).
+ Ngày 06/01/1946, hơn 90% cử tri trong cả nước đi bỏ phiếu bầu Quốc hội và
đã bầu ra 333 đại biểu.
+ Ngày 02/03/1946, Quốc hội thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng
chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, lập ra Ban dự thảo Hiến pháp.
+ Ngày 09/11/1946: Ban hành Hiến pháp đầu tiên.
+ Các địa phương thuộc Bắc Bộ và Trung Bộ bầu cử hội đồng nhân dân các
cấp (tỉnh, huyện, xã) theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu =>
Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Khẳng định lòng ủng hộ son sắc của cả dân tộc đối với Đảng và Chính
phủ cách mạng trước những âm mưu chia rẽ của bọn đế quốc và tay sai. -
Các biện pháp khác củng cố chính quyền cách mạng:
+ Lực lượng vũ trang được xây dựng.
+ Việt Nam giải phóng quân đổi thành Vệ quốc đoàn (9/1945), rồi Quân đội
quốc gia Việt Nam (22/5/1946).
+ Cuối năm 1945, lực lượng dân quân tự vệ tăng lên hàng chục vạn người. -
Gửi thư, công hàm cho Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc, Liên Hợp Quốc: thông báo sự
ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tố cáo các tội ác của Pháp, đồng thời
nêu ra các trách nhiệm của các cường quốc; giữ quan hệ với các cơ quan đại diện
phía Mỹ tại Việt Nam, tác dụng…
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, mở ra một kỷ nguyên mới, song cũng đặt ra cho nhân
dân ta, đất nước ta không ít khó khăn, nguy cơ, thách thức. Thực hiện mục tiêu nhất quán và
xuyên suốt - độc lập, tự do, dân chủ, hòa bình, trên nền tảng "thống nhất bên trong, tìm bạn bên
ngoài", Đảng và Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) thời kỳ đó đã đề ra và thực
hiện những chủ trương, chính sách đối ngoại độc đáo, kết hợp chặt chẽ giữa đối nội với đối
ngoại, để bảo vệ thành quả xương máu của dân tộc.
1. Một tháng sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập và nhân dịp một phái bộ quan trọng của
Đồng minh đến Hà Nội, ngày 3 tháng 10 năm 1945, Bộ Ngoại giao Chính phủ lâm thời ra
Thông cáo về chính sách đối ngoại của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Bản Thông cáo về CSĐN là văn kiện nhà nước đầu tiên về đối ngoại, thể hiện cách nhìn
rộng mở của Nhà nước Việt Nam thực hiện QHQT kiểu mới, với tầm nhìn chiến lược về sự
thay đổi cơ bản tính chất của quan hệ toàn cầu, cũng như quan hệ với các nước láng giềng
của VN. Bản Thông cáo đề ra chính sách ngoại giao với bốn nhóm đối tượng, gồm: các
nước Đồng minh, Pháp, các dân tộc nhược tiểu và đối với nhân dân Lào và Khơ me. Đồng
thời, khẳng định mục tiêu phấn đấu cho nền “độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn” của Việt Nam.
Những nội dung của thông cáo đề ra góp phần quan trọng định hướng tư tưởng và hoạt
động thực tiễn của ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến, kiến quốc, đồng thời là
một biện pháp kịp thời nhằm tranh thủ các lực lượng Đồng minh có mặt trên đất nước ta.
Tóm tắt chính sách đối ngoại của Việt Nam, Bác nói: Việt Nam chủ trương “làm bạn với tất
cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” ( Bộ Ngoại giao - Hồ Chí Minh trả lời
phỏng vấn các nhà báo, Nxb CTQG, H. 2015, tr.10.)
2. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhân danh người đứng đầu chính phủ VNDCCH nhiều lần
gửi thư, công hàm cho những người đứng đầu Chính phủ các nước lớn Mỹ, Anh,
Liên Xô, Trung Quốc, Chủ tịch Đại hội đồng LHQ, thông báo về sự ra đời của nước
VNDCCH, khẳng định tính hợp pháp của nhà nước đó và tố cáo thực dân Pháp trở lại tiến
hành chiến tranh xâm lược tại Đông Dương. Trong đấu tranh ngoại giao, giai đoạn này,
Chính phủ Việt Nam triệt để khai thác các cam kết của Đồng minh nêu ra trong thời gian
chiến tranh, trước hết là trong Hiến chương Đại Tây Dương (8/1941), Hội nghị Teheran
(12/1943) và những nguyên tắc pháp lý của QHQT, như quyền độc lập, tự quyết và bình
đẳng giữa các dân tộc, nêu trong Hiến chương LHQ (6/1945). Đó là những thành quả của
cuộc đấu tranh của các lực lượng dân chủ và tiến bộ trên thế giới, chống chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh TG II. * Đối với Mỹ
Từ tháng Chín 1945 đến tháng Hai 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 8 lần gửi thông điệp, thư,
điện và công hàm cho Tổng thống và Ngoại trưởng Mỹ, giới thiệu các phát triển mới trong
tình hình ở Việt Nam; tố cáo Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, vi phạm các nguyên tắc nêu
lên trong Hiến chương Đại Tây Dương và Hiến chương LHQ; đề nghị Hoa Kỳ công nhận
nền độc lập của Việt Nam.
Trong thư gửi Tổng thống Mỹ Truman, ngày 16/02/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: ‘’
Thực dân Pháp, những kẻ trong thời chiến đã phản bội cả các nước Đồng minh lẫn nhân
dân Việt Nam, đã quay lại và đang tiến hành một cuộc chiến tranh tàn sát và không thương
xót đối với chúng tôi hòng lập lại ách thống trị của họ… Sự xâm lược này là trái với những
nguyên tắc của luật pháp quốc tế và trái với những cam kết của các nước Đồng minh trong
chiến tranh thế giới… Nhân dân Việt Nam chúng tôi, sau quá nhiều năm chịu sự cướp bóc
và tàn phá, mới chỉ đang bắt đầu công cuộc xây dựng. Cần phải có an ninh và quyền tự
do… An ninh và tự do chỉ có thể được bảo đảm bằng sự độc lập của chúng ta đối với bất kỳ
một cường quốc thực dân nào, và bằng sự hợp tác tự nguyện của chúng ta với tất cả các
cường quốc khác. Chính là với niềm tin vững chắc này mà chúng tôi yêu cầu Hợp chủng
quốc… thực hiện một bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi… Chúng tôi sẽ làm
hết sức mình cho nền độc lập và sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới’ ( Hồ Chí
Minh: ‘’ Thư gửi Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ’ . Toàn tập, t.4, tr.176-177’ )
Trang 1 thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tổng thống Mỹ H.Truman (16/02/1946) Trang 2 và 3
Chính phủ Việt Nam thường xuyên giữ quan hệ với các đại diện của Mỹ có mặt ở Việt Nam,
như Phái bộ Mỹ tại Đông Dương, Văn phòng của Cơ quan Tình báo chiến lược (OSS).
Trong bối cảnh chính quyền Washington chưa bày tỏ chủ trương rõ ràng, dứt khoát đối với
vấn đề Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có các cuộc tiếp xúc với quan chức ngoại
giao của Mỹ. Tháng Chín 1946, khi ở Pháp, Chủ tịch tới thăm Đại sứ quán Mỹ ở Paris gặp
Đại sứ Mỹ và sau đó tiếp cán bộ ĐSQ Mỹ tới chào Người. Ngày 7/12/1946, Chủ tịch tiếp
J.Carter Vincint, Giám đốc Cục châu Á của Bộ Ngoại giao Mỹ, thăm Hà Nội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra sáng kiến về ngoại giao nhân dân. Trong thư gửi Ngoại
trưởng Mỹ James Byrnes, ngày 01/11/1945, Chủ tịch kiêm Bộ trường Ngoại giao Việt Nam
đề nghị một phái đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang thăm Mỹ với ý định thiết lập
những quan hệ văn hóa với thanh niên Mỹ và xúc tiến việc nghiên cứu về kỹ thuật, nông
nghiệp và các lĩnh vực chuyên môn khác. Nước ta cũng chủ động lập Hội Việt – Mỹ thân
hữu, ngày 17 tháng Mười 1945. Điều lệ của Hội được Chính phủ duyệt y và cho thi hành.
Các động thái của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đã có tác động nhất định tới
thái độ của Mỹ trong vấn đề Đông Dương. Tài liệu của Lầu Năm góc đã nhận xét về vấn đề
này : “ Trong khi không có hành động gì đáp ứng lại các yêu cầu mà Hồ Chí Minh nêu lên,
Mỹ cũng không sẵn sàng giúp đỡ Pháp…’ ( Các tài liệu của Lầu Năm góc, t.I, tr.17-18 )
=> Các hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ VNDCCH đối với Mỹ
vừa có ý nghĩa đề cao vị thế của VNDCCH vừa góp phần tranh thủ Mỹ ‘’trung lập’ , tạo
thuận lợi để hòa hoãn và kìm chế lực lượng của Tưởng, cũng như Pháp ở Việt Nam.
* Đối với Tưởng Giới Thạch
Trong thư gửi Thống chế Tưởng Giới Thạch ngày 28 tháng Mười 1945, Chủ tịch Hồ
Chí Minh kịch liệt lên án việc quân đội Pháp thực hiện âm mưu tái chiếm Việt Nam và yêu
cầu Đồng minh “ ban bố lệnh chấm dứt tàn sát một dân tộc đang bảo vệ các chính quyền
chính đáng của mình theo nguyên tắc ghi trong Hiến chương Đại Tây Dương và Hiến
chương San Francisco, công nhận nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam”. Ngày 4/1/1946,
khi đại diện của phái bộ ngoại giao của Chính phủ Trùng Khánh tại Hà Nội tới chuyển thông
điệp của Thống chế Tưởng Giới Thạch trả lời thư Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người khẳng định
tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc đã có lịch sử lâu đời; nền
độc lập của nhân dân Việt Nam, dù thông qua đàm phán hay thông qua chiến tranh đều cần
sự ủng hộ của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc.
Trong thư gửi trần tu hòa, Trong thư, Người thông báo quyết định của Chính phủ Việt
Nam sẽ lùi ngày Tổng tuyển cử trong toàn quốc lại hai tuần. Đồng thời, Người cũng giải
thích rõ thêm một số vấn đề như tổ chức và thành phần Mặt trận Việt Minh, Cương lĩnh
chính trị của Mặt trận Việt Minh, về tổ chức chính quyền ở địa phương, về việc triệu tập
Quốc hội sau khi Tổng tuyển cử toàn quốc. Người còn gửi kèm theo bức thư là một
danh sách ứng cử viên tham gia Tổng tuyển cử của 11 tỉnh Bắc Kỳ…Trong thư, Người
thông báo quyết định của Chính phủ Việt Nam sẽ lùi ngày Tổng tuyển cử trong toàn
quốc lại hai tuần. Đồng thời, Người cũng giải thích rõ thêm một số vấn đề như tổ chức
và thành phần Mặt trận Việt Minh, Cương lĩnh chính trị của Mặt trận Việt Minh, về tổ
chức chính quyền ở địa phương, về việc triệu tập Quốc hội sau khi Tổng tuyển cử toàn
quốc. Người còn gửi kèm theo bức thư là một danh sách ứng cử viên tham gia Tổng
tuyển cử của 11 tỉnh Bắc Kỳ…
=> Cùng với các hành động lợi dụng sự mâu thuẫn giữa Tưởng và Pháp, nêu cao tinh thần
chính nghĩa chống phát xít, chính sách của VNDCCH hòa hoãn và kiềm chế các lực lượng
của Tưởng Giới Thạch tại Việt Nam đã mang lại cho miền Bắc một thời kỳ tương đối ổn định
để thực hiện chủ trương kháng chiến, kiến quốc,xd củng cố chính quyền nhân dân, đồng
thời làm thất bại ý đồ sâu xa của Trung Quốc Tưởng Giới Thạch thành lập một chính phủ tay sai ở Việt Nam
● Biện pháp Kết quả:Việc thực hiện những chủ trương, chính sách trên đã đem lại
những kết quả hết sức to lớn và có ý nghĩa với toàn thể dân tộc ta. Nổi bật nhất
chính là ta đã xây dựng được nền móng cho một chế độ xã hội mới - chế độ dân chủ
nhân dân với đầy đủ các yếu tố cấu thành cần thiết như Quốc hội, Hội đồng nhân
dân các cấp, Hiến pháp dân chủ nhân dân. Bộ máy chính quyền từ Trung ương đến
làng, xã và các cơ quan tư pháp, tòa án, các công cụ chuyên chính được thiết lập và
tăng cường. Các đoàn thể nhân dân được xây dựng và mở rộng. Đảng Dân chủ Việt
Nam, Đảng Xã hội Việt Nam được thành lập. Đồng thời Chính phủ đã triệt để khai
thác cam kết của các nước Đồng minh nêu ra trong chiến tranh, đặc biệt là quyền
độc lập, tự quyết và bình đẳng giữa các dân tộc để tiến hành nhiều giao thiệp ngoại
giao mà từ đó ta đã một phần tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế.
ĐỀ 4: LỢI DỤNG MÂU THUẪN ĐỐI PHƯƠNG HÒA VỚI TƯỞNG ĐỂ TẬP TRUNG
SỨC CHỐNG PHÁP TÁI XÂM LƯỢC. -
Kế hoạch Hoa quân nhập Việt (09/1940) mục đích tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan
Việt Minh, cầm Hồ. Hoa quân nhập Việt là sự kiện 20 vạn quân đội Tưởng Giới
Thạch tiến vào miền Bắc Việt Nam với mục đích giải giáp quân đội Nhật Bản từ vĩ
tuyến 16 ra Bắc theo sự phân công của Đồng Minh. Cùng thời điểm đó, các tổ chức
chính trị theo chủ nghĩa quốc gia, chống Pháp và chống Việt Minh như Việt Quốc,
Việt Cách, cũng vào vượt biên giới Việt Trung vào Việt Nam thiết lập chính quyền tại
một số tỉnh phía Bắc. Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quân Trung Quốc có âm
mưu "Diệt Cộng cầm Hồ" tức là "Diệt Cộng sản, bắt Hồ Chí Minh", lật đổ chính
quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để tránh phải một lúc đối đầu với nhiều kẻ thù,
Việt Minh thực hiện chính sách nhân nhượng với quân Tưởng để tập trung chống
Pháp. Chính quyền chấp nhận cho quân Tưởng tiêu xài đồng "quan kim", đồng ý
cung cấp lương thực cho họ. Chính quyền thực hiện chính sách nhẫn nhịn, tránh
xung đột với quân Tưởng và Việt Quốc, Việt Cách. -
Vị thế của Tưởng: hợp pháp (theo quyết định Hội nghị Potsdam).Theo thỏa thuận
Potsdam, quân Anh sẽ giải giáp cho quân Nhật tại Việt Nam từ vĩ tuyến 16 về phía
Nam và quân Trung Quốc sẽ giải giáp cho quân Nhật từ vĩ tuyến 16 về phía Bắc. -
Chính sách của ta: Hoa-Việt thân thiện, hòa hoãn với Tưởng, lợi dụng Tưởng đối
trọng Pháp; lợi dụng mâu thuẫn của chúng. -
Về quân sự: tránh xung đột
Phương châm hòa hiếu, “thêm bạn bớt thù” đã hình thành và trở thành
nguyên tắc của ngoại giao Việt Nam.
+ Chính phủ đã triệt để khai thác cam kết của các nước Đồng minh nêu
ra trong chiến tranh, đặc biệt là quyền độc lập, tự quyết và bình đẳng
giữa các dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành nhiều giao thiệp
ngoại giao qua thư, công hàm,… với người đứng đầu Chính phủ các
nước lớn, như: Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc, Chủ tịch Đại hội đồng
Liên hợp quốc,… thông báo về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ
cộng hòa và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế.
+ Khai thác việc chính quyền Mỹ chưa công khai chủ trương rõ ràng,
dứt khoát về vấn đề Đông Dương, ủng hộ tư tưởng độc lập, tự trị của
các dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên giữ quan hệ với
các đại diện của Mỹ có mặt ở Việt Nam nhằm tranh thủ họ hỗ trợ để
kiềm chế các tướng lĩnh của Tưởng và thế lực của Pháp.
+ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đưa ra sáng kiến về tổ chức nhiều hoạt
động ngoại giao nhân dân Việt - Mỹ nhằm thúc đẩy tình hữu nghị, sự
hiểu biết giữa hai dân tộc. Hoạt động đó của Người đã góp phần tranh
thủ Mỹ “trung lập”, tạo thuận lợi để hòa hoãn cũng như kiềm chế lực
lượng của Tưởng và Pháp ở Việt Nam.
+ Chính phủ ta cũng kịp thời ra tuyên bố làm rõ chính sách ngoại giao
để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Bác nói: Việt Nam chủ trương
“làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. -
Về kinh tế: nhân nhượng nhiều quyền lợi
Xuyên suốt toàn bộ cuộc đấu tranh ngoại giao của ta trong giai đoạn này là:
“Đối với Pháp, độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế”.
+ Đảng ta đề ra quyết sách “hòa để tiến” với Pháp. Chính phủ ta đã ký
kết với Pháp hai văn kiện hết sức quan trọng là Hiệp định Sơ bộ
6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946. Qua đó, ta nhân nhượng với Pháp
một số điều kiện để kéo dài thời gian hòa hoãn, củng cố và chuẩn bị
lực lượng, nhưng không thỏa hiệp các vấn đề nguyên tắc về độc lập và thống nhất quốc gia.
(Cho phép trường học Pháp các cấp được tự do mở trên đất Việt
Nam và sẽ mở rộng cho cả học sinh Việt Nam; các công ty của Pháp
được quyền hoạt động trở lại ở Đông Dương sẽ không phải chịu một
chế độ khắt khe hơn chế độ dành cho tài sản và xí nghiệp của người
Việt Nam; thuế quan, nguồn lợi tức đáng kể nhất trong ngân sách Liên
bang Đông Dương, sẽ do người Pháp tiếp tục đảm nhiệm). -
Về chính trị: lợi dụng mâu thuẫn đối phương.
Ngoại giao giai đoạn này đã khôn khéo, tận dụng mâu thuẫn nội bộ đối
phương, tập trung chống thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta.
+ Ta cương quyết chống lại âm mưu chiếm lại Đông Dương của Pháp,
tranh thủ việc Mỹ công nhận nền độc lập của Việt Nam và “giao hòa với chúng ta
+ Đối với Tưởng Giới Thạch, ta tránh xung đột quân sự mà chỉ xung đột
bằng chính trị, v.v. Chúng ta đã sử dụng lực lượng của Tưởng có mặt
ở Việt Nam làm đối trọng với lực lượng của thực dân Pháp, kiềm chế
âm mưu của Pháp sớm khôi phục lại sự kiểm soát Đông Dương. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã phát hiện ra những bất đồng và xung đột quyền
lực cục bộ khá gay gắt ngay trong nội bộ tướng lĩnh của Tưởng và
các nhóm tay sai, do đó đã có ứng xử khôn khéo trong quan hệ, vừa
đấu tranh chính trị, ngoại giao, vừa khai thác mặt hám lợi vật chất của
các tướng lĩnh Tưởng để hạn chế sự chống phá của chúng.
(Dẫn chứng: Dù có chung đích “Diệt cộng, cầm Hồ” khi vào miền Bắc
nước ta nhưng các Tướng lĩnh Tưởng có quyền lợi khác nhau, biện
pháp chống đối cách mạng nước ta khác nhau nên Hồ Chủ tịch đã có
đối sách cụ thể với từng tên. -
Ví dụ: với Lư Hán (tổng chỉ huy quân đội Tàu Tưởng ở Bắc
Đông Dương, thuộc tập đoàn Vân Nam của Long Vân), Tưởng
Giới Thạch cử Lư Hán đi Việt Nam để “điệu hổ ly sơn” bắt
Long Vân (Long Vân là Tổng đốc tỉnh Vân Nam, được mệnh
danh là “Vua Vân Nam” -> Tưởng nghi ngờ Vân Long sẽ tạo
phản chống lại Tưởng). Lư Hán đi thì Tưởng đánh và bắt
được Long Vân, sau đó điều 2 sư đoàn về và thay bằng quân
của Trung ương -> Lư Hán thành tướng không quân đành đi
với quân của Trung ương. Khi Lư Hán đến Hà Nội, Chủ tịch
HCM đã đến thăm và trao đổi về tình hình VN, thế giới, TQ,..
Với tài ngoại giao của Bác, Lư Hán tỏ ra khâm phục và có
những hành động độc lập với Chính phủ Trung ương như
không cho phép Pháp lập cơ quan hành chính dân sự, không
ủng hộ quá mức bọn Việt cách, việt quốc,...
Phần II: Chống Pháp xâm lược -
Tập trung chống Pháp gây hấn ở Nam Bộ: 23/09/1945 Pháp đã gây hấn ở Nam Bộ,
ta cử quân Nam tiến để đập tan chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của Pháp.
http://tuyengiao.vn/tuyen-truyen/nam-bo-khang-chien-va-hanh-trinh-dau-tranh-vi-mot- nuoc-viet-nam-thong-nhat-24077
https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_B%E1%BB%99_kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn #B%E1%BB%91i_c%E1%BA%A3nh
“Nam Bộ kháng chiến” là xung đột quân sự giữa VN và liên quân Anh, Pháp, Nhật
bắt đầu xảy ra trước chiến tranh Đông Dương bùng nổ..
Thời gian : 13/9/1945-30/3/1946
Địa điểm : Nam Bộ, Nam Trung bộ, Tây Nguyên Hoàn cảnh
Tháng 8-1945, tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 trên khắp cả nước đã giành
được thắng lợi, nhà nước được độc lập tự do.
(Cuộc đấu tranh 15 năm đầy hi sinh, gian khổ của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ĐCS do
HCM kết thúc với Tuyên ngôn độc lập bất hủ “ Nước VN có quyền hưởng tự do và độc lập, toàn thể
dân tộc VN quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng,tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”)
+ Miền Nam: thực dân Pháp có dã tâm xâm lược dưới sự che chở của phái bộ Anh.
● Anh tạo điều kiện cho Pháp có sự lộng hành ở miền Nam
(Anh trả tự do và giao súng cho hàng ngàn tên lính Pháp bị quân Nhật bắt giam tại cuộc đảo chính Pháp ngày 9-3-1945. )
● Pháp vừa khiêu khích vừa gây rối ở miền Nam
(→ buổi chào mừng ngày lễ độc lập 2-9-2945, thực dân Pháp có hành động bắn phá,khiêu khích đồng bào Sài
Gòn, làm gần 50 người bị thương. )
● Ta: luôn bình tĩnh, nhân nhượng để giữ vững nền hòa bình theo lời căn dặn
của Chủ tịch HCM.
Tuy nhiên, trước sự khiêu khích của thực dân Pháp và sự làm ngơ của quân Anh, ta đã nhận định “ Âm mưu tái
xâm lược nước ta của thực dân Pháp đã rõ ràng. Không thể để “ đầu rơi máu chảy”, và cũng không một sức lực
nào có thể ngăn cản được sức mạnh và khát vọng giữ vững lời thể Độc lập, chuẩn bị kịp thời, tích cực và hiệu
quả. Chỉ với chủ yếu là gậy tầm vông và ít súng, quân dân Sài Gòn đã anh dũng đi đầu trong hành trình chống
thực dân Pháp, hướng về miền Bắc, về Chủ tịch HCM với niềm tin tất thắng” Bắc Nam là cây một cội, là con một nhà”
+ Miền Bắc: nạn đói hoành hành. Gần 20 vạn quân tưởng kéo vào giải giáp
quân nhật. → chưa bao giờ trên nước ta có nhiều kẻ thù như vậy, chưa bao
giờ nước ta lại đứng trước tình thế “ ngàn cân treo sợi tóc” như thế. Diễn biến
+ Anh: 06-9-1945, phái bộ quân sự Anh đã tới Sài Gòn; ngang ngược yêu cầu chúng
ta giải tán các đội tự vệ; ngăn cấm người dân biểu tình và tham gia các hoạt động
ủng hộ chính quyền cách mạng;… Phái bộ quân sự Anh còn thả và trang bị vũ khí
cho Pháp. Ngày 21-9, quân Anh chiếm đóng trụ sở cảnh sát quận 3. Tối 22-9,
chiếm Đài Phát thanh của chính quyền cách mạng.
+ Pháp: từ cuối tháng 10-1945, đẩy mạnh kế hoạch mở rộng đánh chiếm ra vùng
xung quanh Sài gòn và các tỉnh Nam Bộ. + Miền Nam
● Sáng sớm 23/9/1945, họp khẩn cấp tại phố Cây Mai, chợ lớn ( nay là đường nguyễn
trãi). Tán thành chủ trương phát động nhân dân kháng chiến và thông qua bản Hiệu
triệu quân dân Nam bộ vùng lên, đánh trả quân địch. Các sư đoàn Cộng hòa Vệ binh
và sư đoàn Dân quân cách mạng rút ra vùng ngoại ô… Tại nội thành chỉ còn 320 đội
tự vệ chiến đấu và một số tiểu đoàn cộng hòa vệ binh tuần tra canh gác công sở.
Tuần cuối tháng 9, những trận đánh của quân dân Nam Bộ liên tiếp ra ở khu tân
định, Cầu Muối, cầu Lái thiêu, cầu chữ Y.v.v..Song song với đó là công tác phá hoại (
xí nghiệp công sở lớn, tàu lớn, tàu nhỏ, xe hơi, một số cầu, đốn cây…) và chiến lược
“thành phố không điện không nước”, bất hợp tác của nhân dân Sài gòn ( dân sơ tán
khỏi thành phố, trợ không họp, lương thực thực phẩm cạn dần) → PHÁP gặp nhiều khó khăn + Miền Bắc
● Chính phủ đã ra huấn lệnh cho quân dân Nam bộ, đồng thời kêu gọi đồng bào cả
nước chi viện sức người, vũ khí đạn dược cho cuộc kháng chiến của đồng bào miền
Nam. Ngày 26-9-1945, HCM gửi thư đồng bào miền Nam qua đài tiếng nói việt nam
khẳng định “ thà chết tự do hơn sống nô lệ “. Đồng bào Nam Bộ kháng chiến
nhất định định thắng lợi , “ Nước VN độc lập muôn năm. Đồng bào Nam bộ
muôn năm”, Nhân dân địa phương B-T-N sục sôi hướng về Nam bộ.
Kết quả: Quân đội VN sau khi chống trả, rút về các chiến khu và tiến hành kháng chiến lâu
dài. Liên quân Pháp - Anh chiếm đóng các thành phố lớn Ý nghĩa:
+ Thể hiện quyết tâm giành độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam và của chính quyền HN . -
Kết quả: Hòa hoãn với Tưởng ở phía Bắc, phá được kế hoạch Tưởng cùng Pháp
đàn áp Cách Mạng, tập trung phá kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp ở miền Nam. - Kết quả: -
Để củng cố chính quyền, giữ vững và mở rộng mặt trận đoàn kết, đồng thời cô lập
phân hóa hơn nữa bọn phản động tay sai, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã quyết
định Đảng cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán (thực chất Đảng ta rút vào hoạt
động bí mật); cải tổ Chính phủ lâm thời thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời, mở rộng
70 ghế Quốc hội không qua bầu cử cho bọn Việt Quốc, Việt Cách,… Đây là những
nhân nhượng về chính trị của chúng ta nhằm hạn chế sự phá hoại của quân Tưởng và tay sai. -
Đối với thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng chúng sẽ quay trở
lại cướp nước ta một lần nữa, và “… cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là
cuộc cách mạng giải phóng… kẻ thù chính của chúng ta lúc này là thực dân Pháp xâm
lược, phải tập chung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”. Vì thế Người đã tích cực vạch trần âm mưu của chúng.
=> Chính sách đối ngoại của Đảng ta trong thời kỳ này chủ chương ứng xử ngoại giao khôn
khéo, quyết đoán, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong mọi hoàn cảnh. Trên nguyên tắc giữ vững
chủ quyền và độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã có những sách lược khôn
khéo, phân hoá cao độ kẻ thù, trước là tạm thời hòa hoãn với quân Tưởng để giữ vững chính
quyền, tạo điều kiện đối phó với quân Pháp ở miền Nam; khi lại nhân nhượng với Pháp để
từng bước phá tan âm mưu “diệt Cộng cầm Hồ”, “Hoa quân nhập Việt”, đuổi Tưởng về nước
và trừng trị bọn phản cách mạng, đồng thời không ngừng củng cố khối đoàn kết toàn dân, dốc
sức xây dựng đất nước và chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến trường kỳ mà ta biết là không
tránh khỏi. Cứng rắn trong nguyên tắc, mềm dẻo trong sách lược và nhân nhượng khi cần
thiết, nhưng nhân nhượng không có nghĩa đầu hàng mà nhân nhượng chỉ trong chừng mực
nhất định và khi kẻ thù càng lấn tới, chúng ta càng quyết giữ cho được nền độc lập dân tộc.
Lấy đà, bước đệm vững chắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
đêm ngày 19/12/1946, cả nước bước vào giai đoạn “trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”.