lOMoARcPSD| 58504431
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HIỆN TẠI Ở VIỆT NAM
2. Điều hành tỷ giá của NHNN trong bối cảnh lạm phát thế giới tăng cao từ năm 2022 đến nay
2.1. Chế độ tỷ giá và cơ chế điều hành tỷ giá của NHNN
NHNN quy định về chế độ tỷ giá hối đoái của Đồng Việt Nam tại Điều 15 Nghị định số 70/2014/NĐ-
CP ngày 17/7/2014 của Chính phủ quy định chi ết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối, cụ thể như sau:
“1. Tgiá hối đoái của Đồng Việt Nam được hình thành trên scung - cầu ngoại tệ trên
thị trường có sự điều ết của Nhà nước. NHNN thực hiện điều ết tỷ giá hối đoái thông qua việc sử
dụng các công cụ của CSTT và thực hiện phương án can thiệp trên thị trường ngoại tệ.
2. Chế độ tỷ giá hối đoái của Đồng Việt Nam là chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý do NHNN xác
định trên cơ sở rổ ền tệ của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư với Việt Nam phù
hợp với mục êu kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ”.
Tại Điều 1 Quyết định số 2730/QĐ-NHNN ngày 31/12/2015 của Thống đốc NHNN về vic
công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ, tỷ giá nh chéo của Đồng Việt Nam với
một số ngoại tệ khác, hằng ngày, NHNN công btỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ
trên trang thông n điện tử của NHNN.
Theo đó, khoản 1 Điều 2 Quyết định số 2730/QĐ-NHNN có quy định: Tgiá trung tâm của
Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ được xác định trên sở tham chiếu diễn biến tỷ giá bình quân gia
quyn trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của một số
đồng ền của các nước quan hthương mại, vay, trả nợ, đầu lớn với Việt Nam, các cân đi
kinh tế vĩ mô, ền tệ và mục êu CSTT.
Tại Điều 1 Quyết định số 1747/QĐ-NHNN ngày 17/10/2022 của Thống đốc NHNN (thay thế
Quyết định số 1636/QĐ-NHNN ngày 18/8/2015) quy định về tỷ giá giao ngay giữa Đồng Việt Nam
với các ngoại tệ của các tchức n dụng được phép, như sau:
“1. Đối với Đô la Mỹ: Không được vượt quá biên độ ± 5% (năm phần trăm) so với tỷ giá trung
tâm do NHNN Việt Nam công bố áp dụng cho ngày giao dịch đó.
2. Đối với các ngoại tệ khác: Do tổ chức n dụng được phép xác định”.
Như vậy, theo Luật NHNN năm 2010, tỷ giá là một trong các công cụ góp phần thực hiện CSTT
quốc gia được hình thành trên scung cầu ngoại tệ trên thị trường, sự điều ết của Nhà
ớc. Chế độ tgiá hối đoái của Đồng Việt Nam chế độ tỷ giá thnổi quản do NHNN xác
định trên cơ sở rổ ền tệ của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư với Việt Nam phù
hợp với mục êu kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ. Trong đó, cơ chế điều hành tỷ giá của NHNN thực
hiện theo cơ chế tỷ giá trung tâm được xác định trên cơ sở “tham chiếu diễn biến tỷ giá bình quân
gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của một
số đồng ền của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư lớn với Việt Nam, các cân đối
kinh tế vĩ mô, ền tệ và mục êu chính sách ền tệ”.
Định hướng điều hành của NHNN duy trì hoạt động ổn định, thông suốt của thị trường
ngoại tệ, hạn chế biến động quá mức của Đồng Việt Nam trong điều kiện Việt Nam đmở lớn,
thtrường tài chính, ền tệ chưa phát triển đầy đủ, còn chịu sự chi phối lớn của các yếu tố tâm ,
kỳ vọng, dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc bên ngoài. NHNN sẽ nâng dần mức độ biến động của tỷ giá,
đồng bvới sự phát triển của thị trường ngoại tệ và quá trình hiện đại hóa khuôn khổ CSTT. Đồng
thời, NHNN điều hành tỷ giá trong khuôn khổ CSTT chung nhằm đạt mục êu xuyên suốt, nhất quán
kiểm soát lạm phát ổn định kinh tế mô, phù hợp với điều kiện khách quan của Việt Nam với
trình độ phát triển của thị trường tài chính, ền tcũng như khuôn khổ CSTT.
2.2. Điều hành tỷ giá hối đoái của NHNN từ năm 2022 đến nay
Sau khi dịch Covid-19 bắt đầu được kiểm soát tại nhiều quốc gia, kinh tế thế giới rơi vào trì
trsuy thoái nghiêm trọng, đặc biệt tại các nền kinh tế ên ến xuất phát từ xu hướng dịch
chuyển bất thường từ nhu cầu dịch vụ sang hàng hóa
2
và sự gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu dẫn
đến lạm phát gia tăng (BIS, 2023), xung đột giữa Nga - Ukraine… Trong bối cảnh đó, là một nền kinh
tế độ mở cao (tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng từ 184,7% GDP năm 2016 lên mức khoảng
lOMoARcPSD| 58504431
trên 200% GDP giai đoạn 2022 - 2023), việc điều hành tỷ giá của Việt Nam luôn phải đối mặt với
những thách thức đến từ bên ngoài như việc các nước lớn thu hẹp và ngừng các gói nới lỏng ền t
chuyển sang thắt chặt CSTT, USD lên giá… Ngay cả đối với thị trường trong nước, yếu tố tâm lý cũng
luôn thường trực mỗi khi thtrường tài chính thế giới biến động, tạo áp lực rất lớn đối với điều hành
tỷ giá của NHNN. (Hình 1)
Hình 1: Diễn biến lạm phát thế giới và Việt Nam giai đoạn 2022 đến nay
Đơn vị nh: %
Nguồn: Tổng cục Thống kê, WB
Trước nh hình đó, NHNN đã kiên định điều hành tỷ giá linh hoạt, bám sát cung, cầu thị trường, các
cân đối mô, ền tệ mục êu CSTT, kết hợp điều ết thanh khoản hợp , chủ động truyền thông,
can thiệp mua/bán ngoại tệ với các tổ chức n dụng theo phương thức phù hợp (cả giao ngay và k
hạn) để bình ổn thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần kiểm soát lạm phát, hạn chế nh trạng
đầu cơ, găm giữ ngoại tệ và hấp thu các cú sốc đối với nền kinh tế. Cụ thể:
- Từ đầu năm 2022, trong bối cảnh Fed chuyển sang thu hẹp dần quy mô mua tài sản và tăng mạnh
lãi suất liên tục để kiềm chế đà tăng lạm phát, gây ra áp lực lớn lên tâm lý nhà đầu tư, dòng vốn rút
khỏi các thị trường mới nổi, tạo áp lực mất giá lớn đối với đồng ền của các quốc gia này, trong đó
Việt Nam. USD có xu hướng tăng giá mạnh, cuối tháng 5/2022, USD tăng khoảng 13% so vi cùng
kỳ năm 2021, theo đó, nhiều đồng ền mất giá mạnh so với USD. Trước sức ép liên tục gia tăng đối
với tỷ giá thị trường ngoại tệ, cân đối cung - cầu ngoại tệ khó khăn, trong năm 2022, NHNN đã
chđộng điều hành tỷ giá: (i) Từng bước tạo dư địa để tỷ giá diễn biến linh hoạt, phù hợp với nh
hình thị trường trong ngi nước, qua đó hấp thụ sốc bên ngoài (Quyết định s1747/QĐ-
NHNN điều chỉnh biên độ tỷ giá giao ngay USD/VND từ mức +3% lên +5% vào ngày 17/10/2022); (ii)
Linh hoạt các phương thức bán can thiệp thị trường, điều chỉnh tỷ giá mua/bán can thiệp để đáp
ứng nhu cầu thanh khoản bình ổn tâm thị trường (theo nh toán, NHNN đã bán can thiệp ngoại
tệ nhm ổn định thị trường trong năm 2022 khoảng 20 tỷ USD); (iii) Đồng thời, NHNN đã cho mở lại
kênh n phiếu sau gần 02 năm đại dịch Covid-19 nhưng với ến độ giãn cách nhằm vừa hút bớt nội
tệ, duy trì chênh lệch lãi suất giữa VND - USD trên thtrường liên ngân hàng, tạo sự hấp dẫn cho
VND, vừa tạo điều kiện hỗ trthanh khoản, ổn định lãi suất, phục hồi kinh tế. Cùng với đó, Chính
phủ và NHNN đã nỗ lực, cố gắng trong đàm phán với Chính phủ Hoa K Bộ Tài chính Hoa Kđưa
Việt Nam ra khỏi Danh sách giám sát về thao ng ền tệ, đồng thời, đánh giá cao công tác điều
hành CSTT, tỷ giá của NHNN trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn,
lOMoARcPSD| 58504431
thách thức (tại Báo cáo về “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối ca các đối tác thương mại lớn của
Hoa K” ban hành ngày 10/11/2022).
Nhđó, tỷ giá giao dịch trên thị trường diễn biến linh hoạt, thanh khoản thị trường thông
suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ. Trong bối cảnh đồng ền của các nước
trong khu vực đều mất giá mạnh so vi USD, với những nỗ lực và các giải pháp điều hành linh hoạt,
chủ động của NHNN, VND chỉ mất giá khoảng 4,35% so với USD trong năm 2022. (Hình 2)
Hình 2: Diễn biến tỷ giá USD - Index và tỷ giá USD/VND giai đoạn 2022 2023
Nguồn: NHNN, Bloomberg (2023)
- Sang năm 2023, trong 6 tháng đầu năm, chỉ số USD đi ngang thay tăng mạnh như năm 2022,
nguồn cung ngoại tệ được đảm bảo nhờ các yếu tố nn cân hàng hóa dịch vụ duy trì trạng
thái thặng dư; dòng ngoại tệ tăng từ các hoạt động giải ngân vốn đầu tư trực ếp nước ngoài (FDI)
mua bán vốn cổ phần… giúp áp lực tỷ giá trong tầm kiểm soát, tạo thuận lợi cho NHNN trong
công tác điều hành. Theo đó, NHNN đã ếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt, phối hợp đồng bộ, chặt
chvới các công cụ chính sách khác cũng ncác biện pháp quản ngoại hối nhằm ổn định th
trường ngoại tệ, củng cố vị thế VND, góp phần kiểm soát lạm phát ổn định kinh tế vĩ mô. Nhờ đó,
tỷ giá ổn định trở lại trong gần nửa đầu năm 2023, NHNN mua được ngoại tệ từ các tchức n dụng
để bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước (theo nh tn khoảng 6 tỷ USD) đưa dự trữ ngoại hối
Nhà nước lên mức 87 tỷ USD vào cuối năm 2023 (theo
hps://tradingeconomics.com/vietnam/foreign-exchange-reserves), qua đó, đưa một lượng lớn
ền đồng ra nền kinh tế, tạo thanh khoản cho các tổ chức n dụng.
Tuy nhiên, từ giữa tháng 6/2023, VND chịu áp lực mất giá do USD tăng mạnh trở lại và do sự
nghịch pha trong chu kỳ CSTT giữa Việt Nam và các nền kinh tế lớn (trong đó có Mỹ). Với áp lực trên
thtrường quốc tế sự nghịch pha giữa lãi suất USD VND, VND mất giá theo xu hướng chung
nhưng vẫn diễn biến n định hơn một sđồng ền khác trong khu vực. So sánh với các quốc gia
khác, Đồng Việt Nam tỷ lệ mất giá so với USD rất thấp, cụ th4,25% so với 5,56% Tân Đài tệ
của Đài Loan, 8,55% so với Ringgit của Malaysia, 6,77% đối với Won của Hàn Quốc,
6,09% đối với Nhân dân tcủa Trung Quốc và 14,43% Yên của Nhật Bản (Ngô Trí Long, 2023).
Theo báo cáo của Arrow Capital (2023), tỷ giá USD/VND được đánh giá là vẫn trong khả năng
kiểm soát chủ động của NHNN. Nguyên nhân một phần là nhờ các yếu tố vĩ mô được cải thiện đáng
knhư tổng số vốn FDI thực hiện tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2022. Bên cạnh đó, việc cải thiện
được sản xuất, xuất khẩu trong hai tháng đầu ên của qIV/2023 cũng khiến giá trị thương mại
thặng dư, dự kiến đạt 27 tỷ USD vào năm 2023 cùng lượng kiều hối lên đến 14 tỷ USD đã khiến cho
áp lực giảm giá VND không còn quá nghiêm trọng. Đồng thời, NHNN đã duy trì dư địa để tỷ giá biến
động linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, qua đó góp phần hấp thụ các sốc bên ngoài,
đảm bảo hoạt động thông suốt của thị trường.
lOMoARcPSD| 58504431
Bên cạnh đó, NHNN đã chủ động, kịp thời truyền thông, định hướng thtrường khi cần thiết,
qua đó tạo sự đồng thuận của các thành viên thị trường và nâng cao nh minh bạch, hiệu quả, hiệu
lực truyền dẫn của CSTT và tỷ giá; kết hợp linh hoạt điều ết thanh khoản, lãi suất VND hợp qua
kênh nghiệp vụ thtrường mở để hỗ trợ ổn định tỷ giá trong những giai đoạn nguồn cung kém thuận
lợi và tâm lý thị trường bị tác động trước biến động trên thị trường quốc tế.
Đến cuối năm 2023, tỷ giá trung tâm ở mức 23.866 VND/USD (tăng gần 1,1% so với cuối năm
2022); tỷ giá niêm yết, giao dịch trên thị trường tăng khoảng 2,9%, tương đối n định so với nhiều
đồng ền khác trong khu vực; hoạt động trên thị trường ngoại tệ về cơ bản diễn ra thông suốt, các
nhu cầu ngoại thợp pháp được các tổ chức n dụng đáp ứng, trong đó nhu cầu ngoại tđể
nhập khẩu xăng dầu, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
2.3. Kết quả điều hành tỷ giá hối đoái của NHNN
Một là, NHNN đã duy trì được sự ổn định trên thị trường ền tệ, ngoại hối mua được
ngoại tệ để tăng dự trngoại hi nhà nước lên gần 90 tỷ USD (đạt trên mức tối thiểu 2 - 3 tháng
nhập khẩu theo khuyến nghị của IMF), góp phần tăng cường an ninh tài chính ền tệ quốc gia,
chuyển hóa nguồn lực ngoại tệ thành ền đồng htrợ phát triển kinh tế và là một trong các cơ sở
để củng cố tăng mức xếp hạng n nhiệm quốc gia (cuối năm 2023, Fitch đã nâng xếp hạng n
nhiệm quốc gia của Việt Nam từ BB lên BB+), qua đó hỗ trgiảm chi phí vay ớc ngoài cũng như
hỗ trợ mức xếp hạng n nhiệm của các t chức tại Việt Nam.
Hai là, NHNN đã giữ ổn định được thị trường ngoại tvà hạn chế được các biến động lớn
trong ngắn hạn của tỷ giá, ổn định giá trị đồng ền (năm 2022, VND mất giá khoảng 4,35%, năm
2023 mất giá khoảng 2,87% so với USD), tương đối ổn định so với các đồng ền khác trong khu vực,
góp phần ếp tục xây dựng môi trường đầu tư ổn định, hấp dẫn, tạo niềm n cho nhà đầu tư nước
ngoài. Thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt với quy mô ngày càng tăng, các nhu cầu mua, bán
ngoại tệ của nền kinh tế đều được đáp ng đầy đủ, kịp thời; hỗ trmạnh mẽ cho các hoạt động
kinh tế đối ngoại.
Ba là, nh trạng đô la hóa trong nền kinh tế ếp tục xu hướng giảm dần, tỷ lệ ền gửi ngoại
tệ/tổng phương ện thanh toán đạt mức dưới 7,5% vào năm 2020 và nhiều khả năng đạt mục êu
ới 5% vào năm 2030, tạo điều kiện ến tới ngừng cho vay ngoại tệ, khắc phục nh trạng đô la hóa
trong nền kinh tế.
3. Một số đề xuất nâng cao công tác điều hành tỷ giá của NHNN
3.1. Triển vọng kinh tế, lạm phát trong và ngoài nước năm 2024
Với bối cảnh kinh tếnhiện tại, các tổ chức kinh tế lớn đều cho rằng sức bật để phc
hồi cho nền kinh tế là không cao và không đồng đều các quốc gia vào năm 2024, dự báo vẫn gặp
nhiều khó khăn, bất trắc
3
khi các vấn đề vĩ mô tồn tại trong năm 2023 như giá cả năng lượng và lạm
phát cao vẫn chưa được xử lý triệt để. Dự kiến xu hướng lạm phát schậm lại, nhưng vẫn cao hơn
mức mục êu tại nhiều nước
4
do giá hàng hóa bản thế giới (nhiên liệu, lương thực...) vẫn diễn
biến phức tạp và chịu rủi ro bởi nhiều yếu tố (kinh tế, chính trị, thời ết, chính sách an ninh lương
thực của các quốc gia...). Tuy nhiên, với việc CSTT thắt chặt đã chứng minh được sự hiệu quả vào
cuối năm 2023 khi thực sự kiểm soát được lạm phát, nhiều khả năng, lãi suất của NHTW các quốc
gia sẽ xu hướng giảm vào năm 2024 và năm 2025 (Hình 3). Điều này có nghĩa các NHTW sẽ sẵn
sàng nới lỏng dần CSTT của mình. Với điều kiện kinh tế dần được ổn định so với năm 2023,
cùng với việc dần hạ lãi suất, Economist Intelligence (2023) dự đoán rằng, USD sẽ chmất giá đáng
kso với các đồng ền chính khác vào cuối năm 2024. Trước thời gian đó, sự biến động tỷ giá giữa
USD và các đồng ền mạnh, đặc biệt là EUR, sẽ không quá lớn nếu so với cùng kỳ năm 2023. Đối với
các quốc gia đang phát triển, các chuyên gia cũng nhận định rằng, với việc nới lỏng chính sách n
tệ của Fed, giá trị đồng ền của các quốc gia này so với USD sẽ có xu hướng tăng, với Baht của Thái
Lan tăng 1,3%, Nhân dân tệ của Trung Quốc tăng xấp xỉ 2% và Won của Hàn Quốc tăng 0,2% (Ndaba
và Sathyan, 2023).
Hình 3: Lãi suất của NHTW một số quốc gia lớn dự đoán năm 2024 và 2025
lOMoARcPSD| 58504431
Nguồn: Deloie (2023)
Trong nước, kinh tế vẫn ếp tục đối mặt với các thách thức khi cầu thế giới chưa phục hồi mạnh
nhưng được hậu thuẫn bởi độ trễ của các giải pháp chính sách hỗ trợ kinh tế triển khai từ đầu năm
2023, dự kiến tăng trưởng kinh tế năm 2024 - 2025 có thể phc hồi so vi năm 2023
5
. Mặc dù áp lực
lạm phát quốc tế dự kiến giảm dần sẽ hỗ trgiảm áp lực lạm phát nhập khẩu của Việt Nam nhưng
rủi ro lạm phát từ giá năng lượng, lương thực diễn biến theo chiều hướng tăng do thời ết cực
đoan, xung đột địa chính trị, cùng với lộ trình điều chỉnh giá Nhà nước quản (điện, học phí, giáo
dục). Lãi suất của Fed được dự đoán sneo ít nhất đến quý II/2024 nên việc Việt Nam ếp tục
phải đối mặt với áp lực tăng tỷ giá USD/VND là điều khó tránh khỏi. Điều này đặt ra thách thức cho
NHNN trong việc điều hành tgiá nhằm hấp thụ các sốc, góp phần đạt được các mục êu của
CSTT được đề ra.
3.2. Một số đề xuất đối với điều hành tỷ giá của NHNN
Trên cơ sở những đánh giá nêu trên, bài viết đưa ra một số đề xuất nhằm ếp tc điều hành
tỷ giá linh hoạt, ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Thnhất, việc điều chỉnh, thay đổi trong điều hành tỷ giá phải được cân nhắc kỹ lưỡng, thận
trọng đồng bộ với quá trình hiện đại hóa khuôn khđiều hành CSTT cũng như phù hợp với lộ
trình tự do hóa các dòng vốn quốc tế (đi kèm y dựng biện pháp an toàn vĩ mô) cùng với trình độ
phát triển của thị trường vốn và hiện đại hóa hthống ngân hàng, qua đó thúc đẩy hiệu lực truyền
dẫn CSTT. Điều hành CSTT của NHNN cần ếp tục kiên định với mục êu kiểm soát lạm phát nhưng
trong quá trình điều hành cần xem t đến những tác động đối với sự ổn định tài chính; tăng cường
kết hợp với chính sách tài khóa, an toàn vĩ mô tạo thành khung chính sách ch hợp nhằm nâng cao
quyn tự chền tệ, cải thiện sự ổn định tài chính, giá cả (lạm phát), giảm biến động sản lượng
trước biến động tài chính và rủi ro bảng cân đối.
Thứ hai, ếp tục duy trì cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, ổn định và phù hợp với diễn biến
của thị trường. Sau đại dịch Covid-19, thế giới đã trải qua nhiều sốc kinh tế (lạm phát tăng cao,
chính sách bảo hộ lương thực…) có tác động êu cực lên giá trị ca VND theo cả hình thức gián ếp
trực ếp. Tuy nhiên, với chế điều hành tỷ giá linh hoạt, NHNN đã giúp cho giá trị của VND vượt
qua những sốc y. Đồng thời, ếp tục đa dạng hóa rổ ền tđược sử dụng để đưa ra tỷ giá
trung tâm bởi việc neo tỷ giá theo USD trên thực tế sẽ khiến cho giá trị của VND bị thay đổi theo
ớng bất lợi cho xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh giá trị của USD tăng lên do các chính sách
đối phó với lạm phát của Fed.
Thứ ba, để giảm thiểu tác động êu cực của các cú sốc, NHNN cần có những bước ến nhất
định trong việc điều hành tỷ giá theo hướng linh hoạt hơn để tăng hiệu quả hấp thụ sốc của tỷ
giá, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát:
lOMoARcPSD| 58504431
(i) NHNN cần bám sát nh hình thị trường trong ngoài nước, can thiệp tỷ giá trên cả hai chiều
(tăng/giảm) để thtrường dần loại bcác kỳ vọng một chiều hấp thu hiệu quả các sốc bên
ngoài, qua đó thúc đẩy hiệu lực truyền dẫn CSTT; (ii) Tiếp tục củng cố dự trngoại hối Nhà nước khi
điều kiện thị trường thuận lợi để dự trngoại hối tương xứng với các nước trong khu vực; can thiệp
ngoại hối khi cần thiết nhm ổn định tâm thị trường, nâng cao uy n vị thế quốc gia, qua đó
củng cố xếp hạng n nhiệm quốc gia trong dài hạn.
Thtư, phát triển thtrường ngoại hi đa dạng hơn để gim thiểu rủi ro biến động tỷ giá
thông qua tạo dựng hành lang pháp lý, xây dựng kế hoạch chi ết nhằm phát triển thị trường ngoại
hối, đặc biệt thị trường giao dịch sản phẩm phái sinh ngoại tệ nhằm tăng khả năng phòng ngừa rủi
ro tỷ giá; phổ biến và khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu sử
dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro ngoại tệ nhằm giảm thiểu các biến động lớn của tỷ giá trong
thời gian ngắn khi thtrường chịu các cú sốc bên ngoài, cũng như giúp tăng đsâu của thị trường
ngoại tệ trong dài hạn.
Thứ năm, tăng cường công tác truyền thông nhằm ổn định tâm lý thị trường, đặc biệt trong
các thời kỳ biến động để ổn định tâm lý trên thị trường ngoại hối, qua đó nâng cao uy n điều hành
CSTT, tăng khả năng định hướng, dẫn dắt thị trường ngoại tệ.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58504431
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HIỆN TẠI Ở VIỆT NAM
2. Điều hành tỷ giá của NHNN trong bối cảnh lạm phát thế giới tăng cao từ năm 2022 đến nay
2.1. Chế độ tỷ giá và cơ chế điều hành tỷ giá của NHNN
NHNN quy định về chế độ tỷ giá hối đoái của Đồng Việt Nam tại Điều 15 Nghị định số 70/2014/NĐ-
CP ngày 17/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối, cụ thể như sau:
“1. Tỷ giá hối đoái của Đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung - cầu ngoại tệ trên
thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. NHNN thực hiện điều tiết tỷ giá hối đoái thông qua việc sử
dụng các công cụ của CSTT và thực hiện phương án can thiệp trên thị trường ngoại tệ.
2. Chế độ tỷ giá hối đoái của Đồng Việt Nam là chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý do NHNN xác
định trên cơ sở rổ tiền tệ của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư với Việt Nam phù
hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ”.
Tại Điều 1 Quyết định số 2730/QĐ-NHNN ngày 31/12/2015 của Thống đốc NHNN về việc
công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ, tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với
một số ngoại tệ khác, hằng ngày, NHNN công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ
trên trang thông tin điện tử của NHNN.
Theo đó, khoản 1 Điều 2 Quyết định số 2730/QĐ-NHNN có quy định: “Tỷ giá trung tâm của
Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ được xác định trên cơ sở tham chiếu diễn biến tỷ giá bình quân gia
quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của một số
đồng tiền của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư lớn với Việt Nam, các cân đối
kinh tế vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu CSTT.”
Tại Điều 1 Quyết định số 1747/QĐ-NHNN ngày 17/10/2022 của Thống đốc NHNN (thay thế
Quyết định số 1636/QĐ-NHNN ngày 18/8/2015) quy định về tỷ giá giao ngay giữa Đồng Việt Nam
với các ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép, như sau:
“1. Đối với Đô la Mỹ: Không được vượt quá biên độ ± 5% (năm phần trăm) so với tỷ giá trung
tâm do NHNN Việt Nam công bố áp dụng cho ngày giao dịch đó.
2. Đối với các ngoại tệ khác: Do tổ chức tín dụng được phép xác định”.
Như vậy, theo Luật NHNN năm 2010, tỷ giá là một trong các công cụ góp phần thực hiện CSTT
quốc gia và được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường, có sự điều tiết của Nhà
nước. Chế độ tỷ giá hối đoái của Đồng Việt Nam là chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý do NHNN xác
định trên cơ sở rổ tiền tệ của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư với Việt Nam phù
hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ. Trong đó, cơ chế điều hành tỷ giá của NHNN thực
hiện theo cơ chế tỷ giá trung tâm được xác định trên cơ sở “tham chiếu diễn biến tỷ giá bình quân
gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của một
số đồng tiền của các nước có quan hệ thương mại, vay, trả nợ, đầu tư lớn với Việt Nam, các cân đối
kinh tế vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách tiền tệ”.
Định hướng điều hành của NHNN là duy trì hoạt động ổn định, thông suốt của thị trường
ngoại tệ, hạn chế biến động quá mức của Đồng Việt Nam trong điều kiện Việt Nam có độ mở lớn,
thị trường tài chính, tiền tệ chưa phát triển đầy đủ, còn chịu sự chi phối lớn của các yếu tố tâm lý,
kỳ vọng, dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc bên ngoài. NHNN sẽ nâng dần mức độ biến động của tỷ giá,
đồng bộ với sự phát triển của thị trường ngoại tệ và quá trình hiện đại hóa khuôn khổ CSTT. Đồng
thời, NHNN điều hành tỷ giá trong khuôn khổ CSTT chung nhằm đạt mục tiêu xuyên suốt, nhất quán
kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, phù hợp với điều kiện khách quan của Việt Nam với
trình độ phát triển của thị trường tài chính, tiền tệ cũng như khuôn khổ CSTT.
2.2. Điều hành tỷ giá hối đoái của NHNN từ năm 2022 đến nay
Sau khi dịch Covid-19 bắt đầu được kiểm soát tại nhiều quốc gia, kinh tế thế giới rơi vào trì
trệ và suy thoái nghiêm trọng, đặc biệt tại các nền kinh tế tiên tiến xuất phát từ xu hướng dịch
chuyển bất thường từ nhu cầu dịch vụ sang hàng hóa2 và sự gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu dẫn
đến lạm phát gia tăng (BIS, 2023), xung đột giữa Nga - Ukraine… Trong bối cảnh đó, là một nền kinh
tế có độ mở cao (tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng từ 184,7% GDP năm 2016 lên mức khoảng lOMoAR cPSD| 58504431
trên 200% GDP giai đoạn 2022 - 2023), việc điều hành tỷ giá của Việt Nam luôn phải đối mặt với
những thách thức đến từ bên ngoài như việc các nước lớn thu hẹp và ngừng các gói nới lỏng tiền tệ
chuyển sang thắt chặt CSTT, USD lên giá… Ngay cả đối với thị trường trong nước, yếu tố tâm lý cũng
luôn thường trực mỗi khi thị trường tài chính thế giới biến động, tạo áp lực rất lớn đối với điều hành
tỷ giá của NHNN. (Hình 1)
Hình 1: Diễn biến lạm phát thế giới và Việt Nam giai đoạn 2022 đến nay Đơn vị tính: %
Nguồn: Tổng cục Thống kê, WB
Trước tình hình đó, NHNN đã kiên định điều hành tỷ giá linh hoạt, bám sát cung, cầu thị trường, các
cân đối vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu CSTT, kết hợp điều tiết thanh khoản hợp lý, chủ động truyền thông,
can thiệp mua/bán ngoại tệ với các tổ chức tín dụng theo phương thức phù hợp (cả giao ngay và kỳ
hạn) để bình ổn thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần kiểm soát lạm phát, hạn chế tình trạng
đầu cơ, găm giữ ngoại tệ và hấp thu các cú sốc đối với nền kinh tế. Cụ thể:
- Từ đầu năm 2022, trong bối cảnh Fed chuyển sang thu hẹp dần quy mô mua tài sản và tăng mạnh
lãi suất liên tục để kiềm chế đà tăng lạm phát, gây ra áp lực lớn lên tâm lý nhà đầu tư, dòng vốn rút
khỏi các thị trường mới nổi, tạo áp lực mất giá lớn đối với đồng tiền của các quốc gia này, trong đó
có Việt Nam. USD có xu hướng tăng giá mạnh, cuối tháng 5/2022, USD tăng khoảng 13% so với cùng
kỳ năm 2021, theo đó, nhiều đồng tiền mất giá mạnh so với USD. Trước sức ép liên tục gia tăng đối
với tỷ giá và thị trường ngoại tệ, cân đối cung - cầu ngoại tệ khó khăn, trong năm 2022, NHNN đã
chủ động điều hành tỷ giá: (i) Từng bước tạo dư địa để tỷ giá diễn biến linh hoạt, phù hợp với tình
hình thị trường trong và ngoài nước, qua đó hấp thụ cú sốc bên ngoài (Quyết định số 1747/QĐ-
NHNN điều chỉnh biên độ tỷ giá giao ngay USD/VND từ mức +3% lên +5% vào ngày 17/10/2022); (ii)
Linh hoạt các phương thức bán can thiệp thị trường, điều chỉnh tỷ giá mua/bán can thiệp để đáp
ứng nhu cầu thanh khoản và bình ổn tâm lý thị trường (theo tính toán, NHNN đã bán can thiệp ngoại
tệ nhằm ổn định thị trường trong năm 2022 khoảng 20 tỷ USD); (iii) Đồng thời, NHNN đã cho mở lại
kênh tín phiếu sau gần 02 năm đại dịch Covid-19 nhưng với tiến độ giãn cách nhằm vừa hút bớt nội
tệ, duy trì chênh lệch lãi suất giữa VND - USD trên thị trường liên ngân hàng, tạo sự hấp dẫn cho
VND, vừa tạo điều kiện hỗ trợ thanh khoản, ổn định lãi suất, phục hồi kinh tế. Cùng với đó, Chính
phủ và NHNN đã nỗ lực, cố gắng trong đàm phán với Chính phủ Hoa Kỳ và Bộ Tài chính Hoa Kỳ đưa
Việt Nam ra khỏi Danh sách giám sát về thao túng tiền tệ, đồng thời, đánh giá cao công tác điều
hành CSTT, tỷ giá của NHNN trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, lOMoAR cPSD| 58504431
thách thức (tại Báo cáo về “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của
Hoa Kỳ” ban hành ngày 10/11/2022).
Nhờ đó, tỷ giá giao dịch trên thị trường diễn biến linh hoạt, thanh khoản thị trường thông
suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ. Trong bối cảnh đồng tiền của các nước
trong khu vực đều mất giá mạnh so với USD, với những nỗ lực và các giải pháp điều hành linh hoạt,
chủ động của NHNN, VND chỉ mất giá khoảng 4,35% so với USD trong năm 2022. (Hình 2)
Hình 2: Diễn biến tỷ giá USD - Index và tỷ giá USD/VND giai đoạn 2022 2023
Nguồn: NHNN, Bloomberg (2023)
- Sang năm 2023, trong 6 tháng đầu năm, chỉ số USD đi ngang thay vì tăng mạnh như năm 2022,
nguồn cung ngoại tệ được đảm bảo nhờ các yếu tố như cán cân hàng hóa và dịch vụ duy trì trạng
thái thặng dư; dòng ngoại tệ tăng từ các hoạt động giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
và mua bán vốn cổ phần… giúp áp lực tỷ giá trong tầm kiểm soát, tạo thuận lợi cho NHNN trong
công tác điều hành. Theo đó, NHNN đã tiếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt, phối hợp đồng bộ, chặt
chẽ với các công cụ chính sách khác cũng như các biện pháp quản lý ngoại hối nhằm ổn định thị
trường ngoại tệ, củng cố vị thế VND, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Nhờ đó,
tỷ giá ổn định trở lại trong gần nửa đầu năm 2023, NHNN mua được ngoại tệ từ các tổ chức tín dụng
để bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước (theo tính toán khoảng 6 tỷ USD) đưa dự trữ ngoại hối Nhà nước lên mức 87 tỷ USD vào cuối năm 2023 (theo
https://tradingeconomics.com/vietnam/foreign-exchange-reserves), qua đó, đưa một lượng lớn
tiền đồng ra nền kinh tế, tạo thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Tuy nhiên, từ giữa tháng 6/2023, VND chịu áp lực mất giá do USD tăng mạnh trở lại và do sự
nghịch pha trong chu kỳ CSTT giữa Việt Nam và các nền kinh tế lớn (trong đó có Mỹ). Với áp lực trên
thị trường quốc tế và sự nghịch pha giữa lãi suất USD và VND, VND mất giá theo xu hướng chung
nhưng vẫn diễn biến ổn định hơn một số đồng tiền khác trong khu vực. So sánh với các quốc gia
khác, Đồng Việt Nam có tỷ lệ mất giá so với USD rất thấp, cụ thể là 4,25% so với 5,56% Tân Đài tệ
của Đài Loan, 8,55% so với Ringgit của Malaysia, 6,77% đối với Won của Hàn Quốc,
6,09% đối với Nhân dân tệ của Trung Quốc và 14,43% Yên của Nhật Bản (Ngô Trí Long, 2023).
Theo báo cáo của Arrow Capital (2023), tỷ giá USD/VND được đánh giá là vẫn trong khả năng
kiểm soát chủ động của NHNN. Nguyên nhân một phần là nhờ các yếu tố vĩ mô được cải thiện đáng
kể như tổng số vốn FDI thực hiện tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2022. Bên cạnh đó, việc cải thiện
được sản xuất, xuất khẩu trong hai tháng đầu tiên của quý IV/2023 cũng khiến giá trị thương mại
thặng dư, dự kiến đạt 27 tỷ USD vào năm 2023 cùng lượng kiều hối lên đến 14 tỷ USD đã khiến cho
áp lực giảm giá VND không còn quá nghiêm trọng. Đồng thời, NHNN đã duy trì dư địa để tỷ giá biến
động linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường, qua đó góp phần hấp thụ các cú sốc bên ngoài,
đảm bảo hoạt động thông suốt của thị trường. lOMoAR cPSD| 58504431
Bên cạnh đó, NHNN đã chủ động, kịp thời truyền thông, định hướng thị trường khi cần thiết,
qua đó tạo sự đồng thuận của các thành viên thị trường và nâng cao tính minh bạch, hiệu quả, hiệu
lực truyền dẫn của CSTT và tỷ giá; kết hợp linh hoạt điều tiết thanh khoản, lãi suất VND hợp lý qua
kênh nghiệp vụ thị trường mở để hỗ trợ ổn định tỷ giá trong những giai đoạn nguồn cung kém thuận
lợi và tâm lý thị trường bị tác động trước biến động trên thị trường quốc tế.
Đến cuối năm 2023, tỷ giá trung tâm ở mức 23.866 VND/USD (tăng gần 1,1% so với cuối năm
2022); tỷ giá niêm yết, giao dịch trên thị trường tăng khoảng 2,9%, tương đối ổn định so với nhiều
đồng tiền khác trong khu vực; hoạt động trên thị trường ngoại tệ về cơ bản diễn ra thông suốt, các
nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được các tổ chức tín dụng đáp ứng, trong đó có nhu cầu ngoại tệ để
nhập khẩu xăng dầu, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
2.3. Kết quả điều hành tỷ giá hối đoái của NHNN
Một là, NHNN đã duy trì được sự ổn định trên thị trường tiền tệ, ngoại hối và mua được
ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước lên gần 90 tỷ USD (đạt trên mức tối thiểu 2 - 3 tháng
nhập khẩu theo khuyến nghị của IMF), góp phần tăng cường an ninh tài chính tiền tệ quốc gia,
chuyển hóa nguồn lực ngoại tệ thành tiền đồng hỗ trợ phát triển kinh tế và là một trong các cơ sở
để củng cố và tăng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia (cuối năm 2023, Fitch đã nâng xếp hạng tín
nhiệm quốc gia của Việt Nam từ BB lên BB+), qua đó hỗ trợ giảm chi phí vay nước ngoài cũng như
hỗ trợ mức xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức tại Việt Nam.
Hai là, NHNN đã giữ ổn định được thị trường ngoại tệ và hạn chế được các biến động lớn
trong ngắn hạn của tỷ giá, ổn định giá trị đồng tiền (năm 2022, VND mất giá khoảng 4,35%, năm
2023 mất giá khoảng 2,87% so với USD), tương đối ổn định so với các đồng tiền khác trong khu vực,
góp phần tiếp tục xây dựng môi trường đầu tư ổn định, hấp dẫn, tạo niềm tin cho nhà đầu tư nước
ngoài. Thị trường ngoại tệ hoạt động thông suốt với quy mô ngày càng tăng, các nhu cầu mua, bán
ngoại tệ của nền kinh tế đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời; hỗ trợ mạnh mẽ cho các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Ba là, tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế tiếp tục xu hướng giảm dần, tỷ lệ tiền gửi ngoại
tệ/tổng phương tiện thanh toán đạt mức dưới 7,5% vào năm 2020 và nhiều khả năng đạt mục tiêu
dưới 5% vào năm 2030, tạo điều kiện tiến tới ngừng cho vay ngoại tệ, khắc phục tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.
3. Một số đề xuất nâng cao công tác điều hành tỷ giá của NHNN
3.1. Triển vọng kinh tế, lạm phát trong và ngoài nước năm 2024
Với bối cảnh kinh tế vĩ mô như hiện tại, các tổ chức kinh tế lớn đều cho rằng sức bật để phục
hồi cho nền kinh tế là không cao và không đồng đều ở các quốc gia vào năm 2024, dự báo vẫn gặp
nhiều khó khăn, bất trắc3 khi các vấn đề vĩ mô tồn tại trong năm 2023 như giá cả năng lượng và lạm
phát cao vẫn chưa được xử lý triệt để. Dự kiến xu hướng lạm phát sẽ chậm lại, nhưng vẫn cao hơn
mức mục tiêu tại nhiều nước4 do giá hàng hóa cơ bản thế giới (nhiên liệu, lương thực...) vẫn diễn
biến phức tạp và chịu rủi ro bởi nhiều yếu tố (kinh tế, chính trị, thời tiết, chính sách an ninh lương
thực của các quốc gia...). Tuy nhiên, với việc CSTT thắt chặt đã chứng minh được sự hiệu quả vào
cuối năm 2023 khi thực sự kiểm soát được lạm phát, nhiều khả năng, lãi suất của NHTW các quốc
gia sẽ có xu hướng giảm vào năm 2024 và năm 2025 (Hình 3). Điều này có nghĩa các NHTW sẽ sẵn
sàng nới lỏng dần CSTT của mình. Với điều kiện kinh tế vĩ mô dần được ổn định so với năm 2023,
cùng với việc dần hạ lãi suất, Economist Intelligence (2023) dự đoán rằng, USD sẽ chỉ mất giá đáng
kể so với các đồng tiền chính khác vào cuối năm 2024. Trước thời gian đó, sự biến động tỷ giá giữa
USD và các đồng tiền mạnh, đặc biệt là EUR, sẽ không quá lớn nếu so với cùng kỳ năm 2023. Đối với
các quốc gia đang phát triển, các chuyên gia cũng nhận định rằng, với việc nới lỏng chính sách tiền
tệ của Fed, giá trị đồng tiền của các quốc gia này so với USD sẽ có xu hướng tăng, với Baht của Thái
Lan tăng 1,3%, Nhân dân tệ của Trung Quốc tăng xấp xỉ 2% và Won của Hàn Quốc tăng 0,2% (Ndaba và Sathyan, 2023).
Hình 3: Lãi suất của NHTW một số quốc gia lớn dự đoán năm 2024 và 2025 lOMoAR cPSD| 58504431
Nguồn: Deloitte (2023)
Trong nước, kinh tế vẫn tiếp tục đối mặt với các thách thức khi cầu thế giới chưa phục hồi mạnh
nhưng được hậu thuẫn bởi độ trễ của các giải pháp chính sách hỗ trợ kinh tế triển khai từ đầu năm
2023, dự kiến tăng trưởng kinh tế năm 2024 - 2025 có thể phục hồi so với năm 20235. Mặc dù áp lực
lạm phát quốc tế dự kiến giảm dần sẽ hỗ trợ giảm áp lực lạm phát nhập khẩu của Việt Nam nhưng
rủi ro lạm phát từ giá năng lượng, lương thực diễn biến theo chiều hướng tăng do thời tiết cực
đoan, xung đột địa chính trị, cùng với lộ trình điều chỉnh giá Nhà nước quản lý (điện, học phí, giáo
dục). Lãi suất của Fed được dự đoán là sẽ neo ít nhất đến quý II/2024 nên việc Việt Nam tiếp tục
phải đối mặt với áp lực tăng tỷ giá USD/VND là điều khó tránh khỏi. Điều này đặt ra thách thức cho
NHNN trong việc điều hành tỷ giá nhằm hấp thụ các cú sốc, góp phần đạt được các mục tiêu của CSTT được đề ra.
3.2. Một số đề xuất đối với điều hành tỷ giá của NHNN
Trên cơ sở những đánh giá nêu trên, bài viết đưa ra một số đề xuất nhằm tiếp tục điều hành
tỷ giá linh hoạt, ổn định thị trường ngoại tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Thứ nhất, việc điều chỉnh, thay đổi trong điều hành tỷ giá phải được cân nhắc kỹ lưỡng, thận
trọng và đồng bộ với quá trình hiện đại hóa khuôn khổ điều hành CSTT cũng như phù hợp với lộ
trình tự do hóa các dòng vốn quốc tế (đi kèm xây dựng biện pháp an toàn vĩ mô) cùng với trình độ
phát triển của thị trường vốn và hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, qua đó thúc đẩy hiệu lực truyền
dẫn CSTT. Điều hành CSTT của NHNN cần tiếp tục kiên định với mục tiêu kiểm soát lạm phát nhưng
trong quá trình điều hành cần xem xét đến những tác động đối với sự ổn định tài chính; tăng cường
kết hợp với chính sách tài khóa, an toàn vĩ mô tạo thành khung chính sách tích hợp nhằm nâng cao
quyền tự chủ tiền tệ, cải thiện sự ổn định tài chính, giá cả (lạm phát), giảm biến động sản lượng
trước biến động tài chính và rủi ro bảng cân đối.
Thứ hai, tiếp tục duy trì cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, ổn định và phù hợp với diễn biến
của thị trường. Sau đại dịch Covid-19, thế giới đã trải qua nhiều cú sốc kinh tế (lạm phát tăng cao,
chính sách bảo hộ lương thực…) có tác động tiêu cực lên giá trị của VND theo cả hình thức gián tiếp
và trực tiếp. Tuy nhiên, với cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, NHNN đã giúp cho giá trị của VND vượt
qua những cú sốc này. Đồng thời, tiếp tục đa dạng hóa rổ tiền tệ được sử dụng để đưa ra tỷ giá
trung tâm bởi việc neo tỷ giá theo USD trên thực tế sẽ khiến cho giá trị của VND bị thay đổi theo
hướng bất lợi cho xuất khẩu, đặc biệt là trong bối cảnh giá trị của USD tăng lên do các chính sách
đối phó với lạm phát của Fed.
Thứ ba, để giảm thiểu tác động tiêu cực của các cú sốc, NHNN cần có những bước tiến nhất
định trong việc điều hành tỷ giá theo hướng linh hoạt hơn để tăng hiệu quả hấp thụ cú sốc của tỷ
giá, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát: lOMoAR cPSD| 58504431
(i) NHNN cần bám sát tình hình thị trường trong và ngoài nước, can thiệp tỷ giá trên cả hai chiều
(tăng/giảm) để thị trường dần loại bỏ các kỳ vọng một chiều và hấp thu hiệu quả các cú sốc bên
ngoài, qua đó thúc đẩy hiệu lực truyền dẫn CSTT; (ii) Tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối Nhà nước khi
điều kiện thị trường thuận lợi để dự trữ ngoại hối tương xứng với các nước trong khu vực; can thiệp
ngoại hối khi cần thiết nhằm ổn định tâm lý thị trường, nâng cao uy tín và vị thế quốc gia, qua đó
củng cố xếp hạng tín nhiệm quốc gia trong dài hạn.
Thứ tư, phát triển thị trường ngoại hối đa dạng hơn để giảm thiểu rủi ro biến động tỷ giá
thông qua tạo dựng hành lang pháp lý, xây dựng kế hoạch chi tiết nhằm phát triển thị trường ngoại
hối, đặc biệt thị trường giao dịch sản phẩm phái sinh ngoại tệ nhằm tăng khả năng phòng ngừa rủi
ro tỷ giá; phổ biến và khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu sử
dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro ngoại tệ nhằm giảm thiểu các biến động lớn của tỷ giá trong
thời gian ngắn khi thị trường chịu các cú sốc bên ngoài, cũng như giúp tăng độ sâu của thị trường
ngoại tệ trong dài hạn.
Thứ năm, tăng cường công tác truyền thông nhằm ổn định tâm lý thị trường, đặc biệt trong
các thời kỳ biến động để ổn định tâm lý trên thị trường ngoại hối, qua đó nâng cao uy tín điều hành
CSTT, tăng khả năng định hướng, dẫn dắt thị trường ngoại tệ.