Chủ đề 5. Các quy luật bản của phép biện chứng duy vật
Câu 1. Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những
thay đổi về chất ngược lại
Quy luật này chỉ cách thức phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế
giới khách quan.
- Khái niệm chất
+ Chất phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn của
sự vật hiện tượng, sự thống nhất hữu của những thuộc tính làm cho sự
vật, hiện tượng chứ không phải cái khác.
+ Chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những yếu tố tạo
thành còn bởi những phương thức liên kết các yếu tố tạo thành, nghĩa bởi
kết cấu của sự vật.
- Khái niệm lượng
+ Luợng phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn
của sự vật, hiện tượng biểu thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận
động phát triển của sự vật, hiện tượng cũng như của các thuộc tính của nó.
+ Lượng được biểu thị bằng các con số hoặc các đại lượng: chỉ kích thước dài
hay ngắn, quy to hay nhỏ, tổng số nhiều hay ít, trình độ cao hay thấp, tốc đ
nhanh hay chậm... Đối với các sự vật phức tạp, lượng của không thể diễn tả
được bằng những con số chính xác, thì phải nhận thức bằng khả năng trừu tượng
hoá, khái quát hoá.
- Mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng
+ Trong quá trình phát triển của sự vật, trước hết sự vật bao giờ cũng sự
thay đổi dần dần về lượng đến một giới hạn nào đó chuyển thành những thay đổ
về chất. Chất lượng hai mặt đối lập: chất tương đối ổn định, còn lượng
thường xuyên biến đổi. Song, hai mặt đó không tách rời nhau chúng tác
động
lẫn nhau một cách biện chứng. Sự thống nhất giữa chất lượng trong một độ
nhất định khi sự vật đang tồn tại.
+ Độ phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng chất,
khoảng giới hạn, trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản
về chất của sự vật.
+ Điểm nút điểm giới hạn tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi về
chất của sự vật. Bất cứ độ nào cũng được giới hạn bởi hai điểm nút.
+ Sự thay đổi về chất qua điểm nút được gọi bước nhảy. Do đó, bước nhảy
phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hoá về chất của sự vật do sự thay đ
về lượng trước đó gây ra.
Bước nhảy bước ngoặt căn bản kết thúc một giai đoạn trong sự biến đổi về
lượng, sự gián đoạn trong quá trình biến đổi liên tục của các sự vật. Do vậy,
thể nói phát triển sự “đứt đoạn” trong liên tục, trạng thái liên hợp của
các điểm nút.
Bước nhảy không chấm dứt sự vận động nói chung chỉ chấm dứt một dạng
tồn tại của sự vật. Trong sự vật mới, lượng mới lại biến đổi đến điểm nút mới
lại xảy ra bước nhảy mới.
+ Quy luật lượng chất không chỉ nói lên một chiều sự biến đổi về lượng
dẫn đến sự biến đổi về chất còn chiều ngược lại. Chiều ngược lại nghĩ
là: khi chất mới đã ra đời lại tạo ra một lượng mới phù hợp với nó, để m
sự thống nhất mới giữa chất lượng. Sự quy định này được biểu hiện quy
mô, mức độ nhịp điệu phát triển mới của lượng. Khi nước từ trạng thái lỏn
chuyển sang trạng thái hơi, thì tốc độ vận động của các phân tử hơi nước nhanh
hơn, thể tích của hơi nước lớn hơn, độ hoà tan của cũng khác trước.
Tóm lại, quy luật lượng chất đã chỉ cách thức biến đổi của sự vật hiện
tượng. Trước hết, lượng biến đổi dần dần liên tục khi đạt đến điểm nút,
điểm giới hạn của sự thống nhất giữa chất lượng sẽ dẫn đến bước nhảy về
chất. Chất mới ra đời lại tạo nên sự thống nhất mới giữa chất lượng. Quá
trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng biến đổi, phát
triển.
- Các hình thức của bước nhảy
+ Dựa trên nhịp điệu thực hiện bước nhảy của bản thân s vật thể phân
chia thành bước nhảy đột biến bước nhảy dần dần. Bước nhảy đột biến
bước nhảy được thực hiện trong một thời gian rất ngắn, làm thay đổi chất của
toàn bộ kết cấu bản của sự vật. Bước nhảy dần dần bước nhảy được thực
hiện từng bước bằng cách tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới mất đ
dần dần những nhân tố của chất cũ.
+ Căn cứ vào quy thực hiện bước nhảy của sự vật, bước nhảy toàn bộ
bước nhảy cục bộ. Bước nhảy toàn bộ bước nhảy làm thay đổi chất của
toàn bộ các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật. Bước nhảy cục bộ
bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt, những yếu tố riêng lẻ của sự vật.
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Để tri thức đầy đủ về sự vật, ta phải nhận thức cả mặt lượng mặt chất
của nó. Những nhận thức ban đầu về chất (thấy sự khác nhau) của các sự vật ch
trở nên đúng đắn được làm sâu sắc thêm, khi đạt tới tri thức về sự thống nhấ
giữa chất lượng của các sự vật đó.
+ Muốn cho sự vật, hiện tượng phát triển thì cần một quá trình tích luỹ về
lượng. Nhưng khi sự tích luỹ về lượng đã đạt đến điểm nút thì việc thực hiện
bước nhảy sự thay đổi về chất một tất yếu khách quan trong quá trình vận
động phát triển của sự vật. Từ đó, trong cuộc sống chúng ta cần chống hai
khuynh hướng: (1) : những tưởng chủ quan, Khuynh hướng tả khuynh
duy ý chí, nôn nóng, chưa sự tích luỹ về lượng đã muốn thực hiện bước nhảy
vọt về chất. Hoặc coi nhẹ sự tích luỹ dần về lượng, chỉ nhấn mạnh đến các bước
nhảy từ đó dẫn đến các hành động phưu lưu, mạo hiểm. (2) Khuynh hướng
hữu khuynh: tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại khó, không dám thực hiện bước
nhảy về chất. Hoặc chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi dần về lượng, từ đó rơi vào
chủ nghĩa cải lương.
+ Trong hoạt động thực tiễn cần phải xác định được quy mô, tốc độ những
bước nhảy một cách khách quan, khoa học. Chống giáo điều, rập khuôn, chống
bảo thủ, ngại khó khi điều kiện thực hiện bước nhảy đã chín muồi.
+ Trong thực tế, muốn duy trì sự vật một trạng thái nào đó phải nắm được
giới hạn độ, không để cho lượng thay đổi vượt quá giới hạn của độ.
*Câu hỏi phụ:
1.Coi chất cấu trúc hoá học của nước, lượng nhiệt độ thì khi thay đổi
về lượng chất thay đổi ko?
+Trong độ, lượng không làm thay đổi chất:
Với lượng hơn 0, khi giảm lượng (nhiệt độ) thì nước vẫn thể
rắn, chất cấu trúc lục giác mở,các liên kết giữa phân tử nước xa
nhau, tạo nên tỉ trọng nhỏ hơn nước thể lỏng.
Với lượng lớn hơn 0, hơn 100, lượng không làm thay đổi chất
chất đây thể lỏng, các phân tử nước được liên kết lại gần nhau
hơn.
Với lượng lớn hơn 100, chất thể hơi, các phân tử khí chuyển
động hỗn loạn không liên kết với nhau
+Tại điểm mút, lượng làm chất thay đổi:
Tại lượng=0, chất chuyển hóa từ thể lỏng sang thể rắn
Tại lượng =100, chất chuyển hóa từ thể lỏng sang thể khí.
Câu 2. Quy luật thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập
Trong ba quy luật bản của phép biện chứng duy vật, Lênin coi quy luật
thống nhất đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) hạt nhân củ
phép biện chứng, bởi vì, vạch ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát
triển.
- Khái niệm mâu thuẫn các tính chất chung của mâu thuẫn
+ Khái niệm mâu thuẫn:
Mặt đối lập phạm trù dùng để chỉ những mặt những đặc điểm, những
thuộc tính, những tính quy định khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau
tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, hội duy.
Mâu thuẫn một chỉnh thể (một kết cấu) trong đó bao gồm hai mặt đối lập.
Hai mặt đối lập này vừa thống nhất với nhau vừa đấu tranh với nhau. Nói
cách khác, khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất đấu
tranh, chuyển hoá giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa
các sự vật, hiện tượng với nhau.
+ Các tính chất chung của mâu thuẫn:
Mâu thuẫn một hiện tượng khách quan, cái vốn trong các s vật,
hiện tượng.
Mâu thuẫn một hiện tượng phổ biến tồn tại trong tất cả các lĩnh vực tự
nhiên, hội duy.
Mâu thuẫn tính phức tạp đa dạng. Mâu thuẫn trong mỗi sự vật
trong mỗi lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau. Trong mỗi sự vật không
phải chỉ một mâu thuẫn nhiều mâu thuẫn. Mỗi mâu thuẫn mỗi
mặt của mâu thuẫn lại đặc điểm, vai trò tác động khác nhau đối với
sự vận động phát triển của sự vật.
- Quá trình vận động của mâu thuẫn
Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh
với nhau.
+ Sự thống nhất của các mặt đối lập:
Sự thống nhất của các mặt đối lập sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi
nhau của các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của
mặt kia làm tiền đề.
Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ
cũng những nhân tố giống nhau. Những nhân tố giống nhau đó gọi
sự “đồng nhất” của các mặt đối lập. Với ý nghĩa đó, “sự thống nhất của
các mặt đối lập” còn bao hàm cả sự “đồng nhất” của các mặt đó.
Sự đồng nhất của các mặt đối lập còn bao hàm cả sự tác động ngang
nhau giữa chúng.
+ Sự đấu tranh của các mặt đối lập:
Đấu tranh của các mặt đối lập sự tác động qua lại theo xu hướng bài
trừ phủ định lẫn nhau của các mặt đó.
Không nên hiểu đấu tranh giữa các mặt đối lập với cách một phạm
trù triết học một cách giản đơn chỉ như là: sự thủ tiêu lẫn nhau, sự xung
đột giữa các lực lượng thù địch bằng bạo lực, theo cách hiểu đơn
giản đó sẽ không giải thích được sự đấu tranh giữa hạt nhân điện tử,
đồng hoá dị hoá...
+ Với cách hai xu hướng khác nhau trong mối quan hệ qua lại giữa các
mặt đối lập của một mâu thuẫn, sự thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập
quan hệ biện chứng với nhau, trong đó sự thống nhất của các mặt đối lập
tương đối, đấu tranh giữa các mặt đối lập tuyệt đối, bởi trong khi quy định
ràng buộc lẫn nhau hai mặt đối lập vẫn luôn xu hướng phát triển trái ngược
nhau, đấu tranh với nhau.
+ Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập:
Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, dẫn tới kết quả làm cho các mặt đối lập
chuyển hoá. Do sự đa dạng của thế giới, nên các hình thức chuyển hoá cũng rất
đa dạng. Cụ thể là:
Thứ nhất, sự chuyển hoá từng mặt, từng khía cạnh của mặt đối lập này sang
mặt đối lập khác.
Thứ hai, thể mặt đối lập này chuyển thành mặt đối lập khác.
Thứ ba, cả hai mặt đối lập đều bị mất đi chuyển thành hai mặt đối lập
mới trong sự vật mới.
Tóm lại, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều thể thống
nhất của các mặt đối lập, chính sự đấu tranh của các mặt đối lập sự chuyển
hoá giữa chúng nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
- Phân loại mâu thuẫn
Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các mâu
thuẫn thành mâu thuẫn bên trong mâu thuẫn bên ngoài.
Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại phát triển của toàn bộ sự vật, mâu
thuẫn được chia thành mâu thuẫn bản mâu thuẫn không bản.
Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại phát triển của sự vật
trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ
yếu mâu thuẫn thứ yếu.
Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia mâu thuẫn trong
hội thành mâu thuẫn đối kháng mâu thuẫn không đối kháng.
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Để nhận thức đúng bản chất sự vật tìm ra phương hướng, giải pháp đúng
cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự
vật. Muốn vậy, phải tìm trong thể thống nhất của những mặt, những khuynh
hướng trái ngược nhau, tức tìm ra những mặt đối lập m ra những mối liên
hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó.
+ Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của
từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí mối quan hệ lẫn nhau của các mâu
thuẫn, cũng như của các mặt đối lập.
+ Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn
bằng con đường đấu tranh, không được điều hoà mâu thuẫn.
+ Phải biết lợi dụng mâu thuẫn trong những điều kiện cụ thể.
*Câu hỏi phụ:
Cho rằng mọi mâu thuẫn sở của sự phát triển, đúng hay sai?
-Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại phát triển của toàn bộ sự vật, mâu
thuẫn được chia thành mâu thuẫn bản mâu thuẫn không bản:
+Mâu thuẫn bản mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự
phát triển tất cả các giai đoạn của sự vật, tồn tại trong suốt quá trình tồn t
các sự vật. Mâu thuẫn bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi bản về
chất.
+Mâu thuẫn không bản mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện
nào đó của sự vật, không quy định bản chất của sự vật. Mâu thuẫn đó nảy
sinh hay được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất.
Do đó, các mâu thuẫn không bản không làm sở cho sự phát triển. thế
nhận định trên sai.
Câu 3. Quy luật phủ định của phủ định
Quy luật phủ định của phủ định một trong ba quy luật bản của phép biện
chứng duy vật, chỉ khuynh hướng của sự vận động, phát triển của sự vật s
liên hệ giữa cái mới cái cũ.
- Khái niệm phủ định phủ định biện chứng
+ Trong thế giới vật chất, các sự vật đều quá trình sinh ra, tồn tại, mất đi
được thay thế bằng sự vật khác. Sự thay thế cái bằng cái mới sự phủ định
+ Theo quan điểm siêu hình, phủ định kết quả của sự tác động từ bên ngoài,
sự phá huỷ, thủ tiêu sự vật, chấm dứt sự tồn tại phát triển của nó.
+ Theo quan điểm biện chứng. Phủ định biện chứng sự thay thế sự vật này
bằng sự vật khác trên sở mất đi của sự vật nảy sinh sự vật mới, đó
phủ định kế thừa, tạo ra điều kiện, tiền đề cho sự phát triển. Với cách
học thuyết về sự phát triển, phép biện chứng duy vật chú trọng phân tích không
phải sự phủ định nói chung căn bản sự phủ định biện chứng.
- Đặc trưng bản của phủ định biện chứng:
+ Phủ định biện chứng quá trình mang tính khách quan. Thể hiện chỗ
nguồn gốc của sự phủ định nằm ngay trong bản thân sự vật, đó kết quả của
việc giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật.
+ Tính kế thừa của phủ định biện chứng thể hiện chỗ: Cái mới ra đời trên
sở của cái cũ, đó sự phủ định kế thừa, trong đó bao hàm sự loại bỏ những
yếu tố đã lỗi thời lạc hậu, gây cản trở cho sự phát triển; đồng thời cũng chọn lọ
giữ lại những yếu tố tích cực cải biến đi cho phù hợp với cái mới.
- Nội dung quy luật phủ định của phủ định
+ Thế giới vật chất vận động phát triển diễn ra thông qua quá trình phủ
định biện chứng tận. Sự phát triển của các sự vật diễn ra qua nhiều lần phủ
định, tạo ra một khuynh hướng đi từ thấp đến cao tính chu kỳ. Tính chu kỳ
của sự phủ định biện chứng biểu hiện chỗ thông qua một số lần phủ định, cái
mới xuất hiện dường như lặp lại cái nhưng trên sở cao hơn.
dụ:
Hạt thóc –––––––– Cây lúa –––––––Hạt thóc
(Khẳng định) (Phủ định) (Phủ định của phủ định)
+ Qua sự phủ định lần thứ nhất, sự vật chuyển thành mặt đối lập với chính
mình. Đó một bước trung gian trong sự phát triển (Cây lúa phủ định hạt thóc)
+ Qua sự phủ định lần thứ hai, sự vật mới này lại chuyển thành mặt đối lập
với dường như trở lại dạng ban đầu nhưng trên sở cao hơn. thể hiệ
rệt bước tiến của sự phát triển (Hạt thóc phủ định cây lúa).
+ Như vậy, kết quả của sự phủ định của phủ định cái tổng hợp tất cả những
yếu tố tích cực đã được phát triển từ trước, trong cái khẳng định ban đầu cái
phủ định lần thứ nhất. Đó sự lọc bỏ biện chứng những giai đoạn đã qua để đ
đến cái mới về chất cao hơn. Do vậy, cái mới với cách kết quả phủ định c
phủ định nội dung toàn diện phong phú hơn cái khẳng định ban đầu
kết quả của lần phủ định thứ nhất.
+ dụ trên, qua hai lần phủ định sự vật trải qua một chu kỳ phát triển.
ràng sự vật đơn giản, ít ra cũng phải thông qua hai lần phủ định mới được
sự phát triển, các sự vật phức tạp số lần phủ định thể nhiều hơn.
+ Sự phủ định của phủ định sự kết thúc của một chu kỳ phát triển, đồng
thời lại điểm xuất phát của một chu kỳ mới cứ như thế tiếp tục mãi mãi,
nên hình thái “xoáy ốc” của sự phát triển (chứ không phải theo đường thẳng
hoặc theo đường vòng tròn tuần hoàn lặp lại thuần tuý không thấy được sự
tiến lên).
+ Diễn tả quy luật phủ định của phủ định bằng đường “xoáy ốc” chính hình
thức cho phép biểu đạt được ràng nhất các đặc trưng của quá trình phát triển
biện chứng: tính kế thừa, tính lặp lại nhưng không quay trở lại tính chất tiến
lên của sự phát triển.
Tóm lại, nội dung bản của quy luật phủ định của phủ định trong phép biện
chứng duy vật phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa cái phủ định cái khẳng
định trong quá trình phát triển của sự vật. Phủ định biện chứng điều kiện cho
sự phát triển, cái mới ra đời kết quả của sự kế thừa những nội dung tích cực
trong sự vật cũ, phát huy trong sự vật mới tạo nên tính chu kỳ của sự ph
triển. Khái quát tính tất yếu khách quan của sự vận động đi lên của mọi sự vật,
hiện tượng trong thế giới theo đường xoáy ốc chứ không theo đường thẳng.
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Quy luật phủ định của phủ định đã chỉ sự phát triển khuynh hướng
chung, tất yếu của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Song, quá
trình phát triển không diễn ra theo con đường thẳng quanh co, phức tạp, trải
qua nhiều lần phủ định, nhiều khâu trung gian. Điều đó giúp chúng ta tránh được
cách nhìn phiến diện, giản đơn trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc
biệt các hiện tượng hội.
+ Quy luật phủ định của phủ định cũng khẳng định tính tất thắng của cái mới,
cái mới, cái ra đời phù hợp với quy luật phát triển của sự vật. Mc khi
mới ra đời, cái mới thể còn non yếu, song cái tiến bộ hơn, giai đoạn
phát triển cao hơn về chất so với cái cũ. vậy, trong nhận thức hoạt động
thực tiễn cần ý thức phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triể
+ Quy luật này còn vạch cái mới ra đời trên sở của cái cũ. Giữa cái mới
cái không sự tách rời tuyệt đối. Do đó, trong khi phê phán cái cũ, cần
phải biết sàng lọc, kế thừa những yếu tố hợp của cái cũ, tránh thái độ
chủ nghĩa, phủ định sạch trơn hoặc kế thừa nguyên xi.

Preview text:

Chủ đề 5. Các quy luật bản của phép biện chứng duy vật
Câu 1. Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những
thay đổi về chất ngược lại
Quy luật này chỉ rõ cách thức phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
- Khái niệm chất
+ Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của
sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự
vật, hiện tượng là nó chứ không phải là cái khác.
+ Chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những yếu tố tạo
thành mà còn bởi những phương thức liên kết các yếu tố tạo thành, nghĩa là bởi kết cấu của sự vật.
- Khái niệm lượng
+ Luợng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có
của sự vật, hiện tượng biểu thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận
động và phát triển của sự vật, hiện tượng cũng như của các thuộc tính của nó.
+ Lượng được biểu thị bằng các con số hoặc các đại lượng: chỉ kích thước dài
hay ngắn, quy mô to hay nhỏ, tổng số nhiều hay ít, trình độ cao hay thấp, tốc đ
nhanh hay chậm... Đối với các sự vật phức tạp, lượng của nó không thể diễn tả
được bằng những con số chính xác, thì phải nhận thức bằng khả năng trừu tượng hoá, khái quát hoá.
- Mối quan hệ biện chứng giữa chất lượng
+ Trong quá trình phát triển của sự vật, trước hết sự vật bao giờ cũng có sự
thay đổi dần dần về lượng đến một giới hạn nào đó chuyển thành những thay đổ
về chất. Chất và lượng là hai mặt đối lập: chất tương đối ổn định, còn lượng
thường xuyên biến đổi. Song, hai mặt đó không tách rời nhau mà chúng tác động
lẫn nhau một cách biện chứng. Sự thống nhất giữa chất và lượng ở trong một độ
nhất định khi sự vật đang tồn tại.
+ Độ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, nó là
khoảng giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật.
+ Điểm nút là điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi về
chất của sự vật. Bất cứ độ nào cũng được giới hạn bởi hai điểm nút.
+ Sự thay đổi về chất qua điểm nút được gọi là bước nhảy. Do đó, bước nhảy
là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hoá về chất của sự vật do sự thay đ
về lượng trước đó gây ra.
Bước nhảy là bước ngoặt căn bản kết thúc một giai đoạn trong sự biến đổi về
lượng, là sự gián đoạn trong quá trình biến đổi liên tục của các sự vật. Do vậy,
có thể nói phát triển là sự “đứt đoạn” trong liên tục, là trạng thái liên hợp của các điểm nút.
Bước nhảy không chấm dứt sự vận động nói chung mà chỉ chấm dứt một dạng
tồn tại của sự vật. Trong sự vật mới, lượng mới lại biến đổi đến điểm nút mới
lại xảy ra bước nhảy mới.
+ Quy luật lượng – chất không chỉ nói lên một chiều là sự biến đổi về lượng
dẫn đến sự biến đổi về chất mà còn có chiều ngược lại. Chiều ngược lại có nghĩ
là: khi chất mới đã ra đời nó lại tạo ra một lượng mới phù hợp với nó, để có m
sự thống nhất mới giữa chất và lượng. Sự quy định này được biểu hiện ở quy
mô, ở mức độ và nhịp điệu phát triển mới của lượng. Khi nước từ trạng thái lỏn
chuyển sang trạng thái hơi, thì tốc độ vận động của các phân tử hơi nước nhanh
hơn, thể tích của hơi nước lớn hơn, và độ hoà tan của nó cũng khác trước.
Tóm lại, quy luật lượng – chất đã chỉ rõ cách thức biến đổi của sự vật và hiện
tượng. Trước hết, lượng biến đổi dần dần và liên tục và khi đạt đến điểm nút,
điểm giới hạn của sự thống nhất giữa chất và lượng sẽ dẫn đến bước nhảy về
chất. Chất mới ra đời lại tạo nên sự thống nhất mới giữa chất và lượng. Quá
trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng biến đổi, phát triển.
- Các hình thức của bước nhảy
+ Dựa trên nhịp điệu thực hiện bước nhảy của bản thân sự vật có thể phân
chia thành bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần. Bước nhảy đột biến là
bước nhảy được thực hiện trong một thời gian rất ngắn, làm thay đổi chất của
toàn bộ kết cấu cơ bản của sự vật. Bước nhảy dần dần là bước nhảy được thực
hiện từng bước bằng cách tích luỹ dần dần những nhân tố của chất mới và mất đ
dần dần những nhân tố của chất cũ.
+ Căn cứ vào quy mô thực hiện bước nhảy của sự vật, có bước nhảy toàn bộ
và bước nhảy cục bộ. Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi chất của
toàn bộ các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật. Bước nhảy cục bộ là
bước nhảy làm thay đổi chất của những mặt, những yếu tố riêng lẻ của sự vật.
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Để có tri thức đầy đủ về sự vật, ta phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất
của nó. Những nhận thức ban đầu về chất (thấy sự khác nhau) của các sự vật ch
trở nên đúng đắn và được làm sâu sắc thêm, khi đạt tới tri thức về sự thống nhấ
giữa chất và lượng của các sự vật đó.
+ Muốn cho sự vật, hiện tượng phát triển thì cần có một quá trình tích luỹ về
lượng. Nhưng khi sự tích luỹ về lượng đã đạt đến điểm nút thì việc thực hiện
bước nhảy có sự thay đổi về chất là một tất yếu khách quan trong quá trình vận
động và phát triển của sự vật. Từ đó, trong cuộc sống chúng ta cần chống hai
khuynh hướng: (1) Khuynh hướng tả khuynh: là những tư tưởng chủ quan,
duy ý chí, nôn nóng, chưa có sự tích luỹ về lượng đã muốn thực hiện bước nhảy
vọt về chất. Hoặc coi nhẹ sự tích luỹ dần về lượng, chỉ nhấn mạnh đến các bước
nhảy từ đó dẫn đến các hành động phưu lưu, mạo hiểm. (2) Khuynh hướng
hữu khuynh: là tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại khó, không dám thực hiện bước
nhảy về chất. Hoặc chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi dần về lượng, từ đó rơi vào chủ nghĩa cải lương.
+ Trong hoạt động thực tiễn cần phải xác định được quy mô, tốc độ những
bước nhảy một cách khách quan, khoa học. Chống giáo điều, rập khuôn, chống
bảo thủ, ngại khó khi điều kiện thực hiện bước nhảy đã chín muồi.
+ Trong thực tế, muốn duy trì sự vật ở một trạng thái nào đó phải nắm được
giới hạn độ, không để cho lượng thay đổi vượt quá giới hạn của độ. *Câu hỏi phụ:
1.Coi chất cấu trúc hoá học của nước, lượng nhiệt độ thì khi thay đổi
về lượng chất thay đổi ko?
+Trong độ, lượng không làm thay đổi chất:
Với lượng bé hơn 0, khi giảm lượng (nhiệt độ) thì nước vẫn ở thể
rắn, chất là cấu trúc lục giác mở,các liên kết giữa phân tử nước xa
nhau, tạo nên tỉ trọng nhỏ hơn nước ở thể lỏng.
Với lượng lớn hơn 0, bé hơn 100, lượng không làm thay đổi chất và
chất ở đây là thể lỏng, các phân tử nước được liên kết lại gần nhau hơn.
Với lượng lớn hơn 100, chất là thể hơi, các phân tử khí chuyển
động hỗn loạn và không liên kết với nhau
+Tại điểm mút, lượng làm chất thay đổi:
Tại lượng=0, chất chuyển hóa từ thể lỏng sang thể rắn
Tại lượng =100, chất chuyển hóa từ thể lỏng sang thể khí.
Câu 2. Quy luật thống nhất đấu tranh giữa các mặt đối lập
Trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, Lênin coi quy luật
thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân củ
phép biện chứng, bởi vì, nó vạch ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát triển.
- Khái niệm mâu thuẫn các tính chất chung của mâu thuẫn
+ Khái niệm mâu thuẫn:
Mặt đối lập là phạm trù dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những
thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau
tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Mâu thuẫn là một chỉnh thể (một kết cấu) trong đó bao gồm hai mặt đối lập.
Hai mặt đối lập này vừa thống nhất với nhau vừa đấu tranh với nhau. Nói
cách khác, khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất và đấu
tranh, chuyển hoá giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa
các sự vật, hiện tượng với nhau.
+ Các tính chất chung của mâu thuẫn:
Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan, là cái vốn có trong các sự vật, hiện tượng.
Mâu thuẫn là một hiện tượng phổ biến tồn tại trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
Mâu thuẫn có tính phức tạp và đa dạng. Mâu thuẫn trong mỗi sự vật và
trong mỗi lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau. Trong mỗi sự vật không
phải chỉ có một mâu thuẫn mà có nhiều mâu thuẫn. Mỗi mâu thuẫn và mỗi
mặt của mâu thuẫn lại có đặc điểm, có vai trò tác động khác nhau đối với
sự vận động và phát triển của sự vật.
- Quá trình vận động của mâu thuẫn
Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau.
+ Sự thống nhất của các mặt đối lập:
Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi có
nhau của các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề.
Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ
cũng có những nhân tố giống nhau. Những nhân tố giống nhau đó gọi là
sự “đồng nhất” của các mặt đối lập. Với ý nghĩa đó, “sự thống nhất của
các mặt đối lập” còn bao hàm cả sự “đồng nhất” của các mặt đó.
Sự đồng nhất của các mặt đối lập còn bao hàm cả sự tác động ngang nhau giữa chúng.
+ Sự đấu tranh của các mặt đối lập:
Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài
trừ và phủ định lẫn nhau của các mặt đó.
Không nên hiểu đấu tranh giữa các mặt đối lập với tư cách là một phạm
trù triết học một cách giản đơn chỉ như là: sự thủ tiêu lẫn nhau, sự xung
đột giữa các lực lượng thù địch bằng bạo lực, vì theo cách hiểu đơn
giản đó sẽ không giải thích được sự đấu tranh giữa hạt nhân và điện tử, đồng hoá và dị hoá...
+ Với tư cách là hai xu hướng khác nhau trong mối quan hệ qua lại giữa các
mặt đối lập của một mâu thuẫn, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó sự thống nhất của các mặt đối lập là
tương đối, đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối, bởi vì trong khi quy định
ràng buộc lẫn nhau hai mặt đối lập vẫn luôn có xu hướng phát triển trái ngược nhau, đấu tranh với nhau.
+ Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập:
Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, dẫn tới kết quả là làm cho các mặt đối lập
chuyển hoá. Do sự đa dạng của thế giới, nên các hình thức chuyển hoá cũng rất đa dạng. Cụ thể là:
Thứ nhất, là sự chuyển hoá từng mặt, từng khía cạnh của mặt đối lập này sang mặt đối lập khác.
Thứ hai, có thể mặt đối lập này chuyển thành mặt đối lập khác.
Thứ ba, cả hai mặt đối lập cũ đều bị mất đi và chuyển thành hai mặt đối lập mới trong sự vật mới.
Tóm lại, mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan đều là thể thống
nhất của các mặt đối lập, chính sự đấu tranh của các mặt đối lập và sự chuyển
hoá giữa chúng là nguồn gốc, là động lực của sự phát triển.
- Phân loại mâu thuẫn
Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta phân biệt các mâu
thuẫn thành mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu
thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.
Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật
trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ
yếu và mâu thuẫn thứ yếu.
Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích, người ta chia mâu thuẫn trong
xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Để nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng, giải pháp đúng
cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự
vật. Muốn vậy, phải tìm trong thể thống nhất của những mặt, những khuynh
hướng trái ngược nhau, tức là tìm ra những mặt đối lập và tìm ra những mối liên
hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó.
+ Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của
từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu
thuẫn, cũng như của các mặt đối lập.
+ Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn
bằng con đường đấu tranh, không được điều hoà mâu thuẫn.
+ Phải biết lợi dụng mâu thuẫn trong những điều kiện cụ thể. *Câu hỏi phụ:
Cho rằng mọi mâu thuẫn sở của sự phát triển, đúng hay sai?
-Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, mâu
thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản:
+Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự
phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn t
các sự vật. Mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi cơ bản về chất.
+Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện
nào đó của sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật. Mâu thuẫn đó nảy
sinh hay được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất.
Do đó, các mâu thuẫn không cơ bản không làm cơ sở cho sự phát triển. Vì thế nhận định trên là sai.
Câu 3. Quy luật phủ định của phủ định
Quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật, chỉ rõ khuynh hướng của sự vận động, phát triển của sự vật và s
liên hệ giữa cái mới và cái cũ.
- Khái niệm phủ định phủ định biện chứng
+ Trong thế giới vật chất, các sự vật đều có quá trình sinh ra, tồn tại, mất đi và
được thay thế bằng sự vật khác. Sự thay thế cái cũ bằng cái mới là sự phủ định
+ Theo quan điểm siêu hình, phủ định là kết quả của sự tác động từ bên ngoài,
là sự phá huỷ, thủ tiêu sự vật, chấm dứt sự tồn tại và phát triển của nó.
+ Theo quan điểm biện chứng. Phủ định biện chứng là sự thay thế sự vật này
bằng sự vật khác trên cơ sở mất đi của sự vật cũ và nảy sinh sự vật mới, đó là
phủ định có kế thừa, tạo ra điều kiện, tiền đề cho sự phát triển. Với tư cách là
học thuyết về sự phát triển, phép biện chứng duy vật chú trọng phân tích không
phải sự phủ định nói chung mà căn bản là sự phủ định biện chứng.
- Đặc trưng bản của phủ định biện chứng:
+ Phủ định biện chứng là quá trình mang tính khách quan. Thể hiện ở chỗ
nguồn gốc của sự phủ định nằm ngay trong bản thân sự vật, đó là kết quả của
việc giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật.
+ Tính kế thừa của phủ định biện chứng thể hiện ở chỗ: Cái mới ra đời trên cơ
sở của cái cũ, đó là sự phủ định có kế thừa, trong đó bao hàm sự loại bỏ những
yếu tố đã lỗi thời lạc hậu, gây cản trở cho sự phát triển; đồng thời cũng chọn lọ
giữ lại những yếu tố tích cực và cải biến đi cho phù hợp với cái mới.
- Nội dung quy luật phủ định của phủ định
+ Thế giới vật chất vận động và phát triển diễn ra thông qua quá trình phủ
định biện chứng vô tận. Sự phát triển của các sự vật diễn ra qua nhiều lần phủ
định, tạo ra một khuynh hướng đi từ thấp đến cao có tính chu kỳ. Tính chu kỳ
của sự phủ định biện chứng biểu hiện ở chỗ thông qua một số lần phủ định, cái
mới xuất hiện dường như lặp lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn. Ví dụ:
Hạt thóc –––––––– Cây lúa –––––––Hạt thóc
(Khẳng định) (Phủ định) (Phủ định của phủ định)
+ Qua sự phủ định lần thứ nhất, sự vật chuyển thành mặt đối lập với chính
mình. Đó là một bước trung gian trong sự phát triển (Cây lúa phủ định hạt thóc)
+ Qua sự phủ định lần thứ hai, sự vật mới này lại chuyển thành mặt đối lập
với nó và dường như trở lại dạng ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn. Nó thể hiệ
rõ rệt bước tiến của sự phát triển (Hạt thóc phủ định cây lúa).
+ Như vậy, kết quả của sự phủ định của phủ định là cái tổng hợp tất cả những
yếu tố tích cực đã được phát triển từ trước, trong cái khẳng định ban đầu và cái
phủ định lần thứ nhất. Đó là sự lọc bỏ biện chứng những giai đoạn đã qua để đ
đến cái mới về chất cao hơn. Do vậy, cái mới với tư cách là kết quả phủ định c
phủ định có nội dung toàn diện và phong phú hơn cái khẳng định ban đầu và cá
kết quả của lần phủ định thứ nhất.
+ Ở ví dụ trên, qua hai lần phủ định sự vật trải qua một chu kỳ phát triển. Rõ
ràng ở sự vật đơn giản, ít ra cũng phải thông qua hai lần phủ định mới có được
sự phát triển, ở các sự vật phức tạp số lần phủ định có thể nhiều hơn.
+ Sự phủ định của phủ định là sự kết thúc của một chu kỳ phát triển, đồng
thời lại là điểm xuất phát của một chu kỳ mới và cứ như thế tiếp tục mãi mãi,
nên hình thái “xoáy ốc” của sự phát triển (chứ không phải theo đường thẳng
hoặc theo đường vòng tròn tuần hoàn lặp lại thuần tuý mà không thấy được sự tiến lên).
+ Diễn tả quy luật phủ định của phủ định bằng đường “xoáy ốc” chính là hình
thức cho phép biểu đạt được rõ ràng nhất các đặc trưng của quá trình phát triển
biện chứng: tính kế thừa, tính lặp lại nhưng không quay trở lại và tính chất tiến lên của sự phát triển.
Tóm lại, nội dung cơ bản của quy luật phủ định của phủ định trong phép biện
chứng duy vật phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa cái phủ định và cái khẳng
định trong quá trình phát triển của sự vật. Phủ định biện chứng là điều kiện cho
sự phát triển, cái mới ra đời là kết quả của sự kế thừa những nội dung tích cực
trong sự vật cũ, phát huy nó trong sự vật mới và tạo nên tính chu kỳ của sự ph
triển. Khái quát tính tất yếu khách quan của sự vận động đi lên của mọi sự vật,
hiện tượng trong thế giới theo đường xoáy ốc chứ không theo đường thẳng.
- Ý nghĩa phương pháp luận
+ Quy luật phủ định của phủ định đã chỉ rõ sự phát triển là khuynh hướng
chung, là tất yếu của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Song, quá
trình phát triển không diễn ra theo con đường thẳng mà quanh co, phức tạp, trải
qua nhiều lần phủ định, nhiều khâu trung gian. Điều đó giúp chúng ta tránh được
cách nhìn phiến diện, giản đơn trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc
biệt là các hiện tượng xã hội.
+ Quy luật phủ định của phủ định cũng khẳng định tính tất thắng của cái mới,
vì cái mới, là cái ra đời phù hợp với quy luật phát triển của sự vật. Mặc dù khi
mới ra đời, cái mới có thể còn non yếu, song nó là cái tiến bộ hơn, là giai đoạn
phát triển cao hơn về chất so với cái cũ. Vì vậy, trong nhận thức và hoạt động
thực tiễn cần có ý thức phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triể
+ Quy luật này còn vạch rõ cái mới ra đời trên cơ sở của cái cũ. Giữa cái mới
và cái cũ không có sự tách rời tuyệt đối. Do đó, trong khi phê phán cái cũ, cần
phải biết sàng lọc, kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ, tránh thái độ hư vô
chủ nghĩa, phủ định sạch trơn hoặc kế thừa nguyên xi.