lOMoARcPSD| 61622878
VẤN ĐỀ CHUẨN BỊ LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG TIẾN TỚI TỔNG
KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM 1945 NAM BỘ
Nguyễn Thanh Tiến
1
Tháng Tám 1945, lực lượng cách mạng Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của
Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong), đã tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.
Cuộc khởi nghĩa diễn ra trong thời gian ngắn và nhanh chóng thu được thắng lợi. Sau hơn
tám thập kỉ bị thực dân thống trị, người dân nơi ây đã thoát khỏi thân phận nô lệ, giành lại
quyền làm chủ ất nước. Cần nói thêm rằng Nam Bộ là một thực thể có vị trí rất quan trọng
trong xứ Đông Dương thuộc Pháp. Chính vì vậy, sự thành công của khởi nghĩa tháng Tám
ở nơi ây có tác ộng rất tích cực ối với cách mạng trong phạm vi cả nước.
Đối với các cuộc cách mạng nói chung, nếu muốn ảm bảo thắng lợi thì công cuộc
chuẩn bị (Tuyên truyền, tổ chức quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang, xây
dựng căn cứ địa…) có vai trò rất quan trọng. Nếu không có sự chuẩn bị ấy thì khi thời
đến, lực ợng cách mạng sẽ khó thể tận dụng để vùng dậy giành chính quyền. trường
hợp của Nam Bộ, tính đến tháng 3/1945 (khi Nhật ảo chính Pháp), lực lượng cách mạng ở
ây vẫn chưa chuẩn bị xong. Nói cách khác, những yếu tố cần thiết để khởi nghĩa giành
chính quyền vẫn chưa hội tụ ầy ủ ở Nam Bộ khi mà thời cơ đã đến rất gần. Thế nhưng, chỉ
5 tháng sau (8/1945), Nam Bộ vẫn kịp ứng lên giành chính quyền cùng với nhân dân cả
nước. sao lại hiện tượng như vậy? Bài tham luận này sẽ góp phần làm sáng tỏ một
vài khía cạnh của vấn đề nói trên qua việc tìm hiểu công cuộc chuẩn bị lực lượng khởi
nghĩa Nam Bộ. Đồng thời, người viết cũng xem xét những yếu tố chủ quan cũng như
khách quan có tác ộng đến công cuộc chuẩn bị này.
***
1. Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng và
Mặt trận Việt Minh sau Hội nghị trung ương 8 (5/1941)
thể nói, trong cuộc vận ộng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản Đông
Dương đã xem việc xây dựng lực lượng cách mạng là nhiệm vụ trọng tâm. Sau Hội
nghị trung ương Đảng lần 8 (5/1941), với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, công
cuộc xây dựng lực lượng cách mạng được tiến hành rất tích cực nhiều địa phương.
Hàng loạt các tổ chức quần chúng yêu ớc (các “Hội Cứu quốc”) thuộc Mặt trận
Việt Minh ra đời. Thông qua các tổ chức này, Đảng đã tuyên truyền trong nhân dân
về nhiệm vụ giải phóng dân tộc, về các bước phải chuẩn bị để tiến tới tổng khởi
nghĩa…Mục tiêu của Đảng và Mặt trận Việt Minh là phát triển một lực lượng chính
trị rộng lớn để làm hậu thuẫn cho cách mạng. Bên cạnh ó, xuất phát từ nhận ịnh
“Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang”
23
của trung ương Đảng, vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng
cũng rất được chú trọng. Các ội quân du kích (các ội Cứu quốc quân) lần lượt được
thành lập, tạo tiền đề cho sự ra đời của ội quân giải phóng về sau. Công tác xây dựng
các căn cứ địa cũng được xúc tiến dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Từ
1
Khoa Lịch sử-Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
2
Nghị quyết Hội nghị trung ương Đảng lần 8 (Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, nxb CTQG, HN, 2000, trang
3
)
lOMoARcPSD| 61622878
căn cứ địa ban ầu (căn cứ Cao Bằng-ra đời ầu năm 1941), Đảng đã quyết ịnh mở
rộng thành căn cứ địa Việt Bắc để làm chỗ dựa cho sự phát triển của cách mạng.
Kết quả của quá trình chuẩn bị nói trên lực lượng cách mạng ngày càng lớn
mạnh. Gần 4 năm sau Hội nghị Trung ương 8 (tính đến tháng 3 năm 1945), lực lượng
chính trị phát triển cả nông thôn thành thị. Lực lượng trang, tuy chưa thực
sự hoàn thiện, song ng ảm ương được vai trò hỗ trợ cho phong trào ấu tranh của
quần chúng. Khi thời xuất hiện, về bản, lực lượng cách mạng đã ở trong thế
sẵn sàng nổi dậy giành lại nền ộc lập.
Tuy nhiên, một thực tế phải ghi nhận là, những chủ trương của Đảng
Mặt trận Việt Minh về chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa chỉ được thực hiện em lại
kết quả Bắc Bộ.
1
Còn Nam Bộ, do nhiều lí do khác nhau, chủ trương này đã
không được triển khai (và trong một chừng mực nào ó, có thể nói là không điều
kiện để triển khai) một cách ầy ủ. Điều ó dẫn đến hệ quả là công cuộc chuẩn bị cho
cách mạng giải phóng dân tộc nơi ây mang nhiều nét khác biệt so với phần còn lại
của cả nước.
2. Xứ uỷ Nam Kỳ và công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi
nghĩa giành chính quyền
Như đã đề cập trên, từ sau Hội nghị Trung ương 8, công cuộc chuẩn bị khởi
nghĩa giành chính quyền được Đảng Mặt trận Việt Minh xúc tiến mạnh mẽ Bắc
(và phần nào Trung bộ). Song, quá trình ó lại diễn ra chậm chạp ầy trắc trở trên
ất phương Nam. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là sự tổn thất
quá nặng nề của lực lượng cách mạng ở Nam Bộ sau cuộc khởi nghĩa tháng 11 năm
1940. Trước sự àn áp khốc liệt của thực dân Pháp, “hệ thống tổ chức Đảng từ cấp
xứ đến cấp cơ sở bị phá vỡ gần hết. Bốn Liên tỉnh uỷ, 14 Tỉnh uỷ, Ban cán sự bị xoá
sổ hoặc liệt, hai thư Xứ uỷ, một thư Thành uỷ bị xử tử. Toàn Nam Kỳ mất tới
90% cán bộ cách mạng”
2
. Liên lạc giữa Trung ương và Đảng bộ Nam Kỳ lúc bị
cắt ứt. thế, “Nghị quyết của Trung ương về xây dựng Mặt trận Việt Minh đến
Nam Kỳ bị chậm”
3
Trong khoảng thời gian từ tháng 11/1941 đến tháng 10/1943, Xứ
uỷ Nam Kỳ thực tế không còn tồn tại.
4
Lúc y, một số ảng viên thoát khỏi sự truy
bắt của Pháp vẫn cố gắng hoạt ộng để gây dựng lại sở Đảng. Kết quả là, từ giữa
năm 1941 trở i, các Liên tỉnh uỷ Miền y, Liên tỉnh uỷ Miền Đông… lần lượt được
thành lập. Song, do chính quyền thực dân vẫn đang khủng bố gay gắt nên hoạt ộng
của các cơ quan này bị gián đoạn, thậm chí có lúc tổ chức bị phá vỡ. Đó là chưa kể
đến tình trạng phân tán, thiếu thống nhất trong hành ộng của một số nhóm ảng viên.
Do hoàn cảnh ngặt nghèo như vậy cho nên các chỉ thị của Trung ương Đảng đến với
1
Phong trào Việt Minh ở Trung Bộ cũng rất yếu ớt do tổ chức Đảng ây bị Pháp khủng bbị các phần
tử AB (Anti-Bolchevik-chống Cộng sản) phá hoại. Tuy nhiên, tình hình Trung Bộ vẫn rất khác so với Nam
Bộ.
2
Báo Sự thật, số 104 (19/12/1948)-Dẫn theo: Cách mạng tháng m 1945 những sự kiện lịch sử. Nxb
KHXH, HN, 2000, trang 60.
3
Trung tâm KHXH NV QG-Viện Sử học, Cách mạng tháng Tám 1945 những sự kiện lịch sử. Nxb
KHXH, HN, 2000, trang 98.
4
S d, trang 163.
lOMoARcPSD| 61622878
Nam Bộ hết sức khó khăn. Cuối năm 1941, tuy văn kiện Hội nghị Trung ương 8 và
Chương trình, Điều lệ của Việt Minh đã được ông Nguyễn Hữu Xuyến ưa vào đến
Sài Gòn nhưng việc triển khai rất hạn chế. Liên tỉnh uỷ Miền Đông-cơ quan nhận
được tài liệu của Trung ương cũng đã bắt tay vào việc tuyên truyền cho Việt Minh
1
,
xây dựng các oàn thể cứu quốc. Tuy nhiên, công việc chưa tiến hành được bao nhiêu
thì Liên tỉnh uỷ lại tan rã do Pháp ánh phá (tháng 8/1942). Liên lạc với Trung ương
lại gián đoạn. Do vậy, thay tập trung phát ng phong trào Việt Minh như miền
ngoài, các ảng viên Nam Bộ lại phải dành sức lực cho công c khôi phục lại t
chức. Trong ó, nhiệm vụ khôi phục lại Xứ uỷ-quan lãnh đạo cao nhất của Đảng
ở Nam Bộ-luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng ầu.
Bước sang năm 1943, do sự àn áp của thực dân giảm bớt, phong trào cách
mạng Nam Bộ điều kiện hồi phục khá mạnh. Một số ảng viên vượt ngục Lài
từ tháng 3/1941 như Trần Văn Giàu, Dương Quang Đông, Nguyễn Tấn Đức…phối
hợp với các ồng chí bên ngoài đã tích cực chuẩn bị cho việc tái lập Xứ uỷ. Tháng 10
năm 1943 (từ ngày 13 đến 15), Hội nghị thành lập Xứ uỷ Nam Kỳ đã được tổ chức
tại nhà ông Hương trưởng Trần Vinh Hoài ấp Tân Thuận Bình, huyện ChGạo-
tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Hội nghị đã bầu ra Xứ uỷ mới gồm 7 ồng chí, ông
Trần Văn Giàu (không dự họp) được bầu làm Bí thư Xứ uỷ.
2
quan ngôn luận của
Xứ uỷ là tờ báo Tiền phong.
Sự kiện Xứ uỷ Nam Kỳ được tái lập đã ánh một dấu mốc quan trọng trong
quá trình khôi phục tổ chức Đảng ở miền Nam. Tuy nhiên, sự kiện này cũng dẫn đến
sự chia rẽ trong nội bộ Đảng ở nơi ây. Việc tái lập Xứ uỷ đã gặp phải sự không ồng
tình của một số ảng viên.
3
Tiếp ó, chủ trương hoạt ộng của Xứ uỷ mới cũng không
hoàn toàn thuyết phục được tất cả các ồng chí. Đây chính một trong những nguyên
nhân khiến cho Nam Bộ có thêm một Xứ uỷ thứ hai (Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ) vào
tháng 3 năm 1945, với công cụ tuyên truyền báo Giải phóng.
3
Tài liệu của Hội
nghị mở rộng Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ (Giải phóng) tháng 4/1945 cho biết mâu
thuẫn giữa hai bên đã bắt ầu từ năm 1943-1944, gây ra chánh kiến trên hai tờ báo
Giải phóng Tiền phong, thậm chí nguyền rủa nhau thậm tệ, làm tổn thương cho
Đảng, gây cho quần chúng hoang mang.
4
Mặc dù vấp phải một số trở ngại như vậy, nhưng những người lãnh đạo của
1
Công tác tuyên truyền của Liên tỉnh uỷ Miền Đông được tiến hành thông qua tờ báo Giải phóng-tờ báo của
Xứ uỷ Nam Kỳ trước ó.
2
Ban Tuyên Giáo Thành uThành phố Hồ Chí Minh-ThS Phạm Ngọc Bích (cb), Cách mạng tháng Tám
1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn Gia Định. Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2008, trang 52. Hồi ký của Bà Nguyễn Thị
Thập (từng Xứ uviên Nam Kỳ) cho biết ông Trần Văn Giàu mặt trong Hội nghị thành lập Xứ utháng
10/1943. (xem: Nguyễn Thị Thập, Từ ất Tiền Giang. Nxb Văn nghệ TP.HCM, 1986, trang 260).
3
Trong hồi
ký, Bà Nguyễn Thị Thập cho biết: khi ông Trần Văn Giàu nhờ người mời Bà tham gia Xứ uỷ mới, Bà đã từ
chối với do Xứ uỷ bị bắt gần hết, chỉ còn một ôi người, nhưng đã giải tán âu…” chỉ hứa
là sẽ thống nhất với Xứ uỷ của ông Trần Văn Giàu sau. (xem Từ ất Tiền Giang, s d, trang 260-261).
3
Trong bài này, để phân biệt, tác giả sử dụng cách gọi Xứ uỷ Nam K(Tiền phong) Xứ uỷ Nam Kỳ
(Giải phóng) như một số công trình nghiên cứu khác đã sử dụng.
4
Tài liệu Hội nghị mở rộng Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ ngày 20, 21 tháng 4 năm 1945. (In trong phần phụ lục
của sách Cách mạng tháng Tám 1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định, s d, trang 202)
lOMoARcPSD| 61622878
Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) vẫn kiên trì với ường lối đã đề ra. Chủ trương của
Xứ uỷ lúc này lãnh đạo phong trào cách mạng theo nội dung Nghquyết Trung
ương Đảng lần 6 (11/1939). Xuất phát từ nhận ịnh “Nắm nông thôn thì dễ, nắm được
Sài Gòn-Chợ Lớn i yết hầu của giặc mới là khó. Muốn nắm vững Sài GònChợ
Lớn phải nắm vững ng nhân thanh niên. Lực lượng công nhân mạnh mới
lôi kéo được các tầng lớp khác, có nắm được thanh niên mới thu hút được các tầng
lớp tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc
1
, địa bàn hoạt ộng mà Xứ uỷ ặt trọng tâm
các ô thị, quan trọng nhất Sài Gòn-Chợ Lớn. Đối tượng vận ộng các tầng lớp
trí thức, thanh niên, công chức, tiểu thương, tiểu chủ, công nhân…Trong ó, ng
nhân và thanh niên được chú trọng nhiều nhất. Để lãnh đạo công nhân chuẩn bị tiến
đến tổng khởi nghĩa, Xứ uỷ đã chủ trương thành lập Tổng Công oàn Nam Bộ. Tháng
4/1944, hội nghị thành lập Tổng Công oàn Nam Bộ được tiến hành tại nhà máy thuốc
MIC (Sài Gòn). Hội nghị đã bầu ra Ban Chấp hành Tổng Công oàn, do Hoàng
Đôn Văn m Tổng tký.
2
Cần nói thêm rằng, các nhân vật lãnh đạo Xứ uỷ Nam
Kỳ (Tiền phong) như Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trân, Dương Quang Đông…vốn
những trí thức, kinh nghiệm hoạt ộng ô thị.vậy, sở của Xứ uỷ các
thành phnhư Sài Gòn, Chợ Lớn phát triển khá nhanh. Còn ối với địa bàn nông
thôn, Xứ uỷ vẫn chú ý nhưng mức độ phần hạn chế hơn. Công tác xây dựng lực
lượng trang căn cứ địa nông thôn hầu như không áng kể. Đầu năm
1945, Xứ uỷ cũng phái cán bộ “lập chiến khu ở Biên Hoà, Chợ Lớn, Tân An, nhưng
khi nổ ra cuộc ảo chính 9/3 (Nhật ảo chính Pháp-NTT) thì các ồng chí được rút về
Sài Gòn, chỉ để lại một ngọn èn leo lét ở Tân Uyên”.
3
Tuy Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) rất nỗ lực trong quá trình khôi phục lực
lượng, chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa, nhưng cho đến ầu năm 1945, quá trình ấy vẫn
chưa em lại những kết quả rệt. Tình hình chthực sự xoay chuyển theo hướng tích
cực sau sự kiện Nhật ảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945. Với sự kiện này, Đông
Dương đã từ thuộc địa của Pháp trở thành thuộc địa của Nhật. Ngày 12/3/1945, Ban
Thường vụ Trung ương Đảng CSĐD đã ra Chỉ thị “Nhật– Pháp bắn nhau và hành
ộng của chúng ta”. Chỉ thị nêu “Sau cuộc ảo chính này, ế quốc phát xít Nhật trở
thành kẻ thù chính-kẻ thù cụ thể trước mắt – duy nhất của nhân dân Đông Dương”.
Trên sở ó, Đảng thay khẩu hiệu “Đánh uổi Nhật, Pháp” bằng khẩu hiệu “Đánh
uổi phát xít Nhật”, chủ trương phát ộng “một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh
mẽ để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”.
4
Bản Chỉ thị của Trung ương nhanh
1
Lịch sử Cách mạng tháng m 1945. Nxb CTQG, HN, 1995, trang 93-94. Dẫn theo: Cách mạng tháng Tám
1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định. S d, trang 66.
2
Cách mạng tháng Tám 1945 những sự kiện lịch sử, S d, trang 170.
3
Trần Văn Giàu, Sự phát triển củatưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám (tập 3).
Nxb TP. HCM, 1993, trang 632.
4
Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7. Nxb CTQG, HN, 2000, trang 366-367.
lOMoARcPSD| 61622878
chóng được phổ biến các tỉnh Bắc Trung bộ, làm dấy lên cao trào chống Nhật
mạnh mẽ. Song, Văn kiện này lại không đến được với Xứ uỷ Nam Kỳ.
1
Sau sự kiện ngày 9/3/1945, căn cứ vào hoàn cảnh của Nam Bộ, Xứ uỷ Nam
Kỳ (Tiền phong) nhận ịnh: tình hình sắp tới, chiến trường quyết ịnh sẽ thành
phố, hình thức ấu tranh sẽ là ấu tranh chính trị, là bạo lực chính trị.
2
Xứ uỷ đề ra
chủ trương “lợi dụng Nhật để tập hợp lực lượng cho cuộc tổng khởi nghĩa sắp tới,
góp phần làm phân hoá kẻ thù Nam Kỳ…”
3
Chủ trương này của Xứ uỷ đã gặp
thuận lợi khi Nhật đang thi hành chính sách lôi kéo các tầng lớp nhân dân Đông
Dương. Khi nghe bác Phạm Ngọc Thạch
4
báo cáo về lời đề nghị thành lập một
phong trào thanh niên thân Nhật của Ida
5
(Tổng uỷ viên thanh niên-thể dụcthể thao
của Nhật Đông Dương), Xứ uỷ đã quyết ịnh nắm lấy hội này để nhanh chóng
tập hợp lực lượng yêu nước một cách công khai. Ngày 26/5/1945, một tchức Thanh
niên, với tên gọi Thanh niên Tiền phong được thành lập. Hội ồng quản trị của
Thanh niên Tiền phong do Bác Phạm Ngọc Thạch ứng ầu, trụ sóng tại số 14
ường Charner (nay ường Nguyễn Huệ-Quận 1TP.HCM). Vdanh nghĩa, Thanh
niên Tiền phong là tổ chức hoạt ộng hợp pháp và do Nhật bảo trợ.
5
Song thực chất,
ây là tổ chức yêu nước do Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) lãnh đạo, sứ mệnh chuẩn
bị lực lượng khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ một thời gian ngắn sau khi ra đời,
Thanh niên Tiền phong đã phát triển rộng khắp. Theo Bác Phạm Ngọc Thạch thì
đến ầu tháng 7/1945, mỗi nghiệp, mỗi xóm lao ộng, mỗi công sở mỗi nhà
trường Sài Gòn –Chợ Lớn ều Thanh niên Tiền phong”.
6
Để tuyên truyền chủ
trương của Xứ uỷ, thu hút sự ủng hộ của quần chúng, tổ chức này đã nhiều hoạt
ộng như i giữ trật tự ngoài ường, dạy bình dân học vụ, i làm vệ sinh, chủng ậu trong
các xóm lao ộng, quyên tiền, gạo cứu ói ồng bào ngoài Bắc…Nhờ hoạt ộng tích cực
như vậy Thanh niên Tiền phong đã tập hợp được nhiều thành phần hội như
trí thức viên chức, thanh niên, công nhân, sinh viên, học sinh…Khi Xứ uỷ cho Tổng
Công n Nam Bộ ra hoạt ộng công khai với danh nghĩa Thanh niên Tiền phong-
Ban nghiệp, lực lượng Thanh niên Tiền phong càng mạnh thêm. Đến ầu tháng
8/1945, số lượng oàn viên ở Sài Gòn-Chợ lớn là 200.000 người. Nếu tính cả 21 tỉnh
thành Nam Bộ thì số lượng oàn viên lên tới 1.200.000 người.
7
Ngoài công tác
1
Theo GS Trần Văn Giàu-Bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ lúc bấy giờ- thì Xứ uNam Kỳ không nhận được Chỉ thị
của Trung ương. (xem: Cách mạng tháng m 1945 những sự kiện lịch sử, S d, trang 198). Thiển ý cho
rằng vấn đề này cần được nghiên cứu thêm.
2
Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, s d, trang
632.
3
Cách mạng tháng Tám 1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định, S d, trang 53.
4
Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (1909-1968) là một trí thức Tây học có tinh thần yêu nước. Ông đã dấn thân vào
hoạt ộng cách mạng và gia nhập ảng Cộng sản vào tháng 3/1945.
5
Ida từng được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch chữa bệnh nên quen thân với Bác sĩ. Ida nhờ bác sĩ Thạch vận ộng
một phong trào thanh niên thân Nhật mà không biết rằng bác sĩ Thạch đã một ảng viên Cộng sản.
5
Theo
GS Trần Văn Giàu thì từ tháng 7/1945, Nhật đã bắt ầu nghi ngờ Thanh niên Tiền phong, nhưng đã quá trễ để
có biện pháp ối phó.
6
Cách mạng tháng Tám 1945 những sự kiện lịch sử, S d, trang 242.
7
Nhiều tác giả, Sài Gòn mùa thu 1945. Nxb Công An nhân dân, 2005, trang 14-15.
lOMoARcPSD| 61622878
hội, những người lãnh đạo Thanh niên Tiền phong còn chú trọng công tác huấn luyện
chính trị huấn luyện quân sự cho oàn viên. Đây hai ng tác không thể thiếu
trong quá trình chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa. Ngày 22/8/1945, Thanh niên Tiền
phong tuyên bố tự nguyện ứng trong hàng ngũ Việt Minh.
thể nói, trong ba tháng xây dựng và phát triển, tuy mang tên Thanh niên
Tiền phong, nhưng thực tế tổ chức này là một hình thức mặt trận dân tộc thống nhất
rộng rãi. Đây một thành quả rất quan trọng trong quá trình chuẩn bị lực lượng
khởi nghĩa của Xứ uỷ Nam K(Tiền phong). Tháng 8/1945, Thanh niên Tiền phong
đã óng vai trò quyết ịnh trong tổng khởi nghĩa giành chính quyền Sài Gòn Nam
Bộ.
Ngoài Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong), trong công cuộc chuẩn bị tổng khởi
nghĩa ở Nam Bộ, không thể không nhắc đến Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ (Giải phóng)
với các nhân vật chủ chốt như Trần Văn Di, Hữu Kiều, Nguyễn Thị Thập, Hoàng
Dư Khương…
1
Xứ uỷ lâm thời (Giải phóng) chủ trương hoạt ộng theo úng ường lối
của Trung ương, dựa vào địa bàn nông thôn để phát ộng quần chúng, tập hợp công
nông để tổ chức các hội cứu quốc, tiến tới thành lập Việt Minh. Khác với sách lược
lợi dụng Nhật của Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong), Xứ uỷ lâm thời (Giải phóng) lại đề
ra quyết nghị Ra truyền ơn lấy tên Việt Minh Nam Kỳ, vạch trần chính sách Đại
Đông Á, ộc lập bánh vẽ của phát xít Nhật”.
2
Nói cách khác, Xứ uỷ Giải phóng chủ
trương phát ộng cao trào chống Nhật như ở miền ngoài.
Nhìn chung, những hoạt ộng của Xứ uỷ Nam Kỳ (Giải phóng) đã góp phần
quan trọng trong việc gây dựng lại cơ sở Đảng ở các địa phương. Thế nhưng, trong
công tác tập hợp quần chúng, Xứ uỷ Nam Kỳ (Giải phóng) lại không thu được nhiều
kết quả. Việc triển khai vận ộng trên địa bàn nông thôn, thiên về mật đã khiến cho
công tác này bị chậm, không theo kịp phong trào do Xứ uỷ Tiền phong tổ chức
các ô thị. Trong khi ó, Xứ uỷ Giải phóng lại chỉ trích chủ trương hoạt ộng công khai
của Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong), cho rằng Xứ uỷ này đã “lãnh đạo Thanh niên Tiền
phong i chệch ường lối cách mạng của Đảng”.
3
Do bất ồng về ường lối hoạt ộng nên những cuộc tiếp xúc giữa ại diện hai Xứ
uỷ để i đến thống nhất ều bất thành. Hệ quả hai Xứ uỷ vẫn tồn tại song song nhưng
vai trò i ầu trong cách mạng tháng Tám Nam Bộ thuộc về Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền
Phong).
4
Điểm qua một số sự kiện như trên, thể thấy rằng trong quá trình chuẩn bị
lực lượng khởi nghĩa, ặc biệt sau sự kiện ngày 9/3/1945, Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền
1
Hội nghị thành lập Xứ uỷ Nam Kỳ (Giải phóng) họp tại Xoài Hột, Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền
Giang) vào ngày 20/3/1945.
2
Biên bản cuộc Hội nghị Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ 25/3/1945 (In trong phần phụ lục của sách Cách mạng
tháng Tám 1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định, s d trang 188).
3
Thông báo số 5 (20/5/1945) của Thường vụ lâm thời Xứ uỷ Nam Kỳ. (In trong phần phụ lục của sách Cách
mạng tháng Tám 1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định, s d trang 204).
4
Các tác giả sách Cách mạng tháng Tám 1945 những sự kiện lịch sử nhận ịnh: “…hoạt ộng của Xứ uỷ
(Giải phóng) chỉ giới hạn trong phạm vi hạn chế. Việc chuẩn bị giành chính quyền ở Sài Gòn và Nam Bộ
chủ yếu là do Xứ uỷ (Tiền phong) tổ chức”. (s d, trang 386)
lOMoARcPSD| 61622878
phong) đã những bước i khác với cách Trung ương Đảng Tổng bộ Việt
Minh đang thực hiện ở miền ngoài. Những bước i ấy cũng khác với chủ trương của
một số ảng viên thuộc Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ (Giải phóng). Một trong những biểu
hiện rệt của sự khác biệt ó là ối sách trước quân Nhật, lúc này đã “kẻ thù chính”
của nhân dân Đông Dương. Trong khi Trung ương Đảng Tổng bộ Việt Minh phát
ộng cao trào chống Nhật quyết liệt (nhất làBắc Bộ) thìNam Bộ, Xứ uỷ lại chủ
trương lợi dụng chính sách của Nhật để xây dựng lực lượng chính trị. Ở ây, vấn đề
không phải Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) cố tình i ngược với chủ trương của Trung
ương Đảng do Xứ uỷ căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của Nam Bộ. Tình thế đang
trở nên hết sức cấp bách nhưng phong trào Việt Minh Nam Bộ quá yếu ớt. Muốn
nhanh chóng tập hợp mọi tầng lớp nhân n để chớp thời giành chính quyền,
không ch nào tốt hơn là xây dựng một phong trào công khai ngay các ô thị. Chưa
kể, sau khi Nhật lật Pháp, các tổ chức chính trị giáo phái thân Nhật như Phục
Quốc
1
, Cao Đài, Hoà Hảo càng hoạt ộng mạnh để tranh thủ quần chúng. Giữa các
tổ chức, giáo phái này lại sự liên hệ với nhau.
2
Nó làm cho bức tranh chính trị
Nam Bộ pha nhiều màu sắc và cũng hết sức phức tạp. Cho nên, phải có một tổ chức
công khai như Thanh niên Tiền phong do Xứ uỷ lãnh đạo mới ủ khả năng kéo quần
chúng về phía cách mạng. Để thực hiện mục tiêu ó thì không thể phát ộng ngay
phong trào chống Nhật. vậy, Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) mới chủ trương lợi
dụng chính sách của Nhật chứ không phải từ bỏ ường lối chánh trị của Trung
ương Đảng” như Xứ uỷ Nam Kỳ (Giải phóng) đã phê phán.
3
Nét khác biệt kế tiếp Nam Bộ trong quá trình chuẩn bị lực ợng ó là, Xứ
uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) không tập trung vào công tác xây dựng căn cứ địa và lực
lượng trang du kích. lẽ ó, Nam Bộ hầu như không phát ộng chiến tranh du
kích và khởi nghĩa từng phần để tiến tới tổng khởi nghĩa như Bắc Bộ. GS Trần Văn
Giàu (Bí tXứ uỷ Nam Kỳ lúc bấy giời) cũng khẳng ịnh Trong Nam không
chủ trương làm chiến tranh du kích, khởi nghĩa từng phần tập trung sức vào
phong trào ấu tranh chính trị”.
4
Cũng vì vậy mà công tác chuẩn bị khởi nghĩa ở ây
không tập trung vào địa bàn nông thôn. Không phải địa bàn nông thôn không quan
trọng. Vấn đề chỗ, nếu lúc này tập trung gây dựng phong trào nông thôn
thì sẽ không theo kịp chuyển biến của thời cuộc. Tình thế trước mắt đã khiến cho
Xứ uỷ Tiền phong phải dành ưu tiên cho địa bàn ô thị hơn là nông thôn.
1
Tên gọi tắt của Việt Nam Phục quốc Đồng minh hội do Hoàng thân Cường Để lập ra tại Thượng Hải (Trung
Quốc) tháng 3/1939.
2
Trong sách The Struggle for Indochina (Stanford University Press, California, 1954, trang 51) Ellen
J.Hammer cho biết : “một nhánh của Phục quốc đã được tổ chức dưới sự bảo trợ của Nhật tại Nam Kỳ ngay
trong chế độ của Decoux vàđược hai tổ chức tôn giáo-chính trị ở phía Nam-Cao Đài và Hoà Hảo tham
gia”. (nguyên văn: A branch of the Phuc Quoc had been organized under Japanese auspices in Cochin China
during the Decoux regime and it was joined by two political-religious sects in the South-the Cao Dai and the
Hoa Hao).
3
Thông báo số 5 (20/5/1945) của Thường vụ lâm thời Xứ uỷ Nam Kỳ, Tl d, trang 204.
4
Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, s d, trang
636.
lOMoARcPSD| 61622878
Khi nói đến địa n ô thị trong công cuộc chuẩn bị lực ợng khởi nghĩa
Nam Bộ, không thể không nói đến vai trò ầu tàu của Sài Gòn-Chợ Lớn. Đây là ô thị
quan trọng hàng ầu của xứ Đông Dương thuộc Pháp. Phong trào ấu tranh công khai
Sài gòn đã cả một quá trình, bắt ầu từ phong trào òi tự do, dân chủ trong những
năm 20. Vì vậy, khi Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) chọn nơi ây làm trung tâm để tập
hợp lực lượng, Xứ uỷ đã thu được kết quả rất nhanh. Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa
ở Sài Gòn –Chợ Lớn đãsức lan toả ra khắp các địa phương ở Nam Bộ, tạo thành
một làn sóng tiền khởi nghĩa rất sôi nổi. Đây cũng một nét riêng của Sài Gòn-Chợ
Lớn so với các ô thị khác trong cả nước.
Ngoài các vấn đề nêu trên, công cuộc chuẩn blực lượng Nam Bộ còn
một iểm áng chú ý, ó Xứ uỷ đã tận dụng hoàn cảnh khách quan thuận lợi một cách
nhanh nhạy, úng thời iểm. Việc lợi dụng chính sách của Nhật để xây dựng Thanh
niên Tiền phong “chỉ có thể áp dụng khi Nhật sắp thua; nếu áp dụng lúc Nhật còn
hùm hổ thì chỉ có thể làm lợi cho kẻ i xâm lược; trái lại, sau 9/3/1945, ở Sài Gòn, ở
Nam Kỳ không dùng chiến thuật Thanh niên Tiền phong uyển chuyển, sáng tạo
thì không có tổng khởi nghĩa ây, mà không có tổng khởi nghĩa ở Sài Gòn và Nam
Bộ thì cách mạng tháng 8-1945 sẽ ụng phải những khó khăn khó lường trước”.
1
thể nói, thời khách quan để phát triển lực lượng cách mạng Nam Bộ ý nghĩa
quan trọng không kém thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Kết luận
Trong khoảng thời gian từ 23/8 đến 28/8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành
chính quyền ở Sài Gòn và Nam Bộ đã thành công trọn vẹn. Tính từ khi Xứ uỷ Nam
Kỳ (Tiền phong) bắt tay xây dựng Thanh niên Tiền phong đến khi tổng khởi nghĩa
thắng lợi, thời gian chỉ khoảng 3 tháng. Đây là giai đoạn mà những điều kiện khách
quan thuận lợi trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Song, nếu lực lượng cách mạng không
chuẩn bị kịp thì điều kiện thuận lợi ấy sẽ thành nghĩa. Đặt trong hoàn cảnh cụ thể
của Nam bộ từ sau Nam Kỳ khởi nghĩa trở i, chúng ta mới thấy hết ý nghĩa trong
ường lối xây dựng lực lượng mà Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) đã đề ra. Xứ uỷ Nam
Kỳ (Tiền phong) đã mạnh dạn, sáng tạo trong công tác chuẩn bị khởi nghĩa sao cho
phù hợp với thực tế của Nam Bộ, chứ không máy móc m theo chủ trương của
Trung ương như Xứ uNam Kỳ (Giải phóng). vậy, Xứ uỷ Tiền phong đã xây
dựng được một lực lượng chính trị hùng hậu trong khoảng thời gian cùng gấp
gáp. Nếu Xứ uỷ không thành công trong công tác chuẩn bị này thì không thể có tổng
khởi nghĩa ở Nam Bộ.
Nhìn lại quyết ịnh của các nhân vật lãnh đạo Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong)
trong những ngày lịch sử 1945, chúng ta thấy ó những bài học ng giá về sự sáng
tạo, dám nghĩ dám làm. Những bài học ấy cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, s d, trang
650.
lOMoARcPSD| 61622878
1. Ban Tuyên giáo Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh, Cách mạng tháng Tám
1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định, Nxb Tổng hợp TP HCM, 2008.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (1940-1945), Nxb
Chính trị Quốc gia, HN, 2000.
3. GS Trần n Giàu, Sự phát triển của tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến
Cách mạng tháng tám, tập III: Thành công của Chủ nghĩa Mác-Lênin-
tưởng Hồ Chí Minh, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1993.
4. Hammer, Ellen J., The struggle for Indochina, Standford University Press,
California, 1954.
5. Nguyễn Thị Thập, Từ ất Tiền Giang (hồi ký-Đoàn Giỏi ghi), Nxb Văn Nghệ
TP HCM, 1986,
6. Nhiều tác giả, Sài Gòn mùa thu 1945, Nxb Công An Nhân dân, 2005.
7. Trung tâm KHXH NV Quốc gia-Viện sử học, Cách mạng tháng Tám 1945
những sự kiện lịch sử, Nxb Khoa học xã hội, HN, 2000.
8. Viện Lịch sử Đảng, Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, Nxb Sự thật, HN,
1985.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61622878
VẤN ĐỀ CHUẨN BỊ LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG TIẾN TỚI TỔNG
KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM 1945 Ở NAM BỘ
Nguyễn Thanh Tiến1
Tháng Tám 1945, lực lượng cách mạng ở Nam Bộ, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của
Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong), đã tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.
Cuộc khởi nghĩa diễn ra trong thời gian ngắn và nhanh chóng thu được thắng lợi. Sau hơn
tám thập kỉ bị thực dân thống trị, người dân nơi ây đã thoát khỏi thân phận nô lệ, giành lại
quyền làm chủ ất nước. Cần nói thêm rằng Nam Bộ là một thực thể có vị trí rất quan trọng
trong xứ Đông Dương thuộc Pháp. Chính vì vậy, sự thành công của khởi nghĩa tháng Tám
ở nơi ây có tác ộng rất tích cực ối với cách mạng trong phạm vi cả nước.

Đối với các cuộc cách mạng nói chung, nếu muốn ảm bảo thắng lợi thì công cuộc
chuẩn bị (Tuyên truyền, tổ chức quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang, xây
dựng căn cứ địa…) có vai trò rất quan trọng. Nếu không có sự chuẩn bị ấy thì khi thời cơ
đến, lực lượng cách mạng sẽ khó có thể tận dụng để vùng dậy giành chính quyền. Ở trường
hợp của Nam Bộ, tính đến tháng 3/1945 (khi Nhật ảo chính Pháp), lực lượng cách mạng ở
ây vẫn chưa chuẩn bị xong. Nói cách khác, những yếu tố cần thiết để khởi nghĩa giành
chính quyền vẫn chưa hội tụ ầy ủ ở Nam Bộ khi mà thời cơ đã đến rất gần. Thế nhưng, chỉ
5 tháng sau (8/1945), Nam Bộ vẫn kịp ứng lên giành chính quyền cùng với nhân dân cả
nước. Vì sao lại có hiện tượng như vậy? Bài tham luận này sẽ góp phần làm sáng tỏ một
vài khía cạnh của vấn đề nói trên qua việc tìm hiểu công cuộc chuẩn bị lực lượng khởi
nghĩa ở Nam Bộ. Đồng thời, người viết cũng xem xét những yếu tố chủ quan cũng như
khách quan có tác ộng đến công cuộc chuẩn bị này.
*** 1.
Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng và
Mặt trận Việt Minh sau Hội nghị trung ương 8 (5/1941)
Có thể nói, trong cuộc vận ộng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản Đông
Dương đã xem việc xây dựng lực lượng cách mạng là nhiệm vụ trọng tâm. Sau Hội
nghị trung ương Đảng lần 8 (5/1941), với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, công
cuộc xây dựng lực lượng cách mạng được tiến hành rất tích cực ở nhiều địa phương.
Hàng loạt các tổ chức quần chúng yêu nước (các “Hội Cứu quốc”) thuộc Mặt trận
Việt Minh ra đời. Thông qua các tổ chức này, Đảng đã tuyên truyền trong nhân dân
về nhiệm vụ giải phóng dân tộc, về các bước phải chuẩn bị để tiến tới tổng khởi
nghĩa…Mục tiêu của Đảng và Mặt trận Việt Minh là phát triển một lực lượng chính
trị rộng lớn để làm hậu thuẫn cho cách mạng. Bên cạnh ó, xuất phát từ nhận ịnh
“Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang”23
của trung ương Đảng, vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng
cũng rất được chú trọng. Các ội quân du kích (các ội Cứu quốc quân) lần lượt được
thành lập, tạo tiền đề cho sự ra đời của ội quân giải phóng về sau. Công tác xây dựng
các căn cứ địa cũng được xúc tiến dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Từ
1 Khoa Lịch sử-Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
2 Nghị quyết Hội nghị trung ương Đảng lần 8 (Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, nxb CTQG, HN, 2000, trang 3 ) lOMoAR cPSD| 61622878
căn cứ địa ban ầu (căn cứ Cao Bằng-ra đời ầu năm 1941), Đảng đã quyết ịnh mở
rộng thành căn cứ địa Việt Bắc để làm chỗ dựa cho sự phát triển của cách mạng.
Kết quả của quá trình chuẩn bị nói trên là lực lượng cách mạng ngày càng lớn
mạnh. Gần 4 năm sau Hội nghị Trung ương 8 (tính đến tháng 3 năm 1945), lực lượng
chính trị phát triển ở cả nông thôn và thành thị. Lực lượng vũ trang, tuy chưa thực
sự hoàn thiện, song cũng ảm ương được vai trò hỗ trợ cho phong trào ấu tranh của
quần chúng. Khi thời cơ xuất hiện, về cơ bản, lực lượng cách mạng đã ở trong tư thế
sẵn sàng nổi dậy giành lại nền ộc lập.
Tuy nhiên, có một thực tế phải ghi nhận là, những chủ trương của Đảng và
Mặt trận Việt Minh về chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa chỉ được thực hiện và em lại
kết quả ở Bắc Bộ.1 Còn ở Nam Bộ, do nhiều lí do khác nhau, chủ trương này đã
không được triển khai (và trong một chừng mực nào ó, có thể nói là không có điều
kiện để triển khai) một cách ầy ủ. Điều ó dẫn đến hệ quả là công cuộc chuẩn bị cho
cách mạng giải phóng dân tộc ở nơi ây mang nhiều nét khác biệt so với phần còn lại của cả nước. 2.
Xứ uỷ Nam Kỳ và công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi
nghĩa giành chính quyền
Như đã đề cập ở trên, từ sau Hội nghị Trung ương 8, công cuộc chuẩn bị khởi
nghĩa giành chính quyền được Đảng và Mặt trận Việt Minh xúc tiến mạnh mẽ ở Bắc
(và phần nào ở Trung bộ). Song, quá trình ó lại diễn ra chậm chạp và ầy trắc trở trên
ất phương Nam. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là sự tổn thất
quá nặng nề của lực lượng cách mạng ở Nam Bộ sau cuộc khởi nghĩa tháng 11 năm
1940. Trước sự àn áp khốc liệt của thực dân Pháp, “hệ thống tổ chức Đảng từ cấp
xứ đến cấp cơ sở bị phá vỡ gần hết. Bốn Liên tỉnh uỷ, 14 Tỉnh uỷ, Ban cán sự bị xoá
sổ hoặc tê liệt, hai Bí thư Xứ uỷ, một Bí thư Thành uỷ bị xử tử. Toàn Nam Kỳ mất tới
90% cán bộ cách mạng”
2. Liên lạc giữa Trung ương và Đảng bộ Nam Kỳ có lúc bị
cắt ứt. Vì thế, “Nghị quyết của Trung ương về xây dựng Mặt trận Việt Minh đến
Nam Kỳ bị chậm”
3 Trong khoảng thời gian từ tháng 11/1941 đến tháng 10/1943, Xứ
uỷ Nam Kỳ thực tế không còn tồn tại.4 Lúc này, một số ảng viên thoát khỏi sự truy
bắt của Pháp vẫn cố gắng hoạt ộng để gây dựng lại cơ sở Đảng. Kết quả là, từ giữa
năm 1941 trở i, các Liên tỉnh uỷ Miền Tây, Liên tỉnh uỷ Miền Đông… lần lượt được
thành lập. Song, do chính quyền thực dân vẫn đang khủng bố gay gắt nên hoạt ộng
của các cơ quan này bị gián đoạn, thậm chí có lúc tổ chức bị phá vỡ. Đó là chưa kể
đến tình trạng phân tán, thiếu thống nhất trong hành ộng của một số nhóm ảng viên.
Do hoàn cảnh ngặt nghèo như vậy cho nên các chỉ thị của Trung ương Đảng đến với
1 Phong trào Việt Minh ở Trung Bộ cũng rất yếu ớt do tổ chức Đảng ở ây bị Pháp khủng bố và bị các phần
tử AB (Anti-Bolchevik-chống Cộng sản) phá hoại. Tuy nhiên, tình hình ở Trung Bộ vẫn rất khác so với Nam Bộ.
2 Báo Sự thật, số 104 (19/12/1948)-Dẫn theo: Cách mạng tháng Tám 1945 những sự kiện lịch sử. Nxb KHXH, HN, 2000, trang 60.
3 Trung tâm KHXH và NV QG-Viện Sử học, Cách mạng tháng Tám 1945 những sự kiện lịch sử. Nxb KHXH, HN, 2000, trang 98. 4 S d, trang 163. lOMoAR cPSD| 61622878
Nam Bộ hết sức khó khăn. Cuối năm 1941, tuy văn kiện Hội nghị Trung ương 8 và
Chương trình, Điều lệ của Việt Minh đã được ông Nguyễn Hữu Xuyến ưa vào đến
Sài Gòn nhưng việc triển khai rất hạn chế. Liên tỉnh uỷ Miền Đông-cơ quan nhận
được tài liệu của Trung ương cũng đã bắt tay vào việc tuyên truyền cho Việt Minh1,
xây dựng các oàn thể cứu quốc. Tuy nhiên, công việc chưa tiến hành được bao nhiêu
thì Liên tỉnh uỷ lại tan rã do Pháp ánh phá (tháng 8/1942). Liên lạc với Trung ương
lại gián đoạn. Do vậy, thay vì tập trung phát ộng phong trào Việt Minh như ở miền
ngoài, các ảng viên ở Nam Bộ lại phải dành sức lực cho công tác khôi phục lại tổ
chức. Trong ó, nhiệm vụ khôi phục lại Xứ uỷ-cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng
ở Nam Bộ-luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng ầu.
Bước sang năm 1943, do sự àn áp của thực dân giảm bớt, phong trào cách
mạng ở Nam Bộ có điều kiện hồi phục khá mạnh. Một số ảng viên vượt ngục Tà Lài
từ tháng 3/1941 như Trần Văn Giàu, Dương Quang Đông, Nguyễn Tấn Đức…phối
hợp với các ồng chí bên ngoài đã tích cực chuẩn bị cho việc tái lập Xứ uỷ. Tháng 10
năm 1943 (từ ngày 13 đến 15), Hội nghị thành lập Xứ uỷ Nam Kỳ đã được tổ chức
tại nhà ông Hương trưởng Trần Vinh Hoài ở ấp Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo-
tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Hội nghị đã bầu ra Xứ uỷ mới gồm 7 ồng chí, ông
Trần Văn Giàu (không dự họp) được bầu làm Bí thư Xứ uỷ.2 Cơ quan ngôn luận của
Xứ uỷ là tờ báo Tiền phong.
Sự kiện Xứ uỷ Nam Kỳ được tái lập đã ánh một dấu mốc quan trọng trong
quá trình khôi phục tổ chức Đảng ở miền Nam. Tuy nhiên, sự kiện này cũng dẫn đến
sự chia rẽ trong nội bộ Đảng ở nơi ây. Việc tái lập Xứ uỷ đã gặp phải sự không ồng
tình của một số ảng viên.3 Tiếp ó, chủ trương hoạt ộng của Xứ uỷ mới cũng không
hoàn toàn thuyết phục được tất cả các ồng chí. Đây chính là một trong những nguyên
nhân khiến cho Nam Bộ có thêm một Xứ uỷ thứ hai (Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ) vào
tháng 3 năm 1945, với công cụ tuyên truyền là báo Giải phóng.3 Tài liệu của Hội
nghị mở rộng Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ (Giải phóng) tháng 4/1945 cho biết mâu
thuẫn giữa hai bên đã bắt ầu từ năm 1943-1944, “gây ra chánh kiến trên hai tờ báo
Giải phóng và Tiền phong, thậm chí nguyền rủa nhau thậm tệ, làm tổn thương cho
Đảng, gây cho quần chúng hoang mang.
”4
Mặc dù vấp phải một số trở ngại như vậy, nhưng những người lãnh đạo của
1 Công tác tuyên truyền của Liên tỉnh uỷ Miền Đông được tiến hành thông qua tờ báo Giải phóng-tờ báo của
Xứ uỷ Nam Kỳ trước ó.
2 Ban Tuyên Giáo Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh-ThS Phạm Ngọc Bích (cb), Cách mạng tháng Tám
1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định.
Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2008, trang 52. Hồi ký của Bà Nguyễn Thị
Thập (từng là Xứ uỷ viên Nam Kỳ) cho biết ông Trần Văn Giàu có mặt trong Hội nghị thành lập Xứ uỷ tháng
10/1943. (xem: Nguyễn Thị Thập, Từ ất Tiền Giang. Nxb Văn nghệ TP.HCM, 1986, trang 260). 3 Trong hồi
ký, Bà Nguyễn Thị Thập cho biết: khi ông Trần Văn Giàu nhờ người mời Bà tham gia Xứ uỷ mới, Bà đã từ
chối với lí do Xứ uỷ cũ dù bị bắt gần hết, dù chỉ còn một ôi người, nhưng đã giải tán âu…” và chỉ hứa
là sẽ thống nhất với Xứ uỷ của ông Trần Văn Giàu sau. (xem Từ ất Tiền Giang, s d, trang 260-261).
3 Trong bài này, để phân biệt, tác giả sử dụng cách gọi Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong)Xứ uỷ Nam Kỳ
(Giải phóng)
như một số công trình nghiên cứu khác đã sử dụng.
4 Tài liệu Hội nghị mở rộng Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ ngày 20, 21 tháng 4 năm 1945. (In trong phần phụ lục
của sách Cách mạng tháng Tám 1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định, s d, trang 202) lOMoAR cPSD| 61622878
Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) vẫn kiên trì với ường lối đã đề ra. Chủ trương của
Xứ uỷ lúc này là lãnh đạo phong trào cách mạng theo nội dung Nghị quyết Trung
ương Đảng lần 6 (11/1939). Xuất phát từ nhận ịnh “Nắm nông thôn thì dễ, nắm được
Sài Gòn-Chợ Lớn nơi yết hầu của giặc mới là khó. Muốn nắm vững Sài GònChợ
Lớn phải nắm vững công nhân và thanh niên. Lực lượng công nhân có mạnh mới
lôi kéo được các tầng lớp khác, có nắm được thanh niên mới thu hút được các tầng
lớp tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc
”1, địa bàn hoạt ộng mà Xứ uỷ ặt trọng tâm là
các ô thị, quan trọng nhất là Sài Gòn-Chợ Lớn. Đối tượng vận ộng là các tầng lớp
trí thức, thanh niên, công chức, tiểu thương, tiểu chủ, công nhân…Trong ó, công
nhân và thanh niên được chú trọng nhiều nhất. Để lãnh đạo công nhân chuẩn bị tiến
đến tổng khởi nghĩa, Xứ uỷ đã chủ trương thành lập Tổng Công oàn Nam Bộ. Tháng
4/1944, hội nghị thành lập Tổng Công oàn Nam Bộ được tiến hành tại nhà máy thuốc
lá MIC (Sài Gòn). Hội nghị đã bầu ra Ban Chấp hành Tổng Công oàn, do Hoàng
Đôn Văn làm Tổng thư ký.2 Cần nói thêm rằng, các nhân vật lãnh đạo Xứ uỷ Nam
Kỳ (Tiền phong) như Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trân, Dương Quang Đông…vốn
là những trí thức, có kinh nghiệm hoạt ộng ở ô thị. Vì vậy, cơ sở của Xứ uỷ ở các
thành phố như Sài Gòn, Chợ Lớn phát triển khá nhanh. Còn ối với địa bàn nông
thôn, Xứ uỷ vẫn chú ý nhưng ở mức độ có phần hạn chế hơn. Công tác xây dựng lực
lượng vũ trang và căn cứ địa ở nông thôn hầu như không có gì áng kể. Đầu năm
1945, Xứ uỷ cũng phái cán bộ “lập chiến khu ở Biên Hoà, Chợ Lớn, Tân An, nhưng
khi nổ ra cuộc ảo chính 9/3 (Nhật ảo chính Pháp-NTT) thì các ồng chí được rút về
Sài Gòn, chỉ để lại một ngọn èn leo lét ở Tân Uyên”
.3
Tuy Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) rất nỗ lực trong quá trình khôi phục lực
lượng, chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa, nhưng cho đến ầu năm 1945, quá trình ấy vẫn
chưa em lại những kết quả rõ rệt. Tình hình chỉ thực sự xoay chuyển theo hướng tích
cực sau sự kiện Nhật ảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945. Với sự kiện này, Đông
Dương đã từ thuộc địa của Pháp trở thành thuộc địa của Nhật. Ngày 12/3/1945, Ban
Thường vụ Trung ương Đảng CSĐD đã ra Chỉ thị “Nhật– Pháp bắn nhau và hành
ộng của chúng ta”.
Chỉ thị nêu rõ “Sau cuộc ảo chính này, ế quốc phát xít Nhật trở
thành kẻ thù chính-kẻ thù cụ thể trước mắt – duy nhất của nhân dân Đông Dương”
.
Trên cơ sở ó, Đảng thay khẩu hiệu “Đánh uổi Nhật, Pháp” bằng khẩu hiệu “Đánh
uổi phát xít Nhật”, chủ trương phát ộng “một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh
mẽ để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa”.
4 Bản Chỉ thị của Trung ương nhanh
1 Lịch sử Cách mạng tháng Tám 1945. Nxb CTQG, HN, 1995, trang 93-94. Dẫn theo: Cách mạng tháng Tám
1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định.
S d, trang 66.
2 Cách mạng tháng Tám 1945 những sự kiện lịch sử, S d, trang 170.
3 Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám (tập 3). Nxb TP. HCM, 1993, trang 632.
4 Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7. Nxb CTQG, HN, 2000, trang 366-367. lOMoAR cPSD| 61622878
chóng được phổ biến ở các tỉnh Bắc và Trung bộ, làm dấy lên cao trào chống Nhật
mạnh mẽ. Song, Văn kiện này lại không đến được với Xứ uỷ Nam Kỳ.1
Sau sự kiện ngày 9/3/1945, căn cứ vào hoàn cảnh của Nam Bộ, Xứ uỷ Nam
Kỳ (Tiền phong) nhận ịnh: “tình hình sắp tới, chiến trường quyết ịnh sẽ là thành
phố, hình thức ấu tranh sẽ là ấu tranh chính trị, là bạo lực chính trị
”.2 Xứ uỷ đề ra
chủ trương “lợi dụng Nhật để tập hợp lực lượng cho cuộc tổng khởi nghĩa sắp tới,
góp phần làm phân hoá kẻ thù ở Nam Kỳ…”
3 Chủ trương này của Xứ uỷ đã gặp
thuận lợi khi Nhật đang thi hành chính sách lôi kéo các tầng lớp nhân dân ở Đông
Dương. Khi nghe bác sĩ Phạm Ngọc Thạch4 báo cáo về lời đề nghị thành lập một
phong trào thanh niên thân Nhật của Ida5 (Tổng uỷ viên thanh niên-thể dụcthể thao
của Nhật ở Đông Dương), Xứ uỷ đã quyết ịnh nắm lấy cơ hội này để nhanh chóng
tập hợp lực lượng yêu nước một cách công khai. Ngày 26/5/1945, một tổ chức Thanh
niên, với tên gọi là Thanh niên Tiền phong được thành lập. Hội ồng quản trị của
Thanh niên Tiền phong do Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ứng ầu, trụ sở óng tại số 14
ường Charner (nay là ường Nguyễn Huệ-Quận 1TP.HCM). Về danh nghĩa, Thanh
niên Tiền phong là tổ chức hoạt ộng hợp pháp và do Nhật bảo trợ.5 Song thực chất,
ây là tổ chức yêu nước do Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) lãnh đạo, có sứ mệnh chuẩn
bị lực lượng khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ một thời gian ngắn sau khi ra đời,
Thanh niên Tiền phong đã phát triển rộng khắp. Theo Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thì
“ đến ầu tháng 7/1945, mỗi xí nghiệp, mỗi xóm lao ộng, mỗi công sở và mỗi nhà
trường ở Sài Gòn –Chợ Lớn ều có Thanh niên Tiền phong”.
6 Để tuyên truyền chủ
trương của Xứ uỷ, thu hút sự ủng hộ của quần chúng, tổ chức này đã có nhiều hoạt
ộng như i giữ trật tự ngoài ường, dạy bình dân học vụ, i làm vệ sinh, chủng ậu trong
các xóm lao ộng, quyên tiền, gạo cứu ói ồng bào ngoài Bắc…Nhờ hoạt ộng tích cực
như vậy mà Thanh niên Tiền phong đã tập hợp được nhiều thành phần xã hội như
trí thức viên chức, thanh niên, công nhân, sinh viên, học sinh…Khi Xứ uỷ cho Tổng
Công oàn Nam Bộ ra hoạt ộng công khai với danh nghĩa Thanh niên Tiền phong-
Ban xí nghiệp, lực lượng Thanh niên Tiền phong càng mạnh thêm. Đến ầu tháng
8/1945, số lượng oàn viên ở Sài Gòn-Chợ lớn là 200.000 người. Nếu tính cả 21 tỉnh
thành Nam Bộ thì số lượng oàn viên lên tới 1.200.000 người.7 Ngoài công tác xã
1 Theo GS Trần Văn Giàu-Bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ lúc bấy giờ- thì Xứ uỷ Nam Kỳ không nhận được Chỉ thị
của Trung ương. (xem: Cách mạng tháng Tám 1945 những sự kiện lịch sử, S d, trang 198). Thiển ý cho
rằng vấn đề này cần được nghiên cứu thêm.
2 Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, s d, trang 632.
3 Cách mạng tháng Tám 1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định, S d, trang 53.
4 Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (1909-1968) là một trí thức Tây học có tinh thần yêu nước. Ông đã dấn thân vào
hoạt ộng cách mạng và gia nhập ảng Cộng sản vào tháng 3/1945.
5 Ida từng được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch chữa bệnh nên quen thân với Bác sĩ. Ida nhờ bác sĩ Thạch vận ộng
một phong trào thanh niên thân Nhật mà không biết rằng bác sĩ Thạch đã là một ảng viên Cộng sản. 5 Theo
GS Trần Văn Giàu thì từ tháng 7/1945, Nhật đã bắt ầu nghi ngờ Thanh niên Tiền phong, nhưng đã quá trễ để có biện pháp ối phó.
6 Cách mạng tháng Tám 1945 những sự kiện lịch sử, S d, trang 242.
7 Nhiều tác giả, Sài Gòn mùa thu 1945. Nxb Công An nhân dân, 2005, trang 14-15. lOMoAR cPSD| 61622878
hội, những người lãnh đạo Thanh niên Tiền phong còn chú trọng công tác huấn luyện
chính trị và huấn luyện quân sự cho oàn viên. Đây là hai công tác không thể thiếu
trong quá trình chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa. Ngày 22/8/1945, Thanh niên Tiền
phong tuyên bố tự nguyện ứng trong hàng ngũ Việt Minh.
Có thể nói, trong ba tháng xây dựng và phát triển, tuy mang tên là Thanh niên
Tiền phong, nhưng thực tế tổ chức này là một hình thức mặt trận dân tộc thống nhất
rộng rãi. Đây là một thành quả rất quan trọng trong quá trình chuẩn bị lực lượng
khởi nghĩa của Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong). Tháng 8/1945, Thanh niên Tiền phong
đã óng vai trò quyết ịnh trong tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và Nam Bộ.
Ngoài Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong), trong công cuộc chuẩn bị tổng khởi
nghĩa ở Nam Bộ, không thể không nhắc đến Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ (Giải phóng)
với các nhân vật chủ chốt như Trần Văn Di, Lê Hữu Kiều, Nguyễn Thị Thập, Hoàng
Dư Khương…1 Xứ uỷ lâm thời (Giải phóng) chủ trương hoạt ộng theo úng ường lối
của Trung ương, dựa vào địa bàn nông thôn để phát ộng quần chúng, tập hợp công
nông để tổ chức các hội cứu quốc, tiến tới thành lập Việt Minh. Khác với sách lược
lợi dụng Nhật của Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong), Xứ uỷ lâm thời (Giải phóng) lại đề
ra quyết nghị “Ra truyền ơn lấy tên Việt Minh Nam Kỳ, vạch trần chính sách Đại
Đông Á, ộc lập bánh vẽ của phát xít Nhật
”.2 Nói cách khác, Xứ uỷ Giải phóng chủ
trương phát ộng cao trào chống Nhật như ở miền ngoài.
Nhìn chung, những hoạt ộng của Xứ uỷ Nam Kỳ (Giải phóng) đã góp phần
quan trọng trong việc gây dựng lại cơ sở Đảng ở các địa phương. Thế nhưng, trong
công tác tập hợp quần chúng, Xứ uỷ Nam Kỳ (Giải phóng) lại không thu được nhiều
kết quả. Việc triển khai vận ộng trên địa bàn nông thôn, thiên về bí mật đã khiến cho
công tác này bị chậm, không theo kịp phong trào do Xứ uỷ Tiền phong tổ chức ở
các ô thị. Trong khi ó, Xứ uỷ Giải phóng lại chỉ trích chủ trương hoạt ộng công khai
của Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong), cho rằng Xứ uỷ này đã “lãnh đạo Thanh niên Tiền
phong i chệch ường lối cách mạng của Đảng”.
3
Do bất ồng về ường lối hoạt ộng nên những cuộc tiếp xúc giữa ại diện hai Xứ
uỷ để i đến thống nhất ều bất thành. Hệ quả là hai Xứ uỷ vẫn tồn tại song song nhưng
vai trò i ầu trong cách mạng tháng Tám ở Nam Bộ thuộc về Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền Phong).4
Điểm qua một số sự kiện như trên, có thể thấy rằng trong quá trình chuẩn bị
lực lượng khởi nghĩa, ặc biệt là sau sự kiện ngày 9/3/1945, Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền
1 Hội nghị thành lập Xứ uỷ Nam Kỳ (Giải phóng) họp tại Xoài Hột, Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) vào ngày 20/3/1945.
2 Biên bản cuộc Hội nghị Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ 25/3/1945 (In trong phần phụ lục của sách Cách mạng
tháng Tám 1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định,
s d trang 188).
3 Thông báo số 5 (20/5/1945) của Thường vụ lâm thời Xứ uỷ Nam Kỳ. (In trong phần phụ lục của sách Cách
mạng tháng Tám 1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định,
s d trang 204).
4 Các tác giả sách Cách mạng tháng Tám 1945 những sự kiện lịch sử nhận ịnh: “…hoạt ộng của Xứ uỷ
(Giải phóng) chỉ giới hạn trong phạm vi hạn chế. Việc chuẩn bị giành chính quyền ở Sài Gòn và Nam Bộ
chủ yếu là do Xứ uỷ (Tiền phong) tổ chức”. (s d, trang 386) lOMoAR cPSD| 61622878
phong) đã có những bước i khác với cách mà Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt
Minh đang thực hiện ở miền ngoài. Những bước i ấy cũng khác với chủ trương của
một số ảng viên thuộc Xứ uỷ lâm thời Nam Kỳ (Giải phóng). Một trong những biểu
hiện rõ rệt của sự khác biệt ó là ối sách trước quân Nhật, lúc này đã là “kẻ thù chính”
của nhân dân Đông Dương. Trong khi Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh phát
ộng cao trào chống Nhật quyết liệt (nhất là ở Bắc Bộ) thì ở Nam Bộ, Xứ uỷ lại chủ
trương lợi dụng chính sách của Nhật để xây dựng lực lượng chính trị. Ở ây, vấn đề
không phải là Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) cố tình i ngược với chủ trương của Trung
ương Đảng mà do Xứ uỷ căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của Nam Bộ. Tình thế đang
trở nên hết sức cấp bách nhưng phong trào Việt Minh ở Nam Bộ quá yếu ớt. Muốn
nhanh chóng tập hợp mọi tầng lớp nhân dân để chớp thời cơ giành chính quyền,
không cách nào tốt hơn là xây dựng một phong trào công khai ở ngay các ô thị. Chưa
kể, sau khi Nhật lật ổ Pháp, các tổ chức chính trị và giáo phái thân Nhật như Phục
Quốc1, Cao Đài, Hoà Hảo càng hoạt ộng mạnh để tranh thủ quần chúng. Giữa các
tổ chức, giáo phái này lại có sự liên hệ với nhau.2 Nó làm cho bức tranh chính trị ở
Nam Bộ pha nhiều màu sắc và cũng hết sức phức tạp. Cho nên, phải có một tổ chức
công khai như Thanh niên Tiền phong do Xứ uỷ lãnh đạo mới ủ khả năng kéo quần
chúng về phía cách mạng. Để thực hiện mục tiêu ó thì không thể phát ộng ngay
phong trào chống Nhật. Vì vậy, Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) mới chủ trương lợi
dụng chính sách của Nhật chứ không phải là “từ bỏ ường lối chánh trị của Trung
ương Đảng
” như Xứ uỷ Nam Kỳ (Giải phóng) đã phê phán.3
Nét khác biệt kế tiếp ở Nam Bộ trong quá trình chuẩn bị lực lượng ó là, Xứ
uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) không tập trung vào công tác xây dựng căn cứ địa và lực
lượng vũ trang du kích. Vì lẽ ó, Nam Bộ hầu như không phát ộng chiến tranh du
kích và khởi nghĩa từng phần để tiến tới tổng khởi nghĩa như Bắc Bộ. GS Trần Văn
Giàu (Bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ lúc bấy giời) cũng khẳng ịnh “Trong Nam không có
chủ trương làm chiến tranh du kích, khởi nghĩa từng phần mà tập trung sức vào
phong trào ấu tranh chính trị”
.4 Cũng vì vậy mà công tác chuẩn bị khởi nghĩa ở ây
không tập trung vào địa bàn nông thôn. Không phải địa bàn nông thôn không quan
trọng. Vấn đề là ở chỗ, nếu lúc này mà tập trung gây dựng phong trào ở nông thôn
thì sẽ không theo kịp chuyển biến của thời cuộc. Tình thế trước mắt đã khiến cho
Xứ uỷ Tiền phong phải dành ưu tiên cho địa bàn ô thị hơn là nông thôn.
1 Tên gọi tắt của Việt Nam Phục quốc Đồng minh hội do Hoàng thân Cường Để lập ra tại Thượng Hải (Trung Quốc) tháng 3/1939.
2 Trong sách The Struggle for Indochina (Stanford University Press, California, 1954, trang 51) Ellen
J.Hammer cho biết : “một nhánh của Phục quốc đã được tổ chức dưới sự bảo trợ của Nhật tại Nam Kỳ ngay
trong chế độ của Decoux và nó được hai tổ chức tôn giáo-chính trị ở phía Nam-Cao Đài và Hoà Hảo tham
gia
”. (nguyên văn: A branch of the Phuc Quoc had been organized under Japanese auspices in Cochin China
during the Decoux regime and it was joined by two political-religious sects in the South-the Cao Dai and the Hoa Hao).
3 Thông báo số 5 (20/5/1945) của Thường vụ lâm thời Xứ uỷ Nam Kỳ, Tl d, trang 204.
4 Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, s d, trang 636. lOMoAR cPSD| 61622878
Khi nói đến địa bàn ô thị trong công cuộc chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa ở
Nam Bộ, không thể không nói đến vai trò ầu tàu của Sài Gòn-Chợ Lớn. Đây là ô thị
quan trọng hàng ầu của xứ Đông Dương thuộc Pháp. Phong trào ấu tranh công khai
ở Sài gòn đã có cả một quá trình, bắt ầu từ phong trào òi tự do, dân chủ trong những
năm 20. Vì vậy, khi Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) chọn nơi ây làm trung tâm để tập
hợp lực lượng, Xứ uỷ đã thu được kết quả rất nhanh. Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa
ở Sài Gòn –Chợ Lớn đã có sức lan toả ra khắp các địa phương ở Nam Bộ, tạo thành
một làn sóng tiền khởi nghĩa rất sôi nổi. Đây cũng là một nét riêng của Sài Gòn-Chợ
Lớn so với các ô thị khác trong cả nước.
Ngoài các vấn đề nêu trên, công cuộc chuẩn bị lực lượng ở Nam Bộ còn có
một iểm áng chú ý, ó là Xứ uỷ đã tận dụng hoàn cảnh khách quan thuận lợi một cách
nhanh nhạy, úng thời iểm. Việc lợi dụng chính sách của Nhật để xây dựng Thanh
niên Tiền phong “chỉ có thể áp dụng khi Nhật sắp thua; nếu áp dụng lúc Nhật còn
hùm hổ thì chỉ có thể làm lợi cho kẻ i xâm lược; trái lại, sau 9/3/1945, ở Sài Gòn, ở
Nam Kỳ mà không dùng chiến thuật Thanh niên Tiền phong uyển chuyển, sáng tạo
thì không có tổng khởi nghĩa ở ây, mà không có tổng khởi nghĩa ở Sài Gòn và Nam
Bộ thì cách mạng tháng 8-1945 sẽ ụng phải những khó khăn khó lường trước”.
1 Có
thể nói, thời cơ khách quan để phát triển lực lượng cách mạng ở Nam Bộ có ý nghĩa
quan trọng không kém thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Kết luận
Trong khoảng thời gian từ 23/8 đến 28/8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa giành
chính quyền ở Sài Gòn và Nam Bộ đã thành công trọn vẹn. Tính từ khi Xứ uỷ Nam
Kỳ (Tiền phong) bắt tay xây dựng Thanh niên Tiền phong đến khi tổng khởi nghĩa
thắng lợi, thời gian chỉ khoảng 3 tháng. Đây là giai đoạn mà những điều kiện khách
quan thuận lợi trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Song, nếu lực lượng cách mạng không
chuẩn bị kịp thì điều kiện thuận lợi ấy sẽ thành vô nghĩa. Đặt trong hoàn cảnh cụ thể
của Nam bộ từ sau Nam Kỳ khởi nghĩa trở i, chúng ta mới thấy hết ý nghĩa trong
ường lối xây dựng lực lượng mà Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong) đã đề ra. Xứ uỷ Nam
Kỳ (Tiền phong) đã mạnh dạn, sáng tạo trong công tác chuẩn bị khởi nghĩa sao cho
phù hợp với thực tế của Nam Bộ, chứ không máy móc làm theo chủ trương của
Trung ương như Xứ uỷ Nam Kỳ (Giải phóng). Vì vậy, Xứ uỷ Tiền phong đã xây
dựng được một lực lượng chính trị hùng hậu trong khoảng thời gian vô cùng gấp
gáp. Nếu Xứ uỷ không thành công trong công tác chuẩn bị này thì không thể có tổng khởi nghĩa ở Nam Bộ.
Nhìn lại quyết ịnh của các nhân vật lãnh đạo Xứ uỷ Nam Kỳ (Tiền phong)
trong những ngày lịch sử 1945, chúng ta thấy ó là những bài học sáng giá về sự sáng
tạo, dám nghĩ dám làm. Những bài học ấy cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám, s d, trang 650. lOMoAR cPSD| 61622878
1. Ban Tuyên giáo Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh, Cách mạng tháng Tám
1945 ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Gia Định, Nxb Tổng hợp TP HCM, 2008.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (1940-1945), Nxb
Chính trị Quốc gia, HN, 2000.
3. GS Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến
Cách mạng tháng tám, tập III: Thành công của Chủ nghĩa Mác-Lênin- tư
tưởng Hồ Chí Minh, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1993.
4. Hammer, Ellen J., The struggle for Indochina, Standford University Press, California, 1954.
5. Nguyễn Thị Thập, Từ ất Tiền Giang (hồi ký-Đoàn Giỏi ghi), Nxb Văn Nghệ TP HCM, 1986,
6. Nhiều tác giả, Sài Gòn mùa thu 1945, Nxb Công An Nhân dân, 2005.
7. Trung tâm KHXH và NV Quốc gia-Viện sử học, Cách mạng tháng Tám 1945
những sự kiện lịch sử, Nxb Khoa học xã hội, HN, 2000.
8. Viện Lịch sử Đảng, Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, Nxb Sự thật, HN, 1985.