1
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN Đ CƠ B N V N T TI
Danh mụ ắt c các t viết t
CPI: Ch s giá tiêu dùng TT: Tin t
LTTT: Lưu thông tiền t NS: Ngân sách
CĐLTTT: Chế n t i độ lưu thông tiề NHTM: Ngân hàng thương mạ
HH: hàng hóa NHTW: Ngân hàng trung ương
KTTT: Kinh tế th ng c trườ NSNN: Ngân sách nhà nướ
* GII THIỆU CHƯƠNG
Chương này giới thi ế u nh ng ki n th c t ng quan v ph m trù ti n t cũng như là các hin
tượng l u phát và gi i quan hạm phát, thiể ảm phát. Từ đó, làm mố gia cp phạm trù tài chính -
tin t cũng như những thuộc tính độc lp vn có ca tin tệ. Thông qua chương này, người h c s
hiểu được ti sao lạm phát, thiểu phát, giảm phát xả ải pháp nào đưy ra và các gi c s d ng trong
ngn h c tiêu kinh tạn, dài hạn để đạt được các mụ ế vĩ mô.
* TÌNH HU NG KH ỞI ĐỘNG
Mai và Ngân 2 sinh viên năm nhất v a nh p h c t i trường Đại học Thương mại. Nhân
ngày chủ nhật, Mai r Ngân ra An Phát Computer.
Mai: Ngân ơi, cậu rảnh không, đi mua laptop với tớ, tớ đi một mình không biết ch n vi c
cầm theo nhiề ền mặu ti t t hơi sợ.
Ngân: Mang theo tiền mặt làm gì, cầm theo thẻ ngân hàng thôi chứ
Mai: Thế h ng th có được không, nhỡ không cho trả bằ thì sao?
Ngân: Được ch a ti cậu, thẻ ngân hàng một hình thái khác củ ền mà. Sao cậu không để
đế ả?n dp ngh n cho thong th2/9 để đi chọ
Mai: T s laptop lên giá t o l , mẹ bảo mua nhanh kẻ ạm phát đấy.
Ngân: Uh thì đi, chờ 5 phút nhé. t
Tình hu ng này c n đã đề ập đế các vấn đề sau:
- Tin t có nh u hiững hình thái biể ện nào? Vì sao chúng được s dng trong thanh toán chi
tr v ới các hàng hóa khác ?
- L m phát là gì, t i sao x y ra l m pt và l m phát đã đ l i ảnh hưởng như thế nào đi vi
nn kinh tế?
* MC TIÊU:
- Hi ểu rõ được các vấn đề ền, khái niệm và các hình cơ bả n v ti n t : ngu n g c ra đời ca ti
thái ti ệ.n t
- Phân tích được chức năng và vai trò của ti ế n t trong n n kinh t th trường và liên h th c
tế n trong n n kinh t phát huy các vai trò của ti ế.
2
- N ắm được các các vấn đề cơ bn v cung - cu ca tin t trong nn kinh tế như: Các khối
ti cền, nhu u ti thền, các chủ cung ng tiền, một s lý thuyết v ti n tền và lưu thông tiề
- Hi ểu được nhng v n v ng l n đ cơ bả hiện tư ạm phát, thiểu phát như: Khái niệm, nguyên
nhân, ảnh hưởng ca t ế.ng hi n nện tượng đế n kinh t
- Vận dng các kiến thức đã được hc v tin tệ, áp dụng d giải thích, phân tích, đánh giá
mộ t s v thấn đề c tii n có liên quan
* NI DUNG:
2.1. LỊ CH S RA Đ I VÀ PHÁT TRI N C ỦA TI N T
2.1.1. Nguồn gốc ra đờ i
Sự ra đời của tiền gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Trong
thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thuỷ, với công cụ lao động thô sơ, năng suất lao động thấp,
ý thức phân công lao động được hình thành. Trong giai đoạn này, trao đổi sản phẩm mang tính ngẫu
nhiên và được thực hiện bằng phương thức trao đổi sản phẩm trực tiếp H Quá trình trao đổi H’.
hàng hoá giai đoạn này còn rất khai chủ yếu được thực hiện dựa trên nguyên tắc sự trùng
khớp ngẫu nhiên về nhu cầu sử dụng. Ngoài ra, trong hình thức trao đổi này người ta còn phải thoả
thuận về tỷ lệ giá trị của hàng hoá, về số lượng htrao đổi,... Cùng với việc cải tiến công cụ lao
động quá trình phân công lao động xã hội ngày một sâu sắc hơn, nền sản xuất hàng hoá phát triển
mạnh, hàng hoá trên thị trường đã phong phú đa dạng hơn, đòi hỏi phạm vi trao đổi phải được mở
rộng hơn.
Sự phát triển của quá trình trao đổi hàng hóa dẫn đến vật trung gian trong trao đổi hàng hoá
đã ra đời. Quá trình trao đổi được thể hiện dưới phương trình H vật trung gian H’. Ban đầu, vật - -
trung gian hay vật ngang giá chung là những hàng hoá có thể trao đổi trực tiếp được với nhiều hàng
hoá thông thường khác, như là công cụ lao động, gia súc,… Về sau, với sự phát triển của quá trình
trao đổi, vật ngang giá chung được giới hạn ở một số hàng hoá quý hiếm và có ý nghĩa tượng trưng
như da thú, vỏ sò, vòng đá,... Khi lực lượng sản xuất phát triển, phạm vi không gian trao đổi hàng
hóa được mở rộng, trao đổi hàng hoá đã trở thành nhu cầu thường xuyên của con người, tình trạng
nhiều vật ngang giá chung đã gây khó khăn cho sự lưu thông trao đổi hàng hoá, khi đó vật ngang
giá chung bằng kim loại thay thế dần các vật ngang giá chung khác. Kim loại đầu tiên được sử dụng
làm vật ngang giá chung là sắt và kẽm, sau đó là đồng và bạc. Đến đầu thế kỷ XIX, với những đặc
điểm như tính quý hiếm, nh dễ dát mỏng, chia nhỏ, tính bền trong sử dụng và gọn nhẹ... vàng
bắt đầu đóng vai trò vật ngang giá chung hình thái tiền tệ được cố định ở vàng, lúc đó, vàng được
gọi là “kim loại tiền tệ”.
Sự ra đời của vật ngang giá chung trong trao đổi đã đánh dấu giai đoạn mở đầu cho sự xuất
hiện của tiền tệ, đồng thời là bước chuyển hoá từ nền kinh tế trao đổi trực tiếp sang nền kinh tế tiền
tệ. Trải qua tiến trình phát triển, tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng yêu
cầu ngày càng đa dạng của đời sống kinh tế.
1.1.2. Khái nim tin t
3
Theo quan điể ủa K.Mark, tiề ịnh nghĩa như saum c n t được đ : Tin t m àng hóa t loi h
đặ ế c bi t, tách ra kh i th gi i hàng hó ng làa, được dù m v t ngang gi ng vá chung để đo lườ à bi u
hin giá tr c a tt c àng hóc h a khá c hi a chúng.c và th ện trao đổi gi
Ngày nay, ở ốc gia, đặc biệ ển, nhiu qu t là nhng qu ếc gia có n n kinh t th trường phát tri
tin t dkhông đơn thuần là phương tiện trao đổi mà người ta còn sử ng ti ền để đầu tư, để cho vay
và xem như một dng ca cải, một đố ợng đểi tư s h ữu.
Theo quan điểm củ ếa các nhà kinh t hc hiện đại: Tin là bt c th được chp nhn
chung trong thanh toán để đổ i l y hàng hóa, dch v và th c hi ện các nghĩa vụ tài chính.
2.1.2. Các hình thái tiề n t
2.1.3.1 Hóa tệ
Hóa t n t là các hàng hóa thông thường đóng vai trò tiề ệ.
- Hoá t i phi kim lo
Thời cổ đại ở Trung Quốc, vật ngang giá chung rất đa dạng từ da cừu, vỏ trai đến thóc, vải...;
ở Hy Lạp, La Mã dùng súc vật; Tây Tạng, Mông Cổ dùng chè; Bắc Mỹ ng thuốc lá,…. làm vật
trung gian trong trao đổi. Những hoá tệ dạng này có nhiều nhược điểm gây khó khăn cho quá trình
trao đổi hàng hóa. hững vật ngang giá chung ý nghĩa thiết thực đối với dân như gia súc, N
lương nhưng lại khó bảo quản trong thời gian dài; khó vận chuyển từ nơi này đến nơi khác do thực,
tính cồng kềnh; khó phân chia hay gộp lại nên không thuận tiện khi tham gia trao đổi với các hàng
hóa có giá trị quá nhỏ hay quá lớn so với vật ngang giá chung.
Mặt khác, theo đà phát triển của nền sản xuất, sự hình thành một thị trường rộng lớn đã đòi
hỏi vật ngang giá chung mang tính phổ biến đồng nhất hơn, do đó dẫn đến việc sử dụng tiền tệ
kim loại.
- Hoá t i kim lo
Từ thế kỷ thứ 7 trước công nguyên, tiền kim loại đã bắt đầu được sử dụng và phát triển rộng
rãi trong suốt thời kỳ các triều đại phong kiến. các nước cũng được thay thế từ Tiền kiêm loại
những kim loại kém giá (sắt, đồng, kẽm...) đến những kim loại có giá trị cao (bạc, vàng). Khi nền
sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển mạnh mẽ đòi hỏi vật trung gian trao đổi phải có giá trị cao,
tồn tại như một hình thức được nhiều người chấp nhận và phải có độ bền để bảo tồn giá trị theo thời
gian. Từ đó, vàng bạc đã loại dần các kim loại kém giá, dễ rỉ sét để trở thành tiền tệ phổ biến
trong khoảng thế kỷ 18 19. Cho đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, người ta phát hiện ra nhiều
mỏ bạc, năng suất khai thác bạc tăng lên, kim loại bạc được tạo ra nhiều hơn nên giá trị của đã
bị suy giảm so với vàng. Lúc này, nhiều nước lần lượt chuyển sang chế độ đồng tiền vàng. Đ ặc
trưng quan trọng của hóa tệ kim loại giá trị danh nghĩa của hóa tệ kim loại khi xuất xưởng luôn
bằng giá trị nội tại của nó. Đồng tiền vàng đủ giá hay vàng thoi, bạc nén là minh chứng rõ nét nhất
cho đặc trưng này: Giá trị danh nghĩa ghi trên bề mặt đồng tiền phải bằng trọng lượng đồng cân của
đồng tiền đó khi xuất xưởng.
4
Hoá tệ kim loại có ưu điểm là tính chất đồng nhất cao về chất lượng, giá trị ít biến đổi, dễ bảo
quản, dễ vận chuyển, dễ chia nhỏ hay gộp lại... Tuy nhiên vẫn có nhược điểm là nguồn khai thác có
hạn.
2.1.2.2. Tín tệ
Tín t là loi tin t n thân t mà bả nó không có giá trị (hoặc giá tr n so i tại không đáng kể
vi giá tr danh nghĩa), song nhờ có s tín nhim c i mà có giá trủa mọi ngườ trao đổi được s
dụng trong lưu thông.
- i Tín t kim lo
Tiền bằng kim loại thuc hình thái tín tệ khác với kim loạ i ti n t thu ộc hình thái hoá tệ.
hình thái này giá trị n i t i c a kim lo i thường không phù hợp vi giá tr danh nghĩa của nó. Ở thi
k đầu ca tín t kim lo i, các kim lo i có giá tr cao như vàng, bạ kim c được s dụng làm tín tệ
loại.
- Ti n gi y
Tin giy kh hoán
Tin giấy khả hoán là loi tin giấy được ấn định tiêu chun giá c bằng vàng và có th trc
tiếp chuyển đ i ra vàng theo hàm lư ợng Nhà nước đã công bố. Tin giấy khả hoán u bắ t đ được lưu
hành khi s ng ti lượ ền đúc bằng vàng trong lưu thông không đủ để làm phương tiện trao đổi, Nhà
nướ c phát hành ti n gi ng cấy vào lưu thông và công bố hàm kim lượ a đ ng ti n giền. Tiề ấy khả
hoán là 1 mả lưu hành, thay thế hay tiền bằng bạnh gi c in thành tiấy đượ ền để cho tiền bằng vàng c
mà người ta kí g đổ i ngân hàng. Người có lo i tin giấy này có thể đến ngân hàng để i l y 1 s
ợng vàng hay một s ợng bạc tương đương với giá tr ghi trên t gi dấy được s ụng làm tiền
vào bất c c lúc nào mà họ ần.
Tin giy bt kh hoán
Tiền giấy bất khả hoán tiền giấy được ấn định tiêu chuẩn giá cả bằng pháp luật, bắt buộc lưu
hành và không thể trực tiếp chuyển đổi ra vàng theo tiêu chuẩn Nhà nước quy định. Tiền giấy bất khả
hoán khi xuất hiện nhiều quốc gia không còn đủ vàng để trên thế giới cho dân chúng đổi tiền giấy
khả hoán.
Ngày nay các nước đều áp dụng chế độ lưu thông tiền giấy bất khả hoán. Tiền giấy do ngân
hàng trung ương thống nhất phát hành đồng tiền hợp pháp được lưu hành với giá trị bắt buộc và
nhà nước không thực hiện chuyển đổi tiền giấy ra vàng. Tiền giấy được sử dụng làm phương tiện
trao đổi ngày càng phổ biến vì những tiện lợi như dễ mang theo trong người, dễ cất giữ. Mặt khác,
việc in tiền với nhiều mệnh giá khác nhau có thể đáp ứng cho các nhu cầu trao đổi có giá trị lớn nhỏ
khác nhau.
- Bút t
Bút tệ hay còn gọi là tiền ghi sổ chỉ được tạo ra thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng,
bút tệ không có hình thái vật chất chỉ những con số thể hiện trên tài khoản ngân hàng.số
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngân hàng, quá trình thanh toán được thực hiện thông qua các
5
bút toán chuyển khoản thông qua hệ thống ngân hàng. Sự ra đời của tiền ghi sổ cùng với các chứng
từ thanh toán như séc, giấy chuyển ngân, giấy nhờ thu... đã làm đa dạng các phương tiện thanh toán
bên cạnh hình thức thanh toán bằng tiền mặt, đồng thời còn tạo điều kiện giảm bớt những chi phí
lưu hành tiền giấy như in ấn, bảo quản, kiểm điểm, vận chuyển. vậy, việc sử dụng tiền ghi sổ
được coi là xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế phát triển.
- Tiền điện tử (electronic money)
Tiền điện tử là hình thức phát triển cao của tiền ghi sổ (bút tệ) được sử dụng qua hệ thống
thanh toán tự động hay còn gọi máy trả tiền tự động - ATM (Automated teller machine). Đây là
một hệ thống máy tính điện tử nối mạng với hệ thống thanh toán của hục vụ ngân hàng trung gian p
cho việc thanh toán, chi trả của các chủ thể trong xã hội. Tiền điện tử tồn tại và được sử dụng thông
qua các công cụ các loại thẻ thanh toán như: thẻ tín dụng (Credit cards), thẻ ghi nợ (Debit cards),…
2.2. CHỨ C NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA TI N T
2.2.1. Ch a ti n t ức năng củ
a. Chứ năng thước đo giá trị c
Tin t thc hin chức năng thước đo giá tr khi nó đo lường biểu hin giá tr ca các hàng hoá
khác và chuyển giá tr ca hàng hoá thành giá c hàng hoá.
Để th c hi n chức năng này, tiền ph i th a mãn nh u kiững điề n sau:
- Ti n ph ải có đầy đủ giá trị.
- Ti n phi có tiêu chu n giá c ả: còn gọi là hàm kim lượng c ng ti a đ ền.
Ý nghĩa của chc năng:
- Chức năng này đã chuyển đi giá tr các HH v một ch tiêu chung nht là tiền, giúp các hoạ ộng, t đ
giao lưu kinh tế được thc hin thun lợi hơn. Việc chuyển giá tr hàng hoá thành giá c đi u ki n
vô cùng quan trọng và tiên quyết để đưa hàng hoá vào quá trình lưu thông.
- Trong n n kinh t th ch n t ế trường, ức năng này của ti đã giúp cho các doanh nghiệp có th hch
toán t ng h p chi phí s n ph ản xuất, tính giá thành sả ẩm, xác định doanh thu, thu nhập và qua đó
đánh giá hiệu qu kinh doanh. Xemt rng ra tn toàn b nn kinh tế, tiền còn giúp chúng ta đánh
giá hi u qu nn kinh tế để biện pháp t uyề n d ng nh ng ngu n tài ng n qu c gia ph c v cho s
nghiệp xây dựng đất nước.
b. Chứ năng phương tiện trao đổi và thanh toán c
Tin t thc hi n ch ức năng phương tiệ ổi và thanh toán này khi nó xuấn trao đ t hiện trong lưu thông
với cách làm môi giới trung gian cho quá trình trao đổi hàng hoá và là thphương tiện để c hin
quan h thanh toán các kho n n và các nghĩa vu tài chính.
Đ i u ki n c a chức năng:
- Ph i có s c mua n đnh hoặc không suy giảm quá nhiều trong 1 khoảng thi gian nhất đnh
- S lượng tin t ph ải đưc cung ứng đầy đủ cho nhu c n kinh ầu lưu thông hàng hóa trong nề
tế.
6
Ý nghĩa ca chức năng:
+ Việ c s dng ti n t làm phương tiện trao đổi thành toán đã tách quá trình trao đổi HH thành
2 quá trình bán mua, tách biệt v không gian và thời gian.
+ Quá trình trao đổi HH di n ra nhanh chóng thu n lợi. Do đó đã t ẩy hiệ c đ u qu c a n n kinh tế
qua vi i gian và chi ph i gánh ch i hàng hóa dc giảm bớt th í ph ịu khi trao đổ ch vthú á c đẩy qu
tr óình chuyên môn h a, đồ ệm chi ph lưu thông xã hộng thi góp phn tiết ki í i.
+ Tạo điều ki n cho h ng ngân hàng v n thanh toá ùng ti t phá th à các phương tiệ n không d ền mặ t
tri n .
c. Chức năng phương tiện cấ lũy giá trị t trữ/ tích
Tin t thc hin chức năng phương tiện ct tr giá tr khi nó tạm thời rút kh n tỏi lưu thông tồ i
dướ đểi d ng giá tr d tr ng cho nhu c đáp ứ ầu mua sắm chi trả trong tương lai.
Điề u ki n th c hi n chc năng:
- Ti n phi có giá tr i t n i giá hohay là tiền đủ c phi có sức mua ổn định, lâu dài.
- Giá tr d tr phải được th hiện bằng nh n hiững phương tiệ n th c và đư c xã h i tha
nhận. Hay nói cách khác, phải th hiện bằng ti t hoền mặ c các phương tiện chuyển t i giá
tr khác được xã hội tha nhận.
Khi thc hi n ch c năng phương tiện c t trữ, tiền trạng thái không vận động, không phục v cho
quá trình lưu thông hàng hoá.
Ý nghĩa củ ức năng này cho phép ngườa chức năng: Ch i s h u ti n d tr mộ t s c mua cho các
giao d ịch trong tương lai.
2.2.2. Vai trò của tiền tệ
Tiền tệ là phương tiện để mở rộng và phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá
Tiền tệ trở thành công cụ thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển vì những lí do sau:
- Nhờ chức năng thước đo giá trị, giá trị của hàng hoá được biểu hiện một cách đơn giản
hơn, đều được biểu hiện bằng tiền, do đó chúng có thể so sánh dễ dàng với nhau. Trên sở này,
người lao động có thể so sánh được với nhau về mức độ và trình độ lao động mình đã bỏ ra cho xã
hội trong một đơn vị thời gian.
- Nhờ chức năng phương tiện thanh toán, đã làm cho sự trao đổi hàng hoá không bị ràng buộc
về không gian thời gian, làm cho hàng hoá đi từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng một cách trôi
chảy hơn.
- Nhờ chức năng phương tiện cất trữ của tiền tệ, việc hạch toán tính toán hiệu quả kinh
doanh trở nên thuận tiện và đầy đủ; quá trình tích luỹ tiền tệ được thực hiện để mở rộng qui mô sản
xuất và kinh doanh.
Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế
7
Nhờ có tiền, mối quan hệ nhiều mặt (kinh chính trị, văn hóa, xã hội) tế, giữa các quốc gia trên
thế giới sđược hình thành và phát triển, làm cho xu thế hòa nhập trong các lĩnh vực kinh tế -
hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật… giữa các nước ngày càng sâu rộng.
Tiền tệ là phương tiện phục vụ mục đích của người sở hữu chúng
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các tổ chức, để tồn tại, hoạt động phát tcác nhân,
triển, đều cần có nguồn lực vật chất thể hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, và tất cả các mục đích
đó đều có thể được thỏa mãn thông qua việc dùng tiền để mua sắm.
2.3. CÁC CHẾ ĐỘ LƯU THÔNG TIỀN TỆ
2.3.1. Khái niệm và các yếu tố cơ bản của chế độ lưu thông tiền tệ (CĐLTTT)
a. Khái niệm:
Chế độ LTTT được hiểu là hình thức tổ chức lưu thông TT của 1 quốc gia hay nhóm quốc
gia được quy định thành luật pháp, trong đó các yếu tố cấu thành của lưu thông TT được kết hợp
thành 1 hệ thống thống nhất.
b. Các yếu tố cơ bản của chế độ lưu thông tiền tệ
4 yếu tố cấu thành cơ bản sau đây:
- Bn v tin: Đây chính là kim loi đưc s dng làm thưc đo giá tr và phương tin lưu
thông thống nhất của quốc gia. Trong chế độ nô lệ và phong kiến bản vị tiền là kẽm và đồng. Trong
thời Chủ nghĩa Tư bản, bản vị tiền là bạc sau đó là vàng.
- Đơn vị tiền tệ: yếu tố này sự khác biệt mỗi quốc gia. Đơn vị tiền tệ bao gồm: tên gọi
của đồng tiền và qui định tiêu chuẩn giá cả của đồng tiền. Đồng tiền của mỗi quốc gia sẽ có tên gọi
khác nhau. Còn tiêu chuẩn giá cả là trọng lượng kim loại được qui định cho mỗi đơn vị tiền tệ (tiêu
chuẩn này sẽ thay đổi tuỳ vào điều kiện kinh tế khách quan trong từng thời kỳ của từng nước. Ngày
nay, hầu hết các nước đều lưu hành tiền giấy nên việc quy định tiêu chuẩn giá cả của đồng tiền bằng
một hàm kim lượng không còn ý nghĩa nữa. Vì người tiêu dùng không còn quan tâm đến tiêu chuẩn
giá cả của đồng tiền mà họ chỉ quan tâm đến sức mua của đồng tiền.
- Qui định chế độ đúc tiền lưu thông tiền đúc: Mỗi nước luật đúc tiền riêng liên quan
đến các vấn đề về: khuôn mẫu, hình dáng của đồng tiền đúc và cách thức phát hành. Yếu tố này hết
sức quan trọng đối với các quốc gia trong giai đoạn còn áp dụng chế độ lưu thông tiền kim loại.
- Qui định chế độ lưu thông các dấu hiệu giá trị: Khi Chủ nghĩa bản ra đời, bên cạnh
chế phát hành và lưu thông tiền kim loại, một bộ phận giao dịch được thực hiện bằng các loại tiền
dấu hiệu như là tiền giấy, tiền ghi sổ (bút tệ), tiền điện tử, bên cạnh đó, còn có sự xuất hiện của các
công cụ tài chính như: kỳ phiếu thương mại, kỳ phiếu ngân hàng, séc,… Việc phát hành các loại
tiền dấu hiệu này, tuỳ theo pháp luật mỗi nước, sẽ có qui định riêng về cơ sở đảm bảo giá trị nhằm
mục đích hạn chế khối lượng phát hành và đảm bảo lưu thông tiền tệ không bị rối loạn.
Trải qua thời gian dài tồn tại và phát triển, có hai chế độ lưu thông tiền tệ cùng với các mức
độ phát triển khác nhau của tiền tệ trong hai chế độ đó.
8
- Chế độ lưu thông tiền kim loại, bao gồm các giai đoạn sau:
* Lưu thông tiền kém giá: ở chế độ này, các kim loại kém giá giữ vị trí chủ yếu trong quá
trình lưu thông tiền tệ. Tiền đúc từ đồng và kẽm đã xuất hiện trong chế độ chiếm hữu nô lệ và
phong kiến.
* Lưu thông tiền đủ giá: đây là chế độ lưu thông tiền bạc và vàng, xuất hiện trong giai đoạn
đầu của kinh tế thị trường. Gồm các thời kỳ:
+Chế độ bản vị bạc: Là chế độ lưu thông tiền tệ trong đó bạc được sử dụng làm thước đo giá
trị và phương tiện lưu thông. Nửa cuối thế kỷ XIX, ở các nước Nga, Ấn độ, Hà lan, Nhật bản, …
bạc đã được sử dụng phổ biến như là tiền trong lưu thông. Khi hàng loạt mỏ bạc được phát hiện ở
Mexico, giá trị của bạc giảm xuống đáng kể nên ở một số quốc gia, bạc đã không còn thích hợp
với vai trò là tiền tệ nữa.
+ Chế độ song bản vị: Trong chế độ này, bạc và vàng đều được sử dụng làm tiền tệ. Trong lưu
thông, hai thứ kim loại này quyền lực ngang nhau và đều được thanh toán không hạn chế theo
giá trị của chúng. Do bạc khai thác được nhiều nên giá trị của ngày càng giảm, còn giá trị của
vàng ngày càng tăng do khai thác khó khăn. Lúc này, vàng thước đo giá trị của bạc, còn bạc là
thước đo giá trị của các hàng hoá khác, đây là chế độ song bản vị thả nổi. Do giá trị của Vàng ngày
càng tăng so với bạc nên dân chúng có xu hướng mua vàng cất trữ. Dẫn đến dần dần, bạc bị loại bỏ
khỏi vị trí tiền tệ, chỉ còn lại vàng đóng vai trò là tiền tệ
+ Chế độ bản vị vàng: Là chế độ lưu thông tiền tệ trong đó duy nhất vàng được sử dụng làm
tiền tệ.
Chế độ lưu thông phù hiệu (dấu hiệu) giá trị:
Trong lưu thông, tiền đúc bằng kim loại dần dần bị hao mòn đi một phần, mặc dù vậy nó vẫn
thực hiện được chức năng phương tiện lưu thông. Đây là bước đầu tiên để dẫn đến việc thay thế tiền
giá hoàn toàn bằng các dấu hiệu của giá trị. Bên cạnh đó, việc Nhà nước phát hành vào lưu thông
những đồng tiền không đủ giá thực chất là làm giảm bớt trọng lượng của đồng tiền. Từ đó, người ta
phát hành tiền giấy thay thế cho tiền đủ giá để làm chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện
thanh toán.
2.4. CUNG CẦU TIỀN TỆ
2.4.1. Các khối tiền trong lưu thông
Trong nền kinh tế hiện đại sử dụng nhiều loại tiền với khối lượng lớn, cơ quan quản lý tiền tệ
các quốc gia sxây dựng một phép đo tổng lượng tiền trong lưu thông để ách chính xác biết một c
các thành phần của lượng tiền cung ứng vào lưu thông bao gồm các bộ phận nào dự báo được , từ đó
những biến động kinh tế cũng như có những biện pháp điều chỉnh hợp lý. Để dẫn ra một mô hình
của quá trình cung ứng tiền tệ, người ta phân biệt các khối tiền trong lưu thông như sau:
- Khối tiền tệ M1 (Khối tiền tệ giao dịch): Đây là khối tiền tệ theo nghĩa hẹp nhất về lượng
tiền cung ứng, chỉ bao gồm những phương tiện được chấp nhận ngay trong trao đổi hàng hoá,
9
mà không phải qua một bước chuyển đổi nào. Với khối tiền tệ này, tổng lượng tiền cung ứng bao
gồm:
+ Tiền đang lưu hành: gồm toàn bộ tiền mặt do ngân hàng trung ương phát hành đang lưu hành
ngoài hệ thống ngân hàng. Xét về chủng loại, tiền đang lưu hành bao gồm các loại tiền giấy, tiền
xu, ngân phiếu, ...
+ Tiền gửi không kỳ hạn ngân hàng thương mại: loại tiền gửi chủ sở hữu của
thể rút ra hoặc phát hành séc để thanh toán tiền mua hàng hoá hay dịch vụ vào bất kỳ lúc nào.
- Khối tiền tệ M2 (Khối tiền giao dịch mở rộng): Đây phép đo khối lượng tiền rộng hơn
trong lưu thông. Khối tiền tệ này bao gồm:
+ Khối tiền tệ M1.
+ Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại.
- Khối tiền tệ M3: bao gồm:
+ Khối tiền tệ M2.
+ Các khoản tiền gửi tại các định chế tài chính khác.
- Khối tiền tệ L (M4): Trong khối tiền tệ này, tổng lượng tiền cung ứng bao gồm:
+ Khối tiền tệ M3.
+ Các loại giấy tờ giá trong thanh toán tính lỏng cao, tức dễ chuyển thành tiền mặt,
có thể kể đến như: thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu.
Trong các khối tiền kể trên, khối tiền tệ M1 là khối tính lỏng cao nhất. Khi khối tiền tệ được
mở rộng theo các phép đo từ M1 đến L thì tính lỏng của nó càng thấp.
2.4.2 Nhu cầu tiền trong nền kinh tế
Trong nền kinh tế tiền tệ, 2 nhu cầu sử dụng tiền chủ yếu chi phối đời sống kinh tế xã hội
là nhu cầu tiền phục vụ đầu tư và nhu cầu tiền phục vụ tiêu dùng.
Khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu tiền cho đầu của các chủ thể càng đa dạng
phong phú do các DN muốn mở rộng qui mô hoạt động sản xuất kinh doanh, muốn sử dụng có hiệu
quả các nguồn vốn nhàn rỗi và các nhân muốn kiếm lợi nhuận từ đồng tiền tiết kiệm của mình.
Nhu cầu tiền cho đầu tư phụ thuộc vào các yếu tố mối quan hệ giữa lãi suất tín dụng của ngân hàng :
với mức tỷ suất lợi nhuận trên vốn và yếu tố thu nhập của các chủ thể.
Nhu cầu tiền dành cho tiêu dùng trong nền kinh tế hội cũng rất phong phú. Các DN,
nhân cần tiền để phục vụ cho các giao dịch của mình như mua sắm hàng hoá, dịch vụ, thanh toán
công nợ, nộp thuế hoặc dành một phần thu nhập bằng tiền cho mục đích dự phòng rủi ro. Chính phủ
cần tiền để tiêu dùng, cung cấp các hàng hóa dịch vụ công. Nhu cầu tiền cho tiêu dùng phụ thuộc
vào mức thu nhập và giá cả của các hàng hóa dịch vụ.
2.4.3 Các chủ thể cung ứng tiền trong nền kinh tế
Nếu hiểu khối tiền theo nghĩa rộng thì các chủ thể cung ứng tiền trong nền kinh tế sẽ bao gồm:
10
- NHTW: NHTW là cơ quan độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông. Các loại
tiền NHTW cung ứng bao gồm các loại tiền giấy, tiền xu, ngân phiếu,… nhằm phục vụ nhu cầu trao
đổi, thanh toán trong nền kinh tế xã hội.
- Các ngân hàng trung gian: Các ngân hàng trung gian có chức năng điều chuyển tiền tệ giữa
các chủ thế cung ứng vốn chủ thể cầu vốn, đồng thời cung ứng tiền ghi sổ được giao dịch thông
qua các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt (như séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm
thu ….), các loại thẻ thanh toán và các giấy tờ có giá như trái phiếu ngân hàng thương mại, kỳ phiếu,
tín phiếu ngân hàng….
- C ác chủ thể khác: Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển, các loại chứng từ có giá
có tính thanh khoản cao như Tín phiếu, Trái phiếu, thương phiếu, cổ phiếu…cũng được xem là một
loại phương tiện trao đổi. Nhà nước và các doanh nghiệp là chủ thể phát hành ra loại phương tiện
này cũng có thể được coi là các chủ thể cung ứng tiền trong nền kinh tế.
2.4.4 Một số lý thuyết về tiền tệ và lưu thông tiền tệ
Để đo lường đánh giá mối quan hệ giữa cầu tiền với các yếu tố liên quan, các nhà nghiên
cứu kinh tế đã đưa ra một số thuyết, tiêu biểu như là:
Thuyết về số lượng tiền tệ
- I.Fisher (Nhà kinh tế học người Mỹ):
M.V = P.Q
Trong đó:
M: Khối lượng tiền tệ trong lưu thông
V: Tốc độ lưu thông tiền tệ
P: Mức giá trung bình
Q: Tổng lượng h hoá và dịch vụ được trao đổiàng
Từ đó, Fisher đi đến kết luận: Cầu về tiền tệ là một hàm số được xác định bởi: đã
- Mức thu nhập danh nghĩa
- Thói quen tiến hành các giao dịch của dân chúng và nguồn cung ứng vào lưu thông
tăng hay giảm là do chính sách phát hành tiền tệ của NHTW.
- Milton Friedman:
Theo Friedman, số cung tiền tệ hoặc được xác định bằng số lượng tiền đưa vào lưu
thông hoặc bởi số tiền do Nhà nước hoặc hệ thống ngân hàng tạo ra. Nhu cầu về tiền là
một hàm số với nhiều biến số trong đó có thu nhập, giá cả, lãi suất, cơ cấu tài sản và sự ưu
thích cá nhân…
Luận điểm của Friedman được diễn tả bằng công thức sau:
11
Md = f(Yn,i)
Trong đó:
Md: số lượng tiền cần cung ứng cho lưu thông
Yn: thu nhập danh nghĩa
i: lãi suất danh nghĩa
Thuyết về ưu thích thanh khoản của Keynes:
Với thuyết về ưu thích thanh khoản của mình, Keynes đã đưa ra kế luận: Sự ưa thích tiền
mặt là hàm số của lãi suất và được mô tả qua công thức:
M = L(r)
Trong đó:
M: khối lượng tiền tệ
L là hàm số ưa chuộng tiền mặt
r: lãi suất
Học thuyết lãi suất là một bộ phận cấu thành quan trọng trong tư tưởng của Keynes. Theo về
ông, Nhà nước có thể dùng chính sách điều chỉnh lãi suất như một chính sách vĩ mô không chỉ ảnh
hưởng đến mức cầu tiền tệ mà còn tác động vào nền kinh tế.
Quy luật lưu thông tiền tệ của K. Mark:
K. Mark cho rằng khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông sẽ bằng tổng giá cả hàng hoá
trong lưu thông chia cho tốc độ lưu thông trung bình của tiền tệ với công thức tổng quát:
Kc = H/V
Trong đó: Kc: khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông
H: tổng giá cả hàng hoá trong lưu thông
V: tốc độ lưu thông trung bình của tiền tệ.
Tiền tệ tham gia vào lưu thông không những với tư cách là phương tiện lưu thông, mà còn cả
với cách là phương tiện thanh toán. Do vậy, khi trao đổi hàng hoá xuất hiện quan hệ tín dụng giữa
người mua, bán chịu hàng hoá,..
Cùng với việc đưa ra công thức xác định khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông. Quy luật
lưu thông tiền tệ của Mark còn chỉ ra rằng:
- Nếu khối lượng tiền tệ trong lưu thông lớn hơn khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông sẽ
làm cho giá cả hàng hoá tăng lên, hay nói cách khác cung đã vượt quá cầu tiền tệ, nguy
cơ lạm phát xuất hiện.
- Nếu khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhỏ hơn khối lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông
sẽ làm cho giá cả hàng hoá nguy giảm xuống, thiểu phát rồi giảm phát thể xuất
hiện.
12
2.5. LẠM PHÁT, THIỂU PHÁT
2.5.1 Lạm phát
a. Khái niệm và các mức độ lạm phát
- L phát là ạm hiện tượng phát hành tiền vào lưu thông vượt quá lượng tiền cần thiết trong lưu
thông, khiến sức mua của đồng tiền giảm sút, không phù hợp với giá trị danh nghĩa mà nó đại diện.
- Lạm phát là sự tăng mức giá chung liên tục của hàng hóa, dịch vụ theo thời gian và là sự mất
giá của một loại tiền tệ nào đó.
Có 3 mức độ lạm phát:
- Lạm phát vừa phải: Đây là lạm phát mà tỷ lệ tăng giá của hàng hoá trong khoảng dưới 10%/
năm, còn gọi là lạm phát 1 con số
- Lạm phát phi mã: lạm phát xảy ra khi giá cả hàng hoá bắt đầu tăng với tỷ lệ hai hoặc ba
con số.
- Siêu lạm phát: là loại lạm phát mà giá cả hàng hoá tăng ở mức ba, bốn con số, cao gấp nhiều
lần so với lạm phát phi mã.
Trong thực tiễn, mức độ lạm phát như thế nào cao hay thấp còn phụ thuộc vào trình độ
phát triển kinh tế thị trường tình hình cụ thể của từng quốc gia hoặc nhóm quốc gia trong từng
thời kỳ.
b. Nguyên nhân chủ yếu:
Khi xem xét nguyên nhân dẫn đến lạm phát, người ta thường chia thành các nhóm nguyên
nhân như sau:
- Nhóm nguyên nhân liên quan đến các chính sách của Nhà nước: Những thay đổi về chính
sách tài chính-tiền tệ của Chính phủ như chính sách thu chi NSNN, chính sách tiền tệ, chính sách
giá cả, chính sách tỷ giá,…làm cho khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế biến động hay làm cho giá
ngoại tệ tăng lên. Trong một số trường hợp, do sự thay đổi chính sách thu chi NSNN của Chính phủ
đã dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách và buộc phải phát hành tiền để bù đắp thâm hụt NSNN vượt
quá lượng tiền cần thiết nên lạm phát đã xảy ra; hoặc những thay đổi trong chính sách tiền tệ tín
dụng, như là ngân hàng trung ương nới lỏng cung ứng tiền tệ bằng biện pháp giảm tỷ lệ dự trữ bắt
buộc hoặc bơm tiền vào lưu thông thông qua nghiệp vụ thị trường mở đã làm gia tăng khối lượng
tiền cung ứng cho nền kinh tế, nếu lượng tiền gia tăng này quá lớn, vượt quá nhu cầu của nền kinh
tế sẽ dẫn đến lạm phát xảy ra.
- Nhóm nguyên nhân liên quan đến các chủ thể kinh doanh: Do quản lý điều hành kinh doanh
yếu kém, các cơ sở kinh doanh có thể làm tăng giá cả các yếu tố đầu vào. Khi giá cả của các yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất tăng lên, đặc biệt là giá các nguyên nhiên vật liệu cơ bản của nền sản
xuất (xăng, dầu, sắt, thép, xi măng,...) gia tăng sẽ đội giá thành sản phẩm làm cho giá bán sản -
phẩm tăng lên. Khi giá bán của các các sản phẩm thiết yếu tăng lên, sẽ gây ra hiệu ứng tăng giá dây
chuyền trên diện rộng. Lúc này, nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát.
13
- nhiên: NNhóm nguyên nhân liên quan đến điều kiện tự hững rủi ro như dịch bệnh, hạn hán,
lũ lụt, động đất, núi lửa,... trên diện rộng thường để lại hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế xã
hội và để khắc phục đòi hỏi Nhà nước cần chi một lượng tiền không nhỏ vào lưu thông. Bên cạnh
đó, tình trạng khan hiếm hàng hóa cục bộ và nhất thời cũng là một hiện tượng tất yếu của hậu thiên
tai, dịch bệnh. Lúc này, nếu Chính phủ không những kế sách khắc phục những rủi ro này một
cách phù hợp thì chính những hiện tượng này đã đẩy khu vực đó nền kinh tế rơi vào lạm phát.
Tuy nhiên, lạm phát bắt nguồn từ nguyên nhân này hầu như chỉ xảy ra mang tính ngắn hạn và cục
bộ ở những nền kinh tế yếu kém.
Ngoài những nhóm nguyên nhân trên, lạm phát còn có thể xảy ra bởi một số nguyên nhân khác
như là: xảy ra chiến tranh, bất ổn chính trị, xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ,…
Thông thường, một nền kinh tế xảy ra lạm phát không thể chỉ bắt nguồn bởi một hoặc một
nhóm nguyên nhân, mà sẽ là kết quả của tổng hợp tác động của nhiều nguyên nhân nêu trên.
c. Ảnh hưởng của lạm phát đến nền KT
Lạm phát là một hiện tượng rất phổ biến của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Tùy
thuộc vào mức độ của lạm phát mà có những ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế xã
hội.
Nếu lạm phát ở mức độ vừa phải thì nó sẽ có tác dụng kích thích nền kinh tế xã hội phát triển.
Thậm chí nhiều nước còn coi đây là như một chính sách của Nhà nước để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. hi chính phủ tăng cung tiền tệ ở mức hợp thì sẽ có tác dụng ch thích sản xuất trong K
nước phát triển, giảm tình trạng thất nghiệp. , giá cả hàng hóa có xu hướng tăng nhẹ và giá Lúc này
trị của đồng nội tệ bị mất giá nhẹ so với đồng ngoại tệ. Điều này sẽ kích thích hoạt động xuất khẩu,
hạn chế hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài,…
Nếu lạm phát mức độ cao quá cao (lạm phát phi mã và siêu lạm phát), sẽ ảnh hưởng
xấu và rất xấu đến các lĩnh vực của nền kinh tế xã hội, cụ thể:
+ Đối với lĩnh vực sản xuất: lạm phát làm cho giá cả vật tư, nguyên liệu, hàng hóa, dịch vụ
tăng nhanh, từ đó sức mua giảm sút, tồn kho tăng cao và kéo dài làm cho lợi nhuận ngày càng giảm
sút, qui mô sản xuất ngày càng bị thu hẹp, tình trạng thua lỗ ngày càng gia tăng. Khi tình trạng này
kéo dài sẽ khiến các nhà đầu tư có xu hướng rút vốn ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh, chuyển
hướng đầu cơ vào những hàng hóa an toàn, giữ được giá trị (như vàng, ngoại ) nhằm bảo toàn tệ…
vốn.
+ Đối với lĩnh vực lưu thông hàng hoá: lạm phát kích thích tâm lí đầu tích trữ hàng hoá,
tạo nên nhu cầu giả tạo, khiến cho sự mất cân đối giữa cung cầu ngày càng gia tăng. Trong bối
cảnh sản xuất ngày càng thu hẹp, nhu cầu đầu cơ tăng lên, điều này càng khiến cho giá cả hàng hóa
ngày càng leo thang, tức là lạm phát ngày càng cao.
+ Đối với lĩnh vực tiền tệ tín dụng: lạm phát làm cho sức mua của đồng tiền giảm sút một cách
nhanh chóng, dân chúng không muốn nắm giữ đồng tiền đó nữa. Khi xảy ra lạm phát cao và nếu lãi
suất nhận gửi nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát thì, dân chúng xu hướng rút tiền gửi tiết kiệm để chuyển
sang những hàng hóa, tài sản an toàn giữ được giá trị như vàng, ngoại Điều này làm hoạt động tệ.
của hệ thống các tổ chức tín khó thu hút được tiền gửi, làm ảnh hưởng lớn đến vai trò điều hoà lưu
thông tiền tệ của ngân hàng.
14
+ Đối với lĩnh vực tài chính Nhà nước: lạm phát làm cho nguồn thu NSNN ngày càng giảm
sút cả về số lượng lẫn giá trị thực tế, trong khi chi tiêu chính phủ ngày càng gia tăng về qui do
nội tệ bị mất giá, dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách và nếu chính phủ bù đắp bằng phát hành tiền
thì sẽ gây ra các vòng xoáy lạm phát.
+ Đối với tiêu dùng và đời sống của người lao động: lạm phát làm cho tiêu dùng thực tế giảm
sút, đời sống dân cư trở nên khó khăn do tiền lương danh nghĩa không đủ đắp cho nhu cầu tiêu
dùng cần thiết, đồng thời tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng.
Tóm lại, hậu quả của lạm phát cao rất nặng nề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến mọi mặt
kinh tế xã hội của đất nước
d. Các biện pháp kiểm soát lạm phát
Để ngăn ngừa lạm phát, các quốc gia cần xây dựng hệ thống các giải pháp cấp kiểm soát
bách và các giải pháp chiến lược
Giải pháp cấp bách:
Các biện pháp cụ thể được áp dụng bao gồm:
- - Các biện pháp về tiền tệ tín dụng: Mục đích của biện pháp này là giảm bớt lượng tiền mặt
trong lưu thông, và kiểm soát được quá trình lưu thông tiền tệ. Vì thế, NHTW và chính phủ cần thực
hiện các biện pháp cụ thể sau:
+ Thắt chặt cung ứng tiền tệ, có thể thực hiện chính sách đóng băng tiền tệ.
+ Quản hạn chế tối đa khả năng "tạo tiền" của NHTM bằng cách tăng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc, kiểm soát tín dụng chặt chẽ, xây dựng hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với các ngân hàng
thương mại…
+ Nâng cao lãi suất tín dụng: mức lãi suất tín dụng điều hành được điều chỉnh theo xu hướng
tăng lên, một mặt để hạn chế các chủ thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng, mặt khác, để thu hút dân
chúng g ửi tiền tiết kiệm hưởng lãi cao.
+ Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn nhàn rỗi trong công chúng: phát triển các hình thức
hấp dẫn như gửi tiền thưởng, gửi tiền nhận lãi trước, tiền gửi lãi suất bậc thang,… hay phát
hành các loại trái phiếu, tín phiếu ngân hàng có lãi suất cao,…
- Các biện pháp chi ngân sách Nhà nướcvề thu- : Mục đích của biện pháp này là làm giảm bớt
tình trạng mất cân đối trong thu chi NS tiến tới cân bằng ngân sách, theo hướng:
+ Tiết kiệm hay giảm chi NS bằng cách cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết, chưa sự
cấp bách.
+ Tăng cường và nâng cao hiệu quả thu của NSNN bằng cách cải cách chính sách thuế
+ Thực hiện chính sách thu bù đắp thiếu hụt ngân sách hợp lý: Vay trong và ngoài nước, kêu
gọi viện trợ,…
- Các biện pháp về điều hành giá cả hàng hóa: thực hiện kiểm soát giá cả điều tiết giá cả
thị trường đối với một số mặt hàng thiết yếu thông qua các biện pháp cụ thể như giảm thuế, phí, trợ
giá, qui định mức giá trần, điều tiết thông qua quĩ dự trữ quốc gia
Ngoài ra, nhà nước có thể áp dụng thêm các biên pháp khác như:
+ Khuyến khích tự do mậu dịch, nới lỏng thuế quan.
+ Ổn định giá vàng và ngoại tệ
Các giải pháp chiến lược:
15
- Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá của nền kinh tế quốc
dân. ếu quĩ hàng hoá được tạo ra với số lượng lớn, phong phú về chủng loại, giá cả ổn định…N sẽ
là tiền đề vững chắc để ổn định lưu thông tiền tệ.
- Điều chỉnh cấu kinh tế, phát triển ngành hàng hoá "mũi nhọn" cho xuất khẩu. Mục đích
của giải pháp này là vừa đáp ứng các nhu cầu bản đời sống việc làm của nhân dân lao động,
vừa tạo nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, vừa tác động đến các hoạt động của các ngành kinh tế
khác.
- Nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lí Nhà nước: Nhà nước cần phải tinh giản biên chế, kiện
toàn bộ máy hành chính,… từ đó tiết kiệm chi tiêu ngân sách, nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản
chi NSNN và điều này về lâu dài sẽ góp phần ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát.
2.5.2 THIỂU PHÁT
Để thể hiểu về thiểu phát (Disflation), trước hết chúng ta tìm hiểu về giảm phát
(Deflation). Giảm phát cả trạng thái ngược lại của lạm phát, xẩy ra khi mức giá chung trong nền
kinh tế giảm xuống nghĩa là, tỷ lệ lạm phát là âm. Nói cách khác, giảm phát là lạm phát với tỷ lệ
lạm phát mang giá trị âm (nhỏ hơn 0).
nhiều nguyên nhân dẫn đến giảm phát. Tuy nhiên, nguyên nhân chính của giảm phát
do tổng cầu trong nền kinh tế . ng thái dư thừa cung so với cầu sẽ làm hàng hóa dịch vụ trở giảm Trạ
nên khó tiêu thụ, tồn kho tăng cao, kinh doanh bị trì trệ, nếu kéo dài thì sẽ thua lỗ, phá sản. Để khắc
phục giảm phát. thông qua các bNhà nước cần thực hiện chính sách kích cầu, nới lỏng tiền tệ iện
pháp như tăng cung tiền, giảm thuế, nới lỏng tín dụng, giảm lãi suất,...
a. Khái niệm
Thiểu phát (Disflation): là sự giảm tỷ lệ lạm phát trong một khoảng thời gian nhất định
Thiểu phát là sự giảm tỷ lệ lạm phát trong một khoảng thời gian nhất định như lạm phát, . Ging
người ta đo lường thiểu phát bằng cách sử dụng chỉ số giá, trong đó, Chỉ số được sử dụng phổ biến
nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Một cách đo ợng thay thế khác là chỉ số giá sản xuất hoặc chỉ
số giảm phát GDP.
b. Nguyên nhân:
- Sự suy thoái hoặc thu hẹp chu kỳ kinh doanh
- Thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ quá mức: những sai lầm trong điều hành chính sách vĩ
mô như thực hiện chính sách của ngân hàng trung việc thắt chặt chính sách tiền tệ quá mức
ương. ó thể xuất phát từ việc ápC dụng các giải pháp chống lạm phát quá liều, chẳng hạn
như thắt chặt tiền tệ, tài khóa và hạn chế cầu quá mức. Hoặc kiểm soát cứng nhắc giá cả của
một số mặt hàng thiết yếu.
- Tổng cầu suy giảm do:
+ Tổng mức vốn đầu tư của XH giảm
+ Lương, thu nhập của người lao động giảm
+ Khủng hoảng TCTT khu vực làm giá HH trên thị trường thế giới giảm
+ Chính phủ thắt chặt chi tiêu ngân sách
c. Ảnh hưởng của thiểu phát đến nền kinh tế xã hội:
Thiểu phát cũng có thể cũng có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế xã hội.
16
- Sản xuất trở nên thiếu sôi động. Lạm phát thấp khiến cho tiền công thực tế cao hơn. Người lao
động vì thế có thể giảm cung lao động và tăng thời gian nghỉ ngơi. Mặt khác, giá cả sản phẩm thấp
làm giảm động lực sản xuất.
- khi Các tổ chức tín dụng gặp khó khăn hơn cho vay, đồng thời lãi suất huy động có xu hướng
giảm trì trthấp từ đó dẫn đến sự của thị trường tín dụng.
- Nếu tình trạng thiểu phát kéo dài có thể dẫn đến giai đoạn giảm phát. Do đó, thiểu phát đôi khi
được coi là tình trạng trước giảm phát.
d. Các biện pháp ổn định tiền tệ trong điều kiện thiểu phát:
Những Giải pháp chiến lược gồm:
Giải pháp chiến lược nhằm đem lại hiệu quả lâu dài đối với nền kinh tế. Nhóm giải pháp này
được áp dụng ngay cả trong điều kiện nền kinh tế không rơi vào tình trạng thiểu phát.
+ Nhà nước điều chỉnh cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư và cơ cấu xuất nhập khẩu để đảm bảo sự
phát triển cân đổi, ổn định và bền vững của nền sản xuất, tránh tình trạng dư thừa sản lượng tiêu thụ
ở một số mặt hàng trong dài hạn, dẫn đến tác động dây chuyền (hiệu ứng đô-mi-nô) tới hàng loạt
các hàng hóa khác và là nguyên nhân gây ra thiểu phát.
+ Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước, thường xuyên theo dõi các biến
động của nền kinh tế, đtừ đó thể đưa ra các giải pháp điều chỉnh kịp thời, ngăn chặn hiệu
quả các hiện tượng tiêu cực của nền kinh tế ngay từ khi mới xuất hiện mầm mống.
* T NG KẾT CHƯƠNG
Kết thúc Chương 2, lưu ý mộ chúng ta cn t s v sau : ấn đề đây
- Th nh ti n n t ất, khái niệm về và các hình thái tiề ệ.
- Th hai, Tin t có 3 chức năng là Chức năng thước đo giá trị ức năng phương tiện trao đổ; ch i và
thanh toán; Chức năng phương tiện tích tr ị. giá tr
- Th ba, phép đo tổng lượng tiền được xác định thông qua 4 khối tiền M1, M2, M3, L. Trong đó,
khi tiền M1 có tính thanh khoản cao nht và khi L có tính thanh khon thp nhất.
- Th 4, tìm hiểu các hin tượng lạm phát, giảm phát và thiểu phát để làm khái ệm, nguyên ni
nhân và n kinh t i pháp vảnh hưởng của chúng đối vi n ế - t t hội, đó, biế được các gi mặt
nguyên lý để điề ế u ti t kh i lượng ti ền có mặt trong lưu thông.
TÀI LIU THAM KHO
1. Giáo trình “Nhập môn Tài chính biên TS. - Ti n t ”, Trường Đại học Thuơng mại, Chủ
Vũ Xuân Dũng, NXB ống kê, 2012.Th
2. Giáo trình ập môn Tài chính “Nh - Ti n t ”, Đạ i h c qu c gia thành ph H Chí Minh ,
Ch biên PGS,TS. S Đình Thành, TS. Vũ Thị Minh H ng, NXB ĐHQG Thành ph H Chí Minh,
2006.
3. Giáo trình “Tài chính Ngân hàng”, PGS,TS. Nguyễn Văn Tiế- Ti n t - n, NXB Thống
kê, 2009.

Preview text:

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TIỀN TỆ
Danh mục các từ viết tắt
CPI: Chỉ số giá tiêu dùng TT: Tiền tệ
LTTT: Lưu thông tiền tệ NS: Ngân sách CĐLTTT: Chế
độ lưu thông tiền tệ NHTM: Ngân hàng thương mại HH: hàng hóa
NHTW: Ngân hàng trung ương
KTTT: Kinh tế thị trường
NSNN: Ngân sách nhà nước * GIỚI THIỆU CHƯƠNG Chương này giới thiệ ữ
u nh ng kiến thức tổng quan về phạm trù tiền tệ cũng như là các hiện
tượng lạm phát, thiểu phát và giảm phát. Từ đó, làm rõ mối quan hệ giữa cặp phạm trù tài chính -
tiền tệ cũng như những thuộc tính độc lập vốn có của tiền tệ. Thông qua chương này, người học sẽ
hiểu được tại sao lạm phát, thiểu phát, giảm phát xảy ra và các giải pháp nào được sử ụ d ng trong
ngắn hạn, dài hạn để đạt được các m c tiêu kinh t ụ ế vĩ mô.
* TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG
Mai và Ngân là 2 sinh viên năm nhất vừa nhậ ọ
p h c tại trường Đại học Thương mại. Nhân
ngày chủ nhật, Mai rủ Ngân ra An Phát Computer.
Mai: Ngân ơi, cậu rảnh không, đi mua laptop với tớ, tớ đi một mình không biết chọn với cả
cầm theo nhiều tiền mặt tớ hơi sợ.
Ngân: Mang theo tiền mặt làm gì, cầm theo thẻ ngân hàng thôi chứ
Mai: Thế có được không, nhỡ h
ọ không cho trả bằng thẻ thì sao?
Ngân: Được chứ cậu, thẻ ngân hàng là một hình thái khác của tiền mà. Sao cậu không để
đến dịp nghỉ 2/9 để đi chọn cho thong thả?
Mai: Tớ sợ laptop lên giá, mẹ tớ bảo mua nhanh kẻo lạm phát đấy.
Ngân: Uh thì đi, chờ tớ 5 phút nhé. Tình hu ng này
đã đề cập đến các vấn đề sau:
- Tiền tệ có những hình thái biểu hiện nào? Vì sao chúng được sử dụng trong thanh toán chi
trả với các hàng hóa khác ?
- Lạm phát là gì, tại sao xảy ra lạm phát và lạm phát đã để lại ảnh hưởng như thế nào đối với nền kinh tế? * MỤC TIÊU:
- Hiểu rõ được các vấn đề cơ bả ề n v tiền tệ: nguồ ố
n g c ra đời của tiền, khái niệm và các hình thái tiền tệ.
- Phân tích được chức năng và vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường và liên hệ thực
tế phát huy các vai trò của tiền trong nền kinh tế. 1
- Nắm được các các vấn đề cơ bản về cung - cầu của tiền tệ trong nền kinh tế như: Các khối
tiền, nhu cầu tiền, các chủ thể cung ứng tiền, một số lý thuyết về tiền và lưu thông tiền tệ
- Hiểu được những vấn đề cơ bản về hiện tượng lạm phát, thiểu phát như: Khái niệm, nguyên
nhân, ảnh hưởng của từng hiện tượng đế ề n n n kinh tế.
- Vận dụng các kiến thức đã được học về tiền tệ, áp dụng dể giải thích, phân tích, đánh giá một số vấn đề thự ễ c tii n có liên quan * NỘI DUNG:
2.1. LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ
2.1.1. Nguồn gốc ra đời
Sự ra đời của tiền gắn liền với quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Trong
thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thuỷ, với công cụ lao động thô sơ, năng suất lao động thấp,
ý thức phân công lao động được hình thành. Trong giai đoạn này, trao
đổi sản phẩm mang tính ngẫu
nhiên và được thực hiện bằng phương thức trao đổi sản phẩm trực tiếp H – H’. Quá trình trao đổi
hàng hoá ở giai đoạn này còn rất sơ khai và chủ yếu được thực hiện dựa trên nguyên tắc sự trùng
khớp ngẫu nhiên về nhu cầu sử dụng. Ngoài ra, trong hình thức trao đổi này người ta còn phải thoả
thuận về tỷ lệ giá trị của hàng hoá, về số lượng hoá trao đổi,... Cùng với việc cải tiến công cụ lao
động và quá trình phân công lao động xã hội ngày một sâu sắc hơn, nền sản xuất hàng hoá phát triển
mạnh, hàng hoá trên thị trường đã phong phú đa dạng hơn, đòi hỏi phạm vi trao đổi phải được mở rộng hơn.
Sự phát triển của quá trình trao đổi hàng hóa dẫn đến vật trung gian trong trao đổi hàng hoá
đã ra đời. Quá trình trao đổi được thể hiện dưới phương trình H-vật trung gian-H’. Ban đầu, vật
trung gian hay vật ngang giá chung là những hàng hoá có thể trao đổi trực tiếp được với nhiều hàng
hoá thông thường khác, như là công cụ lao động, gia súc,… Về sau, với sự phát triển của quá trình
trao đổi, vật ngang giá chung được giới hạn ở một số hàng hoá quý hiếm và có ý nghĩa tượng trưng
như da thú, vỏ sò, vòng đá,... Khi lực lượng sản xuất phát triển, phạm vi không gian trao đổi hàng
hóa được mở rộng, trao đổi hàng hoá đã trở thành nhu cầu thường xuy
ên của con người, tình trạng
có nhiều vật ngang giá chung đã gây khó khăn cho sự lưu thông trao đổi hàng hoá, khi đó vật ngang
giá chung bằng kim loại thay thế dần các vật ngang giá chung khác. Kim loại đầu tiên được sử dụng
làm vật ngang giá chung là sắt và kẽm, sau đó là đồng và bạc. Đến đầu thế kỷ XIX, với những đặc
điểm như tính quý hiếm, tính dễ dát mỏng, chia nhỏ, có tính bền trong sử dụng và gọn nhẹ... vàng
bắt đầu đóng vai trò vật ngang giá chung và hình thái tiền tệ được cố định ở vàng, lúc đó, vàng được
gọi là “kim loại tiền tệ”.
Sự ra đời của vật ngang giá chung trong trao đổi đã đánh dấu giai đoạn mở đầu cho sự xuất
hiện của tiền tệ, đồng thời là bước chuyển hoá từ nền kinh tế trao đổi trực tiếp sang nền kinh tế tiền
tệ. Trải qua tiến trình phát triển, tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau để đáp ứng yêu
cầu ngày càng đa dạng của đời sống kinh tế.
1.1.2. Khái niệm tiền tệ 2
Theo quan điểm của K.Mark, tiền tệ được định nghĩa như sau: Tiền tệ là một loại hàng hóa
đặc biệt, tách ra khỏi thế giới hàng hóa, được dùng làm vật ngang giá chung để đo lường và biểu
hiện giá trị của tất cả các hàng hóa khác và thực hiện trao đổi giữa chúng.
Ngày nay, ở nhiề ốc gia, đặc biệ u qu t là những quố ề
c gia có n n kinh tế thị trường phát triển,
tiền tệ không đơn thuần là phương tiện trao đổi mà người ta còn sử dụng tiền để đầu tư, để cho vay
và xem như một dạng của cải, một đối tượng để sở hữu.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: Tiền là bất cứ thứ gì được chấp nhận
chung trong thanh toán để đổi lấy hàng hóa, dịch vụ và thực hiện các nghĩa vụ tài chính.
2.1.2. Các hình thái tiền tệ 2.1.3.1 Hóa tệ
Hóa tệ là các hàng hóa thông thường đóng vai trò tiền tệ.
- Hoá tệ phi kim lo i
Thời cổ đại ở Trung Quốc, vật ngang giá chung rất đa dạng từ da cừu, vỏ trai đến thóc, vải...;
ở Hy Lạp, La Mã dùng súc vật; Tây Tạng, Mông Cổ dùng chè; Bắc Mỹ dùng thuốc lá,…. làm vật
trung gian trong trao đổi. Những hoá tệ dạng này có nhiều nhược điểm gây khó khăn cho quá trình
trao đổi hàng hóa. Những vật ngang giá chung có ý nghĩa thiết thực đối với dân cư như gia súc, lương thực, nhưng lại
khó bảo quản trong thời gian dài; khó vận chuyển từ nơi này đến nơi khác do
tính cồng kềnh; khó phân chia hay gộp lại nên không thuận tiện khi tham gia trao đổi với các hàng
hóa có giá trị quá nhỏ hay quá lớn so với vật ngang giá chung.
Mặt khác, theo đà phát triển của nền sản xuất, sự hình thành một thị trường rộng lớn đã đòi
hỏi vật ngang giá chung mang tính phổ biến và đồng nhất hơn, do đó dẫn đến việc sử dụng tiền tệ kim loại.
- Hoá tệ kim lo i
Từ thế kỷ thứ 7 trước công nguyên, tiền kim loại đã bắt đầu được sử dụng và phát triển rộng
rãi trong suốt thời kỳ các triều đại phong kiến. Tiền kiêm loại ở các
nước cũng được thay thế từ
những kim loại kém giá (sắt, đồng, kẽm...) đến những kim loại có giá trị cao (bạc, vàng). Khi nền
sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển mạnh mẽ đòi hỏi vật trung gian trao đổi phải có giá trị cao,
tồn tại như một hình thức được nhiều người chấp nhận và phải có độ bền để bảo tồn giá trị theo thời
gian. Từ đó, vàng và bạc đã loại dần các kim loại kém giá, dễ rỉ sét để trở thành tiền tệ phổ biến
trong khoảng thế kỷ 18 và 19. Cho đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, người ta phát hiện ra nhiều
mỏ bạc, năng suất khai thác bạc tăng lên, kim loại bạc được tạo ra nhiều hơn nên giá trị của nó đã
bị suy giảm so với vàng. Lúc này, nhiều nước
lần lượt chuyển sang chế độ đồng tiền vàng. Đặc
trưng quan trọng của hóa tệ kim loại là giá trị danh nghĩa của hóa tệ kim loại khi xuất xưởng luôn
bằng giá trị nội tại của nó. Đồng tiền vàng đủ giá hay vàng thoi, bạc nén là minh chứng rõ nét nhất
cho đặc trưng này: Giá trị danh nghĩa ghi trên bề mặt đồng tiền phải bằng trọng lượng đồng cân của
đồng tiền đó khi xuất xưởng. 3
Hoá tệ kim loại có ưu điểm là tính chất đồng nhất cao về chất lượng, giá trị ít biến đổi, dễ bảo
quản, dễ vận chuyển, dễ chia nhỏ hay gộp lại... Tuy nhiên vẫn có nhược điểm là nguồn khai thác có hạn. 2.1.2.2. Tín tệ
Tín tệ là loại tiền tệ mà bản thân tự nó không có giá trị (hoặc giá trị nội t so ại không đáng kể
với giá trị danh nghĩa), song nhờ có sự tín nhiệm của mọi người mà có giá trị trao đổi và được sử dụng trong lưu thông.
- Tín tệ kim lo i
Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền tệ thuộc hình thái hoá tệ. Ở
hình thái này giá trị nội tại củ ạ
a kim lo i thường không phù hợp với giá trị danh nghĩa của nó. Ở thời
kỳ đầu của tín tệ kim loại, các kim loại có giá trị cao như vàng, bạc được sử dụng làm tín tệ kim loại. - Tiền gi y
Tiền giấy khả hoán
Tiền giấy khả hoán là loại tiền giấy được ấn định tiêu chuẩn giá cả bằng vàng và có thể trực
tiếp chuyển đổi ra vàng theo hàm lượng Nhà nước đã công bố. Tiền giấy khả hoán bắt đầu được lưu
hành khi số lượng tiền đúc bằng vàng trong lưu thông không đủ để làm phương tiện trao đổi, Nhà
nước phát hành tiền giấy vào lưu thông và công bố hàm kim lượng của đồng tiền. Tiền giấy khả
hoán là 1 mảnh giấy được in thành tiền để lưu hành,
thay thế cho tiền bằng vàng hay tiền bằng bạc
mà người ta kí gửi ở ngân hàng. Người có loại tiền giấy này có thể đến ngân hàng để đổ i lấy 1 số
lượng vàng hay một số lư
ợng bạc tương đương với giá trị ghi trên tờ giấy được sử dụng làm tiền
vào bất cứ lúc nào mà họ cần.
Tiền giấy bất khả hoán
Tiền giấy bất khả hoán là tiền giấy được ấn định tiêu chuẩn giá cả bằng pháp luật, bắt buộc lưu
hành và không thể trực tiếp chuyển đổi ra vàng theo tiêu chuẩn Nhà nước quy định. Tiền giấy bất khả
hoán xuất hiện khi nhiều quốc gia trên thế giới không còn đủ vàng để cho dân chúng đổi tiền giấy khả hoán.
Ngày nay các nước đều áp dụng chế độ lưu thông tiền giấy bất khả hoán. Tiền giấy do ngân
hàng trung ương thống nhất phát hành là đồng tiền hợp pháp được lưu hành với giá trị bắt buộc và
nhà nước không thực hiện chuyển đổi tiền giấy ra vàng. Tiền giấy được sử dụng làm phương tiện
trao đổi ngày càng phổ biến vì những tiện lợi như dễ mang theo trong người, dễ cất giữ. Mặt khác,
việc in tiền với nhiều mệnh giá khác nhau có thể đáp ứng cho các nhu cầu trao đổi có giá trị lớn nhỏ khác nhau. - Bút tệ
Bút tệ hay còn gọi là tiền ghi sổ chỉ được tạo ra thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng,
bút tệ không có hình thái vật chất và chỉ là những con số thể hiện số dư trên tài khoản ngân hàng.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngân hàng, quá trình thanh toán được thực hiện thông qu a các 4
bút toán chuyển khoản thông qua
hệ thống ngân hàng. Sự ra đời của tiền ghi sổ cùng với các chứng
từ thanh toán như séc, giấy chuyển ngân, giấy nhờ thu... đã làm đa dạng các phương tiện thanh toán
bên cạnh hình thức thanh toán bằng tiền mặt, đồng thời còn tạo điều kiện giảm bớt những chi phí
lưu hành tiền giấy như in ấn, bảo quản, kiểm điểm, vận chuyển. Vì vậy, việc sử dụng tiền ghi sổ
được coi là xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế phát triển.
- Tiền điện tử (electronic money)
Tiền điện tử là hình thức phát triển cao của tiền ghi sổ (bút tệ) được sử dụng qua hệ thống
thanh toán tự động hay còn gọi là máy trả tiền tự động - ATM (Automated teller machine). Đây là
một hệ thống máy tính điện tử nối mạng với hệ thống thanh toán của ngân hàng trung gian phục vụ
cho việc thanh toán, chi trả của các chủ thể trong xã hội. Tiền điện tử tồn tại và được sử dụng thông
qua các công cụ là các loại thẻ thanh toán như: thẻ tín dụng (Credit cards), thẻ ghi nợ (Debit cards),…
2.2. CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA TIỀN TỆ
2.2.1. Chức năng của tiền tệ
a. Chức năng thước đo giá trị
Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi nó đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hoá
khác và chuyển giá trị của hàng hoá thành giá cả hàng hoá.
Để thực hiện chức năng này, tiền phải thỏa mãn những điều kiện sau:
- Tiền phải có đầy đủ giá trị.
- Tiền phải có tiêu chuẩn giá cả: còn gọi là hàm kim lượng của đ ng ti ồ ền. Ý nghĩa của chức năng:
- Chức năng này đã chuyển đổi giá trị các HH về một chỉ tiêu chung nhất là tiền, giúp các hoạt động,
giao lưu kinh tế được thực hiện thuận lợi hơn. Việc chuyển giá trị hàng hoá thành giá cả là điều kiện
vô cùng quan trọng và tiên quyết để đưa hàng hoá vào quá trình lưu thông.
- Trong nền kinh tế thị trường ch ,
ức năng này của tiền tệ đã giúp cho các doanh nghiệp có thể hạch toán t ng h ổ
ợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm, xác định doanh thu, thu nhập và qua đó
đánh giá hiệu quả kinh doanh. Xem xét rộng ra trên toàn bộ nền kinh tế, tiền còn giúp chúng ta đánh
giá hiệu quả nền kinh tế để có biện pháp tậ ụ n d ng nhữ ồ ng ngu n tài nguyề ố n qu c gia ph c v ụ ụ cho sự
nghiệp xây dựng đất nước.
b. Chức năng phương tiện trao đổi và thanh toán
Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi và thanh toán này khi nó xuất hiện trong lưu thông
với tư cách làm môi giới trung gian cho quá trình trao đổi hàng hoá và là phương tiện để thực hiện
quan hệ thanh toán các khoản nợ và các nghĩa vu tài chính.
Điều kiện của chức năng: - Phải có sức mua ổ
n định hoặc không suy giảm quá nhiều trong 1 khoảng thời gian nhất định
- Số lượng tiền tệ phải được cung ứng đầy đ
ủ cho nhu cầu lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế. 5 Ý nghĩa của chức năng:
+ Việc sử dụng tiền tệ làm phương tiện trao đổi và thành toán đã tách quá trình trao đổi HH thành
2 quá trình bán – mua, tách biệt về không gian và thời gian.
+ Quá trình trao đổi HH diễn ra nhanh chóng thuận lợi. Do đó đã t
húc đẩy hiệu quả của nền kinh tế
qua việc giảm bớt thời gian và chi phí phải gánh chịu khi trao đổi hàng hóa dịch vụ và thúc đẩy quá
trình chuyên môn hóa, đồng thời góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội.
+ Tạo điều kiện cho hệ th ng ngân hàng v ố
à các phương tiện thanh toá ùng ti n không d ền mặt phát triển.
c. Chức năng phương tiện cất trữ/ tích lũy giá trị
Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện cất trữ giá trị khi nó tạm thời rút khỏi lưu thông tồn tại dưới dạng giá trị ự d trữ để
đáp ứng cho nhu cầu mua sắm chi trả trong tương lai.
Điều kiện thực hiện chức năng:
- Tiền phải có giá trị nội tại hay là tiền đủ giá hoặc phải có sức mua ổn định, lâu dài.
- Giá trị dữ trữ phải được thể hiện bằng những phương tiện hiện thực và được xã hội thừa
nhận. Hay nói cách khác, phải thể hiện bằng tiền mặt hoặc các phương tiện chuyển tải giá
trị khác được xã hội thừa nhận.
Khi thực hiện chức năng phương tiện cất trữ, tiền ở trạng thái không vận động, không phục vụ cho
quá trình lưu thông hàng hoá.
Ý nghĩa của chức năng: Chức năng này cho phép người sở hữu tiề ự
n d trữ một sức mua cho các
giao dịch trong tương lai.
2.2.2. Vai trò của tiền tệ
Tiền tệ là phương tiện để mở rộng và phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá
Tiền tệ trở thành công cụ thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển vì những lí do sau:
- Nhờ có chức năng thước đo giá trị, giá trị của hàng hoá được biểu hiện một cách đơn giản
hơn, đều được biểu hiện bằng tiền, do đó chúng có thể so sánh dễ dàng với nhau. Trên cơ sở này,
người lao động có thể so sánh được với nhau về mức độ và trình độ lao động mình đã bỏ ra cho xã
hội trong một đơn vị thời gian.
- Nhờ chức năng phương tiện thanh toán, đã làm cho sự trao đổi hàng hoá không bị ràng buộc
về không gian và thời gian, làm cho hàng hoá đi từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng một cách trôi chảy hơn.
- Nhờ chức năng phương tiện cất trữ của tiền tệ, việc hạch toán và tính toán hiệu quả kinh
doanh trở nên thuận tiện và đầy đủ; quá trình tích luỹ tiền tệ được thực hiện để mở rộng qui mô sản xuất và kinh doanh.
Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế 6
Nhờ có tiền, mối quan hệ nhiều mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội) giữa các quốc gia trên
thế giới sẽ được hình thành và phát triển, làm cho xu thế hòa nhập trong các lĩnh vực kinh tế - xã
hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật… giữa các nước ngày càng sâu rộng.
Tiền tệ là phương tiện phục vụ mục đích của người sở hữu chúng
Trong điều kiện kinh tế thị trường, từ các cá nhân, các
tổ chức, để tồn tại, hoạt động và phát
triển, đều cần có nguồn lực vật chất thể hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, và tất cả các mục đích
đó đều có thể được thỏa mãn thông qua việc dùng tiền để mua sắm.
2.3. CÁC CHẾ ĐỘ LƯU THÔNG TIỀN TỆ
2.3.1. Khái niệm và các yếu tố cơ bản của chế độ lưu thông tiền tệ (CĐLTTT)
a. Khái niệm:
Chế độ LTTT được hiểu là hình thức tổ chức lưu thông TT của 1 quốc gia hay nhóm quốc
gia được quy định thành luật pháp, trong đó các yếu tố cấu thành của lưu thông TT được kết hợp
thành 1 hệ thống thống nhất.
b. Các yếu tố cơ bản của chế độ lưu thông tiền tệ
Có 4 yếu tố cấu thành cơ bản sau đây:
- Bản vị tiền: Đây chính là kim loại được sử dụng làm thước đo giá trị và phương tiện lưu
thông thống nhất của quốc gia. Trong chế độ nô lệ và phong kiến bản vị tiền là kẽm và đồng. Trong
thời Chủ nghĩa Tư bản, bản vị tiền là bạc sau đó là vàng.
- Đơn vị tiền tệ: yếu tố này có sự khác biệt ở mỗi quốc gia. Đơn vị tiền tệ bao gồm: tên gọi
của đồng tiền và qui định tiêu chuẩn giá cả của đồng tiền. Đồng tiền của mỗi quốc gia sẽ có tên gọi
khác nhau. Còn tiêu chuẩn giá cả là trọng lượng kim loại được qui định cho mỗi đơn vị tiền tệ (tiêu
chuẩn này sẽ thay đổi tuỳ vào điều kiện kinh tế khách quan trong từng thời kỳ của từng nước. Ngày
nay, hầu hết các nước đều lưu hành tiền giấy nên việc quy định tiêu chuẩn giá cả của đồng tiền bằng
một hàm kim lượng không còn ý nghĩa nữa. Vì người tiêu dùng không
còn quan tâm đến tiêu chuẩn
giá cả của đồng tiền mà họ chỉ quan tâm đến sức mua của đồng tiền.
- Qui định chế độ đúc tiền và lưu thông tiền đúc: Mỗi nước có luật đúc tiền riêng liên quan
đến các vấn đề về: khuôn mẫu, hình dáng của đồng tiền đúc và cách thức phát hành. Yếu tố này hết
sức quan trọng đối với các quốc gia trong giai đoạn còn áp dụng chế độ lưu thông tiền kim loại.
- Qui định chế độ lưu thông các dấu hiệu giá trị: Khi Chủ nghĩa Tư bản ra đời, bên cạnh cơ
chế phát hành và lưu thông tiền kim loại, một bộ phận giao dịch được thực hiện bằng các loại tiền
dấu hiệu như là tiền giấy, tiền ghi sổ (bút tệ), tiền điện tử, bên cạnh đó, còn có sự xuất hiện của các
công cụ tài chính như: kỳ phiếu thương mại, kỳ phiếu ngân hàng, séc,… Việc phát hành các loại
tiền dấu hiệu này, tuỳ theo pháp luật mỗi nước, sẽ có qui định riêng về cơ sở đảm bảo giá trị nhằm
mục đích hạn chế khối lượng phát hành và đảm bảo lưu thông tiền tệ không bị rối loạn.
Trải qua thời gian dài tồn tại và phát triển, có hai chế độ lưu thông tiền tệ cùng với các mức
độ phát triển khác nhau của tiền tệ trong hai chế độ đó. 7
- Chế độ lưu thông tiền kim loại, bao gồm các giai đoạn sau:
* Lưu thông tiền kém giá: ở chế độ này, các kim loại kém giá giữ vị trí chủ yếu trong quá
trình lưu thông tiền tệ. Tiền đúc từ đồng và kẽm đã xuất hiện trong chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến.
* Lưu thông tiền đủ giá: đây là chế độ lưu thông tiền bạc và vàng, xuất hiện trong giai đoạn
đầu của kinh tế thị trường. Gồm các thời kỳ:
+Chế độ bản vị bạc: Là chế độ lưu thông tiền tệ trong đó bạc được sử dụng làm thước đo giá
trị và phương tiện lưu thông. Nửa cuối thế kỷ XIX, ở các nước Nga, Ấn độ, Hà lan, Nhật bản, …
bạc đã được sử dụng phổ biến như là tiền trong lưu thông. Khi hàng loạt mỏ bạc được phát hiện ở
Mexico, giá trị của bạc giảm xuống đáng kể nên ở một số quốc gia, bạc đã không còn thích hợp
với vai trò là tiền tệ nữa.
+ Chế độ song bản vị: Trong chế độ này, bạc và vàng đều được sử dụng làm tiền tệ. Trong lưu
thông, hai thứ kim loại này có quyền lực ngang nhau và đều được thanh toán không hạn chế theo
giá trị của chúng. Do bạc khai thác được nhiều nên giá trị của nó ngày càng giảm, còn giá trị của
vàng ngày càng tăng do khai thác khó khăn. Lúc này, vàng là thước đo giá trị của bạc, còn bạc là
thước đo giá trị của các hàng hoá khác, đây là chế độ song bản vị thả nổi. Do giá trị của Vàng ngày
càng tăng so với bạc nên dân chúng có xu hướng mua vàng cất trữ. Dẫn đến dần dần, bạc bị loại bỏ
khỏi vị trí tiền tệ, chỉ còn lại vàng đóng vai trò là tiền tệ
+ Chế độ bản vị vàng: Là chế độ lưu thông tiền tệ trong đó duy nhất vàng được sử dụng làm tiền tệ.
Chế độ lưu thông phù hiệu (dấu hiệu) giá trị:
Trong lưu thông, tiền đúc bằng kim loại dần dần bị hao mòn đi một phần, mặc dù vậy nó vẫn
thực hiện được chức năng phương tiện lưu thông. Đây là bước đầu tiên để dẫn đến việc thay thế tiền
có giá hoàn toàn bằng các dấu hiệu của giá trị. Bên cạnh đó, việc Nhà nước phát hành vào lưu thông
những đồng tiền không đủ giá thực chất là làm giảm bớt trọng lượng của đồng tiền. Từ đó, người ta
phát hành tiền giấy thay thế cho tiền đủ giá để làm chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán.
2.4. CUNG CẦU TIỀN TỆ
2.4.1. Các khối tiền trong lưu thông
Trong nền kinh tế hiện đại sử dụng nhiều loại tiền với khối lượng lớn, cơ quan quản lý tiền tệ
các quốc gia sẽ xây dựng một phép đo tổng lượng tiền trong lưu thông để biết một cách chính xác
các thành phần của lượng tiền cung ứng vào lưu thông bao gồm các bộ phận nào, từ đó dự báo được
những biến động kinh tế cũng như có những biện pháp điều chỉnh hợp lý. Để dẫn ra một mô hình
của quá trình cung ứng tiền tệ, người ta phân biệt các khối tiền trong lưu thông như sau:
- Khối tiền tệ M1 (Khối tiền tệ giao dịch): Đây là khối tiền tệ theo nghĩa hẹp nhất về lượng
tiền cung ứng, nó chỉ bao gồm những phương tiện được chấp nhận ngay trong trao đổi hàng hoá, 8
mà không phải qua một bước chuyển đổi nào. Với khối tiền tệ này, tổng lượng tiền cung ứng bao gồm:
+ Tiền đang lưu hành: gồm toàn bộ tiền mặt do ngân hàng trung ương phát hành đang lưu hành
ngoài hệ thống ngân hàng. Xét về chủng loại, tiền đang lưu hành bao gồm các loại tiền giấy, tiền xu, ngân phiếu, ...
+ Tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng thương mại: là loại tiền gửi mà chủ sở hữu của nó có
thể rút ra hoặc phát hành séc để thanh toán tiền mua hàng hoá hay dịch vụ vào bất kỳ lúc nào.
- Khối tiền tệ M2 (Khối tiền giao dịch mở rộng): Đây là phép đo khối lượng tiền rộng hơn
trong lưu thông. Khối tiền tệ này bao gồm: + Khối tiền tệ M1.
+ Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại.
- Khối tiền tệ M3: bao gồm: + Khối tiền tệ M2.
+ Các khoản tiền gửi tại các định chế tài chính khác.
- Khối tiền tệ L (M4): Trong khối tiền tệ này, tổng lượng tiền cung ứng bao gồm: + Khối tiền tệ M3.
+ Các loại giấy tờ có giá trong thanh toán có tính lỏng cao, tức là dễ chuyển thành tiền mặt,
có thể kể đến như: thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu.
Trong các khối tiền kể trên, khối tiền tệ M1 là khối có tính lỏng cao nhất. Khi khối tiền tệ được
mở rộng theo các phép đo từ M1 đến L thì tính lỏng của nó càng thấp.
2.4.2 Nhu cầu tiền trong nền kinh tế
Trong nền kinh tế tiền tệ, có 2 nhu cầu sử dụng tiền chủ yếu chi phối đời sống kinh tế xã hội
là nhu cầu tiền phục vụ đầu tư và nhu cầu tiền phục vụ tiêu dùng.
Khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu tiền cho đầu tư của các chủ thể càng đa dạng và
phong phú do các DN muốn mở rộng qui mô hoạt động sản xuất kinh doanh, muốn sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn
nhàn rỗi và các cá nhân muốn kiếm lợi nhuận từ đồng tiền tiết kiệm của mình.
Nhu cầu tiền cho đầu tư phụ thuộc vào các yếu tố: mối quan hệ giữa lãi suất tín dụng của ngân hàng
với mức tỷ suất lợi nhuận trên vốn và yếu tố thu nhập của các chủ thể.
Nhu cầu tiền dành cho tiêu dùng trong nền kinh tế xã hội cũng rất phong phú. Các DN, cá
nhân cần tiền để phục vụ cho các giao dịch của mình như mua sắm hàng hoá, dịch vụ, thanh toán
công nợ, nộp thuế hoặc dành một phần thu nhập bằng tiền cho mục đích dự phòng rủi ro. Chính phủ
cần tiền để tiêu dùng, cung cấp các hàng hóa dịch vụ công. Nhu cầu tiền cho tiêu dùng phụ thuộc
vào mức thu nhập và giá cả của các hàng hóa dịch vụ.
2.4.3 Các chủ thể cung ứng tiền trong nền kinh tế
Nếu hiểu khối tiền theo nghĩa rộng thì các chủ thể cung ứng tiền trong nền kinh tế sẽ bao gồm: 9
- NHTW: NHTW là cơ quan độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông. Các loại
tiền NHTW cung ứng bao gồm các loại tiền giấy, tiền xu, ngân phiếu,… nhằm phục vụ nhu cầu trao
đổi, thanh toán trong nền kinh tế xã hội.
- Các ngân hàng trung gian: Các ngân hàng trung gian có chức năng điều chuyển tiền tệ giữa
các chủ thế cung ứng vốn và chủ thể cầu vốn, đồng thời cung ứng tiền ghi sổ được giao dịch thông
qua các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt (như là séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm
thu ….), các loại thẻ thanh toán và các giấy tờ có giá như trái phiếu ngân hàng thương mại, kỳ phiếu, tín phiếu ngân hàng…. - C
ác chủ thể khác: Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển, các loại chứng từ có giá
có tính thanh khoản cao như Tín
phiếu, Trái phiếu, thương phiếu, cổ phiếu…cũng được xem là một
loại phương tiện trao đổi. Nhà nước và các doanh nghiệp là chủ thể phát hành ra loại phương tiện
này cũng có thể được coi là các chủ thể cung ứng tiền trong nền kinh tế.
2.4.4 Một số lý thuyết về tiền tệ và lưu thông tiền tệ
Để đo lường và đánh giá mối quan hệ giữa cầu tiền với các yếu tố liên quan, các nhà nghiên
cứu kinh tế đã đưa ra một số lý thuyết, tiêu biểu như là:
Thuyết về số lượng tiền tệ
- I.Fisher (Nhà kinh tế học người Mỹ): M.V = P.Q Trong đó:
M: Khối lượng tiền tệ trong lưu thông
V: Tốc độ lưu thông tiền tệ P: Mức giá trung bình
Q: Tổng lượng hàng hoá và dịch vụ được trao đổi
Từ đó, Fisher đã đi đến kết luận: Cầu về tiền tệ là một hàm số được xác định bởi:
- Mức thu nhập danh nghĩa
- Thói quen tiến hành các giao dịch của dân chúng và nguồn cung ứng vào lưu thông
tăng hay giảm là do chính sách phát hành tiền tệ của NHTW. - Milton Friedman:
Theo Friedman, số cung tiền tệ hoặc được xác định bằng số lượng tiền đưa vào lưu
thông hoặc bởi số tiền do Nhà nước hoặc hệ thống ngân hàng tạo ra. Nhu cầu về tiền là
một hàm số với nhiều biến số trong đó có thu nhập, giá cả, lãi suất, cơ cấu tài sản và sự ưu thích cá nhân…
Luận điểm của Friedman được diễn tả bằng công thức sau: 10 Md = f(Yn,i) Trong đó:
Md: số lượng tiền cần cung ứng cho lưu thông Yn: thu nhập danh nghĩa i: lãi suất danh nghĩa
Thuyết về ưu thích thanh khoản của Keynes:
Với lý thuyết về ưu thích thanh khoản của mình, Keynes đã đưa ra kế luận: Sự ưa thích tiền
mặt là hàm số của lãi suất và được mô tả qua công thức: M = L(r) Trong đó:
M: khối lượng tiền tệ
L là hàm số ưa chuộng tiền mặt r: lãi suất
Học thuyết về lãi suất là một bộ phận cấu thành quan trọng trong tư tưởng của Keynes. Theo
ông, Nhà nước có thể dùng chính sách điều chỉnh lãi suất như một chính sách vĩ mô không chỉ ảnh
hưởng đến mức cầu tiền tệ mà còn tác động vào nền kinh tế.
Quy luật lưu thông tiền tệ của K. Mark:
K. Mark cho rằng khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông sẽ bằng tổng giá cả hàng hoá
trong lưu thông chia cho tốc độ lưu thông trung bình của tiền tệ với công thức tổng quát: Kc = H/V
Trong đó: Kc: khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông
H: tổng giá cả hàng hoá trong lưu thông
V: tốc độ lưu thông trung bình của tiền tệ.
Tiền tệ tham gia vào lưu thông không những với tư cách là phương tiện lưu thông, mà còn cả
với tư cách là phương tiện thanh toán. Do vậy, khi trao đổi hàng hoá xuất hiện quan hệ tín dụng giữa
người mua, bán chịu hàng hoá,..
Cùng với việc đưa ra công thức xác định khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông. Quy luật
lưu thông tiền tệ của Mark còn chỉ ra rằng:
- Nếu khối lượng tiền tệ trong lưu thông lớn hơn khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông sẽ
làm cho giá cả hàng hoá tăng lên, hay nói cách khác là cung đã vượt quá cầu tiền tệ, nguy
cơ lạm phát xuất hiện.
- Nếu khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhỏ hơn khối lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông
sẽ làm cho giá cả hàng hoá có nguy cơ giảm xuống, thiểu phát rồi giảm phát có thể xuất hiện. 11
2.5. LẠM PHÁT, THIỂU PHÁT 2.5.1 Lạm phát
a. Khái niệm và các mức độ lạm phát
- Lạm phát là hiện tượng phát hành tiền vào lưu thông vượt quá lượng tiền cần thiết trong lưu
thông, khiến sức mua của đồng tiền giảm sút, không phù hợp với giá trị danh nghĩa mà nó đại diện.
- Lạm phát là sự tăng mức giá chung liên tục của hàng hóa, dịch vụ theo thời gian và là sự mất
giá của một loại tiền tệ nào đó.
Có 3 mức độ lạm phát:
- Lạm phát vừa phải: Đây là lạm phát mà tỷ lệ tăng giá của hàng hoá trong khoảng dưới 10%/
năm, còn gọi là lạm phát 1 con số
- Lạm phát phi mã: là lạm phát xảy ra khi giá cả hàng hoá bắt đầu tăng với tỷ lệ hai hoặc ba con số.
- Siêu lạm phát: là loại lạm phát mà giá cả hàng hoá tăng ở mức ba, bốn con số, cao gấp nhiều
lần so với lạm phát phi mã.
Trong thực tiễn, mức độ lạm phát như thế nào là cao hay thấp còn phụ thuộc vào trình độ
phát triển kinh tế thị trường và
tình hình cụ thể của từng quốc gia hoặc nhóm quốc gia trong từng thời kỳ.
b. Nguyên nhân chủ yếu:
Khi xem xét nguyên nhân dẫn đến lạm phát, người ta thường chia thành các nhóm nguyên nhân như sau:
- Nhóm nguyên nhân liên quan đến các chính sách của Nhà nước: Những thay đổi về chính
sách tài chính-tiền tệ của Chính phủ như chính sách thu chi NSNN, chính sách tiền tệ, chính sách
giá cả, chính sách tỷ giá,…làm cho khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế biến động hay làm cho giá
ngoại tệ tăng lên. Trong một số trường hợp, do sự thay đổi chính sách thu chi NSNN của Chính phủ
đã dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách và buộc phải phát hành tiền để bù đắp thâ m hụt NSNN vượt
quá lượng tiền cần thiết nên lạm phát đã xảy ra; hoặc những thay đổi trong chính sách tiền tệ tín dụng, như là ngân
hàng trung ương nới lỏng cung ứng tiền tệ bằng biện pháp giảm tỷ lệ dự trữ bắt
buộc hoặc bơm tiền vào lưu thông thông qua nghiệp vụ thị trường mở đã làm gia tăng khối lượng
tiền cung ứng cho nền kinh tế, nếu lượng tiền gia tăng này quá lớn, vượt quá nhu cầu của nền kinh
tế sẽ dẫn đến lạm phát xảy ra.
- Nhóm nguyên nhân liên quan đến các chủ thể kinh doanh: Do quản lý điều hành kinh doanh
yếu kém, các cơ sở kinh doanh có thể làm tăng giá cả các yếu tố đầu vào. Khi giá cả của các yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất tăng lên, đặc biệt là giá các nguyên nhiên vật liệu cơ bản của nền sản
xuất (xăng, dầu, sắt, thép, xi-măng,...) gia tăng sẽ đội giá thành sản phẩm và làm cho giá bán sản
phẩm tăng lên. Khi giá bán của các các sản phẩm thiết yếu tăng lên, sẽ gây ra hiệu ứng tăng giá dây
chuyền trên diện rộng. Lúc này, nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát. 12
- Nhóm nguyên nhân liên quan đến điều kiện tự nhiên: Những rủi ro như dịch bệnh, hạn hán,
lũ lụt, động đất, núi lửa,... trên diện rộng thường
để lại hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế xã
hội và để khắc phục đòi hỏi Nhà nước cần chi một lượng tiền không nhỏ vào lưu thông. Bên cạnh
đó, tình trạng khan hiếm hàng hóa cục bộ và nhất thời cũng là một hiện tượng tất yếu của hậu thiên
tai, dịch bệnh. Lúc này, nếu Chính phủ không có những kế sách khắc phục những rủi ro này một
cách phù hợp thì chính những hiện tượng này đã đẩy khu vực đó và nền kinh tế rơi vào lạm phát.
Tuy nhiên, lạm phát bắt nguồn từ nguyên nhân này hầu như chỉ xảy ra mang tính ngắn hạn và cục
bộ ở những nền kinh tế yếu kém.
Ngoài những nhóm nguyên nhân trên, lạm phát còn có thể xảy ra bởi một số nguyên nhân khác
như là: xảy ra chiến tranh, bất ổn chính trị, xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ,…
Thông thường, một nền kinh tế
xảy ra lạm phát không thể chỉ bắt nguồn bởi một hoặc một
nhóm nguyên nhân, mà sẽ là kết quả của tổng hợp tác động của nhiều nguyên nhân nêu trên.
c. Ảnh hưởng của lạm phát đến nền KT
Lạm phát là một hiện tượng rất phổ biến của nền kinh tế vận hành theo c
ơ chế thị trường. Tùy
thuộc vào mức độ của lạm phát mà nó có những ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế xã hội.
Nếu lạm phát ở mức độ vừa phải thì nó sẽ có tác dụng kích thích nền kinh tế xã hội phát triển.
Thậm chí nhiều nước còn coi đây là như là
một chính sách của Nhà nước để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Khi chính phủ tăng cung tiền tệ ở mức hợp lý thì sẽ có tác dụng kích thích sản xuất trong
nước phát triển, giảm tình trạng thất nghiệp. Lúc này, giá cả hàng hóa có xu hướng tăng nhẹ và giá
trị của đồng nội tệ bị mất giá nhẹ so với đồng ngoại tệ. Điều này sẽ kích thích hoạt động xuất khẩu,
hạn chế hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài,…
Nếu lạm phát ở mức độ cao và quá cao (lạm phát phi mã và siêu lạm phát), sẽ có ảnh hưởng
xấu và rất xấu đến các lĩnh vực của nền kinh tế xã hội, cụ thể:
+ Đối với lĩnh vực sản xuất: lạm
phát làm cho giá cả vật tư, nguyên liệu, hàng hóa, dịch vụ
tăng nhanh, từ đó sức mua giảm sút, tồn kho tăng cao và kéo dài làm cho lợi nhuận ngày càng giảm
sút, qui mô sản xuất ngày càng bị thu hẹp, tình trạng thua lỗ ngày càng gia tăng. Khi tình trạng này
kéo dài sẽ khiến các nhà đầu tư có xu hướng rút vốn ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh, chuyển
hướng đầu cơ vào những hàng hóa an toàn, giữ được giá trị (như vàng, ngoại tệ…) nhằm bảo toàn vốn.
+ Đối với lĩnh vực lưu thông hàng hoá: lạm phát kích thích tâm lí đầu cơ tích trữ hàng hoá,
tạo nên nhu cầu giả tạo, khiến cho
sự mất cân đối giữa cung và cầu ngày càng gia tăng. Trong bối
cảnh sản xuất ngày càng thu hẹp, nhu cầu đầu cơ tăng lên, điều này càng khiến cho giá cả hàng hóa
ngày càng leo thang, tức là lạm phát ngày càng cao.
+ Đối với lĩnh vực tiền tệ tín dụng: lạm phát làm cho sức mua của đồng tiền giảm sút một cách
nhanh chóng, dân chúng không muốn nắm giữ đồng tiền đó nữa. Khi xảy ra lạm phát cao và nếu lãi
suất nhận gửi nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát thì, dân chúng có xu hướng rút tiền gửi tiết kiệm để chuyển
sang những hàng hóa, tài sản an toàn giữ được giá trị như vàng, ngoại tệ. Điều này làm hoạt động
của hệ thống các tổ chức tín khó thu hút được tiền gửi, làm ảnh
hưởng lớn đến vai trò điều hoà lưu
thông tiền tệ của ngân hàng. 13
+ Đối với lĩnh vực tài chính Nhà nước: lạm phát làm cho nguồn thu NSNN ngày càng giảm
sút cả về số lượng lẫn giá trị thực tế, trong khi chi tiêu chính phủ ngày càng gia tăng về qui mô do
nội tệ bị mất giá, dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách và nếu chính phủ bù đắp bằng phát hành tiền
thì sẽ gây ra các vòng xoáy lạm phát.
+ Đối với tiêu dùng và đời sống của người lao động: lạm phát làm cho tiêu dùng thực tế giảm
sút, đời sống dân cư trở nên khó khăn do tiền lương danh nghĩa không đủ bù đắp cho nhu cầu tiêu
dùng cần thiết, đồng thời tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng.
Tóm lại, hậu quả của lạm phát cao là rất nặng nề và nghiêm trọng, ảnh hưởng đến mọi mặt
kinh tế xã hội của đất nước
d. Các biện pháp kiểm soát lạm phát
Để ngăn ngừa và kiểm soát lạm
phát, các quốc gia cần xây dựng hệ thống các giải pháp cấp
bách và các giải pháp chiến lược
Giải pháp cấp bách:
Các biện pháp cụ thể được áp dụng bao gồm:
- Các biện pháp về tiền tệ- tín dụng: Mục đích của biện pháp này là giảm bớt lượng tiền mặt
trong lưu thông, và kiểm soát được quá trình lưu thông tiền tệ. Vì thế, NHTW và chính phủ cần thực
hiện các biện pháp cụ thể sau:
+ Thắt chặt cung ứng tiền tệ, có thể thực hiện chính sách đóng băng tiền tệ.
+ Quản lí và hạn chế tối đa khả năng "tạo tiền" của NHTM bằng cách tăng tỷ lệ dự trữ bắt
buộc, kiểm soát tín dụng chặt chẽ, xây dựng hạn mức tăng trưởng tín dụng đối với các ngân hàng thương mại…
+ Nâng cao lãi suất tín dụng: mức lãi suất tín dụng điều hành được điều chỉnh theo xu hướng
tăng lên, một mặt để hạn chế các chủ thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng, mặt khác, để thu hút dân
chúng gửi tiền tiết kiệm hưởng lãi cao.
+ Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn nhàn rỗi trong công chúng: phát triển các hình thức
hấp dẫn như là gửi tiền có thưởng, gửi tiền nhận lãi trước, tiền gửi lãi suất bậc thang,… hay phát
hành các loại trái phiếu, tín phiếu ngân hàng có lãi suất cao,…
- Các biện pháp về thu-chi ngân sách Nhà nước: Mục đích của biện pháp này là làm giảm bớt
tình trạng mất cân đối trong thu chi NS tiến tới cân bằng ngân sách, theo hướng:
+ Tiết kiệm hay giảm chi NS bằng cách cắt giảm các khoản chi chưa thật sự cần thiết, chưa cấp bách.
+ Tăng cường và nâng cao hiệu quả thu của NSNN bằng cách cải cách chính sách thuế
+ Thực hiện chính sách thu bù đắp thiếu hụt ngân sách hợp lý:
Vay trong và ngoài nước, kêu gọi viện trợ,…
- Các biện pháp về điều hành giá cả hàng hóa: thực hiện kiểm soát giá cả và điều tiết giá cả
thị trường đối với một số mặt hàng thiết yếu thông qua các biện pháp cụ thể như giảm thuế, phí, trợ
giá, qui định mức giá trần, điều tiết thông qua quĩ dự trữ quốc gia
Ngoài ra, nhà nước có thể áp dụng thêm các biên pháp khác như:
+ Khuyến khích tự do mậu dịch, nới lỏng thuế quan.
+ Ổn định giá vàng và ngoại tệ
Các giải pháp chiến lược: 14
- Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá của nền kinh tế quốc
dân. Nếu quĩ hàng hoá được tạo ra với số lượng lớn, phong phú về chủng loại, giá cả ổn định… sẽ
là tiền đề vững chắc để ổn định lưu thông tiền tệ.
- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phát triển ngành hàng hoá "mũi nhọn" cho xuất khẩu. Mục đích
của giải pháp này là vừa đáp ứng các nhu cầu cơ bản đời sống và việc làm của nhân dân lao động,
vừa tạo nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, vừa tác động đến các hoạt động của các ngành kinh tế khác.
- Nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lí Nhà nước: Nhà nước cần
phải tinh giản biên chế, kiện
toàn bộ máy hành chính,… từ đó tiết kiệm chi tiêu ngân sách, nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản
chi NSNN và điều này về lâu dài sẽ góp phần ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát. 2.5.2 THIỂU PHÁT
Để có thể hiểu rõ về thiểu phát (Disflation), trước hết chúng ta tìm hiểu về giảm phát
(Deflation). Giảm phát là trạng thái ngược lại của lạm phát, xẩy ra khi mức giá cả chung trong nền
kinh tế giảm xuống – nghĩa là, tỷ lệ lạm phát là âm. Nói cách khác, giảm phát là lạm phát với tỷ lệ
lạm phát mang giá trị âm (nhỏ hơn 0).
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến giảm phát. Tuy nhiên, nguyên nhân chính của giảm phát là
do tổng cầu trong nền kinh tế giảm. Trạng thái dư thừa cung so với cầu sẽ làm hàng hóa dịch vụ trở
nên khó tiêu thụ, tồn kho tăng cao, kinh doanh bị trì trệ, nếu kéo dài thì sẽ thua lỗ, phá sản. Để khắc
phục giảm phát. Nhà nước cần
thực hiện chính sách kích cầu, nới lỏng tiền tệ thông qua các biện
pháp như tăng cung tiền, giảm thuế, nới lỏng tín dụng, giảm lãi suất,... a. Khái niệm
Thiểu phát (Disflation): là sự giảm tỷ lệ lạm phát trong một khoảng thời gian nhất định
Thiểu phát là sự giảm tỷ lệ lạm phát trong một khoảng thời gian nhất định. Giố như lạm ng phát,
người ta đo lường thiểu phát bằng cách sử dụng chỉ số giá, trong đó, Chỉ số được sử dụng phổ biến
nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Một cách đo lượng thay thế khác là chỉ số giá sản xuất hoặc chỉ số giảm phát GDP. b. Nguyên nhân:
- Sự suy thoái hoặc thu hẹp chu kỳ kinh doanh
- Thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ quá mức: những sai lầm trong điều hành chính sách vĩ
mô như việc thực hiện chính sách thắt chặt chính sách tiền tệ quá mức của ngân hàng trung
ương. Có thể xuất phát từ việc áp dụng các giải pháp chống lạm phát quá liều, chẳng hạn
như thắt chặt tiền tệ, tài khóa và hạn chế cầu quá mức. Hoặc kiểm soát cứng nhắc giá cả của
một số mặt hàng thiết yếu. - Tổng cầu suy giảm do:
+ Tổng mức vốn đầu tư của XH giảm
+ Lương, thu nhập của người lao động giảm
+ Khủng hoảng TCTT khu vực làm giá HH trên thị trường thế giới giảm
+ Chính phủ thắt chặt chi tiêu ngân sách
c. Ảnh hưởng của thiểu phát đến nền kinh tế xã hội:
Thiểu phát cũng có thể cũng có thể gây ra những ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế xã hội. 15
- Sản xuất trở nên thiếu sôi động. Lạm phát thấp khiến cho tiền công
thực tế cao hơn. Người lao
động vì thế có thể giảm cung lao động và tăng thời gian nghỉ ngơi. Mặt khác, giá cả sản phẩm thấp
làm giảm động lực sản xuất.
- Các tổ chức tín dụng gặp khó khăn hơn khi cho vay, đồng thời lãi suất huy động có xu hướng
giảm thấp từ đó dẫn đến sự trì trệ của thị trường tín dụng.
- Nếu tình trạng thiểu phát kéo dài có thể dẫn đến giai đoạn giảm phát. Do đó, thiểu phát đôi khi
được coi là tình trạng trước giảm phát.
d. Các biện pháp ổn định tiền tệ trong điều kiện thiểu phát:
Những Giải pháp chiến lược gồm:
Giải pháp chiến lược nhằm đem lại hiệu quả lâu dài đối với nền kinh tế. Nhóm giải pháp này
được áp dụng ngay cả trong điều kiện nền kinh tế không rơi vào tình trạng thiểu phát.
+ Nhà nước điều chỉnh cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư và cơ cấu xuất nhập khẩu để đảm bảo sự
phát triển cân đổi, ổn định và bền vững của nền sản xuất, tránh tình trạng dư thừa sản lượng tiêu thụ
ở một số mặt hàng trong dài hạn, dẫn đến tác động dây chuyền (hiệu ứng đô-mi-nô) tới hàng loạt
các hàng hóa khác và là nguyên nhân gây ra thiểu phát.
+ Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước, thường xuyên theo dõi các biến
động của nền kinh tế, để từ đó
có thể đưa ra các giải pháp điều chỉnh kịp thời, ngăn chặn có hiệu
quả các hiện tượng tiêu cực của nền kinh tế ngay từ khi mới xuất hiện mầm mống. * TỔNG KẾT CHƯƠNG
Kết thúc Chương 2, chúng ta cầ lưu ý mộ n t số vấn đề sau đây:
- Thứ nhất, khái niệm về tiền và các hình thái tiền tệ.
- Thứ hai, Tiền tệ có 3 chức năng là Chức năng thước đo giá trị; chức năng phương tiện trao đổi và
thanh toán; Chức năng phương tiện tích trữ giá trị.
- Thứ ba, phép đo tổng lượng tiền được xác định thông qua 4 khối tiền M1, M2, M3, L. Trong đó,
khối tiền M1 có tính thanh khoản cao nhất và khối L có tính thanh khoản thấp nhất.
- Thứ 4, tìm hiểu các hiện tượng lạm phát, giảm phát và thiểu phát để làm rõ khái niệm, nguyên
nhân và ảnh hưởng của chúng đối với nền kinh tế - xã hội, từ đó, biết được các giải pháp về mặt
nguyên lý để điều tiết khối lượng tiền có mặt trong lưu thông. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình “Nhập môn Tài chính - Tiền tệ”, Trường Đại học Thuơng mại, Chủ biên TS.
Vũ Xuân Dũng, NXB Thống kê, 2012.
2. Giáo trình “Nhập môn Tài chính - Tiền tệ”, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh ,
Chủ biên PGS,TS. Sử Đình Thành, TS. Vũ Thị Minh Hằng, NXB ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh, 2006.
3. Giáo trình “Tài chính - Tiền tệ - Ngân hàng”, PGS,TS. Nguyễn Văn Tiến, NXB Thống kê, 2009. 16