Những tiền đề tư tưởng – lý luận
 Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN
Dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước giữ nước đã tạo lập cho mình
một nền văn hóa riêng, phong phú, bền vững với những truyền thống tốt đẹp và cao quý.
Tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường đấu tranh chống giặc ngoại xâm:
+ Truyền thống này là cơ sở cho ý chí, hành động cứu nước và xây dựng đất nước của người
Việt Nam nói chung Hồ Chí Minh i riêng. Chính lòng yêu nước đã thôi thúc Người ra đi tìm
đường cứu nước ý chí kiên cường đã giúp người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để thực hiệ
mục đích của mình là độc lập cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân.
+ Chính Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Dân ta một lòng nồng nàn yêu nước. Đó một
truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần y lại sôi
nổi, kết thành một làn sóng cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,
nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”
Tinh thần tươ ng than, t ương ái, đoàn kết của dân tộc:
+ Truyền thống này hình thành cùng một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu
cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên với giặc ngoại xâm. Người Việt Nam quen sống gắn
với nhau trong tình làng nghĩa xóm, tắt lửa tối đèn có nhau.
Tinh thần lạc quan, yêu đời:
+ Tinh thần lạc quan, yêu đời đã giúp người Việt Nam niềm tin vào sức mạnh của bản
thân mình, tin vào thắng lợi của chính nghĩa.
Tinh thần cần c ù , dũng cả m, th ông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất và chiến đấu
+ Với tinh thần ham học hỏi không ngừng mở rộng cửa đón nhận tinh hoa của văn hoá
nhân loại, từ Nho, Phật, Lão của phương Đông đếntưởng văn hoá hiện đại phương Tây, biến cái
của người thành cái của mình.
Tinh hoa văn hoá nhân loại
Văn hoá phương Đông
· Nho giáo: Còn được gọi Khổng giáo, một hệ thống đạo đức, triết tôn giáo do Khổng
Tử phát triển để xây dựng một XH thịnh trị.
Yếu tố tích cực:
Nho giáo xây dựng nên cho mình một hệ thống những triết lý, tư tưởng tích cực có sức sống
mãnh liệt trong mấy ngàn năm. Đó là:
Triết lý của Nho giáo là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời
tưởng về một hội an bình thịnh trị, tức ước vọng về 1 XH an ninh, hoà mục, một
“thế giới đại đồng”
Triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính, chủ trương từ thiên tử đến thứ dân, ai cũng phải lấy tu
thân làm gốc.
Nho giáo còn đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học
Yếu tố lạc hậu (hạn chế):
Bên cạnh những ưu điểm trong Nho giáo còn có những nhược điểm:
tưởng phân biệt đẳng cấp
Khinh lao động chân tay
Khinh phụ nữ…
· Phật giáo:
Nhữ ng y ếu tố tích cực
Thứ nhất, tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân,
một tình yêu bao la đến cả chim muông, cây cỏ.
Thứ hai là nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện.
Thứ ba là tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp.
Thứ tư là Phật giáo Thiền tông đề ra luật “chấp tác”, đề cao lao động, chống lười biếng.
Phật giáo là một tôn giáo chủ trương bất bạo động, luôn luôn hướng mọi người đến sự tự
hoàn thiện bản thân mình, để đạt tới Chân - Thiện - Mỹ hay sự giác ngộ. Đây cái đẹp điều
cốt tủy nhất của Phật giáo.
Nhữ ng y ếu tố lạc hậu
Không chủ trương đấu tranh để cải tạo thế giới cũng không đề đến đấu tranh giai cấp để
thực hiện công bằng xã hội mà chủ trương thông qua giáo dục để làm con người trở nên tốt đẹp.
Tư tưởng mê tín dị đoan, an bài số phận
Hồ Chí Minh tiếp thu Phật giáo, thể hiện ở nếp sống, đạo đức trong sạch, giản dị, chăm làm
điều thiện, tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống phân biệt đẳng cấp.
· Tư tưởng khác:
+ Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn.
Chủ nghĩa Tam dân 1 Cương lĩnh chính trị do Tôn Dật Tiên đề xuất, với tinh thần nhằm
biến Trung Quốc thành 1 quốc gia tự do, phồn vinh và hùng mạnh.
HCM đánh giá: “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên ưu điểm của là chính sách của nó thích hợp
với điều kiện nước ta”
+ Tư tưởng của Hàn Phi Tử
Hàn Phi Tử đề cao pháp luật.
HCM tiếp thu xây dựng NN pháp quyền kết hợp giữa pháp trị và đức trị.
Văn hoá phương Tây
· Tại Mỹ: Tiếp thu ý chí và tinh thần đấu tranh vì độc lập của nhân dân Mỹ
Thời gian dừng chân Mỹ khoảng cuối năm 1912 đến cuối năm 1913, Người đã Bruclin,
đến thăm khu da đen Háclem, đã chiêm ngưỡng tượng nữ thần tự do…Xứ sở mới mẻ này đã gây
cho Người bao ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc. Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước
Mỹ.
Người khâm phục ý chí của nhân dân Mỹ, khâm phục những tư tưởng đại của Oasinhtơn,
Jepphesơn, Lincôn, nhưng đồng thời Người cũng phát hiện những nghịch lý : đằng sau những lời lẽ
hoa mỹ về tự do, bình đẳng là sự bất bình đẳng và nghèo đói của hàng triệu người lao động,điều
kiện sống khủng khiếp của người da đen, nạn phân biệt chủng tộc ghê ghớm người đã tả
trong bài “Đảng 3k”,vv…
· Tại Anh: rèn luyện trong phong trào công nhân
Khoảng đầu năm 1913, Người sang Anh, nơi đang diễn ra cuộc đấu tranh giành độc lập của
nhân dân Airơlen. Chính Anh, Người đã đi những bước đầu tiên trong cuộc đời hoạt động chính
trị của mình, gia nhập công đoàn thủy thủ cùng giai cấp công nhân Anh tham gia các cuộc biểu
tình, đình công bên bờ sông Thêmdơ…
· Tại Pháp: Tiếp xúc với nhiều tác phẩm của các nhà tư tưởng tiến bộ
Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh sang Pháp, việc Người chuyển đến sống và hoạt động
thủ đô nước Pháp là một quyết định có ý nghĩa lịch sử, mở ra một thời kỳ mới trong cuộc đời của
Người. Người đã điều kiện thuận lợi để nhanh chóng chiếm lĩnh vốn tri thức của thời đại, đặc
biệt là truyền thống văn hóa và tiến bộ của nước Pháp.
Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc còn hấp thụ được tưởng dân chủ hình thành được phong
cách dân chủ của mình trong thực tiễn. Ở đây, Nguyễn Ái Quốc có thể hoạt động và đấu tranh cách
mạng một ch tương đối tự do, thuận lợi hơn trên đất nước mình (thông qua vai trò to lớn của
báo chí). Người thể tự do hội họp, tham gia đảng phái, ra báo, phát biểu ý kiến, trình bày quan
điểm của mình trước dư luận Pháp, thể viết bài phê phán bọn quan lại, vua chúa nước mình, phê
phán cả thống sứ, toàn quyền ở thuộc địa như A.Xarô, Liôtây, Varen…
Hồ Chí Minh cũng luôn tìm ra cách làm việc sao cho khoa học hợp lý, Người tranh thủ
thời gian từng giờ từng phút để học ngoại ngữ, để đọc ch, trau dồi thêm vốn tri thức, đồng thời
hoà mình và cuộc sống và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động cần lao.
HCM tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại theo 3 cách:
Thứ nhất, những tư tưởng nào tiến bộ và tích cực thì Người kế thừa và phát huy.
Thứ hai, tưởng nào chưa phù hợp với thực tiễn cách mạng thì Người cải biến cho
phù hợp.
Thứ ba, tư tưởng nào xấu, có hại cho cách mạng thì Người kiên quyết loại bỏ.
 Chủ nghĩa Mác – Lênin
Là học thuyết cách mạng do Mác và Ăngghen sáng lập, được V.I.Lênin phát triển và hoàn
thiện, đó là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, nhân dân lao động và giải phóng con
người và là cơ sở lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 7/1920, Hồ Chí Minh đọc được Sơ thảo luận cương của Lênin bàn về các vấn đề dân
tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo. Nhờ đọc được Luận cương của Lênin đã giúp Hồ Chí
Minh đến được chủ nghĩa Mác – Lênin và trên cơ sở đó đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân
tộc mình. Vì chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết cách mạng và khoa học của thời đại, đã chỉ ra
con đường đi đúng cho các dân tộc nói chung và các dân tộc bị áp bức nói riêng trong đó có Việt
Nam.
Vai tr ò của CN Mác – Lênin đối với việc hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh:
+ Nhờ có chủ nghĩa Mác - Lênin mà HCM có được phương pháp luận khoa học. Trên cơ sở
đó Người đánh giá đúng về truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, để từ đó tiếp thu cái
hay, cái tốt, loại trừ cái xấu.
+ Chủ nghĩa Mác – Lênin là lý luận vạch ra con đường giải phóng cho con người. Nếu
không có lý luận thì không thể có một sự giải phóng nào cả. Lênin đã khẳng định: Không có lý luận
cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động… Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng
cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong
- HCM đánh giá:
“Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách
mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”
Vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết các vấn đề của CMVN:
Nhờ có thế giới quan và phương pháp luận của CN Mác- Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu
chuyển hóa và nâng cao được những yếu tố tích cực, tiến bộ của truyền thống dân tộc, cũng như
tinh hoa văn hoá nhân loại, để hình thành nên tư tưởng của mình, tìm thấy con đường dân tộc Việt
Nam phải đi và đích phải đến. Đó là con đường CMVS và đích của nó là CNXH và CNCS, là ấm
no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân
Việc tiếp thu CN Mác – Lênin là một bước ngoặt trong cuộc đời của HCM, không những
nâng trí tuệ của Người lên tầm cao mới, đem lại cho Người một phương pháp nhận thức hành động
đúng đắn, mà còn giúp Người giải quyết một cách sáng tạo những vấn đề thực tiễn của cuộc sống
đặt ra.

Preview text:

Những tiền đề tư tưởng – lý luận
Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN
Dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình
một nền văn hóa riêng, phong phú, bền vững với những truyền thống tốt đẹp và cao quý.
Tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường đấu tranh chống giặc ngoại xâm:
+ Truyền thống này là cơ sở cho ý chí, hành động cứu nước và xây dựng đất nước của người
Việt Nam nói chung và Hồ Chí Minh nói riêng. Chính lòng yêu nước đã thôi thúc Người ra đi tìm
đường cứu nước và ý chí kiên cường đã giúp người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để thực hiệ
mục đích của mình là độc lập cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân.
+ Chính Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một
truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi
nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,
nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” T inh thần tươ ng than, t
ương ái, đoàn kết của dân tộc:
+ Truyền thống này hình thành cùng một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu
cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm. Người Việt Nam quen sống gắn bó
với nhau trong tình làng nghĩa xóm, tắt lửa tối đèn có nhau.
Tinh thần lạc quan, yêu đời:
+ Tinh thần lạc quan, yêu đời đã giúp người Việt Nam có niềm tin vào sức mạnh của bả n
thân mình, tin vào thắng lợi của chính nghĩa. T
inh thần cần c ù , dũng cả m, th ông minh, sáng tạo tr
ong lao động sản xuất và chiến đấu
+ Với tinh thần ham học hỏi và không ngừng mở rộng cửa đón nhận tinh hoa của văn hoá
nhân loại, từ Nho, Phật, Lão của phương Đông đến tư tưởng văn hoá hiện đại phương Tây, biến cái
của người thành cái của mình.
Tinh hoa văn hoá nhân loại ❖ Văn hoá phương Đông
· Nho giáo: Còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng
Tử phát triển để xây dựng một XH thịnh trị. Yếu tố tích cực:
Nho giáo xây dựng nên cho mình một hệ thống những triết lý, tư tưởng tích cực có sức sống
mãnh liệt trong mấy ngàn năm. Đó là:
Triết lý của Nho giáo là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời
Tư tưởng về một xã hội an bình thịnh trị, tức là ước vọng về 1 XH an ninh, hoà mục, một
“thế giới đại đồng”
Triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính, chủ trương từ thiên tử đến thứ dân, ai cũng phải lấy tu thân làm gốc.
Nho giáo còn đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học
Yếu tố lạc hậu (hạn chế):
Bên cạnh những ưu điểm trong Nho giáo còn có những nhược điểm:
❖ Tư tưởng phân biệt đẳng cấp
❖ Khinh lao động chân tay ❖ Khinh phụ nữ… · Phật giáo: Nhữ ng y ếu tố tích cực
Thứ nhất, tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân,
một tình yêu bao la đến cả chim muông, cây cỏ.
Thứ hai là nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện.
Thứ ba là tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp.
Thứ tư là Phật giáo Thiền tông đề ra luật “chấp tác”, đề cao lao động, chống lười biếng.
Phật giáo là một tôn giáo chủ trương bất bạo động, và luôn luôn hướng mọi người đến sự tự
hoàn thiện bản thân mình, để đạt tới Chân - Thiện - Mỹ hay sự giác ngộ. Đây là cái đẹp và là điều
cốt tủy nhất của Phật giáo. Nhữ ng y ếu tố lạc hậu
Không chủ trương đấu tranh để cải tạo thế giới và cũng không đề đến đấu tranh giai cấp để
thực hiện công bằng xã hội mà chủ trương thông qua giáo dục để làm con người trở nên tốt đẹp.
Tư tưởng mê tín dị đoan, an bài số phận
Hồ Chí Minh tiếp thu Phật giáo, thể hiện ở nếp sống, đạo đức trong sạch, giản dị, chăm làm
điều thiện, tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống phân biệt đẳng cấp. · Tư tưởng khác:
+ Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn.
Chủ nghĩa Tam dân là 1 Cương lĩnh chính trị do Tôn Dật Tiên đề xuất, với tinh thần nhằm
biến Trung Quốc thành 1 quốc gia tự do, phồn vinh và hùng mạnh.
HCM đánh giá: “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó thích hợp
với điều kiện nước ta”
+ Tư tưởng của Hàn Phi Tử
Hàn Phi Tử đề cao pháp luật.
HCM tiếp thu xây dựng NN pháp quyền kết hợp giữa pháp trị và đức trị. ❖ Văn hoá phương Tây
· Tại Mỹ: Tiếp thu ý chí và tinh thần đấu tranh vì độc lập của nhân dân Mỹ
Thời gian dừng chân ở Mỹ khoảng cuối năm 1912 đến cuối năm 1913, Người đã ở Bruclin,
đến thăm khu da đen Háclem, đã chiêm ngưỡng tượng nữ thần tự do…Xứ sở mới mẻ này đã gây
cho Người bao ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc. Người đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ.
Người khâm phục ý chí của nhân dân Mỹ, khâm phục những tư tưởng vĩ đại của Oasinhtơn,
Jepphesơn, Lincôn, nhưng đồng thời Người cũng phát hiện những nghịch lý : đằng sau những lời lẽ
hoa mỹ về tự do, bình đẳng là sự bất bình đẳng và nghèo đói của hàng triệu người lao động, là điều
kiện sống khủng khiếp của người da đen, là nạn phân biệt chủng tộc ghê ghớm mà người đã mô tả
trong bài “Đảng 3k”,vv…
· Tại Anh: rèn luyện trong phong trào công nhân
Khoảng đầu năm 1913, Người sang Anh, nơi đang diễn ra cuộc đấu tranh giành độc lập của
nhân dân Airơlen. Chính ở Anh, Người đã đi những bước đầu tiên trong cuộc đời hoạt động chính
trị của mình, gia nhập công đoàn thủy thủ và cùng giai cấp công nhân Anh tham gia các cuộc biểu
tình, đình công bên bờ sông Thêmdơ…
· Tại Pháp: Tiếp xúc với nhiều tác phẩm của các nhà tư tưởng tiến bộ
Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh sang Pháp, việc Người chuyển đến sống và hoạt động
ở thủ đô nước Pháp là một quyết định có ý nghĩa lịch sử, mở ra một thời kỳ mới trong cuộc đời của
Người. Người đã có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng chiếm lĩnh vốn tri thức của thời đại, đặc
biệt là truyền thống văn hóa và tiến bộ của nước Pháp.
Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành được phong
cách dân chủ của mình trong thực tiễn. Ở đây, Nguyễn Ái Quốc có thể hoạt động và đấu tranh cách
mạng một cách tương đối tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình (thông qua vai trò to lớn của
báo chí). Người có thể tự do hội họp, tham gia đảng phái, ra báo, phát biểu ý kiến, trình bày quan
điểm của mình trước dư luận Pháp, có thể viết bài phê phán bọn quan lại, vua chúa nước mình, phê
phán cả thống sứ, toàn quyền ở thuộc địa như A.Xarô, Liôtây, Varen…
Hồ Chí Minh cũng luôn tìm ra cách làm việc sao cho khoa học và hợp lý, Người tranh thủ
thời gian từng giờ từng phút để học ngoại ngữ, để đọc sách, trau dồi thêm vốn tri thức, đồng thời
hoà mình và cuộc sống và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động cần lao.
HCM tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại theo 3 cách:
Thứ nhất, những tư tưởng nào tiến bộ và tích cực thì Người kế thừa và phát huy.
Thứ hai, tư tưởng nào chưa phù hợp với thực tiễn cách mạng thì Người cải biến cho phù hợp.
Thứ ba, tư tưởng nào xấu, có hại cho cách mạng thì Người kiên quyết loại bỏ. Chủ nghĩa Mác – Lênin
Là học thuyết cách mạng do Mác và Ăngghen sáng lập, được V.I.Lênin phát triển và hoàn
thiện, đó là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, nhân dân lao động và giải phóng con
người và là cơ sở lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 7/1920, Hồ Chí Minh đọc được Sơ thảo luận cương của Lênin bàn về các vấn đề dân
tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo. Nhờ đọc được Luận cương của Lênin đã giúp Hồ Chí
Minh đến được chủ nghĩa Mác – Lênin và trên cơ sở đó đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân
tộc mình. Vì chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết cách mạng và khoa học của thời đại, đã chỉ ra
con đường đi đúng cho các dân tộc nói chung và các dân tộc bị áp bức nói riêng trong đó có Việt Nam. V ai tr ò
của CN Mác – Lênin đối với việc hình thành Tư tưởng Hồ Chí Minh:
+ Nhờ có chủ nghĩa Mác - Lênin mà HCM có được phương pháp luận khoa học. Trên cơ sở
đó Người đánh giá đúng về truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, để từ đó tiếp thu cái
hay, cái tốt, loại trừ cái xấu.
+ Chủ nghĩa Mác – Lênin là lý luận vạch ra con đường giải phóng cho con người. Nếu
không có lý luận thì không thể có một sự giải phóng nào cả. Lênin đã khẳng định: Không có lý luận
cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động… Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng
cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong - HCM đánh giá:
“Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách
mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”
Vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết các vấn đề của CMVN:
Nhờ có thế giới quan và phương pháp luận của CN Mác- Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu
chuyển hóa và nâng cao được những yếu tố tích cực, tiến bộ của truyền thống dân tộc, cũng như
tinh hoa văn hoá nhân loại, để hình thành nên tư tưởng của mình, tìm thấy con đường dân tộc Việt
Nam phải đi và đích phải đến. Đó là con đường CMVS và đích của nó là CNXH và CNCS, là ấm
no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân
Việc tiếp thu CN Mác – Lênin là một bước ngoặt trong cuộc đời của HCM, không những
nâng trí tuệ của Người lên tầm cao mới, đem lại cho Người một phương pháp nhận thức hành động
đúng đắn, mà còn giúp Người giải quyết một cách sáng tạo những vấn đề thực tiễn của cuộc sống đặt ra.