Chương 2: Tổng quan về đại cương tiếng việt và ngữ âm học | Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Chương 2: Tổng quan về đại cương tiếng việt và ngữ âm học | Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Tài liệu được biên soạn dưới dạng file PDF gồm 11 trang, giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao trong kì thi sắp tới. Mời bạn đọc đón xem!

Chương 2: Tổng quan về đại cương tiếng việt
và ngữ âm học
I. Khái niệm ngữ âm , âm vị học
1. Khái niệm ngữ âm
Ngữ âm là âm thanh của ngôn ngữ loài người, là cái vỏ vật chất của ngôn ngữ, hình
thức của ngôn ngữ. Đó âm thanh bằng lời âm thanh bằng chữ, trong đó âm
thanh bằng lời nhiều hơn.
2. Khái niệm ngữ âm học
Ngữ âm học khoa học nghiên cứu mặt âm thanh của ngôn ngữ loài người trong
tất cả các hình thái và chức năng của nó.
II. sở của ngữ âm: sở của ngữ âm còn gọi bản chất của ngữ
âm, bao gồm mặt tự nhiên và mặt xã hội của ngữ âm
1. Cơ sở tự nhiên
1.1. Cơ sở vật lý
Giống như âm thanh của tiếng gió, tiếng suối, tiếng xe chạy, tiếng gà gáy,... ngữ âm
cũng có cơ sở vật lí của nó (còn gọi là mặt âm học của ngữ âm). Như các âm thanh
khác, âm thanh ngôn ngữ được phân biệt bởi các yếu tố: cường độ, cao độ, trường
độ và âm sắc.
a) Cao độ: Phụ thuộc vào tần số dao động của dây thanh trong một đơn vị thời
gian. Dây thanh chấn động nhanh cho những âm cao, chấn động chậm cho ra
những âm thấp. ĐV cao độ là Hertz (Hz)
Ví dụ: giọng phụ nữ, trẻ em thường cao hơn nam giới và người lớn tuổi; các âm i,
u, ư cao hơn ê, ô, ơ. Độ cao của giọng thể cho biết về giới tính, tuổi tác, cảm
xúc...
Trong một số ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Trung Quốc, cao độ tạo nên những
đơn vị ngữ âm như thanh điệu, ngữ điệu, trọng âm...
b) Cường độ: độ mạnh của âm thanh thanh phụ thuộc vào biên độ dao động của
vật thể. Biên độ càng rộng, ẩm thanh càng mạnh, càng vang to. Đơn vị đo cường
độ là đề xi ben (dB). Cường độ là yếu tố cơ bản tạo nên trọng âm.
Vd: Phụ âm phát ra mạnh hơn nguyên âm, nguyên âm vang to hơn các phụ âm.
c) Âm sắc: Là sắc thái riêng của âm. Âm sắc khác nhau là do:
- Vật tạo ra âm khác nhau (chuông đồng khác mõ gỗ)
- Cách làm cho vật phát âm khác nhau (gảy đàn khác gõ trống)
- Hiện tượng cộng hưởng khác nhau (xây nhà hát khác nhà ở)
d) Trường độ: độ dài của âm thanh, phụ thuộc vào thời gian lâu hay mau của
âm.
Vd: Có thể phân biệt những âm dài/ngắn khác nhau như a/ă trong các từ tiếng Việt
an/ăn; [i]/[i:] trong các từ tiếng Anh: sit (ngồi), fit (thích hợp) seat (ghế,chỗ),
feet (những bàn chân), see (nhìn), seed ( hạt giống).
1.2. Cơ sở sinh lí của ngữ âm (cấu âm)
a. Bản chất sinh học của ngữ âm:
- Hoạt động phát âm thực hiện nhờ sự tham gia của các quan thể
con người: cơ quan hô hấp, cơ quan phát âm và trung ương thần kinh.
Các cơ quan phát âm gồm có:
- quan hấp: hai lá phổi, phế quản, khí quản (lá phổi nằm trong lòng
ngực cung cấp lượng không khí cần thiết cho phát âm. Không khí ở phổi
đi ra làm cho dây thanh rung động, tiếp đó lượng không khí cọ xát vào
các bộ phận phát âm ở khoang miệng, khoang mũi tạo nên âm thanh).
- Bộ máy phát âm: thanh hầu, dây thanh, lưỡi, môi, ngạc, hàm dưới, nắp
họng.
- Trung ương thần kinh
- Hoạt động phát âm diễn ra như sau: dưới sự điều khiển của trung
ương thần kinh, không khí đi từ phổi qua thanh hầu làm dây thanh
rung động tạo ra những song âm tần số khác nhau được cộng
hưởng ở khoang phát âm.
- Sự khác biệt các khoang phát âm mỗi người tạo ra môi trường
cộng hưởng khác nhau, đem lại âm sắc khác nhau người ta thường gọi
là những giọng nói khác nhau.
b. Sự phân loại âm theo đặc điểm sinh học:
- Đơn vị ngữ âm đoạn nhỏ nhất âm tố, sau đó âm tiết, âm tự, âm
cú.
Đơn vị siêu âm đoạn là thanh điệu, ngữ điệu và trọng âm.
- Các âm được phân thành nguyên âm và phụ âm.
Nguyên âm Phụ âm
- Khi phát âm luồng hơi đi ra tự
do
- Khi phát âm luồng hơi bị cản
trở ở một điểm nào đó
- Dựa theo ba tiêu chí chính
vị trí của lưỡi, độ của miệng
và hình dáng của môi
+ (ba hàngTheo vị trí của lưỡi
nguyên âm): hàng trước,
NÂ hàng giữa NÂ hàng sau.
Tính chất đó được xác định bởi
sự di chuyển của lưỡi từ phía
trước vào phía trong khoang
miệng.
VD: [i] trong tiếng Việt
hàng trước, trong tiếng Nga
hàng giữa chữ viết tiếng
Việt hiệu ư hàng
sau.
+ (bốnTheo độ của miệng
khai độ NÂ): hẹp, hơi
hẹp, hơi rộng rộng.
Tính chất được xác định bởi sự
mở dần của miệng
VD: Trong tiếng Việt, [i]
hẹp, [e] NÂ hơi hẹp, [ ] NÂ hơiɛ
rộng, [a] NÂ rộng.
+ :Theo hình dáng của môi
tròn môi không tròn
môi. Tính chất được xác định
theo khuôn môi.
VD: Trong tiếng Việt [o]
tròn môi, [ ] không trònɤ
môi.
- Dựa theo hai tiêu chí chính là vị
trí phát âm cách (phương
thức) phát âm
+ Theo vị trí phát âm:
môi VD: môi môi:
[b], môi – răng [f]
lưỡi. VD: đầu lưỡi [d],
mặt lưỡi [c], cuốn lưỡi [k]
PÂ thanh hầu. VD: [h]
+ Theo cách phát âm: tắc,
PÂ xát và PÂ rung
tắc khi phát âm bị cản
hoàn toàn một vị trí nào
đó.VD: [b], [d]
xát khi phát âm không
bị cản hoàn toàn, một
khe hở nhỏ vị trí nào đó
để luồng không khí đi ra dễ
dàng. VD: [f], [v]
PÂ rung khi phát âm bị cản
trở đầu lưỡi, nhưng sau
đó lại không bị cản nữa
cứ như vậy. VD: Trong
tiếng Việt không
này, trong tiếng Nga ta
PÂ [r]
- Các thường được thể hiện
trên hình thang hoặc hình
tam giác NÂ
- được thể hiện trên đồ
bảng tiêu chí phân loại PÂ
1.3.Cơ sở xã hội của ngữ âm :
a. Chức năng khu biệt nghĩa của âm thanh ngôn ngữ
b. Khả năng khu biệt của âm thanh ngôn ngữ mang tính dân tộc
Khả năng khu biệt của âm thanh ngôn ngữ do sự ước định của cộng
đồng người cùng sử dụng một ngôn ngữ. Do vậy, những đặc trưng
ngữ âm xã hội này có giá trị khu biệt nhưng xã hội khác lại không có.
III. Các phương pháp nghiên cứu ngữ âm
Do ngữ âm học nghiên cứu cả mặt tự nhiên lẫn mặt hội của ngữ âm nên đã
sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác nhau, về căn bản thể chia ra hai
loại phương pháp. Loại thứ nhất phù hợp với các khoa học tự nhiên, đổ là sự quan
sát, miêuu tả. Loại thứ hai vốn lính riêng biệt của các ngànhh khoa học hội,
đó sự suy diễn từ những biểu hiệrịn vật chất, cụ thể ra cái bản chất trừu tượng,
phi vật chấất thông qua một quá trình phân tích nghiêm ngặt tuâiin theo những
quy luật tất yếu.
1. Phương pháp của khoa học tự nhiên
-Phương pháp chủ quan: Dùng tai để nghe - phương pháp này tính trực
quan nên không thể quan sát được những động tác cấu âm phức tạp của âm
thanh.
-Phương pháp khách quan: dùng chỉ những thí nghiệm bằng máy móc để
phân tích âm thanh của tiếng nói (ghi âm, thu âm, máy phát quang phổ, máy
hiện sóng…)
2. Phương pháp của khoa học xã hội (phương pháp suy luận)
-Phương pháp này căn cứ vào thái độ của người bản ngữ khi sử dụng âm
thanh để sử dụng âm thanh để suy ra các quy ước về mặt ngữ âm tồn tại
trong ngôn ngữ đang xét. Sau đó so sánh, đối chiếu các âm thanh với nhau
để tìm những mối quan hệ giữa các âm vị trong một hệ thống âm vị thống
nhất.
IV. Các phân môn của Ngữ âm học
Ngữ âm học (nghĩa hẹp): nghiên cứu mặt tự nhiên của ngữ âm, tức là phân
tích, miêu tả các âm thanh của ngôn ngữ theo góc nhìn sinh học (cấu âm)
theo cách nhìn vật lí (âm học)
Âm vị học: nghiên cứu mặt xã hội của ngữ âm, tức là nghiên cứu những đặc
điểm sử dụng hay chức năng của ngữ âm trong từng ngôn ngữ với phương
pháp khái niệm riêng của mình. Âm vị học sẽ cho biết trong một ngôn
ngữ nhất định có những đơn vị ngữ âm gì và đặc hoạt động của chúng ra sao
khi kết hợp với nhau để tạo thành các phát ngôn.
Lời nói ngôn ngữ tuy không đồng nhất nhưng lại nằm trong một thể thống
nhất. Âm thanh của lời nói hình thức biểu đạt của ngôn ngữ cũng vậy. Hai
cái không thể tách rời nhau không hề loại trừ nhau. Ngữ âm học theo nghĩa
hẹp thế thể được xem như bộ môn khoa 2học chuyên nghiên cứu mặt tự
nhiên của ngữ âm, trong khi âm vị học chuyên nghiên cứu mặt xã hội của cùng
một đối tượng.
Tầm quan trọng của ngữ âm học
Ngữ âm học một ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Những thành tựu của đã được sử dụng trong
nhiều lĩnh vực khác nhau.
Ngữ âm học đưa ra những sở khoa học để xây dựng âm chuẩn cho một ngôn ngữ, đặt
chữ viết cho các dân tộc chưachữ viết và cải tiến hệ thống chữ viết của các dân tộc đã
có chữ viết từ trước.
Kiến thức ngữ âm học rất cần cho việc dạy học ngoại ngữ. Nếu người dạy những tri
thức vững chắc về ngữ âm học và người học cũng có những khái niệm tối thiểu về môn này
thì kết quả học tập sẽ tốt hơn, bởi người học không đơn thuần "bắt chước" lối phát âm
của người nước ngoài mà tiếp thu nó một cách có ý thức, dựa trên sự so sánh cấu âm của
tiếng ngoại quốc với tiếng mẹ đẻ của mình.
Những tri thức khoa học về mặt ngữ âm học có thể giúp ích cho việc dạy phát âm, dạy học
theo đúng âm chuẩn, dạy chính tả, phân tích các tổ chức âm thanh của một tác phẩm thơ,
v.v…
Ngoài ra ngữ âm học còn một vai trò nhất định trong việc khôi phục lại ngôn ngữ cho
những người bệnh mắc chứng mất ngôn do chấn thương sọ não, những trẻ em câm–điếc
từ nhỏ; trong việc kiểm tra sự minh xác của đường dây trong ngành thông tin, trong việc đặt
lời ca khúc phù hợp với nhạc để không tạo nên sự méo mó, sai lạc cho lời ca, v.v…
(1)
Với các bộ môn khác của ngôn ngữ học như ngữ pháp học từ vựng học, ngữ âm học
cũng một tác dụng hỗ trợ nhất định để làm sáng tỏ những hiện tượng liên quan đến
các bộ môn này (ví dụ: quy luật tổ chức ngữ âm trong các từ láy v.v…).
V. Các đơn vị ngữ âm
1.Các đơn vị siêu đoạn tính:
1.1. Âm tiết
Âm tiết (syllable) cùng với âm tố (sound) là hai khái niệm cơ sở cho sự hình thành
bộ môn nghiên cứu âm thanh tiếng nói loài người cũng như cơ cấu ngữ âm của một
ngôn ngữ cụ thể. Trong bất công trình ngữ âm học nào, chuyên về thực
nghiệm hay xác lập các đơn vị ngữ âm, xây dựng thuyết âm vị học, v.v. bao giờ
cũng phải làm việc với hai khái niệm, hai thuật ngữ cơ bản này.
a. Khái niệm
Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong chuỗi âm thanh, là đơn vị
cơ sở để tạo nên chuỗi âm thanh.
VD: xà phòng đc phát âm thành phòng
2 âm tiết
VD: “Nửa đời tóc ngả màu sương
Nhớ quê anh lại tìm đường thăm quê” 14 âm tiết (tiếng)
Sở dĩ ta nhận ra số lượng âm tiết như vậy là vì dù người nói phát âm nhanh hay
chậm đến đâu thì chuỗi âm thanh trên vẫn những chỗ ngừng ngắt nhất định
khiến cho người ta có thể dễ dàng tính đếm được chúng. Như vậy, về mặt phát
âm, chuỗi âm thanh được phân đoạn đến âm tiết đại lượng âm thanh nhỏ
nhất. Trong dòng ngữ lưu, âm tiết hiện ra một cách tự nhiên, trực tiếp hơn các
đơn vị âm thanh cấu tạo nên nó (âm tố).
Với các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, tiếng Trung, tiếng Thái thì xác định
số lượng ranh giới âm tiết trong một phát ngôn việc làm không khó, nếu
không nói là quá dễ dàng. Trẻ em Việt Nam chỉ cần biết đếm là có thể tính ngay
được một câu nói được phát ra gồm bao nhiêu tiếng (tức bao nhiêu âm tiết).
Với các ngôn ngữ hòa kết như tiếng Nga, tiếng Anh thì việc xác định ranh giới
âm tiết trong một số trường hợp có khó khăn hơn
Âm tiết một khúc đoạn của lời nói khả năng mang các hiện tượng ngôn
điệu như thanh điệu, trọng âm, ngữ điệu. Trong tiếng Việt một âm tiết bao giờ
cũng được phát ra với 1 thanh điệu. Điều này làm cho âm tiết của tiếng việt càng
dễ đc nhận biết trong lời nói
b. Nhận diện và phân loại âm tiết
Việc nhận diện ranh giới âm tiết trong các ngôn ngữ vẫn chưachưa tiếng nói
thống nhất trong các nhà chuyên môn. Theo cách nhìn tổng hợp, ta thể nhận
diện âm tiết dựa vào hai tiêu chí: tiêu chí cảm thức ngôn ngữ thuyết về độ
căng
- Theo tiêu chí cảm thức ngôn ngữ, những người bản ngữ của một thứ tiếng
nào đó bao giờ cũng nắm vững những quy tắc đặc biệt trong cấu tạo âm tiết
thứ tiếng của mình. Trong quá trình nắm biết ngôn ngữ, người ta quen thuộc
dần các quy tắc đótrở nên rất tự nhiên khi vận dụng chúng trong giao
tiếp. Kết quả là, người ta có thể dựa vào thính giác để nhận ra những khoảng
ngắt nhất định trong ngữ lưu, dễ dàng nhận biết tính đếm được bao
nhiêu âm tiết trong đó.
- VD: trong tiếng Việt, khi một người nói: Tôi về khu A, lập tức người nghe
nhận ra có 4 âm tiết, nhưng nếu nói:Tôi về khoa, thì chỉ có 3 âm tiết.
- Theo thuyết độ căng, về phương diện phát âm, âm tiết tính chất toàn
vẹn, không thể phân chia được bởi được phát âm bằng một đợt căng
của cơ thịt của bộ máy phát âm. Khi phát âm một âm tiết, các cơ thịt của bộ
máy phát âm đều phải trải qua ba giai đoạn: tăng cường độ căng, đỉnh điểm
căng thẳng và giảm độ căng.
VD: xà phòng
- Theo cách kết thúc âm tiết:
Âm tiết mở là những âm tiết kết thúc bằng nguyên âm
Âm tiết nửa mở: là những âm tiết kết thúc bằng bán nguyên âm
Âm tiết khép: là những âm tiết kết thúc bằng những phụ âm
1.2. Ngữ điệu
Ngữ điệu tổng hòa những sự diễn biến âm thanh bao gồm độ cao, độ
mạnh độ dài trong một câu nói, chức năng thể hiện phân biệt các
câu nói.
Trọng âmthanh điệu chỉ có một số ngôn ngữ, còn ngữ điệu có ở tất cả
các ngôn ngữ.
Ngữ điệu bao gồm ba yếu tố: độ cao (âm điệu), độ mạnh (trọng âm) độ dài
(ngừng giọng). Yếu tố quan trọng nhất của ngữ điệu là độ cao (âm điệu), tức sự
chuyển động lên/xuống của thanh bản của giọng nói. Cùng với độ dài (chỗ
ngừng), độ cao là một phương tiện phân đoạn lời nói.
Ngữ điệu một phương tiện phân loại lời nói. Nhưng chức năng chính
của ngữ điệu là nối liền các bộ phận của lời nói lại với nhau, làm cho lời
nói trở nên liền mạch.
Ngữ điệu còn được sử dụng để biểu thị tính chất của các loại câu. Ở đây
nó đóng vai trò là một phương thức ngữ pháp thực thụ.
Cuối cùng, ngữ điệu còn ý nghĩa đặc biệt trong việc biểu hiện tất cả
những sắc thái cảm xúc đa dạng của lời nói.
1.3.Thanh điệu: (tone)
- Thanh điệu
1.4 . Trọng âm (accent) là đặc gtruwng của từ
Trọng âm hiện tượng tách biệt một yếu tố nào đó nằm trong một chuỗi các yếu
tố cùng loại của lời nói bằng cách nhấn giọng, kéo giọng, lên/xuống giọng
Trọng âm từ: cố định, không thay đổi nếu nhúng vào đơn vị lớn hơn
Trọng âm ngữ đoạn: có hiệu lực trong ngữ đoạn.
Trong các ngôn ngữ Âu châu như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp, trọng âm có
vai trò đáng kể. Trong tiếng Việt các ngôn ngữ thanh điệu khác, vai trò
của trọng âm bị “mờ nhạt” đi trước sự tồn tại của thanh điệu. Tuy nhiên, sẽ
không đúng nếu thái độ cực đoan cho rằng tiếng Việt hoàn toàn không
trọng âm.
Trong tiếng Việt, trọng âm được nêu bật chủ yếu bằng cách tăng cường trường
độ của nguyên âm . Nói cách khác, trọng âm của tiếng Việt là trọng âm lượng.
(1)
Tiếng Việt một số từ không bao giờ mang trọng âm, dụ từ (loại từ).cái
Tuy nhiên, những từ trọng âm được thể hiện khá rõ, : dụ
“cà “, toè loe”. Tuyệt đại đa số các thực từ đều mang trọngkhẳng khiu toé
âm. Có những cặp từ đối lập, trong đó trọng âm là tiêu chí khu biệt duy nhất.
Ví dụ “cho”, “để” là động từ:
với “ “, “ ” là hư từ (“quét sạch”; “nói anh hiểu”) Có những từ đacho để cho để
tiết, nếu đặt sai trọng âm thì từ đó bị phá vỡ, mỗi âm tiết thành một từ riêng
biệt, : “bảo với” (= “nói theo”) và “bảo” (động từ) + “với” (giới từ).ví dụ
-Tôi cho anh quyển sách
-Nó để hoa lên bàn
2.Đơn vị đoạn tính
2.1. Âm tố
a. Định nghĩa:đơn vị ngữ âm nhỏ nhất không thể phân chia được nữa. Số
lượng âm tố là vô hạn
b. Phân loại các âm tố: Có 2 loại âm tố lớn : nguyên âm, phụ âm
Ngoài 2 loại âm tố cơ bản trên còn có loại âm tố trung gian: bán nguyên âm
Đặc điểm Nguyên âm Phụ âm
Cách thoát hơi từ phổi Khong bị cản trở thoát
ra tự do
Bị cản trở bởi các bộ
máy phát âm
Cường độ của lường
hơi
Luồng hơi đi ra yếu Luồng hơi đi ra mạnh
Về âm học Dây thanh rung nhiều-
> có nhiều tiếng thanh
Dây thanh rung ít hoặc
không rung-> nhiều
tiếng động
Bán âm (semi-vocalic, semi-consonant). Ngoài nguyên âm và phụ âm, trong
một số ngôn ngữ còn âm tố bán âm, vừa tính chất nguyên âm vừa
tính chất phụ âm. Về mặt cấu âm, bán âm giống nguyên âm nhưng trong cấu
trúc âm tiết, bán âm không bao giờ xuất hiện đỉnh âm tiết, chỉ xuất
hiện ở đầu hay cuối âm tiết, nghĩa là nó có chức năng như phụ âm.
2.2.Âm vị:
2.2.1. Khái niệm âm vị:
a. Khái niệm Âm vị đơn vị ngữ âm nhỏ nhất giá trị khu biệt nghĩa được
thể hiện đồng thời.
b. Các đặc trưng của âm vị được xác định qua những đặc trưng âm học
cấu âm tạo nên một âm vị cụ thể. Đặc trưng khu biệt những đặc trưng
đủ sức phân biệt ít nhất hai âm vị trong một ngôn ngữ nhất định.
c. Biến thể âm vị: âm vị được thể hiện bằng các âm tố, những âm tố khác nhau
cùng thể hiện một âm vị được gọi các biến thể của âm vị. 2 loại biến
thể:
+ Biến thể tự do: cách thể hiện âm vị mỗi nhân, mỗi người một
cách phát âm riêng.
+ Biến thể kết hợp: là biến thể bị quy định bởi vị trí, bối cảnh ngữ âm.
d. Hệ thống âm vị trong tiếng Việt:
+ có chức năng mở đầu âm tiết, vị trí đứng đầu âm tiết do các phụÂm đầu:
âm đảm nhiệm. Dựa vào phương thức vị trí cấu âm tiếng Việt 22 phụ
âm đầu.
Âm vị Cách viết Ví dụ
/m/ m mềm mại,mượt mà
/b/ b buồn bã
/v/ v vội vàng
/c/ c chuồn chuồn
+ chức năng làm thay đổi âm sắc của âm tiết, vị trí sau âm đầuÂm đệm:
do bán nguyên âm đảm nhiệm. Âm đệm tạo nên sự đối lập tròn môi/không
tròn môi hay (trầm hóa/không trầm hóa) ở âm tiết lúc mở đầu.
VD: “toan” tròn môi, “tan” không tròn môi.
+ chức năng quyết định âm sắc chủ yếu, thành phần hạtÂm chính:
nhân của âm tiết. Vị trí đứng sau âm đệm, do các đơn vị nguyên âm đảm
nhiệm, bao gồm: 13 nguyên âm đơn (9 NÂ dài, 4 NÂ ngắn) và 3 nguyên âm
đôi.
VD: /i/. Được viết “y” khi đứng sau âm đệm (huyền, thủy,..) hoặc đứng một
mình (ý kiến, y sĩ.,,,)
+ có chức năng kết thúc âm tiết, do các phụ âm và bán nguyên âmÂm cuối:
đảm nhiệm, vị trí đứng sau âm chính. Gồm có: 6 phụ âm cuối /p,t,k,m,n, /ɳ
và 2 bán nguyên âm /i,u/.
2.2.2. Phân biệt âm vị và âm tố:
Âm tố Âm vị
Âm tố là những âm được phát ra
và được cảm thụ bằng thính giác.
Bất âm nào được dùng trong
lời nói đều là âm tố
Âm vị nằm trong âm tố. Âm tố
là hình thức thể hiện vật chất của
âm vị
Số lượng vô hạn Số lượng hữu hạn
Đơn vị ngữ âm nhỏ nhất không
thể chia tách
Đơn vị ngữ âm nhỏ nhất không
thể chia tách trong một ngôn ngữ
Tổng thể những nét khu biệt
không khu biệt
Tổng thể những nét khu biệt
Là một đơn vị cụ thể Là một đơn vị không cụ thể
tính chất tự nhiên chung cho
mọi ngôn ngữ
Có tính chất xã hội
| 1/11

Preview text:

Chương 2: Tổng quan về đại cương tiếng việt và ngữ âm học I.
Khái niệm ngữ âm , âm vị học
1. Khái niệm ngữ âm
Ngữ âm là âm thanh của ngôn ngữ loài người, là cái vỏ vật chất của ngôn ngữ, hình
thức của ngôn ngữ. Đó là âm thanh bằng lời và âm thanh bằng chữ, trong đó âm
thanh bằng lời nhiều hơn.
2. Khái niệm ngữ âm học
Ngữ âm học là khoa học nghiên cứu mặt âm thanh của ngôn ngữ loài người trong
tất cả các hình thái và chức năng của nó. II.
Cơ sở của ngữ âm: Cơ sở của ngữ âm còn gọi là bản chất của ngữ
âm, bao gồm mặt tự nhiên và mặt xã hội của ngữ âm 1. Cơ sở tự nhiên 1.1. Cơ sở vật lý
Giống như âm thanh của tiếng gió, tiếng suối, tiếng xe chạy, tiếng gà gáy,... ngữ âm
cũng có cơ sở vật lí của nó (còn gọi là mặt âm học của ngữ âm). Như các âm thanh
khác, âm thanh ngôn ngữ được phân biệt bởi các yếu tố: cường độ, cao độ, trường độ và âm sắc.
a) Cao độ: Phụ thuộc vào tần số dao động của dây thanh trong một đơn vị thời
gian. Dây thanh chấn động nhanh cho những âm cao, chấn động chậm cho ra
những âm thấp. ĐV cao độ là Hertz (Hz)
Ví dụ: giọng phụ nữ, trẻ em thường cao hơn nam giới và người lớn tuổi; các âm i,
u, ư cao hơn ê, ô, ơ. Độ cao của giọng có thể cho biết về giới tính, tuổi tác, cảm xúc...
Trong một số ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Trung Quốc, cao độ tạo nên những
đơn vị ngữ âm như thanh điệu, ngữ điệu, trọng âm...
b) Cường độ: độ mạnh của âm thanh thanh phụ thuộc vào biên độ dao động của
vật thể. Biên độ càng rộng, ẩm thanh càng mạnh, càng vang to. Đơn vị đo cường
độ là đề xi ben (dB). Cường độ là yếu tố cơ bản tạo nên trọng âm.
Vd: Phụ âm phát ra mạnh hơn nguyên âm, nguyên âm vang to hơn các phụ âm.
c) Âm sắc: Là sắc thái riêng của âm. Âm sắc khác nhau là do:
- Vật tạo ra âm khác nhau (chuông đồng khác mõ gỗ)
- Cách làm cho vật phát âm khác nhau (gảy đàn khác gõ trống)
- Hiện tượng cộng hưởng khác nhau (xây nhà hát khác nhà ở)
d) Trường độ: là độ dài của âm thanh, phụ thuộc vào thời gian lâu hay mau của âm.
Vd: Có thể phân biệt những âm dài/ngắn khác nhau như a/ă trong các từ tiếng Việt
an/ăn; [i]/[i:] trong các từ tiếng Anh: sit (ngồi), fit (thích hợp) và seat (ghế,chỗ),
feet (những bàn chân), see (nhìn), seed ( hạt giống).
1.2. Cơ sở sinh lí của ngữ âm (cấu âm)
a. Bản chất sinh học của ngữ âm:
- Hoạt động phát âm thực hiện nhờ sự tham gia của các cơ quan cơ thể
con người: cơ quan hô hấp, cơ quan phát âm và trung ương thần kinh.
Các cơ quan phát âm gồm có:
- Cơ quan hô hấp: hai lá phổi, phế quản, khí quản (lá phổi nằm trong lòng
ngực cung cấp lượng không khí cần thiết cho phát âm. Không khí ở phổi
đi ra làm cho dây thanh rung động, tiếp đó lượng không khí cọ xát vào
các bộ phận phát âm ở khoang miệng, khoang mũi tạo nên âm thanh).
- Bộ máy phát âm: thanh hầu, dây thanh, lưỡi, môi, ngạc, hàm dưới, nắp họng. - Trung ương thần kinh
- Hoạt động phát âm diễn ra như sau: dưới sự điều khiển của trung
ương thần kinh, không khí đi từ phổi qua thanh hầu làm dây thanh
rung động và tạo ra những song âm có tần số khác nhau được cộng hưởng ở khoang phát âm.
- Sự khác biệt ở các khoang phát âm ở mỗi người tạo ra môi trường
cộng hưởng khác nhau, đem lại âm sắc khác nhau người ta thường gọi
là những giọng nói khác nhau.
b. Sự phân loại âm theo đặc điểm sinh học:
- Đơn vị ngữ âm đoạn nhỏ nhất là âm tố, sau đó là âm tiết, âm tự, âm cú.
Đơn vị siêu âm đoạn là thanh điệu, ngữ điệu và trọng âm.
- Các âm được phân thành nguyên âm và phụ âm. Nguyên âm Phụ âm
- Khi phát âm luồng hơi đi ra tự - Khi phát âm luồng hơi bị cản do
trở ở một điểm nào đó
- Dựa theo ba tiêu chí chính là - Dựa theo hai tiêu chí chính là vị
vị trí của lưỡi, độ há của miệng trí phát âm và cách (phương và hình dáng của môi thức) phát âm
+ Theo vị trí của lưỡi (ba hàng + Theo vị trí phát âm:
nguyên âm): NÂ hàng trước,
 PÂ môi VD: môi – môi:
NÂ hàng giữa và NÂ hàng sau. [b], môi – răng [f]
Tính chất đó được xác định bởi
 PÂ lưỡi. VD: đầu lưỡi [d],
sự di chuyển của lưỡi từ phía
mặt lưỡi [c], cuốn lưỡi [k]
trước vào phía trong khoang  PÂ thanh hầu. VD: [h] miệng.
+ Theo cách phát âm: PÂ tắc,
VD: [i] trong tiếng Việt là NÂ PÂ xát và PÂ rung
hàng trước, trong tiếng Nga là
 PÂ tắc khi phát âm bị cản
NÂ hàng giữa và chữ viết tiếng
hoàn toàn ở một vị trí nào
Việt kí hiệu là ư là NÂ hàng đó.VD: [b], [d] sau.
 PÂ xát khi phát âm không
+ Theo độ há của miệng (bốn
bị cản hoàn toàn, có một
khai độ NÂ): NÂ hẹp, NÂ hơi
khe hở nhỏ ở vị trí nào đó
hẹp, NÂ hơi rộng và NÂ rộng.
để luồng không khí đi ra dễ
Tính chất được xác định bởi sự dàng. VD: [f], [v] mở dần của miệng
 PÂ rung khi phát âm bị cản
VD: Trong tiếng Việt, [i] NÂ
trở ở đầu lưỡi, nhưng sau
hẹp, [e] NÂ hơi hẹp, [ɛ] NÂ hơi
đó lại không bị cản nữa và rộng, [a] NÂ rộng. cứ như vậy. VD: Trong
+ Theo hình dáng của môi: tiếng Việt không có PÂ
NÂ tròn môi và NÂ không tròn này, trong tiếng Nga ta có
môi. Tính chất được xác định PÂ [r] theo khuôn môi.
VD: Trong tiếng Việt [o] NÂ
tròn môi, [ɤ] NÂ không tròn môi.
- Các NÂ thường được thể hiện - PÂ được thể hiện trên sơ đồ
trên hình thang NÂ hoặc hình bảng tiêu chí phân loại PÂ tam giác NÂ
1.3.Cơ sở xã hội của ngữ âm :
a. Chức năng khu biệt nghĩa của âm thanh ngôn ngữ
b. Khả năng khu biệt của âm thanh ngôn ngữ mang tính dân tộc
Khả năng khu biệt của âm thanh ngôn ngữ do sự ước định của cộng
đồng người cùng sử dụng một ngôn ngữ. Do vậy, có những đặc trưng
ngữ âm xã hội này có giá trị khu biệt nhưng xã hội khác lại không có.
III. Các phương pháp nghiên cứu ngữ âm
Do ngữ âm học nghiên cứu cả mặt tự nhiên lẫn mặt xã hội của ngữ âm nên nó đã
sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác nhau, về căn bản có thể chia ra hai
loại phương pháp. Loại thứ nhất phù hợp với các khoa học tự nhiên, đổ là sự quan
sát, miêuu tả. Loại thứ hai vốn có lính riêng biệt của các ngànhh khoa học xã hội,
đó là sự suy diễn từ những biểu hiệrịn vật chất, cụ thể ra cái bản chất trừu tượng,
phi vật chấất thông qua một quá trình phân tích nghiêm ngặt và tuâiin theo những quy luật tất yếu.
1. Phương pháp của khoa học tự nhiên
-Phương pháp chủ quan: Dùng tai để nghe - phương pháp này có tính trực
quan nên không thể quan sát được những động tác cấu âm phức tạp của âm thanh.
-Phương pháp khách quan: dùng chỉ những thí nghiệm bằng máy móc để
phân tích âm thanh của tiếng nói (ghi âm, thu âm, máy phát quang phổ, máy hiện sóng…)
2. Phương pháp của khoa học xã hội (phương pháp suy luận)
-Phương pháp này căn cứ vào thái độ của người bản ngữ khi sử dụng âm
thanh để sử dụng âm thanh để suy ra các quy ước về mặt ngữ âm tồn tại
trong ngôn ngữ đang xét. Sau đó so sánh, đối chiếu các âm thanh với nhau
để tìm những mối quan hệ giữa các âm vị trong một hệ thống âm vị thống nhất.
IV. Các phân môn của Ngữ âm học
Ngữ âm học (nghĩa hẹp): nghiên cứu mặt tự nhiên của ngữ âm, tức là phân
tích, miêu tả các âm thanh của ngôn ngữ theo góc nhìn sinh học (cấu âm) và
theo cách nhìn vật lí (âm học)
Âm vị học: nghiên cứu mặt xã hội của ngữ âm, tức là nghiên cứu những đặc
điểm sử dụng hay chức năng của ngữ âm trong từng ngôn ngữ với phương
pháp và khái niệm riêng của mình. Âm vị học sẽ cho biết trong một ngôn
ngữ nhất định có những đơn vị ngữ âm gì và đặc hoạt động của chúng ra sao
khi kết hợp với nhau để tạo thành các phát ngôn.
Lời nói và ngôn ngữ tuy không đồng nhất nhưng lại nằm trong một thể thống
nhất. Âm thanh của lời nói và hình thức biểu đạt của ngôn ngữ cũng vậy. Hai
cái không thể tách rời nhau và không hề loại trừ nhau. Ngữ âm học theo nghĩa
hẹp vì thế có thể được xem như bộ môn khoa 2học chuyên nghiên cứu mặt tự
nhiên của ngữ âm, trong khi âm vị học chuyên nghiên cứu mặt xã hội của cùng một đối tượng.
 Tầm quan trọng của ngữ âm học
Ngữ âm học có một ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Những thành tựu của nó đã được sử dụng trong
nhiều lĩnh vực khác nhau. 
Ngữ âm học đưa ra những cơ sở khoa học để xây dựng âm chuẩn cho một ngôn ngữ, đặt
chữ viết cho các dân tộc chưa có chữ viết và cải tiến hệ thống chữ viết của các dân tộc đã
có chữ viết từ trước. 
Kiến thức ngữ âm học rất cần cho việc dạy và học ngoại ngữ. Nếu người dạy có những tri
thức vững chắc về ngữ âm học và người học cũng có những khái niệm tối thiểu về môn này
thì kết quả học tập sẽ tốt hơn, bởi vì người học không đơn thuần "bắt chước" lối phát âm
của người nước ngoài mà tiếp thu nó một cách có ý thức, dựa trên sự so sánh cấu âm của
tiếng ngoại quốc với tiếng mẹ đẻ của mình. 
Những tri thức khoa học về mặt ngữ âm học có thể giúp ích cho việc dạy phát âm, dạy học
theo đúng âm chuẩn, dạy chính tả, phân tích các tổ chức âm thanh của một tác phẩm thơ, v.v… 
Ngoài ra ngữ âm học còn có một vai trò nhất định trong việc khôi phục lại ngôn ngữ cho
những người bệnh mắc chứng mất ngôn do chấn thương sọ não, những trẻ em câm–điếc
từ nhỏ; trong việc kiểm tra sự minh xác của đường dây trong ngành thông tin, trong việc đặt
lời ca khúc phù hợp với nhạc để không tạo nên sự méo mó, sai lạc cho lời ca, v.v…(1) 
Với các bộ môn khác của ngôn ngữ học như ngữ pháp học và từ vựng học, ngữ âm học
cũng có một tác dụng hỗ trợ nhất định để làm sáng tỏ những hiện tượng có liên quan đến
các bộ môn này (ví dụ: quy luật tổ chức ngữ âm trong các từ láy v.v…). V.
Các đơn vị ngữ âm
1.Các đơn vị siêu đoạn tính: 1.1. Âm tiết
Âm tiết (syllable) cùng với âm tố (sound) là hai khái niệm cơ sở cho sự hình thành
bộ môn nghiên cứu âm thanh tiếng nói loài người cũng như cơ cấu ngữ âm của một
ngôn ngữ cụ thể. Trong bất kì công trình ngữ âm học nào, dù chuyên về thực
nghiệm hay xác lập các đơn vị ngữ âm, xây dựng lí thuyết âm vị học, v.v. bao giờ
cũng phải làm việc với hai khái niệm, hai thuật ngữ cơ bản này. a. Khái niệm
 Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong chuỗi âm thanh, là đơn vị
cơ sở để tạo nên chuỗi âm thanh.
VD: xà phòng  đc phát âm thành phòng 2 âm tiết
VD: “Nửa đời tóc ngả màu sương
Nhớ quê anh lại tìm đường thăm quê”  14 âm tiết (tiếng)
 Sở dĩ ta nhận ra số lượng âm tiết như vậy là vì dù người nói phát âm nhanh hay
chậm đến đâu thì chuỗi âm thanh trên vẫn có những chỗ ngừng ngắt nhất định
khiến cho người ta có thể dễ dàng tính đếm được chúng. Như vậy, về mặt phát
âm, chuỗi âm thanh được phân đoạn đến âm tiết là đại lượng âm thanh nhỏ
nhất. Trong dòng ngữ lưu, âm tiết hiện ra một cách tự nhiên, trực tiếp hơn các
đơn vị âm thanh cấu tạo nên nó (âm tố).
 Với các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, tiếng Trung, tiếng Thái thì xác định
số lượng và ranh giới âm tiết trong một phát ngôn là việc làm không khó, nếu
không nói là quá dễ dàng. Trẻ em Việt Nam chỉ cần biết đếm là có thể tính ngay
được một câu nói được phát ra gồm có bao nhiêu tiếng (tức bao nhiêu âm tiết).
Với các ngôn ngữ hòa kết như tiếng Nga, tiếng Anh thì việc xác định ranh giới
âm tiết trong một số trường hợp có khó khăn hơn
 Âm tiết là một khúc đoạn của lời nói có khả năng mang các hiện tượng ngôn
điệu như thanh điệu, trọng âm, và ngữ điệu. Trong tiếng Việt một âm tiết bao giờ
cũng được phát ra với 1 thanh điệu. Điều này làm cho âm tiết của tiếng việt càng
dễ đc nhận biết trong lời nói
b. Nhận diện và phân loại âm tiết
Việc nhận diện ranh giới âm tiết trong các ngôn ngữ vẫn chưachưa có tiếng nói
thống nhất trong các nhà chuyên môn. Theo cách nhìn tổng hợp, ta có thể nhận
diện âm tiết dựa vào hai tiêu chí: tiêu chí cảm thức ngôn ngữ và lí thuyết về độ căng
- Theo tiêu chí cảm thức ngôn ngữ, những người bản ngữ của một thứ tiếng
nào đó bao giờ cũng nắm vững những quy tắc đặc biệt trong cấu tạo âm tiết
thứ tiếng của mình. Trong quá trình nắm biết ngôn ngữ, người ta quen thuộc
dần các quy tắc đó và và trở nên rất tự nhiên khi vận dụng chúng trong giao
tiếp. Kết quả là, người ta có thể dựa vào thính giác để nhận ra những khoảng
ngắt nhất định trong ngữ lưu, dễ dàng nhận biết và tính đếm được có bao nhiêu âm tiết trong đó.
- VD: trong tiếng Việt, khi một người nói: Tôi về khu A, lập tức người nghe
nhận ra có 4 âm tiết, nhưng nếu nói:Tôi về khoa, thì chỉ có 3 âm tiết.
- Theo lý thuyết độ căng, về phương diện phát âm, âm tiết có tính chất toàn
vẹn, không thể phân chia được là bởi nó được phát âm bằng một đợt căng
của cơ thịt của bộ máy phát âm
. Khi phát âm một âm tiết, các cơ thịt của bộ
máy phát âm đều phải trải qua ba giai đoạn: tăng cường độ căng, đỉnh điểm
căng thẳng và giảm độ căng. VD: xà phòng
- Theo cách kết thúc âm tiết:
 Âm tiết mở là những âm tiết kết thúc bằng nguyên âm
 Âm tiết nửa mở: là những âm tiết kết thúc bằng bán nguyên âm
 Âm tiết khép: là những âm tiết kết thúc bằng những phụ âm 1.2. Ngữ điệu
 Ngữ điệu là tổng hòa những sự diễn biến âm thanh bao gồm độ cao, độ
mạnh và độ dài trong một câu nói, có chức năng thể hiện và phân biệt các câu nói.
 Trọng âm và thanh điệu chỉ có ở một số ngôn ngữ, còn ngữ điệu có ở tất cả các ngôn ngữ.
Ngữ điệu bao gồm ba yếu tố: độ cao (âm điệu), độ mạnh (trọng âm) và độ dài
(ngừng giọng). Yếu tố quan trọng nhất của ngữ điệu là độ cao (âm điệu), tức là sự
chuyển động lên/xuống của thanh cơ bản của giọng nói. Cùng với độ dài (chỗ
ngừng), độ cao là một phương tiện phân đoạn lời nói.
 Ngữ điệu là một phương tiện phân loại lời nói. Nhưng chức năng chính
của ngữ điệu là nối liền các bộ phận của lời nói lại với nhau, làm cho lời nói trở nên liền mạch.
 Ngữ điệu còn được sử dụng để biểu thị tính chất của các loại câu. Ở đây
nó đóng vai trò là một phương thức ngữ pháp thực thụ.
 Cuối cùng, ngữ điệu còn có ý nghĩa đặc biệt trong việc biểu hiện tất cả
những sắc thái cảm xúc đa dạng của lời nói. 1.3.Thanh điệu: (tone) - Thanh điệu 1.4 . T
rọng âm (accent) là đặc gtruwng của từ
Trọng âm là hiện tượng tách biệt một yếu tố nào đó nằm trong một chuỗi các yếu
tố cùng loại của lời nói bằng cách nhấn giọng, kéo giọng, lên/xuống giọng
 Trọng âm từ: cố định, không thay đổi nếu nhúng vào đơn vị lớn hơn
 Trọng âm ngữ đoạn: có hiệu lực trong ngữ đoạn.
Trong các ngôn ngữ Âu châu như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp, trọng âm có
vai trò đáng kể. Trong tiếng Việt và các ngôn ngữ có thanh điệu khác, vai trò
của trọng âm bị “mờ nhạt” đi trước sự tồn tại của thanh điệu. Tuy nhiên, sẽ là
không đúng nếu có thái độ cực đoan cho rằng tiếng Việt hoàn toàn không có trọng âm.
Trong tiếng Việt, trọng âm được nêu bật chủ yếu bằng cách tăng cường trường
độ của nguyên âm(1). Nói cách khác, trọng âm của tiếng Việt là trọng âm lượng.
Tiếng Việt có một số từ không bao giờ mang trọng âm, ví dụ từ “cái” (loại từ).
Tuy nhiên, có những từ trọng âm được thể hiện khá rõ, ví : dụ
“cà khẳngkhiu“, “toé toè loe”. Tuyệt đại đa số các thực từ đều mang trọng
âm. Có những cặp từ đối lập, trong đó trọng âm là tiêu chí khu biệt duy nhất.
Ví dụ “cho”, “để” là động từ: -Tôi cho anh quyển sách -Nó để hoa lên bàn
với “cho“, “để” là hư từ (“quét cho sạch”; “nói để anh hiểu”) Có những từ đa
tiết, nếu đặt sai trọng âm thì từ đó bị phá vỡ, mỗi âm tiết thành một từ riêng
biệt, ví dụ: “bảo với” (= “nói theo”) và “bảo” (động từ) + “với” (giới từ).
2.Đơn vị đoạn tính 2.1. Âm tố
a. Định nghĩa: là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất không thể phân chia được nữa. Số
lượng âm tố là vô hạn
b. Phân loại các âm tố: Có 2 loại âm tố lớn : nguyên âm, phụ âm
Ngoài 2 loại âm tố cơ bản trên còn có loại âm tố trung gian: bán nguyên âm Đặc điểm Nguyên âm Phụ âm Cách thoát hơi từ phổi
Khong bị cản trở thoát Bị cản trở bởi các bộ ra tự do máy phát âm
Cường độ của lường Luồng hơi đi ra yếu Luồng hơi đi ra mạnh hơi Về âm học
Dây thanh rung nhiều- Dây thanh rung ít hoặc > có nhiều tiếng thanh không rung-> có nhiều tiếng động
 Bán âm (semi-vocalic, semi-consonant). Ngoài nguyên âm và phụ âm, trong
một số ngôn ngữ còn có âm tố bán âm, vừa có tính chất nguyên âm vừa có
tính chất phụ âm. Về mặt cấu âm, bán âm giống nguyên âm nhưng trong cấu
trúc âm tiết, bán âm không bao giờ xuất hiện ở đỉnh âm tiết, mà chỉ xuất
hiện ở đầu hay cuối âm tiết, nghĩa là nó có chức năng như phụ âm. 2.2.Âm vị:
2.2.1. Khái niệm âm vị:
a. Khái niệm Âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất có giá trị khu biệt nghĩa được thể hiện đồng thời.
b. Các đặc trưng của âm vị được xác định qua những đặc trưng âm học và
cấu âm tạo nên một âm vị cụ thể. Đặc trưng khu biệt là những đặc trưng có
đủ sức phân biệt ít nhất hai âm vị trong một ngôn ngữ nhất định.
c. Biến thể âm vị: âm vị được thể hiện bằng các âm tố, những âm tố khác nhau
cùng thể hiện một âm vị được gọi là các biến thể của âm vị. Có 2 loại biến thể:
+ Biến thể tự do: là cách thể hiện âm vị ở mỗi cá nhân, mỗi người có một cách phát âm riêng.
+ Biến thể kết hợp: là biến thể bị quy định bởi vị trí, bối cảnh ngữ âm.
d. Hệ thống âm vị trong tiếng Việt:
+ Âm đầu: có chức năng mở đầu âm tiết, vị trí đứng đầu âm tiết do các phụ
âm đảm nhiệm. Dựa vào phương thức và vị trí cấu âm tiếng Việt có 22 phụ âm đầu. Âm vị Cách viết Ví dụ /m/ m mềm mại,mượt mà /b/ b buồn bã /v/ v vội vàng /c/ c chuồn chuồn
+ Âm đệm: có chức năng làm thay đổi âm sắc của âm tiết, vị trí sau âm đầu
do bán nguyên âm đảm nhiệm. Âm đệm tạo nên sự đối lập tròn môi/không
tròn môi hay (trầm hóa/không trầm hóa) ở âm tiết lúc mở đầu.
VD: “toan” tròn môi, “tan” không tròn môi.
+ Âm chính: có chức năng quyết định âm sắc chủ yếu, là thành phần hạt
nhân của âm tiết. Vị trí đứng sau âm đệm, do các đơn vị nguyên âm đảm
nhiệm, bao gồm: 13 nguyên âm đơn (9 NÂ dài, 4 NÂ ngắn) và 3 nguyên âm đôi.
VD: /i/. Được viết “y” khi đứng sau âm đệm (huyền, thủy,..) hoặc đứng một mình (ý kiến, y sĩ.,,,)
+ Âm cuối: có chức năng kết thúc âm tiết, do các phụ âm và bán nguyên âm
đảm nhiệm, vị trí đứng sau âm chính. Gồm có: 6 phụ âm cuối /p,t,k,m,n,ɳ/ và 2 bán nguyên âm /i,u/.
2.2.2. Phân biệt âm vị và âm tố: Âm tố Âm vị
Âm tố là những âm được phát ra Âm vị nằm trong âm tố. Âm tố
và được cảm thụ bằng thính giác. là hình thức thể hiện vật chất của
Bất kì âm nào được dùng trong âm vị lời nói đều là âm tố Số lượng vô hạn Số lượng hữu hạn
Đơn vị ngữ âm nhỏ nhất không Đơn vị ngữ âm nhỏ nhất không thể chia tách
thể chia tách trong một ngôn ngữ
Tổng thể những nét khu biệt và Tổng thể những nét khu biệt không khu biệt
Là một đơn vị cụ thể
Là một đơn vị không cụ thể
Có tính chất tự nhiên chung cho Có tính chất xã hội mọi ngôn ngữ