













Preview text:
CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT 1, Định nghĩa
- Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận, bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Nhằm điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích giai cấp của mình.
- Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành, bảo đảm
thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Nhằm điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát triênr theo lợi ích giai cấp của mình
2, Các đặc điểm, thuộc tính của pháp luật
- Tính bắt buộc chung (tính quy phạm phổ biến)
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, những khuôn mẫu, cách xử sự mang tính chuẩn mực
Mọi chủ thể có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ của pháp luật cho phép.
Những giới hạn này thể hiện những việc mà chủ thể được làm, buộc phải làm hoặc cấm làm.
- Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức:
Tính xác định chật chẽ về mặt hình thức là sự thể hiện nội dung pháp luật
dưới những hình thức nhất định
Lời văn cần rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu, không đa nghĩa, cấu trúc chặt chẽ,
đảm bảo nguyên tắc: “Bất cứ ai đặt vào những điều kiện ấy cũng không thể làm khác được”
- Tính bảo đảm thực hiện bởi nhà nước: khác với các quy phạm xã hội khác, Pháp
luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được nhà nước bảo đảm thực hiện.
Điều này thể hiện qua 2 khía cạnh:
Khả năng tổ chức thực hiện của nhà nước bằng hai phương pháp: thuyết
phục và cưỡng chế. Trong đó phương pháp cưỡng chế thể hiện bản chất của pháp luật
Nhà nước là người đảm bảo tính hợp lí uy tín của nội dung các quy phạm
pháp luật và tạo điều kiện bằng các biện pháp hướng dẫn, cung cấp cơ sở
vật chất để có khả năng thực hiện một cách thuận lợi.
2, Các đặc điểm, thuộc tính của Pháp luật
- Tính bắt buộc chung, tính quy phạm phổ biển
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, những khuôn mẫu, cách xử sự chuẩn mực
Mọi chủ thể có thể xử sự một cách tự do trong khuôn khổ pháp luật quy định
Những giới hạn này thể hiên việc chủ thể được làm, buộc phải làm và cấm làm
- Tính xác định chặt che về mặt hình thức
Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức là sự thể hiện nội dung pháp luật dưới những
hình thức xác định. Yêu cầu lời văn rõ ràng, dễ hiểu, cấu trúc chặt chẽ, ngắn gọn,
không đa nghĩa, và đảm bảo nguyên tắc bất cứ ai đặt vào điều kiện ấy cũng không thể làm khác được
- Tính bảo đảm thực hiện bởi nhà nước
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận,
do vậy Pháp luật được bảo đảm thực hiện bởi nhà nước. điều này thể hiện qua 2 khía cạnh:
Khả năng tổ chức thực hiện bằng 2 phương pháp đó là thuyết phục và cưỡng chế,
trong đó phương pháp cưỡng chế thể hiện bản chất của nhà nước
Nhà nước bảo đảm tính hợp lí uy tín của các quy phạm pháp luật, và nhà nước cũng
tạo điều kiện để có khả năng thực hiện thuận lợi IV. LUẬT DÂN SỰ
1. Đối tượng điều chỉnh
- Là các quan hệ giữa chủ thể với nhau về nhân thân hoặc tài sản hình thành trên cơ
sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập tài sản và tự chịu trách nhiệm.
2. Phương pháp điều chỉnh
- Bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể khi tham gia quan hệ nhân thân
- Bảo đảm quyền được lựa chọn, định đoạt của các chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự.
- Quy định trách nhiệm dân sự cho các bên và bảo đảm cho các chủ thể được quyền khởi kiện dân sự.
III, Một số nội dung cơ bản của ngành Luật Dân sự 1, Thừa kế
- Là việc chuyển giao tài sản của người chết sang cho người sống theo hình thức di
chúc hoặc thừa kế theo pháp luật.
- Mọi cá nhân đều bình đẳng trong việc để lại tài sản của mình cho người khác và
quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VÈ NHÀ NƯỚC I.
Nguồn gốc, khái niệm, bản chất và chức năng của nhà nước
1. Nguồn gốc nhà nước
A, Những học thuyết tiêu biểu về nguồn gốc nhà nước
- Thuyết thần quyền: cho rằng Thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung 2. Khái niệm nhà nước
- Nhà nước là tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên trách để
cưỡng chế và quản lí xã hội nhằm duy trì trật tự xã hội, bảo vệ địa vị và lợi ích của
giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp.
-Đặc trưng của nhà nước:
Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biêt, chủ thể bảo vệ quyền lực này
là giai cấp thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng trong xã hội: quyền lực này
chỉ thuộc về giai cấp thống trị, và phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị. Để
thực hiện quyền lực công cộng, cần có một bộ máy cưỡng chế: quân đội, cảnh
sát, tòa án và những công cụ vật chất như: nhà tù… nhằm duy trì thống trị giai
cấp, bảo vệ lợi ích giai cấp và các tầng lớp trong xã hội phải phục tùng ý chí giai cấp thống trị.
Nhà nước thực hiện quản lý dân cư theo lãnh thổ, không phụ thuộc vaò chính
kiến, nghề nghiệp, huyết thống giới tính: sau khi ra đời, nhà nước phân chia lại
dân cư cho hợp lí và thiết lập cơ quan quản lí ở các vùng lãnh thổ. Mỗi vùng
dân cư được gọi là một đơn vị hành chính-lãnh thổ. Hình thành mối quan hệ
giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với các cơ quan nhà nước ở địa phương.
Nhà nước có chủ quyền quốc gia: thể hiện quyền tự quyết của nhà nước về tất
cả các vấn đề thuộc đối nội, đối ngoại và không phụ thuộc, chịu sự sắp đặt vaò
lực lượng bên ngoài. Chủ quyền quốc gia là một thuộc tính không thể tách rời
nhà nước. Chủ quyền quốc gia làm xuất hiện quan hệ về quốc tịch giữa cá nhân với nhà nước.
Nhà nước ban hành pháp luật và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước:
Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật. Để pháp luật được
thực thi, nhà nước đã tổ chức một bộ máy chuyên chế nhiệm vụ cưỡng chế và
thực hiện sự quản lý băt buộc với mọi thành viên trong xã hội. Pháp luật ra đời
cùng nhà nước, gắn liền với nhà nước, nhà nước nào thì pháp luật đó. Nhà
nước không thể thực hiện quyền lực của mình nếu không có pháp luật và pháp
luật cũng chỉ tồn tại, phát triển được tỏng điều kiện được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước.
Nhà nước quy định và thực hiện thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc: mỗi
nhà nước đều có thuế riêng phù hợp với bản chất, nhiệm vụ, mục tiêu hoạt
động của mình trong từng giai đoạn. Thuế đã góp phần xác lập quan hệ chặt
chẽ giữa nhà nước với dân cư.
3. Bản chất của nhà nước
- Bản chất của nhà nước là trung tâm của mọi vấn đề chính trị và mọi tranh luận chính trị.
a, Tính giai cấp của nhà nước
- Do tính chất đặc thù của nhà nước nên về thực chất nhà nước luôn được giai cấp
thống trị nắm lấy như công cụ mạnh mẽ để củng cố địa vị, bảo vệ lợi ích giai cấp và quản lí xã hội.
- Nhà nước là công cụ bạo lực để duy trì sự thống trị giai cấp
- Sự thống trị giai cấp được thể hiện ở 3 cấp: kinh tế, chính trị, tư tưởng
Về kinh tế: giai cấp thống trị giữ địa vị thống trị về kinh tế, nắm giữ toàn bộ
tư liệu sản xuất trong xã hội. Lý luận và thực tiễn đều cho thấy giai cấp nào
nắm trong tay quyền lực kinh tế thì giai cấp đó có khả năng nắm trong tay
quyền lực chính trị và tư tưởng. Người có quyền lực về kinh tế luôn có khả
năng chi phối người khác – những người phụ thuộc vào kinh tế.
Về chính trị: quyền lực kinh tế cần đến quyền lực chính trị - loại quyền lực
có sức mạnh, được tổ chức dưới hình thức bộ máy “bạo lực có tổ chức” để
duy trì trật tự xã hội và trấn áp mọi phản kháng xâm hại tới trật tự đó. Nhà
nước chính là tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị.
Về tư tưởng: để phát huy quyền lực nhà nước cần đến sự chấp nhận và
đồng thuận xã hội nữa. Thông qua nhà nước, các tư tưởng, quan điểm,
đường lối, chinh sách thể hiện ý chí lợi ích của giai cấp cầm quyền được
nâng lên thành chủ trương, chính sách, pháp luật do nhà nước xác lập, ban
hành và bảo vệ. Bằng nhà nước, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị biến
thành hệ tư tưởng thống trị trong xã hội.
b, Tính xã hội của nhà nước:
- Là phương thức tổ chức đảm bảo lợi ích chung của xã hội.
- Đứng ra giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội, bảo đảm trật tự,
ổn định, giá trị chung của xã hội đảm bảo tồn tại và phát triển.
- Không chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền mà còn bảo vệ lợi ích của các
giai tầng khác trong xã hội khi mà những lợi ích đó không mâu thuẫn căn bản với
lợi ích của giai cấp thống trị.
- Ngày nay, xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập và phát triển, nên tính xã hội không
chỉ bó hẹp trong một phạm vi quốc gia mà nó mở rộng ra tầm quốc tế, các nhà
nước phải phụ thuộc vào nhau để giải quyết các vấn đề của nhân loại.
- Nhà nước là người đại diện cho toàn xã hội, thay mặt cho xã hội làm công viêc chung
4. Chức năng của nhà nước: là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước
nhằm thực hiện những nhiệm vụ cơ bản của nhà nước
- Mỗi nhà nước khác nhau thì có chức năng nhà nước khác nhau
- Các chức năng của nhà nước luôn luôn phát triển cùng với sự phát triển của nhà nước và xã hội
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng của nhà nước:
Bản chất nhà nước, nhiệm vụ cơ bản của nhà nước.
Lịch sử phát triển của từng dân tộc, truyền thống văn hóa hệ tư tưởng
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế xã hội
Cơ cấu – phân tầng xã hội, mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích trong xã hội
Quyền con người, dân chủ và toàn cầu hóa
Trình độ và trách nhiệm của các nhà chính trị, các nhà quản lí nhà nước
-Chức năng đối nội: là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước trong
phạm vi nội bộ đất nước.
Chức năng chính trị: thiết lập hệ thống các thiết chế quyền lực nhà nước
thống nhất, đồng bộ, hiệu quả
Nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự xã
hội, trấn áp các phần tử phản động, chống đối chính quyền. Xác lập các
nguyên tắc, quy định cho việc tổ chức quản lí các tổ chức và cá nhân khi
tham gia vào quan hệ chính trị
Chức năng kinh tế: thể hiện vai trò của nhà nước trong xác lập và bảo vệ
chế độ kinh tế phù hợp với bản chất nhà nước và trình độ phát triển kinh tế
xã hội trong từng thời kì: ban hành chính sách, kế hoachj phát triển đất
nưóc. Quản lí và giải quyết những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực kinh tế
Chức năng xã hội: thể hiện thuộc tính xã hội và vai trò của nhà nước trong
việc tác động vào lĩnh vực xã hội, giải quyết mối quan hệ cá nhân với cộng
đồng xã hội: đề ra chính sách pháp luật, xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm, cứu trợ xã hội …
Chức năng bảo đảm trật tự pháp luật và pháp chế: là chức năng đặc thù, thể
hiện bản chất và vai trò của nhà nước, phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước
và pháp luật. Nhà nước tiến hành các hoạt động xây dựng và phát triển hệ
thống pháp luật phù hợp với yêu cầu xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích chính
đáng của công dân trong từng thời kì, giải quyết những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực này
-Chức năng đối ngoại: phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước trong quan hệ quốc tế
Chức năng quốc phòng: chức năng đối ngoại chủ yếu của nhiều quốc gia,
bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ chống lại mọi hành
động xâm lược, gây hấn, đe dọa từ bên ngoài.
Chức năng bảo vệ trật tư, hòa bình thế giới, tham gia giải quyết các vến đề
có tính chất quốc tế và khu vực: chức năng hết sức quan trọng để tăng uy
tín sức ảnh hưởng của quốc gia mình trên thị trường, bảo vệ hòa bình hu
vực và quốc tế, giải quyết vấn đề toàn cầu
Chức năng hợp tác và hội nhập quốc tế: hợp tác và hội nhập quốc tế trở
thành xu thế của thế giới, diễn ra ở nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa,
quốc phòng, chính trị ... các quốc gia xích lại gần nhau, thiết lập và duy trì
quan hệ ngoại giao để cùng nhau phát triển.
- 2 chức năng này liên quan chặt chẽ, hỗ trợ, tác động lẫn nhau. Đối nội giữ vai trò
chủ đạo quyết định đối ngoại.
-Các hình thức và phương pháp thực hiện chức năng nhà nước: thông qua những
hình thức và phương pháp hoạt động nhất định của bộ máy nhà nước:
Ba hình thức: xây dựng pháp luât, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp
luật. có quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau, là tiền đề, điều kiện của nhau
Hình thức không pháp lí như: tổ chức, sắp xếp lại cơ cấu các tổ chức, cơ
quan, mở hội nghị phát động sơ kết, tổng kết các phong trào quần chúng
nhân dân tham gia thực hiện chức năng nhà nước.
Các phương pháp rất đa dạng và phụ thuộc vào bản chất, nhiệm vụ, mục tiêu
của nhà nước: thuyết phục và cưỡng chế. Hiện nay, coi giáo dục, thuyết
phục là phương pháp cơ bản trong hoạt động của mình nhằm động viên,
khích lệ và tổ chức tham gia đông đảo vào quản lí nhà nước, xã hội.
Phương pháp cưỡng chế được áp dụng khi giáo dục, thuyết phục không đạt
hiệu quả và cũng nhằm giáo dục, dựa trên cơ sở giáo dục. không đau đớn
thể xác tinh thần, không hạ thấp danh dự, nhân phẩm II.
Hình thức nhà nước: Là cách thức tổ chức và phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước
A, Hình thức chính thể: cách tổ chức, trình tự thiết lập và quan hệ của các cơ quan quyền
lực nhà nước tối cao cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào việc thành lập các cơ quan này. Bao gồm
- Chính thể quân chủ: cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là một người duy nhất,
thông thường được lập ra theo nguyên tắc thừa kế. Ngoài ra, người đứng đầu nhà
nước thường giữ chức vụ suốt đời, cũng có trường hợp chỉ nắm trong tay thời gian nhất định.
- Chính thể quân chủ bao gồm
Chính thể quân chủ tuyệt đối IV, BÀI TẬP
1, Cấu trúc của quy phạm pháp luật
Bộ phận giả định:
- Là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những hoàn cảnh, điều kiện có
thể xảy ra trong cuộc sống mà cá nhân hay tổ chức ở vào những hoàn cảnh đó cần
phải xử sự (hành động hoặc không hành động)
- Chúng ta sẽ đặt ra câu hỏi: Chủ thể là ai (là cá nhân hay tổ chức)? Khi nào? Trong
điều kiện, hoàn cảnh nào? Bộ phận quy định
- Là một bộ phận của quy phạm pháp luật, trong đó nêu lên cách xử sự mà tổ chức,
cá nhân ở điều kiện hoàn cảnh nêu ở phần giả định của quy phạm pháp luật luôn
được phép thực hiện hoặc tuân theo.
- Chúng tra trả lời những câu hỏi như: Chủ thể trong phần giả định “được làm gì?
Không được làm gì? Phải làm gì? Lmà như thế nào? Bộ phận chế tài
- Là một bộ phận của quy phạm pháp luật nếu lên những biện pháp tác động mà nhà
nước sẽ dự kiến áp dụng đối với tổ chức hay cá nhân nào không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng quy định của nhà nước nêu ở phần giả định của quy phạm pháp luật
- Chúng ta thường trả lời các câu hỏi: Các biện pháp cưỡng chế nào được áp dụng
đối với chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc xử sự
được nêu lên trong bộ phận quy định của quy phạm pháp luật
VD1: Trong thời hạn bảo hành, nếu bên mua phát hiện được khuyết tật của vật mua bán
thì có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa không phải trả tiền, giảm giá, đổi vật có khuyết tật
lấy vật khác hoặc trả lại vật và lấy lại tiền.
-Bộ phận giả định: Chủ thể của bộ phận giả định là “bên mua” trong điều kiện hoàn
cảnh là “trong thời hạn bảo hành, nếu bên mua phát hiện được khuyết tật của vật mua bán thì”
-Bộ phận quy định: có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa không phải trả tiền, giảm
giá, đổi vật có khuyết tật lấu vật khác hoặc trả lại vật và lấy lại tiền”
VD2: Người nào vì vụ lợi mà tổ chức hoặc môi giới cho người khác xuất, nhập cảnh hoặc
ở lại Việt Nam trái phép, thì bị phạt từ 01 đến 05 năm”
-Bộ phận giả định: Người vì vụ lợi mà tổ chức môi giới cho người khác xuất, nhập
cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép
-Bộ phận chế tài: bị phạt tù từ 01 đến 05 năm tù
2, Các hình thức thực hiện pháp luật
- Thực hiện pháp luật: là quá trình hoạt động có mục đích của các chủ thể pháp
luật nhằm biến những quy định của pháp luật thành những hành vi thực tế, hợp
pháp của các chủ thể pháp luật - Đặc điểm:
Là một quá trình hoạt động có mục đích của chủ thể pháp luật
Là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật, biểu hiện dưới dạng hành
động hợp pháp và không hành động hợp pháp
A, Tuân thủ pháp luật
- Là hình thức thực hiện pháp luật
- Không thực hiện những điều mà pháp luật cấm
- Ví dụ: Người điều khiển xe mô tô không được đi xe vào phần đường dành cho
người đi bộ và phương tiện khác
B. Thi hành pháp luật
- Làm những việc pháp luật quy định phải làm
- Thực hiên những hành vi nhất định được mô tả trong phần quy định của QPPL
VD: Khi muốn chuyển hướng xe, người điều kiện phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ
C, Sử dụng pháp luật
- Làm những điều pháp luật cho phép làm
D, Aps dụng pháp luật
- Các cơ quan công chức có thẩm quyền căn cứ vào pháp luật để đưa ra các quyết định
3, Vi phạm pháp luật
- Là hành vi trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực
hiện làm xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
- Dấu hiệu của vi phạm pháp luật:
Là hành vi xác định của con người: hành vi vi phạm pháp luật biểu hiện
dưới hai hình thức: hành động hoặc không hành động
Tính trais pháp luật của hành vi
Phải có lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật: lỗi là trạng thái
tâm lí phản ánh thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình
cũng như hậu quả của hành vi đó. Để xác định chủ thể có lỗi hay không có
lỗi, người ta căn cứ vào hai yếu tố là ý chí và lý trí. Lý trí là khả năng nhận
thức của chủ thể khi thực hiện hành vi. Yếu tố song hành với lý trí để cấu
thành nên lỗi đó là ý chí. Ys chí được đặc trưng bởi khả năng điều khiển
hành vi của chủ thể. Mặc dù người đó có khả năng nhận thức hành vi của
mình, nhưng không có đủ điều kiện để lựa chọn thực hiện hành vi sao cho
phù hợp với yêu cầu của pháp luật
- Một hành vi được coi là vi phạm pháp luật khi có cả 3 đặc trưng đó.
3.1, Cấu thành vi phạm pháp luật
A, Mặt khách quan của vi phạm pháp luật: là những biểu hện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật
- Mặt khách quan bao gồm:
Hành vi trái pháp luật: nếu không tồn tại hành vi trái pháp luật của con
người thì không có vi phạm pháp luật xảy ra
Thiệt hại cho xã hội (hậu quả) là những tổn thất cho xã hội về vật chất hoặc
tinh thần. Mức độ thiệt hại xảy ra hoặc nguy cơ thiệt hại xảy ra thể hiện
mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả mà nó gây ra
cho xã hội: thể hiện ở sự thiệt hại cho xã hội do chính hành vi trái pháp luật
đó trực tiếp gây ra. Nếu không có mối quan hệ đó thì hành vi trái pháp luật
đó không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự thiệt hại cho xã hội mà là do nguyên nhân khác.
Ngoài ra, các dấu hiệu khác như thời gian, địa điểm, phương tiện, công cụ vi
phạm, ... cũng là yếu tố trong mặt khách quan của vi phạm pháp luật.
3.2, Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
- Các yếu tố thuộc mặt chủ quan của vi phạm rất phức tạp và khó khăn để nhận thức,
đánh giá được đầy đủ và chính xác.
- Là những yếu tố bên trong của vi phạm pháp luật, bao gồm:
Động cơ của chủ thể vi phạm pháp luật: là yếu tố thúc đẩy thôi thúc chủ thể và luôn mang tính xấu
Mục đích của chủ thể vi phạm pháp luật: là kết quả cuối cùng mà chủ thể mong
muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm của mình. Khi xem xét hành vi vi
phạm pháp luật, cần làm rõ động cơ và mục đích của chủ thể để đánh giá đầy đủ
chính xác tính chất, mức độ của hành vi.
Lỗi của chủ thể vi phạm pháp luật: là trạng thái tâm lí của chủ thể khi thực hiện
hành vi vi phạm phản ánh thái độ của người đó đối với hành vi cũng như hậu quả
do hành vi đó gây ra. Lỗi bao gồm lỗi vô ý và lỗi cố ý
Lỗi cố ý trực tiếp là chủ thể nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và hậu quả
nguy hiểm của hành vi nhưng mong muốn nó xảy ra.
Lỗi cố ý gián tiếp là chủ thể khi thực hiện hành vi vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình
là trái pháp luật và hậu quả nguy hiểm của hành vi tuy không mong muốn hậu quả đó xảy
ra nhưng có thái độ để mặc cho hậu quả xảy ra, chấp nhận hậu quả xảy ra trong nhận thức của người đó
Lỗi vô ý vì quá tự tin: chủ thể khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhận thức hành vi
của mình là trái pháp luật và hậu quả nguy hiểm . Tuy nhiên tin tưởng hậu quả đó sẽ
không xảy ra nhưng cuối cùng hậu quả vẫn xảy ra và nằm ngoài ý chí của chủ thể (trong
nhận thức của người đó đã loại trừ hậu quả của hành vi). Đây là yếu tố quan trọng nhất để
chỉ ra sự khác biệt giữa lỗi cố ý gián tiếp và lỗi vô ý vì quá tự tin
Lỗi vô ý do cẩu thả là chủ thể khi thực hiện hành vi vi phạm không nhận thức được hành
vi của mình là trái pháp luật, không ú thức được hậu quả trong hành vi của mình. Xuâts
phát từ sự chủ quan, cẩu thả hoặc thiếu hiểu biết của người đó.
3.3, Chủ thể của vi phạm pháp luật
- Là tổ chức hoặc cá nhân có năng lực trách nhiệm pháp lí. Năng lực trách nhiệm pháp lý
là một trong những yếu tố cơ bản của năng lực hành vi
- Khi xem xét tính chất và mức độ của hành vi vi phạm pháp luật cần thiết phải đánh giá
chính xác về năng lực trách nhiệm pháp lí của chủ thể vi phạm
- Dáu hiệu về mặt chủ thể liên quan mật thiết tới dấu hiệu lỗi
3.4, Khách thể của vi phạm pháp luật
- Là những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại
- Mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật được xác định dựa trên tính chất và
tầm quan trọng của quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm tới 4, Thừa kế
- Là việc chuyển giao tài sản của người chết sang cho người sống theo hình thức di
chúc hoặc thừa kế theo pháp luật.
- Mọi cá nhân đều bình đẳng trong việc để lại tài sản của mình cho người khác và
quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
4.1, Thừa kế theo pháp luật
- Là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế theo pháp luật quy định
- Hàng thừa kế thứ 1: vợ chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con đẻ con nuôi của người đã chết
- Hnagf thứ 2: ông bà nội ngoiaj, anh chị em ruột, cháu ruột mà người chết là ông bà nội ngoại -