Chương 4
CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
MỤC ĐÍCH:
Cung cấp hệ thống tri thức về các hình thức cạnh tranh, tác động của
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường theo quan điểm nghiên cứu của
C.Mác. Cùng với việc nghiên cứu luận về cạnh tranh của C.Mác, nội
dung luận về độc quyền độc quyền nhà nước phản ánh trình độ phát
triển của quan hệ sản xuất trao đổi trong nền kinh tế thị trường bản
chủ nghĩa giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX theo luận của
V.I.Lênin cũng sẽ được phân tích.
YÊU CẦU:
Học chương này, sinh viên cần nắm được:
i) Quan hệ giữa cạnh tranh độc quyền trong nền kinh tế thị
trường;
ii) Độc quyền, độc quyền nhà nước trong nền kinh tế thị
trường.
Nghiên cứu 2 nội dung này để hiểu về tác động của cạnh tranh
tính quy luật về cạnh tranh đến một trình độ phát triển nhất định tất
yếu sẽ dẫn tới sự hình thành các tổ chức độc quyền.
4.1. QUAN HỆ GIỮA CẠNH TRANH ĐỘC QUYỀN TRONG NỀN
KINH TẾ THTRƯỜNG
4.1.1. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
4.1.1.1. Những vấn đề chung về cạnh tranh:
Cạnh tranh (trong kinh tế) cuộc đấu tranh gay gắt giữa các chủ thể
kinh tế khi tham gia thị trường nhằm tối đa hóa lợi ích cho mình.
1
Các loại hình cạnh tranh.
Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, cạnh tranh được chia
thành:
- Cạnh tranh giữa người bán người mua: thể hiểu theo nghĩa
đơn giản nhất một sự mặc cả theo luật ' mua rẻ -bán đắt '. Cả hai bên đều
muốn được tối đa hoá lợi ích của mình .
- Cạnh tranh giữa người mua người mua: xảy ra khi trên thị
trường mức cung nhỏ hơn cầu của một loại hàng hoá hoặc dịch vụ. Lúc này
hàng hoá trên thị trường khan hiếm , người mua sẵn sàng mua hàng với
một mức giá cao. Mức độ cạnh tranh giữa những người mua trở nên gay
gắt hơn.
- Cạnh tranh giữa người bán người bán: Đây một cuộc cạnh
tranh gay go và quyết liệt nhất và phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiên
nay. Các doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ lẫn nhau để giành cho
mình những ưu thế về thị trường khách hàng nhằm mục tiêu tồn tại
phát triển.
Cuộc ganh đua này diễn ra ở các góc độ:
+ Giá cả
+ Chất lượng
+ Hình thức , nghệ thuật tổ chức bán hàng.
+ Thời gian.
…………
 Xét theo tính chất, cạnh tranh được chia thành:
Cạnh tranh hoàn hảo: hay còn được gọi cạnh tranh thuần tuý:
tình trạng cạnh tranh xảy ra khi trên thị trường rất nhiều người
bán và không có người nào có ưu thế về số lượng cung ứng đủ lớn để
ảnh hưởng tới giá cả trên thị trường. Cac sản phẩm bán ra rất ít có sự
2
khác biệt về quy cách, phẩm chất, mẫu mã. Trong thị trường cạnh
tranh hoàn hảo các doanh nghiệp bán sản phẩm dịch vụ của mình
ở mức giá do thị trường xác định dựa trên quy luật cung cầu.
Cạnh tranh không hoàn hảo: cạnh tranh trên thị trường phần
lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau. Một loại sản phẩm
thể nhiều nhãn hiệu khác nhau nhằm phân biệt các nhà sản xuất
hay cung ứng, mặc sự khác biệt giữa các sản phẩm thể không
lớn.
Cạnh tranh độc quyền: hình thức cạnh tranh trên thị trường
một số người bán một số sản phẩm thuần nhất. Họ thể kiểm soát
gần như toàn bộ số lượng sản phẩm và dịch vụ bán ra trên thị trường.
Thị trường cạnh tranh độc quyền không sự cạnh tranh về giá,
người bán thể bắt buộc người mua chấp nhận giá sản phẩm do họ
định ra. Họ thể định giá cao hơn hoặc thấp hơn giá của thị trường
tuỳ thuộc vào đặc điểm tác dụng của từng loại sản phẩm, uy tín
người cung ứng…nhưng mục tiêu cuối cùng đạt được mục tiêu đề
ra thường lợi nhuận. Những doanh nghiệp nhỏ tham gia vào thị
trường này phải chấp nhận bán theo giá của các nhà độc quyền.
Kết quả của cạnh tranh kẻ mạnh (cả về khả năng vật chất trình độ
chuyên môn) sẽ người chiến thắng còn những doanh nghiệp nào không
có đủ tiềm lực sẽ bị thua cuộc và bị đào thải khỏi thị trường.
4.1.1.2. Cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành:
Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Cạnh tranh trong nội bộ ngành cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
kinh doanh trong cùng một ngành, cùng sản xuất một loại hàng hóa. Đây là
một trong những phương thức để thực hiện lợi ích của doanh nghiệp trong
cùng một ngành sản xuất.
Mục đích của cạnh tranh trong nội bộ ngành nhằm thu lợi nhuận
siêu ngạch. Biện pháp cạnh tranh các doanh nghiệp ra sức cải tiến kỹ
thuật, đổi mới công nghệ, hợp hóa sản xuất, tăng năng suất lao động để
hạ thấp giá trị biệt của hàng hóa, làm cho giá trị hàng hoá của doanh
3
nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị hội của hàng hoá đó. Kết quả của
cạnh tranh trong nội bộ ngành là hình thành giá trị thị trường (giá trị xã hội)
của từng loại hàng hoá. Cùng một loại hàng hóa được sản xuất ra trong các
doanh nghiệp sản xuất khác nhau, do điều kiện sản xuất (điều kiện trang bị
kỹ thuật, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ tay nghề của người lao động ...)
khác nhau, cho nên hàng hoá sản xuất ra có giá trị cá biệt khác nhau, nhưng
trên thị trường các hàng hoá phải bán theo một giá thống nhất, đó giá cả
thị trường. Giá cả thị trường dựa trên cơ sở giá trị thị trường (giá trị xã hội).
Giá cả thị trường chính hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị thị
trường. Giá cả thị trường do giá trị thị trường quyết định.
Giá trị thị trường giá tr trung bình của những hàng hóa được sản
xuất ra trong một khu vực sản xuất nào đó hay giá trị biệt của những
hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện trung bình của khu vực và
chiếm đại bộ phận trong tổng số những hàng hóa của khu vực đó. Theo
C.Mác, "Một mặt phải coi giá trị thị trường giá trị trung bình của những
hàng hoá được sản xuất ra trong một khu vực sản xuất nào đó. Mặt khác,
lại phải coi giá trị thị trường là giá trị biệt của những hàng hoá được sản
xuất ra trong những điều kiện trung bình của khu vực đó và chiếm một khối
lượng lớn trong tổng số những sản phẩm của khu vực này"1.
Cạnh tranh giữa các ngành
Cạnh tranh giữa các ngành cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh ở các ngành khác nhau.
Cạnh tranh giữa các ngành, vậy, cũng tr thành phương thức để
thực hiện lợi ích của doanh nghiệp thuộc các ngành sản xuất khác nhau
trong điều kiện kinh tế thị trường. Xét riêng trong điều kiện nền kinh tế thị
trường bản chủ nghĩa, cạnh tranh giữa các ngành phương thức để các
doanh nghiệp bản các ngành sản xuất khác nhau tìm kiếm lợi ích của
mình. Mục đích của cạnh tranh giữa các ngành nhằm tìm nơi đầu
lợi nhất. Biện pháp cạnh tranh là các doanh nghiệp tự do di chuyển vốn của
mình từ ngành này sang ngành khác, tức tự phát phân phối vốn (c v)
vào các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau. Kết quả của cạnh tranh giữa
các ngành hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân giá trị hàng hoá
chuyển thành giá cả sản xuất. Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
thì các doanh nghiệp nếu số vốn bằng nhau, đầu vào ngành nào
cũng đều thu được số lợi nhuận bằng nhau, gọi là lợi nhuận bình quân ( P ).
1 C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, t.25, phần I, tr.74.
4
Sự bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận chỉ được thực hiện khi nền kinh tế thị
trường đã phát triển đến một trình độ nhất định. Khi hình thành tỷ suất lợi
nhuận bình quân lợi nhuận bình quân thì giá trị hàng hoá chuyển thành
giá cả sản xuất (k + P ). Nội dung này đã được trình bày chương 3 khi
phân tích về phạm trù lợi nhuận.
Xét về mặt lượng, mỗi ngành sản xuất giá cả sản xuất giá trị
hàng hoá thể không bằng nhau, giá cả sản xuất thể lớn hơn hoặc nhỏ
hơn giá trị hàng hoá, nhưng xét trong toàn hội thì tổng giá cả sản xuất
luôn bằng tổng giá trị hàng hoá. Do đó, giá cả sản xuất chính do giá trị
hàng hóa chuyển hóa thành. Trong mối quan hệ này thì giá trị vẫnsở,
nội dung bên trong giá cả sản xuất; giá cả sản xuất là cơ sở của giá cả thị
trường giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá cả sản xuất. Khi chưa
xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả hàng hoá trên thị trường lên
xuống xoay quanh giá trị hàng hoá, còn khi xuất hiện phạm trù giá cả sản
xuất thì giá cả hàng hoá sẽ lên xuống xoay quanh giá cả sản xuất.
Vì vậy, giá cả sản xuất và lợi nhuận bình quân là quy luật kinh tế của
nền kinh tế thị trường bản chủ nghĩa. Trong đó, quy luật giá cả sản xuất
là hình thức biểu hiện hoạt động cụ thể của quy luật giá trị, còn quy luật lợi
nhuận bình quân là hình thức biểu hiện hoạt động cụ thể của quy luật giá trị
thặng dư.
4.1.1.3. Tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:
- Những tác động tích cực của cạnh tranh
Thứ nhất, cạnh tranh vừa môi trường vừa động lực thúc đẩy
phát triển nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, mọi hành vi.
của mọi chủ thể kinh tế đều hoạt động trong môi trường cạnh tranh. Hơn
nữa, mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế hoạt động trong nền kinh tế thị
trường đều nhằm mục đích lợi nhuận tối đa, muốn vậy họ phải cạnh tranh
gay gắt với nhau để được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất
kinh doanh để thu được lợi nhuận cao nhất.
Thứ hai, cạnh tranh chế điều chỉnh linh hoạt phân bổ các
nguồn lực kinh tế của hội một cách tối ưu. Mục đích hoạt động của các
doanh nghiệp lợi nhuận tối đa, do đó họ sẽ đầu vào những nơi, những
lĩnh vực có lợi nhuận cao (cung nhỏ hơn cầu) và bỏ trống những nơi, những
lĩnh vực lợi nhuận thấp hoặc không lợi nhuận (cung lớn hơn cầu), do
đó các nguồn lực kinh tế của xã hội sẽ được chuyển đến nơi mà chúng được
sử dụng với hiệu quả cao nhất, tiết kiệm chi phí các nguồn lực kinh tế của
5
xã hội một cách tối đa.
Thứ ba, cạnh tranh kích thích tiến bộ kỹ thuật, áp dụng công nghệ
mới vào sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất hội phát triển nhanh.
Tương tự như tác động của quy luật giá trị, cạnh tranh tạo áp lực lớn đối
với người sản xuất, buộc họ phải cải tiến kỹ thuật, ứng dụng những công
nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất, làm năng suất lao động tăng lên, nhờ
đó kỹ thuật, công nghệ sản xuất của toàn hội không ngừng phát triển
thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh.
Thứ tư, cạnh tranh góp phần tạo cơ sở cho sự phân phối thu nhập lần
đầu. Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất nào năng suất, chất
lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, tức lợi thế trong cạnh tranh,
thì sẽlợi nhuận cao và do đó thu nhập cao. Ngược lại, người sản xuất
nào năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh doanh thấp, tức kém lợi thế
trong cạnh tranh, thì sẽ có lợi nhuận thấp hoặc không lợi nhuận, thậm trí bị
thua lỗ và do đó họ sẽ có thu nhập thấp hoặc bị phá sản.
Thứ năm, cạnh tranh tạo ra khối lượng sản phẩm đa dạng, phong phú,
chất lượng tốt, giá thành hạ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng và
hội. Trong nền kinh tế thị trường, mục đích của các chủ thể kinh tế là lợi
nhuận cao nhất, người tiêu dùng người cuối cùng quyết định chủng
loại, số lượng và chất lượng của hàng hóa trên thị trường. Chỉ có những sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng lựa chọn thì mới bán được và
do đó người sản xuất mới lợi nhuận. vậy, những người sản xuất phải
tìm mọi cách để tăng năng suất lao động, tạo ra khối lượng sản phẩm đa
dạng, dồi dào, phong phú, chất lượng tốt, giá thành hạ, làm cho nhu cầu của
người tiêu dùng và xã hội được đáp ứng.
-Tác động tiêu cực của cạnh tranh:
Tương tự như tác động của quy luật giá trị, bên cạnh mặt tích cực,
cạnh tranh cũng những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế, hội,
nhất xét về mặt hội. Những mặt tiêu cực của cạnh tranh gắn với cạnh
tranh không lành mạnh, không sự điều tiết kinh tế của nhà nước. Những
6
Hộp 4.1. Tác động của cạnh tranh trong quan điểm của kinh tế học
Với các nguồn lực công nghệ cho trước của hội, ngay cả những nhà lập kế hoạch
thành thạo nhất hoặc một chương trình tái tổ chức thông minh nhất cũng không thể tìm ra
được một giải pháp tốt hơn so với thị trường cạnh tranh.
Ngun: P. Samuelson, Kinh tế hc, tp 1, Nxb. Chính tr quc gia, 1997, Hà Ni, tr. 547.
ảnh hưởng tiêu cực bao gồm:
Một là, cạnh tranh cũng gây ra sự ô nhiễm môi trường mất cân
bằng sinh thái Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu lợi nhuận, nên các.
chủ thể kinh tế phải giảm chi phí sản xuất đến mức tối thiểu, do đó các chất
thải do quá trình sản xuất sinh ra không được các doanh nghiệp xử lý, gây ô
nhiễm môi trường, làm thiệt hại cho người tiêu dùng hội. Hơn nữa,
cũng mục tiêu lợi nhuận, nên các doanh nghiệp tìm mọi thủ đoạn để tập
trung khai thác bừa bãi, khai thác kiệt quệ tài nguyên, gây mất cân bằng
sinh thái, làm giảm hiệu quả của nền kinh tế.
Hai là, trong cạnh tranh không lành mạnh, các chủ thể kinh tế
thường dẫn đến những hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh, vi phạm pháp
luật. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh không lành mạnh như các chủ
thể kinh tế dùng những thủ đoạn làm phương hại đối thủ cạnh tranh, người
tiêu dùng hội để thu lợi nhuận cao nhất về mình. Đó họ thường sử
dụng các hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh, vi phạm pháp luật, làm hàng
giả, hàng nhái, trốn lậu thuế, tung tin giả, … tất cả những hành vi đó sẽ gây
thiệt hại lợi ích cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính, làm thiệt hại lợi
ích cho người tiêu dùng và xã hội.
Ba là, cạnh tranh góp phần làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo
trong hội. Trong cạnh tranh, những người điều kiện sản xuất thuận
lợi, trang bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, trình độ tay nghề lao động
cao, hợp hóa sản xuất tốt, thì sẽ năng suất lao động cao, hao phí
lao động biệt thấp hơn hao phí lao động hội cần thiết, họ sẽ không
ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh do đó sẽ lãi cao giàu lên
nhanh chóng. Ngược lại, những người không có điều kiện kinh doanh thuận
lợi, trang bị kỹ thuật lạc hậu, trình độ tay nghề thấp, tổ chức quản yếu
kém, năng suất lao động thấp, hao phí lao động biệt sẽ cao hơn hao phí
lao động xã hội cần thiết,… Họ sẽ bị thua lỗ, phá sản và sẽ trở thành những
người nghèo khó trong xã hội.
Như vậy, cạnh tranh thể hiện ra như phương thức để thực hiện lợi
ích giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Do
theo đuổi mục đích lợi ích đó, cạnh tranh đến mức độ nhất định sẽ thúc đẩy
sự hình thành các tổ chức độc quyền. Phương thức thực hiện lợi ích của các
chủ thể độc quyền sẽ khác so với cạnh tranh tự do. Đây chính lôgíc cho
việc nghiên cứu nội dung tiếp theo, luận của V.I. Lênin về độc quyền
độc quyền nhà nước. Nếu như luận của C.Mác nghiên cứu về các quan
hệ kinh tế của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn tự do
7
cạnh tranh thì luận của V.I.Lênin nghiên cứu về các quan hệ kinh tế của
nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn độc quyền.
4.1.2. Quan hệ giữa cạnh tranh độc quyền trong nền kinh tế thị
trường TBCN
Độc quyền là sự liên minh giữa các doanh nghiệp lớn, nắm trong tay
phần lớn việc sản xuất tiêu thụ một số loại hàng hoá, khả năng định
ra giá cả độc quyền, nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao.
§éc quyÒn sinh ra c¹nh tranh do, ®éc quyÒn ®èi
lËp víi c¹nh tranh do. Nhng xuÊt hiÖn cña ®éc quyÒn
kh«ng thñ tiªu ®îc c¹nh tranh, tr¸i l¹i víi nã cßn lµm cho c¹nh
tranh trë nªn ®a d¹ng, gay g¾t søc ph¸ ho¹i to lín
h¬n.
Trong , kh«ng chØ tån t¹i c¹nhnền kinh tế thị trường TBCN
tranh gi÷a nh÷ng ngêi s¶n xuÊt nhá, gi÷a nh÷ng nhµ t b¶n
võa nhá nh trong giai ®o¹n chñ nghÜa t b¶n c¹nh tranh
tù do, mµ cßn cã thªm c¸c lo¹i c¹nh tranh sau:
Mét lµ; c¹nh tranh gi÷a c¸c chc ®éc quyÒn víi c¸c
doanh nghiÖp ngoµi ®éc quyÒn. C¸c chøc ®éc quyÒn
t×m mäi c¸ch chÌn Ðp, chi phèi, th«n tÝnh c¸c doanh
nghiÖp ngoµi ®éc quyÒn b»ng nhiÒu biÖn ph¸p nh: ®éc
chiÕm nguån nguyªn liÖu, nguån nh©n c«ng, ph¬ng tiÖn
vËn t¶i, tÝn dông, gi¸ thèng... ®Ó ®¸nh b¹i ®èi
thñ.
Hai lµ; c¹nh tranh gi÷a c¸c chøc ®éc quyÒn víi
nhau. Lo¹i c¹nh tranh nµy nhiÒu h×nh thøc: c¹nh tranh
gi÷a c¸c chøc ®éc quyÒn trong mét ngµnh, kÕt thóc
b»ng mét tho¶ hiÖp hoÆc b»ng ph¸ s¶n cña mét bªn;
c¹nh tranh gi÷a c¸c chøc ®éc quyÒn kh¸c ngµnh liªn
quan víi nhau vÒ nguån nguyªn liÖu, kü thuËt...
Ba lµ; c¹nh tranh trong néi c¸c chøc ®éc quyÒn.
Nh÷ng nhµ t b¶n tham gia c¸c-ten, xanh-®i-ca c¹nh tranh
víi nhau ®Ó giµnh thÞ trêng tiªu thô lîi hoÆc giµnh
8
s¶n xuÊt cao h¬n. C¸c thµnh viªn cña tê-rít vµ c«ng-xoãc-xi-
om c¹nh tranh víi nhau ®Ó chiÕm phiÕu khèng chÕ,
®ã chiÕm ®Þa l·nh ®¹o ph©n chia lîi nhuËn lîi
h¬n.
4.2. ĐỘC QUYỀN VÀ ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
4.2.1. Lý luận của V.I. Lênin về độc quyền trong nền kinh tế thị trường
4.2.1.1. Nguyên nhân hình thành và tác động của độc quyền
Nghiên cứu chủ nghĩa bản tự do cạnh tranh, C.Mác
Ph.Ăngghen đã dự báo rằng: tự do cạnh tranh sẽ dẫn đến tích tụ tập
trung sản xuất, tích tụ tập trung sản xuất phát triển đến một mức độ nào
đó sẽ dẫn đến độc quyền.Vận dụng sáng tạo những nguyên của chủ
nghĩa Mác vào điều kiện lịch sử mới của thế giới, V.I.Lênin đã chứng minh
rằng, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong nền kinh tế bản chủ
nghĩa đã xuất hiện các tổ chức độc quyền.
Sự xuất hiện các tổ chức độ quyền đánh dấu chủ nghĩa bản đã
chuyển sang giai đoạn phát triển mới cao hơn đó giai đoạn chủ nghĩa
bản độc quyền.
Nguyên nhân hình thành độc quyền:
Chủ nghĩa bản độc quyền xuất hiện do những nguyên nhân chủ
yếu sau:
Một là, sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến
bộ khoa học kỹ thuật, đòi hỏi các doanh nghiệp phải ứng dụng những tiến
bộ kỹ thuật mới vào sản xuất kinh doanh. Điều đó, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải vốn lớn từng doanh nghiệp khó đáp ứng được. vậy,
các doanh nghiệp phải đẩy nhanh quá trình tích tụ tập trung sản xuất,
hình thành các doanh nghiệp quy mô lớn.
Hai là, cuối thế kỷ XIX, những thành tựu khoa học kỹ thuật mới xuất
hiện như luyện kim mới; các máy móc mới ra đời, như: động điêzen,
máy phát điện; phát triển những phương tiện vận tải mới, như: xe hơi, tàu
thuỷ, xe điện, máy bay, tàu hỏa ... Những thành tựu khoa học kỹ thuật mới
xuất hiện này, một mặt làm xuất hiện những ngành sản xuất mới đòi hỏi các
doanh nghiệp phải quy lớn; mặt khác thúc đẩy tăng năng suất lao
động, tăng khả năng tích lũy, tích tụ tập trung sản xuất, thúc đẩy phát
triển sản xuất quy mô lớn.
9
Ba là, trong điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, cùng với sự
tác động của các quy luật kinh tế thị trường, như: quy luật giá trị thặng dư,
quy luật tích lũy, tích tụ, tập trung sản xuất ... ngày càng mạnh mẽ, làm
biến đổi cấu kinh tế của hội theo hướng tập trung sản xuất quy
lớn.
Bốn là, cạnh tranh gay gắt làm cho các doanh nghiệp vừa nhỏ bị
phá sản hàng loạt, còn các doanh nghiệp lớn tồn tại được, nhưng cũng đã bị
suy yếu, để tiếp tục phát triển họ phải tăng cường tích tụ, tập trung sản
xuất, liên kết với nhau thành các doanh nghiệp với quy ngày càng to
lớn hơn. V.I.Lênin khẳng định: "... tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất
sự tập trung sản xuất này, khi phát triển đến mức độ nhất định, lại dẫn
tới độc quyền" .2
Năm là, do cuộc khủng hoảng kinh tế lớn năm 1873 trong toàn bộ
thế giới bản chủ nghĩa làm phá sản hàng loạt các doanh nghiệp vừa
nhỏ, các doanh nghiệp lớn tồn tại, nhưng để tiếp tục phát triển được, họ
phải thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ tập trung sản suất hình thành các
doanh nghiệp có quy mô lớn.
Sáu là, sự phát triển của hệ thống tín dụng trở thành đòn bẩy mạnh
mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất việc hình thành, phát triển các công
ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền. Khi các tổ
chức độc quyền xuất hiện các tổ chức độc quyền thể ấn định giá cả độc
quyền mua, độc quyền bán để thu lợi nhuận độc quyền cao.
Lợi nhuận độc quyền: Lợi nhuận độc quyền lợi nhuận thu được
cao hơn lợi nhuận bình quân, do sự thống trị của các tổ chức độc quyền
đem lại. Các tổ chức độc quyền thống trị bằng cách khống chế (áp đặt) giá
bán hàng hóa cao giá mua hàng hóa thấp, do đó các tổ chức độc quyền
luôn thu được lợi nhuận độc quyền cao. Nguồn gốc của lợi nhuận độc
2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 2005, t.27, tr.402.
10
Hộp 4.2. P.Samuelson bàn về độc quyền
Độc quyền hiện tượng các hãng cam kết lại, thỏa thuận cùng nhau quy định mức
giá sản phẩm làm ra, chia nhau thị trường hoặc cùng nhau vạch ra các quyết định kinh
doanh.
Nguồn: P.Samuelson, Kinh tế học, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia,1997, H Nà ội, tr.350
quyền cao lao động không công của công nhân làm việc trong các
nghiệp độc quyền; một phần lao động không công của công nhân làm việc
trong các xí nghiệp ngoài độc quyền; một phần giá trị thặngcủa các nhà
bản vừa nhỏ bị mất đi do thua thiệt trong cuộc cạnh tranh; phần lao
động thặng đôi khi cả một phần lao động tất yếu của những người
sản xuất nhỏ, nhân dân lao động các nước bản các nước thuộc địa
và phụ thuộc.
Giá cả độc quyền: Giá cả độc quyền giá cả do các tổ chức độc
quyền áp đặt trong mua và bán hàng hóa. Giá cả độc quyền gồm chí phí sản
xuất cộng với lợi nhuận độc quyền. Do chiếm được vị trí độc quyền về sản
xuất và tiêu thụ hàng hóa nên các tổ chức độc quyền áp đặt được giá cả độc
quyền. Các tổ chức độc quyền luôn áp đặt giá cả cao khi bán và giá cả thấp
khi mua. Như vậy, giá cả độc quyền gồm có giá cả độc quyền cao (khi bán)
giá cả độc quyền thấp (khi mua). Về thực chất, giá cả độc quyền vẫn
không thoát ly không phủ định sở của giá trị. Trong mối quan
hệ này thì giá trị vẫn sở, nội dung bên trong giá cả độc quyền. Giá
cả độc quyền chỉ lên xuống xoay quanh giá trị hàng hóa và khi xuất hiện giá
cả độc quyền thì giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá cả độc quyền.
Vì vậy, giá cả độc quyền và lợi nhuận độc quyền là biểu hiện của quy
luật giá trị quy luật giá trị thặng trong giai đoạn độc quyền của
CNTB. Trong đó, quy luật giá cả độc quyền hình thức biểu hiện hoạt
động cụ thể của quy luật giá trị, còn quy luật lợi nhuận độc quyền hình
thức biểu hiện hoạt động cụ thể của quy luật giá trị thặng dư.
Tác động của độc quyền:
- Những tác động tích cực:
+ Độc quyền tạo ra khả năng to lớn trong việc nghiên cứu triển khai
các hoạt động khoa học kỹ thuật, thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật. Độc quyền
kết quả của quá trình tích tụ, tập trung sản xuấtmức độ cao. Do đó, các tổ
chức độc quyền có khả năng tập trung được các nguồn lực, đặc biệt là nguồn
lực về tài chính trong việc nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học
kỹ thuật, thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật. Tuy nhiên, đây chỉ khả năng, còn
khả năng trở thành hiện thực hay không còn phụ thuộc nhiều yếu tố,
nhất là phụ thuộc vào mục đích kinh tế của các tổ chức độc quyền trong nền
kinh tế thị trường.
+ Độc quyền có thể làm tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực
cạnh tranh của bản thân tổ chức độc quyền. Là kết quả của tập trung sản xuất
11
sự liên minh các doanh nghiệp lớn, độc quyền tạo ra được ưu thế về vốn
trong việc ứng dụng những thành tựu kỹ thuật, công nghệ sản xuất mới, hiện
đại, áp dụng những phương pháp sản xuất tiên tiến, làm tăng năng suất lao
động, giảm chi phí sản xuất, do đó nâng cao được năng lực cạnh tranh trong
hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Độc quyền tạo được sức mạnh kinh tế góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển theo hướng sản xuất lớn hiện đại. Với ưu thế tập trung được sức
mạnh kinh tế to lớn vào trong tay mình, nhất sức mạnh về tài chính, tạo
cho độc quyền điều kiện đầu vào các lĩnh vực kinh tế trọng tâm, mũi
nhọn, do đó thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển theo hướng sản xuất
tập trung, quy lớn, hiện đại. V.I.Lênin viết: “Nhưng trước mắt chúng ta
cạnh tranh tự do biến thành độc quyền và tạo ra nền sản xuất lớn, loại bỏ nền
sản xuất nhỏ, thay thế nền sản xuất lớn bằng một nền sản xuất lớn hơn nữa .3
- Những tác động tiêu cực:
+ Độc quyền xuất hiện làm cho cạnh tranh không hoàn hảo gây thiệt
hại cho người tiêu dùng và xã hội. Với sự thống trị của độc quyền và vì mục
đích lợi nhuận độc quyền cao, mặc dù như đã phân tích ở trên, độc quyền tạo
ra sản xuất lớn, có thể giảm chi phí sản xuất và do đó giảm giá cả hàng hóa,
nhưng độc quyền không giảm giá, họ luôn áp đặt giá bán hàng hóa cao
giá mua thấp, thực hiện sự trao đổi không ngang giá, hạn chế khối lượng
hàng hóa… tạo ra sự cung cầu giả tạo về hàng hóa, gây thiệt hại cho người
tiêu dùng và xã hội.
+ Độc quyền cũng phần nào kìm hãm sự tiến bộ kỹ thuật, theo đó kìm
hãm sự phát triển kinh tế, xã hội. Độc quyền tập trung được các nguồn lực
lớn, tạo ra khả năng nghiên cứu, phát minh các sáng chế khoa học, kỹ thuật.
Nhưng lợi ích độc quyền, hoạt động nghiên cứu, phát minh, sáng chế chỉ
được thực hiện khi vị thế độc quyền của chúng không có nguy bị lung lay.
Do vậy, mặc khả năng về nguồn lực tài chính tạo ra khả năng trong
nghiên cứu, phát minh các sáng chế khoa học, kỹ thuật, nhưng các tổ chức
độc quyền không tích cực thực hiện các công việc đó. Điều này chứng tỏ,
độc quyền đã ít nhiều kìm hãm thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật, theo đó kìm
hãm sự phát triển kinh tế, xã hội.
+ Độc quyền chi phối các quan hệ kinh tế, hội, làm tăng sự phân
hóa giàu nghèo. Với địa vị thống trị kinh tế của mình và mục đích lợi nhuận
độc quyền cao, độc quyền khả năng không ngừng bành trướng sang
3 Sđd: tr.488
12
các lĩnh vực chính trị, hội, kết hợp với các nhân viên chính phủ để thực
hiện mục đích lợi ích nhóm, kết hợp với sức mạnh nhà nước hình thành độc
quyền nhà nước, chi phối cả quan hệ, đường lối đối nội, đối ngoại của quốc
gia, vì lợi ích của các tổ chức độc quyền, không vì lợi ích của đại đa số nhân
dân lao động. Do đó, độc quyền góp phần làm tăng sự phân hóa giàu nghèo
trong xã hội ở các nước tư bản cũng như trên phạm vi thế giới.
4.2.1.2. Những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Đặc điểm thứ nhất là: Tập trung sản xuất các tổ chức độc
quyền
Trong giai đoạn chủ nghĩa bản độc quyền, tích tụ tập trung sản
xuất cao, biểu hiện số lượng các nghiệp lớn chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng
nắm giữ các lĩnh vực sản xuất chủ yếu của nền kinh tế, nắm số lượng công
nhân lớn sản xuất phần lớn tổng sản phẩm hội. Trong những năm
1900, Mỹ, Đức, Anh, Pháp các doanh nghiệp lớn chỉ chiếm khoảng 1%
tổng số các doanh nghiệp nhưng chiếm hơn 3/4 tổng số máy hơi nước
điện lực, gần một nửa tổng số công nhân sản xuất ra gần một nửa tổng
số sản phẩm.
Sự tích tụ và tập trung sản xuất đến mức cao như vậy đã trực tiếp dẫn
đến hình thành các tổ chức độc quyền. Vì:
Thứ nhất, do số lượng các doanh nghiệp lớn ít nên thể dễ dàng
thoả thuận với nhau;
Thứ hai, các doanh nghiệp quy lớn, kỹ thuật cao nên cạnh
tranh sẽ rất gay gắt, quyết liệt, khó đánh bại nhau, do đó đã dẫn đến khuynh
hướng thoả hiệp với nhau để nắm lấy địa vị độc quyền.
Khi mới bắt đầu quá trình độc quyền hoá, các tổ chức độc quyền
hình thành theo liên kết ngang, nghĩa mới chỉ liên kết những doanh
nghiệp trong cùng một ngành, nhưng về sau theo mối liên hệ dây chuyền,
các tổ chức độc quyền đã phát triển theo liên kết dọc, mở rộng ra nhiều
ngành khác nhau.
Các hình thức tổ chức độc quyền bản từ thấp đến cao, bao gồm:
Cartel (Các-ten), Syndicate (Xanh-đi-ca), Trust (Tờ-rớt), Consortium
(Công-xoóc-xi-om).
Cartel hình thức tổ chức độc quyền trong đó các nghiệp bản
lớn ký các hiệp nghị thoả thuận với nhau về giá cả, sản lượng hàng hóa, thị
trường tiêu thụ, kỳ hạn thanh toán, ... Các nghiệp bản tham gia Cartel
13
vẫn độc lập cả về sản xuất và lưu thông hàng hóa. Họ chỉ cam kết thực hiện
đúng hiệp nghị đã ký, nếu làm sai sẽ bị phạt tiền theo quy định của hiệp
nghị. vậy, Cartel liên minh độc quyền không vững chắc. Trong nhiều
trường hợp những thành viên thấy vào vị trí bất lợi đã rút ra khỏi Cartel,
làm cho Cartel thường tan vỡ trước kỳ hạn.
Syndicate hình thức tổ chức độc quyền cao hơn, ổn định hơn
Cartel. Các nghiệp bản tham gia Syndicate vẫn giữ độc lập về sản
xuất, chỉ mất độc lập về lưu thông hàng hóa (mọi việc mua, bán do một ban
quản trị chung của Syndicate đảm nhận). Mục đích của Syndicate thống
nhất đầu mối mua bán để mua nguyên liệu với giá rẻ, bán hàng hoá với
giá đắt nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao.
Trust hình thức độc quyền cao hơn Cartel Syndicate. Trong
Trust thì cả việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa đều do một ban quản trị chung
thống nhất quản lý. Các xí nghiệp tư bản tham gia Trust trở thành những cổ
đông để thu lợi nhuận theo số lượng cổ phần.
Consortium hình thức tổ chức độc quyền trình độ quy
lớn hơn các hình thức độc quyền trên. Tham gia Consortium không chỉ
các nghiệp bản lớn còn cả các Syndicate, các Trust, thuộc các
ngành khác nhau nhưng liên quan với nhau về kinh tế, kỹ thuật. Với kiểu
liên kết dọc như vậy, một Consortium thể hàng trăm nghiệp liên
kết trên sở hoàn toàn phụ thuộc về tài chính vào một nhóm các nhà
bản kếch xù.
Hiện nay, đặc điểm tập trung sản xuất các tổ chức độc quyền
những biểu hiện mới, đó sự xuất hiện các công ty độc quyền xuyên quốc
gia bên cạnh sự phát triển của các xí nghiệp vừa và nhỏ.
Do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học công nghệ
nên đã diễn ra quá trình hình thành những sự liên kết giữa các độc quyền
theo cả hai chiều: chiều dọc chiều ngang, cả trong ngoài nước. Từ
đó, những hình thức tổ chức độc quyền mới đã ra đời. Đó các Concern
(Consơn) và các Conglomerate (Công-gơ-lô-mê-rết).
Concern: Là tổ chức độc quyền đa ngành, thành phần của nó có hàng
trăm nghiệp quan hệ với những ngành khác nhau được phân bố
nhiều nước. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến độc quyền đa ngành do cạnh
tranh gay gắt việc kinh doanh chuyên môn hoá hẹp dễ bị phá sản. Hơn nữa,
hình thức độc quyền đa ngành còn để đối phó với luật chống độc quyền
hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa (luật này cấm độc quyền 100% mặt hàng
14
trong một ngành).
Conglomerate: sự kết hợp vài ba chục những hãng vừa nhỏ
không bất kỳ sự liên quan nào về sản xuất hoặc dịch vụ cho sản xuất.
Mục đích chủ yếu của các Conglomerate thu lợi nhuận bằng kinh doanh
chứng khoán. Do vậy phần lớn các Conglomerate dễ bị phá sản nhanh hoặc
chuyển thành các Concern. Tuy nhiên một bộ phận các Conglomerate vẫn
tồn tại vững chắc bằng cách kinh doanh trong lĩnh vực tài chính trong
những điều kiện thường xuyên biến động của nền kinh tế thế giới.
các nước bản phát triển hiện nay, bên cạnh các tổ chức độc
quyền lớn lại ngày càng xuất hiện nhiều doanh nghiệp (công ty, hãng) vừa
nhỏ (chiếm hơn 90% tổng số hãng đăng ký) vai trò quan trọng
trong nền kinh tế. Sự xuất hiện nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ là do:
Thứ nhất, việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ cho phép
tiêu chuẩn hoá chuyên môn hoá sản xuất sâu, dẫn đến hình thành hệ
thống gia công. Đây cũng chính biểu hiện của độc quyền dưới một dạng
mới, thể hiện chỗ là: các hãng, công ty vừa nhỏ phụ thuộc vào các
Concern Conglomerate về nhiều mặt. Sự kiểm soát của độc quyền được
thực hiện dưới những hình thức mới thông qua quan hệ hợp tác giữa độc
quyền lớn với các hãng vừa nhỏ. Thông qua quan hệ hợp tác này, các
độc quyền lớn sẽ mở rộng khả năng kiểm soát sản xuất nói chung, tiến bộ
khoa học và công nghệ nói riêng.
Thứ hai, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có những thế mạnh của nó, đó
là: nhạy cảm đối với thay đổi trong sản xuất; linh hoạt ứng phó với sự biến
động của thị trường; mạnh dạn đầu tư vào những ngành mới đòi hỏi sự mạo
hiểm; dễ đổi mới trang thiết bị, kỹ thuật không cần nhiều chi phí bổ
sung; thể kết hợp nhiều loại hình kỹ thuật để sản xuất ra những sản
phẩm có chất lượng cao trong điều kiện kết cấu hạ tầng hạn chế.
Ngoài ra, độc quyền cũng bắt đầu xuất hiện cả những nước đang
phát triển. Đó kết quả của sự thâm nhập của các công ty xuyên quốc gia
vào các nước này và sự ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện
đại khiến cho chỉ một doanh nghiệp lớn cũng đủ sức mạnh chi phối việc
sản xuất tiêu thụ của cả một ngành mới ra đời một nước đang phát
triển và tới mức độ nhất định có thể bành trướng ra bên ngoài.
Các tổ chức độc quyền luôn có xu hướng bành trướng quốc tế. Trong
điều kiện hiện nay, xu hướng vận động của chúng trở thành các công ty
xuyên quốc gia liên minh với nhà nước hình thành chủ nghĩa bản độc
15
quyền nhà nước. Đó biểu hiện mới của độc quyền hình thức vận
động mới của quan hệ sản xuất bản chủ nghĩa trong những điều kiện
mới.
Đặc điểm thứ hai là: bản tài chính hệ thống tài phiệt (đầu
sỏ tài chính).
- Sự xuất hiện của tư bản tài chính và hệ thống tài phiệt
Song song với quá trình tích tụ tập trung sản xuất trong công
nghiệp, trong ngân hàng cũng diễn ra quá trình tích tụ, tập trung dẫn đến
hình thành các tổ chức độc quyền trong ngân hàng. Quy luật tích tụ, tập
trung trong ngân hàng cũng giống như trong công nghiệp, do quá trình cạnh
tranh các ngân hàng vừa nhỏ bị phá sản hoặc bị thôn tính hình thành
những ngân hàng lớn. Khi sản xuất trong ngành công nghiệp tích tụ, tập
trung mức độ cao, thì các ngân hàng nhỏ không đủ tiềm lực uy tín
phục vụ cho công việc kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp lớn.
Trong điều kiện đó, các ngân hàng vừa nhỏ phải tự sáp nhập vào các
ngân hàng lớn hoặc phải phá sản trước quy luật khốc liệt của cạnh tranh.
Quá trình này đã thúc đẩy các tổ chức độc quyền ngân hàng ra đời.
Sự xuất hiện, phát triển của các tổ chức độc quyền trong ngân hàng
đã làm thay đổi quan hệ giữa các doanh nghiệp ngân hàng công nghiệp,
làm cho ngân hàngvai trò mới: từ chỗ ngân hàng chỉ là trung gian trong
việc thanh toán tín dụng, thì nay đã nắm được hầu hết lượng tiền tệ của
xã hội nên có quyền lực “vạn năng”, khống chế mọi hoạt động của nền kinh
tế xã hội. Dựa trên địa vị người chủ cho vay, độc quyền ngân hàng “cử” đại
diện của mình vào các quan quản của độc quyền công nghiệp để theo
dõi việc sử dụng tiền vay hoặc các tổ chức độc quyền ngân hàng còn trực
tiếp đầu vào công nghiệp. Trước sự khống chế chi phối ngày càng
mạnh mẽ của ngân hàng, một quá trình xâm nhập tương ứng trở lại của các
độc quyền công nghiệp vào ngân hàng cũng diễn ra. Các tổ chức độc quyền
công nghiệp cũng tham gia vào công việc của ngân hàng bằng cách mua cổ
phần của các ngân hàng lớn để chi phối hoạt động của ngân hàng. Quá trình
độc quyền hoá trong công nghiệp ngân hàng quan hệ chặt chẽ với
nhau làm nảy sinh một loại hình tư bản mới, gọi là tư bản tài chính.
-Tư bản tài chính sự thống trị của bản tài chính trong giai
đoạn độc quyền của CNTB
bản tài chính sự hợp nhất giữa bản độc quyền ngân hàng
và công nghiệp. V.I.Lênin viết: "Tư bản tài chính là kết quả của sự hợp nhất
16
giữa bản ngân hàng của một số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất, với
bản của những liên minh độc quyền các nhà công nghiệp" . 4
Sự phát triển của tư bản tài chính dần dần dẫn đến sự hình thành một
nhóm nhỏ những nhà bản kếch chi phối toàn bộ đời sống kinh tế,
chính trị của toàn hội, gọi tài phiệt (hay đầu sỏ tài chính, trùm tài
chính).
Các tài phiệt thực hiện sự thống trị của mình thông qua “chế độ tham
dự”. Thực chất của “chế độ tham dự” là một nhà tài chính lớn, hoặc một tập
đoàn tài chính mua số cổ phiếu khống chế, chi phối một công ty lớn nhất -
công ty gốc gọi "công ty mẹ"; công ty này lại mua được cổ phiếu khống
chế, thống trị các "công ty con"; "công ty con" đến lượt lại chi phối các
"công ty cháu", ... Nhờ “chế độ tham dự” phương pháp tổ chức tập
đoàn theo kiểu móc xích như vậy, bằng một lượng tư bản đầu tư nhỏ, mà tài
phiệt thể khống chế điều tiết được một lượng bản lớn gấp nhiều
lần. Ngoài "chế độ tham dự", tài phiệt còn sử dụng những thủ đoạn như lập
công ty mới, phát hành trái khoán, kinh doanh công trái, đầu chứng
khoán sở giao dịch, đầu ruộng đất... để thu lợi nhuận độc quyền cao.
Về mặt chính trị, hệ thống các nhà tài phiệt chi phối mọi hoạt động của các
cơ quan nhà nước, đặc biệt là chi phối các chính sách đối nội, đối ngoại của
nhà nước, biến nhà nước sản thành công cụ phục vụ lợi ích cho chúng,
do chúng thống trị được về kinh tế.
Từ cuối thế kỷ XX đến nay, bản tài chính đã sự thay đổi
những biểu hiện mới, đó là:
Do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ hiện đại, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện và phát triển
nhiều ngành kinh tế mới, đặc biệt là các ngành thuộc "phần mềm" như dịch
vụ, bảo hiểm ... ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. Thích ứng với sự biến đổi
đó, phạm vi liên kết xâm nhập vào nhau được mở rộng ra nhiều ngành,
dưới hình thức một tổ hợp đa dạng kiểu: công - nông - thương - tín - dịch
vụ hay ; ... Nội dung của sự liêncông nghiệp - quân sự - dịch vụ quốc phòng
kết cũng đa dạng hơn, tinh vi hơn phức tạp hơn. chế tham dự của
bản tài chính cũng sự biến đổi, cổ phiếu mệnh giá nhỏ được phát
hành rộng rãi, khối lượng cổ phiếu tăng lên, nhiều tầng lớp dân cũng
thể mua được cổ phiếu và trở thành các cổ động nhỏ, ... kéo theo đó là "chế
độ tham dự" được bổ sung thêm bằng "chế độ uỷ nhiệm", nghĩa những
đại cổ đông được "uỷ nhiệm" thay mặt cho đa số cổ đông ít cổ phiếu
4 V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.27, tr.489.
17
(các cổ đông nhỏ) quyết định phương hướng hoạt động của công ty cổ
phần.
Các chủ sở hữu lớn giờ đây vừa khống chế trực tiếp vừa khống chế
gián tiếp thông qua biến động trên thị trường tài chính, buộc các nhà quản
phải tuân theo lợi ích của chúng. Để thích ứng với quá trình quốc tế hoá
đời sống kinh tế, các tập đoàn bản tài chính đã thành lập các ngân hàng
đa quốc gia xuyên quốc gia, thực hiện việc điều tiết các Concern
Conglomerate xâm nhập vào nền kinh tế của các quốc gia khác. Sự ra đời
của các trung tâm tài chính của thế giới như Nhật Bản, Mỹ, Anh, Đức,
Xingapo là kết quả hoạt động của các tập đoàn tài chính quốc tế.
 Đặc điểm thứ ba là: Xuất khẩu tư bản
- Bản chất của xuất khẩu bản: Xuất khẩu bản xuất khẩu giá
trị ra nước ngoài (đầu bản ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt
giá trị thặng các nguồn lợi nhuận khác các nước nhập khẩu bản.
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu vì:
- Nguyên nhân của Xuất khẩu tư bản:
Một số ít nước phát triển đã tích lũy được một khối lượng
bản lớn một số "tư bản thừa" tương đối, nghĩa lượng bản
này nếu đầu trong nước thì lợi nhuận thấp, nên họ cần tìm nơi
đầu ra nước ngoài nhiều lợi nhuận cao hơn. Đồng thời, nhiều
nước lạc hậu về kinh tế bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế giới
nhưng lại rất thiếu vốn để phát triển kinh tế, giá cả ruộng đất tương
đối hạ, tiền lương lại thấp, nguyên liệu rẻ, nên tỷ suất lợi nhuận cao,
rất hấp dẫn đầu tư nước ngoài.
- Xét về hình thức: xuất khẩu bản được thực hiện dưới hai hình
thức chủ yếu: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
+ Đầu trực tiếp hình thức xuất khẩu bản để xây dựng những
nghiệp mới hoặc mua lại những nghiệp đang hoạt động nước nhận
đầu để trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao, biến thành một chi
nhánh của “công ty mẹ” chính quốc. Các nghiệp mới hình thành
thường tồn tại dưới dạng hỗn hợp song phương hoặc đa phương, nhưng
cũng có những xí nghiệp toàn bộ vốn là của công ty nước ngoài.
+ Đầu gián tiếp hình thức đầu thông qua việc cho vay để thu
lợi tức, mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ giá khác, quỹ đầu
tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà
đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
18
- Xét về chủ thể xuất khẩu: thì xuất khẩu bản được chia thành:
xuất khẩu tư bản tư nhân và xuất khẩu tư bản nhà nước.
+ Xuất khẩu bảnnhân hình thức xuất khẩu do tư bản nhân
thực hiện. Hình thức này đặc điểm bản thường được đầu vào
những ngành kinh tế vòng quay vốn ngắn thu được lợi nhuận độc
quyền cao, dưới hình thức các hoạt động cắm nhánh của các công ty xuyên
quốc gia.
+ Xuất khẩu bản nhà nước nhà nước bản độc quyền dùng
nguồn vốn từ ngân quỹ của mình, tiền của các tổ chức độc quyền để đầu
vào nước nhập khẩu tư bản; hoặc viện trợ có hoàn lại hay không hoàn lại để
thực hiện những mục tiêu về kinh tế, chính trị quân sự nhất định của
chúng.
Về kinh tế, xuất khẩu bản nhà nước thường hướng vào các ngành
thuộc kết cấu hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho đầu của bản
nhân. Nhà nước tư bản độc quyền còn thực hiện hình thức “viện trợ” không
hoàn lại cho nước nhập khẩu bản để được những hiệp định thương
mại và đầu tư có lợi...
Về chính trị, “viện trợ” của nước bản thường nhằm duy trì bảo
vệ chế độ chính trị "thân cận" đã bị lung lay các nước nhập khẩu bản,
tăng cường sự phụ thuộc của các nước đó vào các nước bản phát triển,
thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, tạo điều kiện cho tư nhân đẩy mạnh xuất
khẩu tư bản.
Về quân sự, “viện trợ” của nhà nước bản nhằm lôi kéo các nước
phụ thuộc vào khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện trợ phải cho các
nước xuất khẩu tư bản lập các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình...
Xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra
nước ngoài, công cụ chủ yếu để bành trướng sự thống trị của bản tài
chính trên phạm vi toàn thế giới.
Hiện nay, xuất khẩu tư bản có những biểu hiện mới, cụ thể:
Thứ nhất, trước kia luồng bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước
bản phát triển sang các nước kém phát triển (chiếm tỷ trọng trên 70%).
Nhưng những thập kỷ gần đây đại bộ phận dòng đầu lại chảy qua lại
giữa các nước bản phát triển với nhau. Đó do: các nước bản phát
triển đã phát triển các ngành hàm lượng khoa học - kỹ thuật cao hàm
lượng vốn lớn, nên đầu vào đây lại thu được lợi nhuận cao. các nước
đang phát triển lại kết cấu hạ tầng lạc hậu, tình hình chính trị kém ổn
19
định, nên đầu tư có phần rủi ro và tỷ suất lợi nhuận của tư bản đầu tư không
còn cao như trước đây.
Thứ hai, chủ thể xuất khẩu tư bản sự thay đổi lớn, trong đó vai trò
của các công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation - TNCs) trong
xuất khẩu bản ngày càng to lớn, đặc biệt đầu trực tiếp nước ngoài
(Foreign Direct Investment - FDI). Mặt khác, đã xuất hiện nhiều chủ thể
xuất khẩu tư bản từ các nước đang phát triển.
Thứ ba, hình thức xuất khẩu tư bản rất đa dạng, sự đan xen giữa xuất
khẩu bản xuất khẩu hàng hoá tăng lên. Chẳng hạn trong đầu trực
tiếp xuất hiện những hình thức mới như: xây dựng - kinh doanh - chuyển
giao (Build-Operate-Transfer - BOT); xây dựng - chuyển giao (Built and
Transfer ... Sự kết hợp giữa xuất khẩu bản với các hợp đồng buôn BT)
bán hàng hoá, dịch vụ, chất xám, … không ngừng tăng lên.
Thứ tư, sự áp đặt mang tính chất thực dân trong xuất khẩu bản đã
được gỡ bỏ dần và nguyên tắc cùng có lợi trong đầu tư được đề cao.
 Đặc điểm thứ là: Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tập
đoàn tư bản độc quyền
Quá trình tích tụ và tập trung tư bản phát triển, việc xuất khẩubản
tăng lên cả về quy phạm vi tất yếu dẫn tới sự phân chia thế giới về
mặt kinh tế giữa các tập đoàn bản độc quyền hình thành các tổ chức
độc quyền quốc tế.
Lịch sử phát triển của chủ nghĩa bản đã chứng tỏ thị trường trong
nước luôn gắn với thị trường ngoài nước. Đặc biệt trong giai đoạn chủ
nghĩa tư bản độc quyền, thị trường ngoài nước còn có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với các nước bản. V.I.Lênin nhận xét: "Bọn sản chia nhau
thế giới, không phải do tính độc ác đặc biệt của chúng, do sự tập trung
đã tới mức độ buộc chúng phải đi vào con đường ấy để kiếm lời" . 5
Sự đụng độ trên trường quốc tế giữa các tổ chức độc quyền sức
mạnh kinh tế hùng hậu lại được sự ủng hộ của nhà nước "của mình" các
cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa chúng tất yếu dẫn đến xu hướng thoả hiệp,
kết các hiệp định, để củng cố địa vị độc quyền của chúng trong những
lĩnh vực và những thị trường nhất định. Từ đó hình thành các liên minh độc
quyền quốc tế dưới dạng Cartel, Syndicate, Trust quốc tế.
Ngày nay, sự phân chia thế giới về kinh tế những biểu hiện mới,
5 V.I. Lênin, Toàn tập, tập 27, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2005, tr.472
20

Preview text:

Chương 4
CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG MỤC ĐÍCH:
Cung cấp hệ thống tri thức về các hình thức cạnh tranh, tác động của
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường theo quan điểm nghiên cứu của
C.Mác. Cùng với việc nghiên cứu lý luận về cạnh tranh của C.Mác, nội
dung lý luận về độc quyền và độc quyền nhà nước phản ánh trình độ phát
triển của quan hệ sản xuất và trao đổi trong nền kinh tế thị trường tư bản
chủ nghĩa giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX theo lý luận của
V.I.Lênin cũng sẽ được phân tích. YÊU CẦU:
Học chương này, sinh viên cần nắm được: i)
Quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường; ii)
Độc quyền, độc quyền nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
Nghiên cứu 2 nội dung này để hiểu về tác động của cạnh tranh và
tính quy luật về cạnh tranh đến một trình độ phát triển nhất định tất
yếu sẽ dẫn tới sự hình thành các tổ chức độc quyền.
4.1. QUAN HỆ GIỮA CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
4.1.1. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
4.1.1.1. Những vấn đề chung về cạnh tranh:
Cạnh tranh (trong kinh tế) là cuộc đấu tranh gay gắt giữa các chủ thể
kinh tế khi tham gia thị trường nhằm tối đa hóa lợi ích cho mình. 1
Các loại hình cạnh tranh.
Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, cạnh tranh được chia thành:
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: có thể hiểu theo nghĩa
đơn giản nhất là một sự mặc cả theo luật ' mua rẻ -bán đắt '. Cả hai bên đều
muốn được tối đa hoá lợi ích của mình .
- Cạnh tranh giữa người mua và người mua: xảy ra khi mà trên thị
trường mức cung nhỏ hơn cầu của một loại hàng hoá hoặc dịch vụ. Lúc này
hàng hoá trên thị trường khan hiếm , người mua sẵn sàng mua hàng với
một mức giá cao. Mức độ cạnh tranh giữa những người mua trở nên gay gắt hơn.
- Cạnh tranh giữa người bán và người bán: Đây là một cuộc cạnh
tranh gay go và quyết liệt nhất và phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiên
nay. Các doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ lẫn nhau để giành cho
mình những ưu thế về thị trường và khách hàng nhằm mục tiêu tồn tại và phát triển.
Cuộc ganh đua này diễn ra ở các góc độ: + Giá cả + Chất lượng
+ Hình thức , nghệ thuật tổ chức bán hàng. + Thời gian. …………
Xét theo tính chất, cạnh tranh được chia thành:
Cạnh tranh hoàn hảo: hay còn được gọi là cạnh tranh thuần tuý: là
tình trạng cạnh tranh xảy ra khi trên thị trường có rất nhiều người
bán và không có người nào có ưu thế về số lượng cung ứng đủ lớn để
ảnh hưởng tới giá cả trên thị trường. Cac sản phẩm bán ra rất ít có sự 2
khác biệt về quy cách, phẩm chất, mẫu mã. Trong thị trường cạnh
tranh hoàn hảo các doanh nghiệp bán sản phẩm và dịch vụ của mình
ở mức giá do thị trường xác định dựa trên quy luật cung cầu.
Cạnh tranh không hoàn hảo: là cạnh tranh trên thị trường mà phần
lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau. Một loại sản phẩm có
thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau nhằm phân biệt các nhà sản xuất
hay cung ứng, mặc dù sự khác biệt giữa các sản phẩm có thể không lớn.
Cạnh tranh độc quyền: là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có
một số người bán một số sản phẩm thuần nhất. Họ có thể kiểm soát
gần như toàn bộ số lượng sản phẩm và dịch vụ bán ra trên thị trường.
Thị trường cạnh tranh độc quyền không có sự cạnh tranh về giá,
người bán có thể bắt buộc người mua chấp nhận giá sản phẩm do họ
định ra. Họ có thể định giá cao hơn hoặc thấp hơn giá của thị trường
tuỳ thuộc vào đặc điểm tác dụng của từng loại sản phẩm, uy tín
người cung ứng…nhưng mục tiêu cuối cùng là đạt được mục tiêu đề
ra thường là lợi nhuận. Những doanh nghiệp nhỏ tham gia vào thị
trường này phải chấp nhận bán theo giá của các nhà độc quyền.
Kết quả của cạnh tranh là kẻ mạnh (cả về khả năng vật chất và trình độ
chuyên môn) sẽ là người chiến thắng còn những doanh nghiệp nào không
có đủ tiềm lực sẽ bị thua cuộc và bị đào thải khỏi thị trường.
4.1.1.2. Cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành:
Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
kinh doanh trong cùng một ngành, cùng sản xuất một loại hàng hóa. Đây là
một trong những phương thức để thực hiện lợi ích của doanh nghiệp trong
cùng một ngành sản xuất.
Mục đích của cạnh tranh trong nội bộ ngành là nhằm thu lợi nhuận
siêu ngạch. Biện pháp cạnh tranh là các doanh nghiệp ra sức cải tiến kỹ
thuật, đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động để
hạ thấp giá trị cá biệt của hàng hóa, làm cho giá trị hàng hoá của doanh 3
nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá đó. Kết quả của
cạnh tranh trong nội bộ ngành là hình thành giá trị thị trường (giá trị xã hội)
của từng loại hàng hoá. Cùng một loại hàng hóa được sản xuất ra trong các
doanh nghiệp sản xuất khác nhau, do điều kiện sản xuất (điều kiện trang bị
kỹ thuật, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ tay nghề của người lao động ...)
khác nhau, cho nên hàng hoá sản xuất ra có giá trị cá biệt khác nhau, nhưng
trên thị trường các hàng hoá phải bán theo một giá thống nhất, đó là giá cả
thị trường. Giá cả thị trường dựa trên cơ sở giá trị thị trường (giá trị xã hội).
Giá cả thị trường chính là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị thị
trường. Giá cả thị trường do giá trị thị trường quyết định.
Giá trị thị trường là giá trị trung bình của những hàng hóa được sản
xuất ra trong một khu vực sản xuất nào đó hay là giá trị cá biệt của những
hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện trung bình của khu vực và
chiếm đại bộ phận trong tổng số những hàng hóa của khu vực đó. Theo
C.Mác, "Một mặt phải coi giá trị thị trường là giá trị trung bình của những
hàng hoá được sản xuất ra trong một khu vực sản xuất nào đó. Mặt khác,
lại phải coi giá trị thị trường là giá trị cá biệt của những hàng hoá được sản
xuất ra trong những điều kiện trung bình của khu vực đó và chiếm một khối
lượng lớn trong tổng số những sản phẩm của khu vực này"1.
Cạnh tranh giữa các ngành
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh ở các ngành khác nhau.
Cạnh tranh giữa các ngành, vì vậy, cũng trở thành phương thức để
thực hiện lợi ích của doanh nghiệp thuộc các ngành sản xuất khác nhau
trong điều kiện kinh tế thị trường. Xét riêng trong điều kiện nền kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa, cạnh tranh giữa các ngành là phương thức để các
doanh nghiệp tư bản ở các ngành sản xuất khác nhau tìm kiếm lợi ích của
mình. Mục đích của cạnh tranh giữa các ngành là nhằm tìm nơi đầu tư có
lợi nhất. Biện pháp cạnh tranh là các doanh nghiệp tự do di chuyển vốn của
mình từ ngành này sang ngành khác, tức là tự phát phân phối vốn (c và v)
vào các ngành sản xuất kinh doanh khác nhau. Kết quả của cạnh tranh giữa
các ngành là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hoá
chuyển thành giá cả sản xuất. Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân
thì các doanh nghiệp nếu có số vốn bằng nhau, dù đầu tư vào ngành nào
cũng đều thu được số lợi nhuận bằng nhau, gọi là lợi nhuận bình quân ( P ).
1 C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, t.25, phần I, tr.74. 4
Sự bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận chỉ được thực hiện khi nền kinh tế thị
trường đã phát triển đến một trình độ nhất định. Khi hình thành tỷ suất lợi
nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân thì giá trị hàng hoá chuyển thành
giá cả sản xuất (k + P ). Nội dung này đã được trình bày ở chương 3 khi
phân tích về phạm trù lợi nhuận.
Xét về mặt lượng, ở mỗi ngành sản xuất giá cả sản xuất và giá trị
hàng hoá có thể không bằng nhau, giá cả sản xuất có thể lớn hơn hoặc nhỏ
hơn giá trị hàng hoá, nhưng xét trong toàn xã hội thì tổng giá cả sản xuất
luôn bằng tổng giá trị hàng hoá. Do đó, giá cả sản xuất chính do giá trị
hàng hóa chuyển hóa thành. Trong mối quan hệ này thì giá trị vẫn là cơ sở,
là nội dung bên trong giá cả sản xuất; giá cả sản xuất là cơ sở của giá cả thị
trường và giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá cả sản xuất. Khi chưa
xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả hàng hoá trên thị trường lên
xuống xoay quanh giá trị hàng hoá, còn khi xuất hiện phạm trù giá cả sản
xuất thì giá cả hàng hoá sẽ lên xuống xoay quanh giá cả sản xuất.
Vì vậy, giá cả sản xuất và lợi nhuận bình quân là quy luật kinh tế của
nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Trong đó, quy luật giá cả sản xuất
là hình thức biểu hiện hoạt động cụ thể của quy luật giá trị, còn quy luật lợi
nhuận bình quân là hình thức biểu hiện hoạt động cụ thể của quy luật giá trị thặng dư.
4.1.1.3. Tác động của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:
- Những tác động tích cực của cạnh tranh
Thứ nhất, cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực thúc đẩy
phát triển nền kinh tế thị trường .Trong nền kinh tế thị trường, mọi hành vi
của mọi chủ thể kinh tế đều hoạt động trong môi trường cạnh tranh. Hơn
nữa, mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế hoạt động trong nền kinh tế thị
trường đều nhằm mục đích lợi nhuận tối đa, muốn vậy họ phải cạnh tranh
gay gắt với nhau để có được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và
kinh doanh để thu được lợi nhuận cao nhất.
Thứ hai, cạnh tranh là cơ chế điều chỉnh linh hoạt và phân bổ các
nguồn lực kinh tế của xã hội một cách tối ưu. Mục đích hoạt động của các
doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, do đó họ sẽ đầu tư vào những nơi, những
lĩnh vực có lợi nhuận cao (cung nhỏ hơn cầu) và bỏ trống những nơi, những
lĩnh vực có lợi nhuận thấp hoặc không có lợi nhuận (cung lớn hơn cầu), do
đó các nguồn lực kinh tế của xã hội sẽ được chuyển đến nơi mà chúng được
sử dụng với hiệu quả cao nhất, tiết kiệm chi phí các nguồn lực kinh tế của 5
xã hội một cách tối đa.
Thứ ba, cạnh tranh kích thích tiến bộ kỹ thuật, áp dụng công nghệ
mới vào sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh.
Tương tự như tác động của quy luật giá trị, cạnh tranh tạo áp lực lớn đối
với người sản xuất, buộc họ phải cải tiến kỹ thuật, ứng dụng những công
nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất, làm năng suất lao động tăng lên, nhờ
đó kỹ thuật, công nghệ sản xuất của toàn xã hội không ngừng phát triển và
thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh.
Thứ tư, cạnh tranh góp phần tạo cơ sở cho sự phân phối thu nhập lần
đầu. Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất nào có năng suất, chất
lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, tức là có lợi thế trong cạnh tranh,
thì sẽ có lợi nhuận cao và do đó có thu nhập cao. Ngược lại, người sản xuất
nào có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh doanh thấp, tức là kém lợi thế
trong cạnh tranh, thì sẽ có lợi nhuận thấp hoặc không lợi nhuận, thậm trí bị
thua lỗ và do đó họ sẽ có thu nhập thấp hoặc bị phá sản.
Thứ năm, cạnh tranh tạo ra khối lượng sản phẩm đa dạng, phong phú,
chất lượng tốt, giá thành hạ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng và
xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, mục đích của các chủ thể kinh tế là lợi
nhuận cao nhất, mà người tiêu dùng là người cuối cùng quyết định chủng
loại, số lượng và chất lượng của hàng hóa trên thị trường. Chỉ có những sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng lựa chọn thì mới bán được và
do đó người sản xuất mới có lợi nhuận. Vì vậy, những người sản xuất phải
tìm mọi cách để tăng năng suất lao động, tạo ra khối lượng sản phẩm đa
dạng, dồi dào, phong phú, chất lượng tốt, giá thành hạ, làm cho nhu cầu của
người tiêu dùng và xã hội được đáp ứng.
Hộp 4.1. Tác động của cạnh tranh trong quan điểm của kinh tế học
Với các nguồn lực và công nghệ cho trước của xã hội, ngay cả những nhà lập kế hoạch
thành thạo nhất hoặc một chương trình tái tổ chức thông minh nhất cũng không thể tìm ra
được một giải pháp tốt hơn so với thị trường cạnh tranh.
Nguồn: P. Samuelson, Kinh tế học, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, 1997, Hà Nội, tr. 547.
-Tác động tiêu cực của cạnh tranh:
Tương tự như tác động của quy luật giá trị, bên cạnh mặt tích cực,
cạnh tranh cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế, xã hội,
nhất là xét về mặt xã hội. Những mặt tiêu cực của cạnh tranh gắn với cạnh
tranh không lành mạnh, không có sự điều tiết kinh tế của nhà nước. Những 6
ảnh hưởng tiêu cực bao gồm:
Một là, cạnh tranh cũng gây ra sự ô nhiễm môi trường và mất cân
bằng sinh thái .Trong nền kinh tế thị trường, vì mục tiêu lợi nhuận, nên các
chủ thể kinh tế phải giảm chi phí sản xuất đến mức tối thiểu, do đó các chất
thải do quá trình sản xuất sinh ra không được các doanh nghiệp xử lý, gây ô
nhiễm môi trường, làm thiệt hại cho người tiêu dùng và xã hội. Hơn nữa,
cũng vì mục tiêu lợi nhuận, nên các doanh nghiệp tìm mọi thủ đoạn để tập
trung khai thác bừa bãi, khai thác kiệt quệ tài nguyên, gây mất cân bằng
sinh thái, làm giảm hiệu quả của nền kinh tế.
Hai là, trong cạnh tranh không lành mạnh, các chủ thể kinh tế
thường dẫn đến những hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh, vi phạm pháp
luật. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh không lành mạnh như các chủ
thể kinh tế dùng những thủ đoạn làm phương hại đối thủ cạnh tranh, người
tiêu dùng và xã hội để thu lợi nhuận cao nhất về mình. Đó là họ thường sử
dụng các hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh, vi phạm pháp luật, làm hàng
giả, hàng nhái, trốn lậu thuế, tung tin giả, … tất cả những hành vi đó sẽ gây
thiệt hại lợi ích cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính, làm thiệt hại lợi
ích cho người tiêu dùng và xã hội.
Ba là, cạnh tranh góp phần làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo
trong xã hội. Trong cạnh tranh, những người có điều kiện sản xuất thuận
lợi, có trang bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, có trình độ tay nghề lao động
cao, hợp lý hóa sản xuất tốt, thì sẽ có năng suất lao động cao, có hao phí
lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, họ sẽ không
ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh và do đó sẽ có lãi cao và giàu lên
nhanh chóng. Ngược lại, những người không có điều kiện kinh doanh thuận
lợi, trang bị kỹ thuật lạc hậu, trình độ tay nghề thấp, tổ chức quản lý yếu
kém, năng suất lao động thấp, hao phí lao động cá biệt sẽ cao hơn hao phí
lao động xã hội cần thiết,… Họ sẽ bị thua lỗ, phá sản và sẽ trở thành những
người nghèo khó trong xã hội.
Như vậy, cạnh tranh thể hiện ra như là phương thức để thực hiện lợi
ích giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Do
theo đuổi mục đích lợi ích đó, cạnh tranh đến mức độ nhất định sẽ thúc đẩy
sự hình thành các tổ chức độc quyền. Phương thức thực hiện lợi ích của các
chủ thể độc quyền sẽ khác so với cạnh tranh tự do. Đây chính là lôgíc cho
việc nghiên cứu nội dung tiếp theo, lý luận của V.I. Lênin về độc quyền và
độc quyền nhà nước. Nếu như lý luận của C.Mác nghiên cứu về các quan
hệ kinh tế của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn tự do 7
cạnh tranh thì lý luận của V.I.Lênin nghiên cứu về các quan hệ kinh tế của
nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn độc quyền.
4.1.2. Quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền trong nền kinh tế thị trường TBCN
Độc quyền là sự liên minh giữa các doanh nghiệp lớn, nắm trong tay
phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hoá, có khả năng định
ra giá cả độc quyền, nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao.
§éc quyÒn sinh ra tõ c¹nh tranh tù do, ®éc quyÒn ®èi
lËp víi c¹nh tranh tù do. Nhng sù xuÊt hiÖn cña ®éc quyÒn
kh«ng thñ tiªu ®îc c¹nh tranh, tr¸i l¹i víi nã cßn lµm cho c¹nh
tranh trë nªn ®a d¹ng, gay g¾t vµ cã søc ph¸ ho¹i to lín h¬n.
Trong nền kinh tế thị trường TBCN, kh«ng chØ tån t¹i sù c¹nh
tranh gi÷a nh÷ng ngêi s¶n xuÊt nhá, gi÷a nh÷ng nhµ t b¶n
võa vµ nhá nh trong giai ®o¹n chñ nghÜa t b¶n c¹nh tranh
tù do, mµ cßn cã thªm c¸c lo¹i c¹nh tranh sau:
Mét lµ; c¹nh tranh gi÷a c¸c tæ chc ®éc quyÒn víi c¸c
doanh nghiÖp ngoµi ®éc quyÒn. C¸c tæ chøc ®éc quyÒn
t×m mäi c¸ch chÌn Ðp, chi phèi, th«n tÝnh c¸c doanh
nghiÖp ngoµi ®éc quyÒn b»ng nhiÒu biÖn ph¸p nh: ®éc
chiÕm nguån nguyªn liÖu, nguån nh©n c«ng, ph¬ng tiÖn
vËn t¶i, tÝn dông, h¹ gi¸ cã hÖ thèng... ®Ó ®¸nh b¹i ®èi thñ.
Hai lµ; c¹nh tranh gi÷a c¸c tæ chøc ®éc quyÒn víi
nhau. Lo¹i c¹nh tranh nµy cã nhiÒu h×nh thøc: c¹nh tranh
gi÷a c¸c tæ chøc ®éc quyÒn trong mét ngµnh, kÕt thóc
b»ng mét sù tho¶ hiÖp hoÆc b»ng sù ph¸ s¶n cña mét bªn;
c¹nh tranh gi÷a c¸c tæ chøc ®éc quyÒn kh¸c ngµnh cã liªn
quan víi nhau vÒ nguån nguyªn liÖu, kü thuËt...
Ba lµ; c¹nh tranh trong néi bé c¸c tæ chøc ®éc quyÒn.
Nh÷ng nhµ t b¶n tham gia c¸c-ten, xanh-®i-ca c¹nh tranh
víi nhau ®Ó giµnh thÞ trêng tiªu thô cã lîi hoÆc giµnh tû lÖ 8
s¶n xuÊt cao h¬n. C¸c thµnh viªn cña tê-rít vµ c«ng-xoãc-xi-
om c¹nh tranh víi nhau ®Ó chiÕm cæ phiÕu khèng chÕ, tõ
®ã chiÕm ®Þa vÞ l·nh ®¹o vµ ph©n chia lîi nhuËn cã lîi h¬n.
4.2. ĐỘC QUYỀN VÀ ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
4.2.1. Lý luận của V.I. Lênin về độc quyền trong nền kinh tế thị trường
4.2.1.1. Nguyên nhân hình thành và tác động của độc quyền
Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã dự báo rằng: tự do cạnh tranh sẽ dẫn đến tích tụ và tập
trung sản xuất, tích tụ và tập trung sản xuất phát triển đến một mức độ nào
đó sẽ dẫn đến độc quyền.Vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ
nghĩa Mác vào điều kiện lịch sử mới của thế giới, V.I.Lênin đã chứng minh
rằng, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trong nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa đã xuất hiện các tổ chức độc quyền.
Sự xuất hiện các tổ chức độ quyền đánh dấu chủ nghĩa tư bản đã
chuyển sang giai đoạn phát triển mới cao hơn đó là giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền.
Nguyên nhân hình thành độc quyền:
Chủ nghĩa tư bản độc quyền xuất hiện do những nguyên nhân chủ yếu sau:
Một là, sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến
bộ khoa học kỹ thuật, đòi hỏi các doanh nghiệp phải ứng dụng những tiến
bộ kỹ thuật mới vào sản xuất kinh doanh. Điều đó, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải có vốn lớn mà từng doanh nghiệp khó đáp ứng được. Vì vậy,
các doanh nghiệp phải đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất,
hình thành các doanh nghiệp quy mô lớn.
Hai là, cuối thế kỷ XIX, những thành tựu khoa học kỹ thuật mới xuất
hiện như lò luyện kim mới; các máy móc mới ra đời, như: động cơ điêzen,
máy phát điện; phát triển những phương tiện vận tải mới, như: xe hơi, tàu
thuỷ, xe điện, máy bay, tàu hỏa ... Những thành tựu khoa học kỹ thuật mới
xuất hiện này, một mặt làm xuất hiện những ngành sản xuất mới đòi hỏi các
doanh nghiệp phải có quy mô lớn; mặt khác thúc đẩy tăng năng suất lao
động, tăng khả năng tích lũy, tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy phát
triển sản xuất quy mô lớn. 9
Ba là, trong điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, cùng với sự
tác động của các quy luật kinh tế thị trường, như: quy luật giá trị thặng dư,
quy luật tích lũy, tích tụ, tập trung sản xuất ... ngày càng mạnh mẽ, làm
biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội theo hướng tập trung sản xuất quy mô lớn.
Bốn là, cạnh tranh gay gắt làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị
phá sản hàng loạt, còn các doanh nghiệp lớn tồn tại được, nhưng cũng đã bị
suy yếu, để tiếp tục phát triển họ phải tăng cường tích tụ, tập trung sản
xuất, liên kết với nhau thành các doanh nghiệp với quy mô ngày càng to
lớn hơn. V.I.Lênin khẳng định: "... tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất
và sự tập trung sản xuất này, khi phát triển đến mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền"2.
Năm là, do cuộc khủng hoảng kinh tế lớn năm 1873 trong toàn bộ
thế giới tư bản chủ nghĩa làm phá sản hàng loạt các doanh nghiệp vừa và
nhỏ, các doanh nghiệp lớn tồn tại, nhưng để tiếp tục phát triển được, họ
phải thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản suất hình thành các
doanh nghiệp có quy mô lớn.
Sáu là, sự phát triển của hệ thống tín dụng trở thành đòn bẩy mạnh
mẽ thúc đẩy tập trung sản xuất, nhất là việc hình thành, phát triển các công
ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức độc quyền. Khi các tổ
chức độc quyền xuất hiện các tổ chức độc quyền có thể ấn định giá cả độc
quyền mua, độc quyền bán để thu lợi nhuận độc quyền cao.
Hộp 4.2. P.Samuelson bàn về độc quyền
Độc quyền là hiện tượng các hãng cam kết lại, thỏa thuận cùng nhau quy định mức
giá và sản phẩm làm ra, chia nhau thị trường hoặc cùng nhau vạch ra các quyết định kinh doanh.
Nguồn: P.Samuelson, Kinh tế học, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia,1997, Hà Nội, tr.350
Lợi nhuận độc quyền: Lợi nhuận độc quyền là lợi nhuận thu được
cao hơn lợi nhuận bình quân, do sự thống trị của các tổ chức độc quyền
đem lại. Các tổ chức độc quyền thống trị bằng cách khống chế (áp đặt) giá
bán hàng hóa cao và giá mua hàng hóa thấp, do đó các tổ chức độc quyền
luôn thu được lợi nhuận độc quyền cao. Nguồn gốc của lợi nhuận độc
2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, 2005, t.27, tr.402. 10
quyền cao là lao động không công của công nhân làm việc trong các xí
nghiệp độc quyền; một phần lao động không công của công nhân làm việc
trong các xí nghiệp ngoài độc quyền; một phần giá trị thặng dư của các nhà
tư bản vừa và nhỏ bị mất đi do thua thiệt trong cuộc cạnh tranh; phần lao
động thặng dư và đôi khi cả một phần lao động tất yếu của những người
sản xuất nhỏ, nhân dân lao động ở các nước tư bản và các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Giá cả độc quyền: Giá cả độc quyền là giá cả do các tổ chức độc
quyền áp đặt trong mua và bán hàng hóa. Giá cả độc quyền gồm chí phí sản
xuất cộng với lợi nhuận độc quyền. Do chiếm được vị trí độc quyền về sản
xuất và tiêu thụ hàng hóa nên các tổ chức độc quyền áp đặt được giá cả độc
quyền. Các tổ chức độc quyền luôn áp đặt giá cả cao khi bán và giá cả thấp
khi mua. Như vậy, giá cả độc quyền gồm có giá cả độc quyền cao (khi bán)
và giá cả độc quyền thấp (khi mua). Về thực chất, giá cả độc quyền vẫn
không thoát ly và không phủ định cơ sở của nó là giá trị. Trong mối quan
hệ này thì giá trị vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong giá cả độc quyền. Giá
cả độc quyền chỉ lên xuống xoay quanh giá trị hàng hóa và khi xuất hiện giá
cả độc quyền thì giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá cả độc quyền.
Vì vậy, giá cả độc quyền và lợi nhuận độc quyền là biểu hiện của quy
luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn độc quyền của
CNTB. Trong đó, quy luật giá cả độc quyền là hình thức biểu hiện hoạt
động cụ thể của quy luật giá trị, còn quy luật lợi nhuận độc quyền là hình
thức biểu hiện hoạt động cụ thể của quy luật giá trị thặng dư.
Tác động của độc quyền:
- Những tác động tích cực:
+ Độc quyền tạo ra khả năng to lớn trong việc nghiên cứu và triển khai
các hoạt động khoa học kỹ thuật, thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật. Độc quyền là
kết quả của quá trình tích tụ, tập trung sản xuất ở mức độ cao. Do đó, các tổ
chức độc quyền có khả năng tập trung được các nguồn lực, đặc biệt là nguồn
lực về tài chính trong việc nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học
kỹ thuật, thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật. Tuy nhiên, đây chỉ là khả năng, còn
khả năng có trở thành hiện thực hay không còn phụ thuộc và nhiều yếu tố,
nhất là phụ thuộc vào mục đích kinh tế của các tổ chức độc quyền trong nền kinh tế thị trường.
+ Độc quyền có thể làm tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực
cạnh tranh của bản thân tổ chức độc quyền. Là kết quả của tập trung sản xuất 11
và sự liên minh các doanh nghiệp lớn, độc quyền tạo ra được ưu thế về vốn
trong việc ứng dụng những thành tựu kỹ thuật, công nghệ sản xuất mới, hiện
đại, áp dụng những phương pháp sản xuất tiên tiến, làm tăng năng suất lao
động, giảm chi phí sản xuất, do đó nâng cao được năng lực cạnh tranh trong
hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Độc quyền tạo được sức mạnh kinh tế góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển theo hướng sản xuất lớn hiện đại. Với ưu thế tập trung được sức
mạnh kinh tế to lớn vào trong tay mình, nhất là sức mạnh về tài chính, tạo
cho độc quyền có điều kiện đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế trọng tâm, mũi
nhọn, do đó thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển theo hướng sản xuất
tập trung, quy mô lớn, hiện đại. V.I.Lênin viết: “Nhưng trước mắt chúng ta
cạnh tranh tự do biến thành độc quyền và tạo ra nền sản xuất lớn, loại bỏ nền
sản xuất nhỏ, thay thế nền sản xuất lớn bằng một nền sản xuất lớn hơn nữa”3.
- Những tác động tiêu cực:
+ Độc quyền xuất hiện làm cho cạnh tranh không hoàn hảo gây thiệt
hại cho người tiêu dùng và xã hội. Với sự thống trị của độc quyền và vì mục
đích lợi nhuận độc quyền cao, mặc dù như đã phân tích ở trên, độc quyền tạo
ra sản xuất lớn, có thể giảm chi phí sản xuất và do đó giảm giá cả hàng hóa,
nhưng độc quyền không giảm giá, mà họ luôn áp đặt giá bán hàng hóa cao
và giá mua thấp, thực hiện sự trao đổi không ngang giá, hạn chế khối lượng
hàng hóa… tạo ra sự cung cầu giả tạo về hàng hóa, gây thiệt hại cho người tiêu dùng và xã hội.
+ Độc quyền cũng phần nào kìm hãm sự tiến bộ kỹ thuật, theo đó kìm
hãm sự phát triển kinh tế, xã hội. Độc quyền tập trung được các nguồn lực
lớn, tạo ra khả năng nghiên cứu, phát minh các sáng chế khoa học, kỹ thuật.
Nhưng vì lợi ích độc quyền, hoạt động nghiên cứu, phát minh, sáng chế chỉ
được thực hiện khi vị thế độc quyền của chúng không có nguy cơ bị lung lay.
Do vậy, mặc dù có khả năng về nguồn lực tài chính tạo ra khả năng trong
nghiên cứu, phát minh các sáng chế khoa học, kỹ thuật, nhưng các tổ chức
độc quyền không tích cực thực hiện các công việc đó. Điều này chứng tỏ,
độc quyền đã ít nhiều kìm hãm thúc đẩy sự tiến bộ kỹ thuật, theo đó kìm
hãm sự phát triển kinh tế, xã hội.
+ Độc quyền chi phối các quan hệ kinh tế, xã hội, làm tăng sự phân
hóa giàu nghèo. Với địa vị thống trị kinh tế của mình và mục đích lợi nhuận
độc quyền cao, độc quyền có khả năng và không ngừng bành trướng sang 3 Sđd: tr.488 12
các lĩnh vực chính trị, xã hội, kết hợp với các nhân viên chính phủ để thực
hiện mục đích lợi ích nhóm, kết hợp với sức mạnh nhà nước hình thành độc
quyền nhà nước, chi phối cả quan hệ, đường lối đối nội, đối ngoại của quốc
gia, vì lợi ích của các tổ chức độc quyền, không vì lợi ích của đại đa số nhân
dân lao động. Do đó, độc quyền góp phần làm tăng sự phân hóa giàu nghèo
trong xã hội ở các nước tư bản cũng như trên phạm vi thế giới.
4.2.1.2. Những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Đặc điểm thứ nhất là: Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền
Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, tích tụ và tập trung sản
xuất cao, biểu hiện số lượng các xí nghiệp lớn chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng
nắm giữ các lĩnh vực sản xuất chủ yếu của nền kinh tế, nắm số lượng công
nhân lớn và sản xuất phần lớn tổng sản phẩm xã hội. Trong những năm
1900, ở Mỹ, Đức, Anh, Pháp các doanh nghiệp lớn chỉ chiếm khoảng 1%
tổng số các doanh nghiệp nhưng chiếm hơn 3/4 tổng số máy hơi nước và
điện lực, gần một nửa tổng số công nhân và sản xuất ra gần một nửa tổng số sản phẩm.
Sự tích tụ và tập trung sản xuất đến mức cao như vậy đã trực tiếp dẫn
đến hình thành các tổ chức độc quyền. Vì:
Thứ nhất, do số lượng các doanh nghiệp lớn ít nên có thể dễ dàng thoả thuận với nhau;
Thứ hai, các doanh nghiệp có quy mô lớn, kỹ thuật cao nên cạnh
tranh sẽ rất gay gắt, quyết liệt, khó đánh bại nhau, do đó đã dẫn đến khuynh
hướng thoả hiệp với nhau để nắm lấy địa vị độc quyền.
Khi mới bắt đầu quá trình độc quyền hoá, các tổ chức độc quyền
hình thành theo liên kết ngang, nghĩa là mới chỉ liên kết những doanh
nghiệp trong cùng một ngành, nhưng về sau theo mối liên hệ dây chuyền,
các tổ chức độc quyền đã phát triển theo liên kết dọc, mở rộng ra nhiều ngành khác nhau.
Các hình thức tổ chức độc quyền cơ bản từ thấp đến cao, bao gồm:
Cartel (Các-ten), Syndicate (Xanh-đi-ca), Trust (Tờ-rớt), Consortium (Công-xoóc-xi-om).
Cartel là hình thức tổ chức độc quyền trong đó các xí nghiệp tư bản
lớn ký các hiệp nghị thoả thuận với nhau về giá cả, sản lượng hàng hóa, thị
trường tiêu thụ, kỳ hạn thanh toán, ... Các xí nghiệp tư bản tham gia Cartel 13
vẫn độc lập cả về sản xuất và lưu thông hàng hóa. Họ chỉ cam kết thực hiện
đúng hiệp nghị đã ký, nếu làm sai sẽ bị phạt tiền theo quy định của hiệp
nghị. Vì vậy, Cartel là liên minh độc quyền không vững chắc. Trong nhiều
trường hợp những thành viên thấy ở vào vị trí bất lợi đã rút ra khỏi Cartel,
làm cho Cartel thường tan vỡ trước kỳ hạn.
Syndicate là hình thức tổ chức độc quyền cao hơn, ổn định hơn
Cartel. Các xí nghiệp tư bản tham gia Syndicate vẫn giữ độc lập về sản
xuất, chỉ mất độc lập về lưu thông hàng hóa (mọi việc mua, bán do một ban
quản trị chung của Syndicate đảm nhận). Mục đích của Syndicate là thống
nhất đầu mối mua và bán để mua nguyên liệu với giá rẻ, bán hàng hoá với
giá đắt nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao.
Trust là hình thức độc quyền cao hơn Cartel và Syndicate. Trong
Trust thì cả việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa đều do một ban quản trị chung
thống nhất quản lý. Các xí nghiệp tư bản tham gia Trust trở thành những cổ
đông để thu lợi nhuận theo số lượng cổ phần.
Consortium là hình thức tổ chức độc quyền có trình độ và quy mô
lớn hơn các hình thức độc quyền trên. Tham gia Consortium không chỉ có
các xí nghiệp tư bản lớn mà còn có cả các Syndicate, các Trust, thuộc các
ngành khác nhau nhưng liên quan với nhau về kinh tế, kỹ thuật. Với kiểu
liên kết dọc như vậy, một Consortium có thể có hàng trăm xí nghiệp liên
kết trên cơ sở hoàn toàn phụ thuộc về tài chính vào một nhóm các nhà tư bản kếch xù.
Hiện nay, đặc điểm tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền có
những biểu hiện mới, đó là sự xuất hiện các công ty độc quyền xuyên quốc
gia bên cạnh sự phát triển của các xí nghiệp vừa và nhỏ.
Do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ
nên đã diễn ra quá trình hình thành những sự liên kết giữa các độc quyền
theo cả hai chiều: chiều dọc và chiều ngang, ở cả trong và ngoài nước. Từ
đó, những hình thức tổ chức độc quyền mới đã ra đời. Đó là các Concern
(Consơn) và các Conglomerate (Công-gơ-lô-mê-rết).
Concern: Là tổ chức độc quyền đa ngành, thành phần của nó có hàng
trăm xí nghiệp có quan hệ với những ngành khác nhau và được phân bố ở
nhiều nước. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến độc quyền đa ngành là do cạnh
tranh gay gắt việc kinh doanh chuyên môn hoá hẹp dễ bị phá sản. Hơn nữa,
hình thức độc quyền đa ngành còn để đối phó với luật chống độc quyền ở
hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa (luật này cấm độc quyền 100% mặt hàng 14 trong một ngành).
Conglomerate: Là sự kết hợp vài ba chục những hãng vừa và nhỏ
không có bất kỳ sự liên quan nào về sản xuất hoặc dịch vụ cho sản xuất.
Mục đích chủ yếu của các Conglomerate là thu lợi nhuận bằng kinh doanh
chứng khoán. Do vậy phần lớn các Conglomerate dễ bị phá sản nhanh hoặc chuyển thành các Concern.
Tuy nhiên một bộ phận các Conglomerate vẫn
tồn tại vững chắc bằng cách kinh doanh trong lĩnh vực tài chính trong
những điều kiện thường xuyên biến động của nền kinh tế thế giới.
Ở các nước tư bản phát triển hiện nay, bên cạnh các tổ chức độc
quyền lớn lại ngày càng xuất hiện nhiều doanh nghiệp (công ty, hãng) vừa
và nhỏ (chiếm hơn 90% tổng số hãng có đăng ký) có vai trò quan trọng
trong nền kinh tế. Sự xuất hiện nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ là do:
Thứ nhất, việc ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ cho phép
tiêu chuẩn hoá và chuyên môn hoá sản xuất sâu, dẫn đến hình thành hệ
thống gia công. Đây cũng chính là biểu hiện của độc quyền dưới một dạng
mới, thể hiện ở chỗ là: các hãng, công ty vừa và nhỏ phụ thuộc vào các
Concern và Conglomerate về nhiều mặt. Sự kiểm soát của độc quyền được
thực hiện dưới những hình thức mới thông qua quan hệ hợp tác giữa độc
quyền lớn với các hãng vừa và nhỏ. Thông qua quan hệ hợp tác này, các
độc quyền lớn sẽ mở rộng khả năng kiểm soát sản xuất nói chung, tiến bộ
khoa học và công nghệ nói riêng.
Thứ hai, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có những thế mạnh của nó, đó
là: nhạy cảm đối với thay đổi trong sản xuất; linh hoạt ứng phó với sự biến
động của thị trường; mạnh dạn đầu tư vào những ngành mới đòi hỏi sự mạo
hiểm; dễ đổi mới trang thiết bị, kỹ thuật mà không cần nhiều chi phí bổ
sung; có thể kết hợp nhiều loại hình kỹ thuật để sản xuất ra những sản
phẩm có chất lượng cao trong điều kiện kết cấu hạ tầng hạn chế.
Ngoài ra, độc quyền cũng bắt đầu xuất hiện cả ở những nước đang
phát triển. Đó là kết quả của sự thâm nhập của các công ty xuyên quốc gia
vào các nước này và sự ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện
đại khiến cho chỉ một doanh nghiệp lớn cũng đủ sức mạnh chi phối việc
sản xuất và tiêu thụ của cả một ngành mới ra đời ở một nước đang phát
triển và tới mức độ nhất định có thể bành trướng ra bên ngoài.
Các tổ chức độc quyền luôn có xu hướng bành trướng quốc tế. Trong
điều kiện hiện nay, xu hướng vận động của chúng là trở thành các công ty
xuyên quốc gia và liên minh với nhà nước hình thành chủ nghĩa tư bản độc 15
quyền nhà nước. Đó là biểu hiện mới của độc quyền và là hình thức vận
động mới của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong những điều kiện mới.
Đặc điểm thứ hai là: Tư bản tài chính và hệ thống tài phiệt (đầu sỏ tài chính).
- Sự xuất hiện của tư bản tài chính và hệ thống tài phiệt
Song song với quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong công
nghiệp, trong ngân hàng cũng diễn ra quá trình tích tụ, tập trung dẫn đến
hình thành các tổ chức độc quyền trong ngân hàng. Quy luật tích tụ, tập
trung trong ngân hàng cũng giống như trong công nghiệp, do quá trình cạnh
tranh các ngân hàng vừa và nhỏ bị phá sản hoặc bị thôn tính và hình thành
những ngân hàng lớn. Khi sản xuất trong ngành công nghiệp tích tụ, tập
trung ở mức độ cao, thì các ngân hàng nhỏ không đủ tiềm lực và uy tín
phục vụ cho công việc kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp lớn.
Trong điều kiện đó, các ngân hàng vừa và nhỏ phải tự sáp nhập vào các
ngân hàng lớn hoặc phải phá sản trước quy luật khốc liệt của cạnh tranh.
Quá trình này đã thúc đẩy các tổ chức độc quyền ngân hàng ra đời.
Sự xuất hiện, phát triển của các tổ chức độc quyền trong ngân hàng
đã làm thay đổi quan hệ giữa các doanh nghiệp ngân hàng và công nghiệp,
làm cho ngân hàng có vai trò mới: từ chỗ ngân hàng chỉ là trung gian trong
việc thanh toán và tín dụng, thì nay đã nắm được hầu hết lượng tiền tệ của
xã hội nên có quyền lực “vạn năng”, khống chế mọi hoạt động của nền kinh
tế xã hội. Dựa trên địa vị người chủ cho vay, độc quyền ngân hàng “cử” đại
diện của mình vào các cơ quan quản lý của độc quyền công nghiệp để theo
dõi việc sử dụng tiền vay hoặc các tổ chức độc quyền ngân hàng còn trực
tiếp đầu tư vào công nghiệp. Trước sự khống chế và chi phối ngày càng
mạnh mẽ của ngân hàng, một quá trình xâm nhập tương ứng trở lại của các
độc quyền công nghiệp vào ngân hàng cũng diễn ra. Các tổ chức độc quyền
công nghiệp cũng tham gia vào công việc của ngân hàng bằng cách mua cổ
phần của các ngân hàng lớn để chi phối hoạt động của ngân hàng. Quá trình
độc quyền hoá trong công nghiệp và ngân hàng có quan hệ chặt chẽ với
nhau làm nảy sinh một loại hình tư bản mới, gọi là tư bản tài chính.
-Tư bản tài chính và sự thống trị của tư bản tài chính trong giai
đoạn độc quyền của CNTB
Tư bản tài chính là sự hợp nhất giữa tư bản độc quyền ngân hàng
và công nghiệp. V.I.Lênin viết: "Tư bản tài chính là kết quả của sự hợp nhất 16
giữa tư bản ngân hàng của một số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất, với tư
bản của những liên minh độc quyền các nhà công nghiệp"4.
Sự phát triển của tư bản tài chính dần dần dẫn đến sự hình thành một
nhóm nhỏ những nhà tư bản kếch xù chi phối toàn bộ đời sống kinh tế,
chính trị của toàn xã hội, gọi là tài phiệt (hay đầu sỏ tài chính, trùm tài chính).
Các tài phiệt thực hiện sự thống trị của mình thông qua “chế độ tham
dự”. Thực chất của “chế độ tham dự” là một nhà tài chính lớn, hoặc một tập
đoàn tài chính mua số cổ phiếu khống chế, chi phối một công ty lớn nhất -
công ty gốc gọi là "công ty mẹ"; công ty này lại mua được cổ phiếu khống
chế, thống trị các "công ty con"; "công ty con" đến lượt nó lại chi phối các
"công ty cháu", ... Nhờ có “chế độ tham dự” và phương pháp tổ chức tập
đoàn theo kiểu móc xích như vậy, bằng một lượng tư bản đầu tư nhỏ, mà tài
phiệt có thể khống chế và điều tiết được một lượng tư bản lớn gấp nhiều
lần. Ngoài "chế độ tham dự", tài phiệt còn sử dụng những thủ đoạn như lập
công ty mới, phát hành trái khoán, kinh doanh công trái, đầu cơ chứng
khoán ở sở giao dịch, đầu cơ ruộng đất... để thu lợi nhuận độc quyền cao.
Về mặt chính trị, hệ thống các nhà tài phiệt chi phối mọi hoạt động của các
cơ quan nhà nước, đặc biệt là chi phối các chính sách đối nội, đối ngoại của
nhà nước, biến nhà nước tư sản thành công cụ phục vụ lợi ích cho chúng,
do chúng thống trị được về kinh tế.
Từ cuối thế kỷ XX đến nay, tư bản tài chính đã có sự thay đổi và
những biểu hiện mới, đó là:
Do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ hiện đại, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện và phát triển
nhiều ngành kinh tế mới, đặc biệt là các ngành thuộc "phần mềm" như dịch
vụ, bảo hiểm ... ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. Thích ứng với sự biến đổi
đó, phạm vi liên kết và xâm nhập vào nhau được mở rộng ra nhiều ngành,
dưới hình thức một tổ hợp đa dạng kiểu: công - nông - thương - tín - dịch
vụ hay công nghiệp - quân sự - dịch vụ quốc phòng; ... Nội dung của sự liên
kết cũng đa dạng hơn, tinh vi hơn và phức tạp hơn. Cơ chế tham dự của tư
bản tài chính cũng có sự biến đổi, cổ phiếu có mệnh giá nhỏ được phát
hành rộng rãi, khối lượng cổ phiếu tăng lên, nhiều tầng lớp dân cư cũng có
thể mua được cổ phiếu và trở thành các cổ động nhỏ, ... kéo theo đó là "chế
độ tham dự" được bổ sung thêm bằng "chế độ uỷ nhiệm", nghĩa là những
đại cổ đông được "uỷ nhiệm" thay mặt cho đa số cổ đông có ít cổ phiếu
4 V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.27, tr.489. 17
(các cổ đông nhỏ) quyết định phương hướng hoạt động của công ty cổ phần.
Các chủ sở hữu lớn giờ đây vừa khống chế trực tiếp vừa khống chế
gián tiếp thông qua biến động trên thị trường tài chính, buộc các nhà quản
lý phải tuân theo lợi ích của chúng. Để thích ứng với quá trình quốc tế hoá
đời sống kinh tế, các tập đoàn tư bản tài chính đã thành lập các ngân hàng
đa quốc gia và xuyên quốc gia, thực hiện việc điều tiết các Concern và
Conglomerate xâm nhập vào nền kinh tế của các quốc gia khác. Sự ra đời
của các trung tâm tài chính của thế giới như Nhật Bản, Mỹ, Anh, Đức,
Xingapo là kết quả hoạt động của các tập đoàn tài chính quốc tế.
Đặc điểm thứ ba là: Xuất khẩu tư bản
- Bản chất của xuất khẩu tư bản: Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá
trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt
giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở các nước nhập khẩu tư bản.
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu vì:
- Nguyên nhân của Xuất khẩu tư bản:
Một số ít nước phát triển đã tích lũy được một khối lượng tư
bản lớn và có một số "tư bản thừa" tương đối, nghĩa là lượng tư bản
này nếu đầu tư ở trong nước thì lợi nhuận thấp, nên họ cần tìm nơi
đầu tư ra nước ngoài có nhiều lợi nhuận cao hơn. Đồng thời, nhiều
nước lạc hậu về kinh tế bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế giới
nhưng lại rất thiếu vốn để phát triển kinh tế, giá cả ruộng đất tương
đối hạ, tiền lương lại thấp, nguyên liệu rẻ, nên tỷ suất lợi nhuận cao,
rất hấp dẫn đầu tư nước ngoài.
- Xét về hình thức: xuất khẩu tư bản được thực hiện dưới hai hình
thức chủ yếu: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
+ Đầu tư trực tiếp là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những
xí nghiệp mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận
đầu tư để trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao, biến nó thành một chi
nhánh của “công ty mẹ” ở chính quốc. Các xí nghiệp mới hình thành
thường tồn tại dưới dạng hỗn hợp song phương hoặc đa phương, nhưng
cũng có những xí nghiệp toàn bộ vốn là của công ty nước ngoài.
+ Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc cho vay để thu
lợi tức, mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu
tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà
đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. 18
- Xét về chủ thể xuất khẩu: thì xuất khẩu tư bản được chia thành:
xuất khẩu tư bản tư nhân và xuất khẩu tư bản nhà nước.
+ Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức xuất khẩu do tư bản tư nhân
thực hiện. Hình thức này có đặc điểm cơ bản là thường được đầu tư vào
những ngành kinh tế có vòng quay vốn ngắn và thu được lợi nhuận độc
quyền cao, dưới hình thức các hoạt động cắm nhánh của các công ty xuyên quốc gia.
+ Xuất khẩu tư bản nhà nước là nhà nước tư bản độc quyền dùng
nguồn vốn từ ngân quỹ của mình, tiền của các tổ chức độc quyền để đầu tư
vào nước nhập khẩu tư bản; hoặc viện trợ có hoàn lại hay không hoàn lại để
thực hiện những mục tiêu về kinh tế, chính trị và quân sự nhất định của chúng.
Về kinh tế, xuất khẩu tư bản nhà nước thường hướng vào các ngành
thuộc kết cấu hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư của tư bản tư
nhân. Nhà nước tư bản độc quyền còn thực hiện hình thức “viện trợ” không
hoàn lại cho nước nhập khẩu tư bản để ký được những hiệp định thương
mại và đầu tư có lợi...
Về chính trị, “viện trợ” của nước tư bản thường nhằm duy trì và bảo
vệ chế độ chính trị "thân cận" đã bị lung lay ở các nước nhập khẩu tư bản,
tăng cường sự phụ thuộc của các nước đó vào các nước tư bản phát triển,
thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, tạo điều kiện cho tư nhân đẩy mạnh xuất khẩu tư bản.
Về quân sự, “viện trợ” của nhà nước tư bản nhằm lôi kéo các nước
phụ thuộc vào khối quân sự hoặc buộc các nước nhận viện trợ phải cho các
nước xuất khẩu tư bản lập các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình...
Xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra
nước ngoài, là công cụ chủ yếu để bành trướng sự thống trị của tư bản tài
chính trên phạm vi toàn thế giới.
Hiện nay, xuất khẩu tư bản có những biểu hiện mới, cụ thể:
Thứ nhất, trước kia luồng tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư
bản phát triển sang các nước kém phát triển (chiếm tỷ trọng trên 70%).
Nhưng những thập kỷ gần đây đại bộ phận dòng đầu tư lại chảy qua lại
giữa các nước tư bản phát triển với nhau. Đó là do: ở các nước tư bản phát
triển đã phát triển các ngành có hàm lượng khoa học - kỹ thuật cao và hàm
lượng vốn lớn, nên đầu tư vào đây lại thu được lợi nhuận cao. Ở các nước
đang phát triển lại có kết cấu hạ tầng lạc hậu, tình hình chính trị kém ổn 19
định, nên đầu tư có phần rủi ro và tỷ suất lợi nhuận của tư bản đầu tư không còn cao như trước đây.
Thứ hai, chủ thể xuất khẩu tư bản có sự thay đổi lớn, trong đó vai trò
của các công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation - TNCs) trong
xuất khẩu tư bản ngày càng to lớn, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài
(Foreign Direct Investment - FDI). Mặt khác, đã xuất hiện nhiều chủ thể
xuất khẩu tư bản từ các nước đang phát triển.
Thứ ba, hình thức xuất khẩu tư bản rất đa dạng, sự đan xen giữa xuất
khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hoá tăng lên. Chẳng hạn trong đầu tư trực
tiếp xuất hiện những hình thức mới như: xây dựng - kinh doanh - chuyển
giao (Build-Operate-Transfer - BOT); xây dựng - chuyển giao (Built and
Transfer – BT) ... Sự kết hợp giữa xuất khẩu tư bản với các hợp đồng buôn
bán hàng hoá, dịch vụ, chất xám, … không ngừng tăng lên.
Thứ tư, sự áp đặt mang tính chất thực dân trong xuất khẩu tư bản đã
được gỡ bỏ dần và nguyên tắc cùng có lợi trong đầu tư được đề cao.
Đặc điểm thứ tư là: Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tập
đoàn tư bản độc quyền
Quá trình tích tụ và tập trung tư bản phát triển, việc xuất khẩu tư bản
tăng lên cả về quy mô và phạm vi tất yếu dẫn tới sự phân chia thế giới về
mặt kinh tế giữa các tập đoàn tư bản độc quyền và hình thành các tổ chức độc quyền quốc tế.
Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản đã chứng tỏ thị trường trong
nước luôn gắn với thị trường ngoài nước. Đặc biệt trong giai đoạn chủ
nghĩa tư bản độc quyền, thị trường ngoài nước còn có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với các nước tư bản. V.I.Lênin nhận xét: "Bọn tư sản chia nhau
thế giới, không phải do tính độc ác đặc biệt của chúng, mà do sự tập trung
đã tới mức độ buộc chúng phải đi vào con đường ấy để kiếm lời"5.
Sự đụng độ trên trường quốc tế giữa các tổ chức độc quyền có sức
mạnh kinh tế hùng hậu lại được sự ủng hộ của nhà nước "của mình" và các
cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa chúng tất yếu dẫn đến xu hướng thoả hiệp,
ký kết các hiệp định, để củng cố địa vị độc quyền của chúng trong những
lĩnh vực và những thị trường nhất định. Từ đó hình thành các liên minh độc
quyền quốc tế dưới dạng Cartel, Syndicate, Trust quốc tế.
Ngày nay, sự phân chia thế giới về kinh tế có những biểu hiện mới,
5 V.I. Lênin, Toàn tập, tập 27, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2005, tr.472 20