













Preview text:
CHƯƠNG 4 : TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Danh mục các từ viết tắt CSH: Chủ sở hữu
TCDN: Tài chính doanh nghiệp DN: Doanh nghiệp TCTD: Tổ chức tín d ng ụ
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
NHTM: Ngân hàng thương mại
TTTC: Thị trường tài chính
NHTW: Ngân hàng trung ương VKD: Vốn kinh doanh SXKD: Sản xuất kinh doanh XH: Xã hội
* GIỚI THIỆU CHƯƠNG
Tài chính doanh nghiệp là một khâu trọng yếu, khâu cơ sở của hệ thống tài chính, đồng thời là
một mắt xích quan trọng quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Chương 4 đề cập đế ữ n nh ng
vấn đề cơ bản về tài chính doanh nghiệp như khái niệm, đặc trưng của TCDN, vai trò của TCDN và
vận dụng những nội dung này trong hoạt động của DN.
* TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG
Sau 10 năm làm quản lý sản xuất cho một công ty sản xu i giày da c ất và phân phố ủa Việt Nam,
anh Sơn đã tích lũy được một số tiề ố
n v n cùng với hỗ trợ từ gia đình, anh không muốn đi làm thuê nữa
mà muốn tự làm chủ một công ty sản xuất giày da riêng của mình. Anh lên ý tưởng về việc lập một
công ty sản xuất giày da. Tuy nhiên, anh gặp khó khăn về việc lựa chọn loại hình công ty, những vấn đề ề
v tài chính như cách phân bổ, sử ố
dung v n và xác định chi phí kinh doanh. Anh cũng không biết
sau khi có doanh thu, lợi nhuận thì sẽ sử d ng chúng ụ như thế nào.
Những băn khoăn và khó khăn kể trên không chỉ
mình anh Sơn mà nhiều ngườ i sẽ gặp phải khi
chuẩn bị thành lập một doanh nghiệp hoặc muốn tìm hiểu về tài chính doanh nghiệp.
Chương 4 về Tài chính doanh nghiệp sẽ giúp người học hiểu được những vấn đề căn bản về tài
chính doanh nghiệp, từ đó góp phần giải đáp các thắc m ắc như trên. * MỤC TIÊU:
• Hiểu rõ được các vấn đề cơ bả ề
n v tài chính doanh nghiệp như: Khái niệm, đặc điểm, vai trò
của tài chính doanh nghiệp.
• Nắm vững các nội dung cơ bản củ ệ
a tài chính doanh nghi p gồm: Huy động và sử ụ d ố ng v n,
xác định chi phí, thu nhập và lợi nhuân của doanh nghiệp.
• Vận dụng được các kiến thức đã được h c
ọ về tài chính doanh nghiệ ể
p đ nhận dạng, phân tích,
đánh giá một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn về tài c
hính doanh nghiệp với vai trò là một mảng hoạt
động của doanh nghiệp, cũng như với vai trò là một khâu tài chính trong hệ thống tài chính. * NỘI DUNG:
4.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 4.1.1. Khái niệm
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.” 1
Trên thực tế, có nhiều cách để phân loại doanh nghiệp. Nếu xét trên góc độ cung ứ ố ng v n cho
nền kinh tế thì các doanh nghiệp được chia thành hai loại doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phí tài chính.
- Doanh nghiệp tài chính: Là doanh nghiệp mà hoạt động chính là huy động và cung ứng vốn cho
nền kinh tế, giữ vai trò trung gian kết nối giữa cung và cầu vốn. Thường bao gồm: ngân hàng thương
mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán… Hoạt đ ng kinh doanh không ộ phải là
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông thường mà là kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ đặc biệt như huy động tiề ử n g ứ
i, cho vay, cung ng dịch vụ thanh toán…
- Doanh nghiệp phi tài chính: Là doanh nghiệp mà lấy việc kinh doanh hàng hóa, dịch v thông ụ
thường làm hoạt động kinh doanh chính.
Do các doanh nghiệp tài chính có đặc thù riêng về kinh doanh và tài chính, cho nên trong phạm
vi chương này, chúng ta chỉ tìm hiể ề
u v tài chính của các doanh nghiệp phi tài chính.
Nguồn: Rob Reider, Peter B.Heyler (2003)
Để tiến hành các hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp phải hội tụ đủ các yếu tố cơ bản bao
gồm tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các yếu
tố này được trao đổi, mua bán trên thị trường, được biểu thị và đo lư
ờng giá trị bằng thước đo tiền tệ.
Để có được các yếu tố đó, các doanh nghiệ ả
p ph i có một lượng tiền tệ ứng trước nhất định để đầu tư
mua sắm, lượng tiền tệ ứng trước này được gọi là vố ứng n
trước cho kinh doanh. Khi đó cảm nhận trực quan ban đầu về ạ
ph m trù tài chính doanh nghiệp được quan niệm tương đồng với các quĩ tiền tệ của
doanh nghiệp. Song các quĩ tiền tệ chỉ là khởi ngu n hay là k ồ
ết quả của những dòng chuyển dịch và
chuyển hoá của các nguồn lực tài chính.
Trong quá trình kinh doanh, số vốn tiền tệ ứng trước sẽ vận động chuyển hoá hình thái biểu hiện.
Sự vận động này diễn ra rất đa dạng, có thể là sự dịch chuyển giá trị từ chủ thể này sang chủ thể khác dưới hình thức chuyể ề
n quy n sở hữu tài sản, hoặc là sự dịch chuyển giá trị trong cùng một chủ thể, hay
là sự thay đổi hình thái biểu hiện c a v ủ
ốn tiền tệ t rong một quá trình kinh doanh. Trong quá trình đầu
tư và kinh doanh của doanh nghiệp, các quỹ tiền tệ được hình thành, phân phối và sử ụ d ng, thể hiện
bằng các dòng tiền tệ vào và ra kh i doanh nghi ỏ
ệp tạo thành sự luân chuyển tuần hoàn của các dòng
tài chính doanh nghiệp. Quá trình vận động và chuyển hoá của các ngu n l
ồ ực tài chính này lại là kết
quả của việc thực hiện hàng loạt các quan hệ tài chính doanh nghiệp. 2
Như vậy, TCDN là hệ thống nhữ ệ
ng quan h kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá
trình hình thành, phân phối và sử d ng các qu ụ
ỹ tiền tệ c a doanh nghi ủ
ệp nhằm phục vụ cho các hoạt
động của doanh nghiệp và góp phần đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
Các quan hệ tài chính c a doanh nghi ủ ệp bao g m: Qua ồ
n hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà
nước; Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác; Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh
nghiệp. Trong thực tế, các quan hệ tài chính doanh nghiệp rất đa dạng và phức tạp, chúng diễn ra trên
các phạm vi khác nhau liên quan đến các chủ thể khác nhau. Tuy nhiên, các quan hệ TCDN đều chứa đự ữ ng nh ộ ng n i dung kinh tế ấ nh t định, đề ả
u ph n ánh những luồng dịch chuyển giá trị hay ph ản ánh
sự vận động và chuyển hoá của các nguồn lực tài chính trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp,
đồng thời các quan hệ TCDN còn phản ánh mục tiêu và phương hướng kinh doanh c a doanh nghi ủ ệp. 4.1.2. Đặc điểm
Thứ nhất, TCDN gắn liền và phục vụ cho
các hoạt động kinh doanh c a doanh nghi ủ ệp. Ngay từ
khi thành lập một doanh nghiệp, tạo lập nguồn vốn là yêu cầu bắt buộc để hình thành những tài sản cần thiết phục vụ hoạt ộ
đ ng sản xuất và kinh doanh. Trong quá trình SXKD, để đảm bảo các hoạt động
diễn ra liên tục, không bị gián đoạn, DN vẫn cần duy trì một lượng vốn nhất định, đồng thời phải sử
dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả để đảm bảo sự tồn tại và phát triển cuả DN. Như vậy, khi tiến
hành các hoạt động kinh doanh, các DN luôn phải giải quyết vấn đề đảm bảo vốn tài trợ cho kinh
doanh, phải sử dụng v n sao cho có hi ố
ệu quả, phải thực thi và kiểm soát hàng loạt các quan hệ tài chính
nhằm tránh tình trạng ứ đọng, thất thoát, lãng phí vốn và đảm bảo thực hiện thành công các mục tiêu của doanh nghiệp.
Thứ hai, tài chính doanh nghiệp chịu sự chi ph
ối bởi hình thức pháp lý c a ủ doanh nghiệp. Hiện
nay, theo quy định pháp luật, có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau tồn tại và hoạt động trong nền
kinh tế. Hình thức pháp lý c a
ủ doanh nghiệp khác nhau sẽ quy đị h và ràng bu n ộc phương thức huy độ ố ng v n, giới hạ ả
n kh năng tăng vốn trong quá trình hoạt động, đồng thời chi phối ế đ n việc phân phối
lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
• Đối với DN tư nhân:
Đây là doanh nghiệp do một cá nhân làm ch
ủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn b ộ tài sản của
mình về mọi hoạt động c a doanh nghi ủ ệp.
Chủ doanh nghiệp là một cá nhâ à
n v có toàn quyền quyết định đến mọi hoạt đ ng c ộ ủa doanh
nghiệp. Ngoài số vốn do chủ doanh nghiệp đầu tư, DNTN cũng có thể huy động thêm vốn với những
hình thức khác nhau nhưng không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. C ủ h doanh nghiệp
chịu trách nhiệm vô hạn ố
đ i với các khoản nợ của doanh nghiệp. Phần thu nhập sau thuế của doanh
nghiệp thuộc quyền sở hữu và sử dụng của chủ doanh nghiệp
• Đối với công ty TNHH 1 thành viên: đây là loại hình doanh nghiệp do một chủ thể (t ổ chức/các
nhân) đứng ra thành lập. Chủ thể này sẽ chịu trách nhiệ về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của cty
trong phạm vi vốn góp. Trong quá trình hoạt động, công ty này có thể huy động vốn dưới các hình thức
khác nhau như đi vay, chiếm dụ ố
ng v n trong thanh toán, nhận góp vốn kinh doanh, nhưng không được
phát hành chứng khoán. Lợi nhuận sau thuế hoàn toàn thuộc về ch s ủ ở hữu doanh nghiệp.
• Đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên: công ty có thể tăng vố ằ
n b ng cách kết nạp thêm
thành viên mới và nhận vốn đầu tư bổ sung từ các thành viên, hoặc huy động thêm vốn dưới các hình
thức khác như vay vốn, nhận góp liên doanh, chiếm dụng vốn trong thanh toán,... nhưng không được phép phát hành c phi ổ
ếu. Việc phân phối lợi nhuận sau thuế do hội đồng thành viên của công ty quyết
định và việc chia lợi nhu vào t
ận cho các thành viên phải căn cứ l
ỷ ệ vốn mà thành viên đã góp. 3
• Đối với công ty cổ phần: Đây là DN trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần. Cổ đ ng c ô ó thể là t
ổ chức, cá nhân; số lượng tối thiểu là 3 thành viên à v không
hạn chế số lượng tối đa.
Một số đặc điểm chi phối đến TCDN củ ổ a công ty c phần như C
ổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu
hạn về các khoản nợ trong ph
ạm vi số vốn đã góp, có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy độ ố
ng v n, việc phân phối lợi nhuận sau thuế sẽ do đại hội cổ đông quyết định.
• Công ty hợp danh: là loại hình doanh nghiệp có ít nh ng ra thành
ất 2 thành viên hợp danh đứ
lập, bên cạnh đó còn có thể có thành viên góp vốn. Các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ khác c a cô ủ
ng ty bằng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của mình. Trong quá trình hoạt đ ng , ộ
công ty có thể huy động thêm vốn dưới nhiều hình thức nhưng không được phép phát hành chứng
khoán. Quyết định phân phối lợi nhuận sau thuế do hội đồng thành viên quyết định.
Như vậy thông qua những quy định về hình
thức pháp lý của doanh nghiệp, chúng ta có thể phân
biệt được các loại hình doanh nghiệp khác nhau và nắm được sự chi ph
ối của hình thức pháp lý đến
một số vấn đề tài chính c a doanh nghi ủ ệp.
Thứ ba, tài chính doanh nghiệp gắn với tính tự chủ và mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý và điều tiết vĩ mô của nhà nước, các doanh nghiệp phải tự
chủ về kinh doanh và tài chính. Với yêu cầu tự chủ tài chính cùng với mục tiêu hoạt động là thu lợi
nhuận, các doanh nghiệp phải tự tổ chức quá trình huy động vốn, phải tự mình ra các quyết định đầu
tư kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về các kết quả hoạt động.
Thứ tư, tài chính doanh nghi c
ệp là khâu cơ sở ủa hệ th ng t ố
ài chính trong nền kinh tế. C th ụ ể:
- Các doanh nghiệp là những đơn vị kinh tế ch y
ủ ếu sản xuất ra của cải vật chất và thực hiện các
dịch vụ. Tài chính doanh nghiệp là nơi trực tiếp tạo ra và cung ứng nguồn lực tài chính chủ yếu cho
nền kinh tế, cho hệ thống tài chính. - Thông qua hoạt ng tài chính doanh nghi độ
ệp mà các khâu khác trong ệ h th ng tài chính m ố ới có
được nguồn thu nhập cơ bản để tồn tại và hoạt động.
4.1.3 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của TCDN được thể hiện trên 4 nội dung như sau:
Thứ nhất, TCDN là công cụ khai thác thu hút các ngu n tài chính nh ồ
ằm đáp ứng nhu cầu vốn
cho kinh doanh của doanh nghiệp.
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi thành lập, đều không thể thiếu v n. V ố ai trò của TCDN được
thể hiện ở việc xác định nhu cầu vốn và đề ra các quyết định ngu n v ồ n thíc ố
h hợp. Do đó, các nhà quản
trị doanh nghiệp thông qua TCDN để xác định được nhu cầu vốn, kết hợp các phương thức huy động
nguồn vốn bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Ví dụ, nhà quản trị tài chính thông qua m ối quan hệ
kinh tế giữa doanh nghiệp với ngân hàng thương mại để vay vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh,
hay phát hành cổ phiếu để tăng n v nguồ
ốn chủ sở hữu, hoặc thông qua quan hệ mua bán gi ữa doanh
nghiệp với các nhà cung cấp để chiếm d ng v ụ n thanh toán… ố Thứ hai
, TCDN là công cụ giúp doanh nghiệp có thể sử ụ d ố ng v n tiết kiệm và hiệ ả u qu .
Trong quá trình hoạt động, việc sử dụ ố ng v ế
n kinh doanh ti t kiệm và hiệ ả u qu luôn là đòi hỏ i tất
yếu đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Việc huy động vốn phải trên cơ sở đáp ứng kịp thời nhu cầ ố
u v n của doanh nghiệp nhưng phải t i thi ố
ểu hóa chi phí huy động và đảm bảo tính
an toàn tài chính. Việc đầu tư sử ụ d ố
ng v n một mặt phải thu hồi và bảo toàn được vốn, mặt khác phải
sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay vốn và nâng cao khả năng sinh lời của vốn. TCDN
giúp các nhà quản trị doanh nghi
ệp đưa ra các quyết định huy độ ốn đ ng v
ể doanh nghiệp được cung ứ ố
ng v n kịp thời nhưng không bị ả
qu áp lực về gánh nặng chi phí vốn và đảm bảo an toàn tài chính, 4
đồng thời giúp các nhà q ả
u n trị tài chính đưa ra n ữ h ế
ng quy t định tổ chức sử ụ d ng ố v n tiết kiệm và hiệu qu
ả, tăng khả năng sinh lời. Thứ ba, TCND là công cụ u ti kích thích và điề
ết kinh doanh của doanh nghiệp .
Vai trò này được biểu hiện khi vậ ụ
n d ng hài hoà các chức năng của TCDN trong giải quyết và
đảm bảo lợi ích cho các chủ thể có liên quan đến hoạt động SXKD của DN. Có như vậy, các chủ thể
mới tích cực và có trách nhiệm khi tham gia vào hoạt động SXKD. Người quản lý cần vận d ng TCDN ụ
trong khai thác, huy động vốn, đầu tư sử dụng vốn, phân phối thu nhập và kết quả kinh doanh phù hợp
với môi trường, điều kiện kinh doanh. Như vậy mới có thể giúp doanh nghiệp bảo toàn v n và t ố ạo thêm
lợi nhuận, tăng cường phúc lợi cho người lao động, phân phối lợi nhuận sau thuế hiệu quả, từ đó điều
hòa được mối quan hệ lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản trị doanh nghiệp. Việc phát huy vai trò này
của tài chính doanh nghiệp tuỳ thuộc vào trình độ, khả năng vận dụng của người làm công tác tài chính
cũng như môi trường kinh doanh và cơ chế quản lý của nhà nước.
Thứ tư, TCDN là công cụ quan trọng để kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh của DN.
Xuất phát từ chức năng giám đốc c a tà ủ
i chính, TCDN có vai trò giám sát, kiểm tra bằng đồng
tiền đối với các hoạt động KD của DN. TCDN giúp DN xác định kết quả kinh doanh, phân tích và đánh
giá các chỉ số tài chính c a
ủ doanh nghiệp. Một số chỉ s
ố tài chính trong TCDN có thể kể đến như hệ s ố
nợ, khả năng thanh toán, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở ữ h u…
Thông qua các chỉ số tài chính này, nhà quản trị doanh nghi
ệp và các chủ thể khác trong nền kinh tế
có thể nhận định tình hình tài chính của DN, những bất ổn trong quá trình huy ng và s độ ử dụng vốn,
phân phối thu nhập tại DN. Từ đó, DN kịp thời đề ra các biện pháp điều chỉnh để tối ưu hoá hoạt đ n ộ g của DN.
4.2 CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ TCDN rất đa dạ ứ
ng, ph c tạp và xuyên suốt quá trình
KD của DN. Mỗi loại hình DN khác nhau sẽ có những n i dung ho ộ
ạt động tài chính khác nhau. Tuy
nhiên, hoạt động tài chính của các DN phi tài chính thường bao gồm các nội dung chủ yếu là: Vốn kinh
doanh và nguồn v n kinh doanh ố
, tài sản của DN, chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm, thu nhập
và lợi nhuận c a doanh nghi ủ ệp.
4.2.1. Huy động và sử dụng vố n kinh doanh
4.2.1.1. Vốn kinh doanh và các đặc trưng của vốn kinh doanh
a) Khái niệm và đặc trưng về v n kinh doanh ố
Để tiến hành bất kì hoạt động kinh doanh nào, các doanh nghiệp phải có được các yếu tố cần
thiết nhất định như văn phòng làm việc, nhà xưởng, kho tàng, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị,
vật tư, tiền mặt,... những yếu tố này được gọi là các tài sản. Trong điều kiệ ề
n n n kinh tế thị trường,
muốn có được các tài sản đó, các doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền tệ nhất định để đầu tư, mua
sắm, thuê mướn. Do vậy, để thực hiện hoạt động kinh doanh thì điều kiện vật chất tiên quyết là phải
có lượng giá trị ứng trước nhất định. Hơn nữa, trong quá trình hoạt động, để duy trì, mở rộng kinh
doanh, các doanh nghiệp cần phải duy trì và gia tăng lượng tài sản cần thiết cho kinh doanh của doanh
nghiệp, điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải duy trì và mở rộng lượng giá trị cần thiết.
Như vậy, xuất phát từ vai trò của v i v
ốn đố ới quá trình kinh doanh, vốn kinh doanh là toàn bộ
lượng giá trị cần thiết nhất định để bắt đầu và duy trì sự hoạt động kinh doanh liên tục của các chủ thể kinh doanh.
Tuy nhiên, toàn bộ lượng tiền ứng ra ban đầu cho kinh doanh sẽ vận động và chuyển hoá hình
thái biểu hiện trong quá trình kinh doanh. Hình thái tiền tệ ban đầu của vốn kinh doanh sẽ bị thay đổi
khi đầu tư sử dụng dưới hình thức hình thành nên các tài sản phi tiền tệ như nhà xưởng, văn phòng, 5
máy móc thiết bị, vật tư, hàng hóa,... Do đó, nếu xét ở một thời điểm nhất định thì VKD là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ t
ài sản hiện có và đang phục v cho kinh doanh c ụ a ủ DN.
Vốn kinh doanh có những đặc trưng cơ bản, bao gồm:
- Thứ nhất, VKD được thể hiện bằng một lượng tài sản cụ thể có thực. Xét tại một thời điệm nào
đó trong quá trình hoạt động kinh doanh thì VKD không chỉ tồn tại dưới hình thái tiền tệ như tiề n mặt
mà còn được tồn tại dưới hình thái tài sản phi tiền tệ như nhà xưởng, máy móc thiết bị. Nhưng dù tồn
tại ở hình thái nào thì chúng cũng phải là tài sản có thực bởi nếu không thì không thể phục v ụ cho hoạt động sả ấ
n xu t kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thứ hai, lượng giá trị của số tài sản này phải đ l
ủ ớn để có thể sử dụng cho một hình thức kinh
doanh cụ thể. M i doanh nghi ỗ
ệp cần phải có một lượng v n ki ố
nh doanh tối thiểu nhất định.
- Thứ ba, lượng giá trị của số tài sản này phải được vận động, quay vòng dưới một hình thức cụ
thể để sinh lời. Lượng giá trị ứng ra ban đầu hay vốn kinh doanh của doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ
đặc biệt, phải được thu hồi lại để đầu tư ứ
ng tiếp cho các quá trình kinh doanh tiếp theo. Nếu v n kin ố h
doanh bị giảm hoặc bị mất thì qui mô kinh doanh sẽ bị thu hẹp, hoạt đ ng kinh doanh b ộ ị ảnh hưởng
xấu, thậm chí doanh nghiệp có thể lâm vào tình trạng bị phá s
ản. rong quá trình hoạt động của doanh
nghiệp, dù VKD tồn tại dưới hình thái nào, lượng giá trị
đó dù là ít hay nhiều thì đều phải vận đ ng và ộ
quay vòng để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
b) Phân loại v n kinh doanh ố
Để phân loại vốn kinh doanh, chúng ta có thể dựa vào các tiêu thức khác nhau. Một số cách phân loại thông dụng như:
* Nếu căn cứ vào hình thái biểu hiện, chúng ta có v n ti ố ền tệ và v n phi ti ố ền tệ: - Vốn tiền tệ: Là b ph ộ
ận VKD được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, ví dụ như tiền mặt tại ỹ qu
của doanh nghiệp, tiền gửi của doanh nghiệp ở các t ch ổ ức tín d ng, ti ụ ền đang chuyển;
- Vốn phi tiền tệ: Là b
ộ phận VKD tồn tại dưới hình thái là các tài sản phi tiền tệ như nhà xưởng,
máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hóa,...
Cách phân loại này giúp nhà quản trị doanh nghiệp nắm được lượng VKD c a doanh nghi ủ ệp
mình theo hình thái biểu hiện. Từ đó
có phương pháp quản trị VKD phù hợp với từng hình thái biểu
hiện trong quá trình hoạt động sả ấ
n xu t kinh doanh của doanh nghiệp.
* Nếu căn cứ vào thời hạn và đặc điểm luân chuyển, chúng ta có v n c ố
ố định và vốn lưu động: - Vốn c ố định: Là b
ộ phận VKD có thời gian thu hồi và luân chuyển giá trị trên một năm hay qua
nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp như tài sản cố đị
nh, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, các
khoản phải thu dài hạn.
- Vốn lưu động: Là bộ phận VKD có thời gian thu hồi và luân chuyển giá trị trong vòng một năm hay m t chu k ộ ỳ kinh doanh c a ủ doanh nghiệp như v n b ố
ằng tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho…
Cách phân loại này giúp nhà quản trị DN đưa ra các phương pháp quản trị vốn lưu động phù
hợp như theo dõi, phân tích, đánh giá, kiểm soát quá trình vận động của vốn lưu động. Trên cơ sở đó, có thể đề ra
các biện pháp tác động, điều chỉnh, cân đối VKD phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
4.2.1.2. Huy động vốn kinh doanh
a) Khái niệm và phân loại nguồ n VKD
Đối với một doanh nghiệp, để có được các tài sản như nhà xưởng, máy móc thiết bị thì doanh
nghiệp cần phải có những nguồn vốn tài trợ cho mình, đó chính là ngu n VKD. N ồ guồn VKD của doanh 6
nghiệp là toàn bộ các nguồn tài chính mà doanh nghiệp có thể khai thác, huy động được để tạo nên VKD của mình. Phân loại nguồn VKD: * Nếu căn cứ vào th ời hạn sử dụng thì n v nguồ n kinh doanh c ố
ủa DN được phân chia thành
nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.
Nguồn vốn ngắn hạn là những nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng trong
vòng một năm, ví dụ như n v nguồ
ốn đi vay trong thời gian nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm, n v nguồ ốn DN
chiếm dụng trong thanh toán,... Trong khi đó, nguồn vốn dài hạn là những nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể khai thác
và sử dụng trên một năm, như nguồn vốn DN đi vay dài hạn, ngu n v ồ n t ố ừ phát hành cổ phiếu, trái phiếu
* Nếu căn cứ vào trách nhiệm pháp lý và tính chất sở hữu, nguồn vốn c a doanh nghi ủ ệp được chia thành nguồn vốn ch s
ủ ở hữu và nợ phải trả.
• Nguồn vốn chủ sở hữu:
o Khái niệm: Nguồn vốn chủ sở hữu (CSH) là nguồ ố n v n thuộc quyền sở ữ h u của doanh
nghiệp. Một phần cơ bản của nguồ ố
n v n này là do các chủ sở hữu doanh nghiệp đầu tư khi thành lập
doanh nghiệp và đầu tư bổ sung trong quá trình hoạt độ ầ
ng, ph n còn lại của nguồn vốn này được tích
lũy và bổ sung từ lợi nhuận sau thuế c a doanh nghi ủ
ệp. Đối với doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, số vốn ch s
ủ ở hữu ban đầu là do nhà nước ầu tư. Đố đ
i với doanh nghiệp liên doanh, số vốn ban đầu là
do các đối tác trong liên doanh đóng góp. Đối với công ty TNHH, số ố
v n ban đầu là do các thành viên
tham gia thành lập công ty đóng góp. Đối với công ty cổ phần, vốn điều lệ c a công ty là do các c ủ ổ
đông đóng góp dưới hình thứ ổ
c mua c phiếu. Đối với công ty hợp danh, vốn đièu lệ là do các thành
viên hợp danh và thành viên góp vốn đóng góp. Đối với doanh nghiệp tư nhân, vốn điều lệ của doanh nghiệp là do chủ doa
nh nghiệp bỏ ra. Trong quá trình hoạt động các chủ doanh nghiệp có thể tăng vốn
điều lệ dưới hình thức các chủ sở ữ h ố u góp v ổ n b sung.
Vì vậy, DN không có nghĩa vụ cam kết hoàn trả s v ố ốn này cho ch
ủ đầu tư, trừ một số tình huống đặc biệt.
o Nguồn vốn CSH được cấu thành bởi các bộ phận sau: - Vốn đầu tư của ch
ủ sở hữu doanh nghiệp: các bên tham gia vào thành lập doanh nghiệp phải góp một lượng v n nh ố
ất định để hình thành doanh nghiệp, số v n này s ố
ẽ được ghi nhận là vốn điều lệ
của doanh nghiệp đó. Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà chủ thể góp vốn và số vốn điều lệ tối thiểu sẽ khác nhau.
- Vốn thặng dư: với các công ty c ph ổ
ần được phép huy động vốn thông qua hình thức phát hành
cổ phiếu. Sau khi thành lập, nếu công ty cổ phần phát hành c phi ổ ếu và s ti
ố ền thu được từ chênh lệch
giữa giá cổ phiếu và mệnh giá được tính vào v n th ố a
ặng dư củ doanh nghiệp.
- Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối của doanh nghiệp: đối với những doanh nghiệp hoạt động
có lợi nhuận, thông thường họ có thể giữ lại một phần của lợi nhuận đó để tái đầu tư vào hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, một ph c
ần hình thành nên các quỹ ủa DN. - Nguồn v n khác: ngoài nh ố ững ngu n v ồ n k ố
ể trên, còn một số các nguồn v n ốn khác như nguồ
vốn liên doanh, liên kết do các đối tác đóng góp vào DN.
• Nợ phải trả là nguồn vốn mà doanh nghiệp khai thác, huy động ngoài nguồn vốn CSH nhưng
phải hoàn trả trong một thời hạn nhất định.
Như vậy, đây là nguồn vốn chỉ được sử dụng trong một khoảng thời gian xác định và phải hoàn
trả theo những quy định, ràng buộc nào đó.
Nợ phải trả được cấu thành bởi các b ph ộ ận chính sau đây: 7
- Nguồn v n vay: các doanh nghi ố
ệp có thể huy động v n kinh doanh t ố ừ các t ổ chức và cá nhân
bên ngoài dưới hình thức vay vốn để bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Ví dụ
như DN đi vay vốn từ các ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng, tổ chức tài chính,…
- Nguồn vốn trong thanh toán: trong quá trình hoạt đ ng, DN có th ộ ể chiếm dụng ngu n v ồ n trong ố thanh toán bổ sung t
ạm thời vốn cho hoạt động kinh doanh như DN mua chịu, thanh toán chậm tiền hàng hoá, dịch vụ cho n
hà cung cấp, chiếm dụng các khoản nợ đối với người lao động như nợ tiền lương, tiền công,… - Nguồn v n
ố phát hành trái phiếu: một số doanh nghiệp được phép phát hành trái phiếu, thì có
thể huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu ra công chúng. b) Huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động khai thác, thu hút các ngu n v ồ n nh ố
ằm đáp ứng nhu cầu v n c ố ủa doanh nghiệp.
Hoạt động huy động vốn diễn ra cả trước và sau khi doanh nghiệp thành lập và đều đóng vai trò quan tr ng trong m ọ
ỗi giai đoạn phát triển c a doa ủ nh nghiệp.
Quyết định huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như:
- Một là, loại hình doanh nghiệp: TCDN ph
ụ thuộc vào loại hình pháp lý của doanh nghiệp. Vì
vậy, quyết định huy động vốn của doanh nghiệp phải ph
ụ thuộc vào loại hình pháp lý của doanh nghiệp.
- Hai là, diễn biến c a th ủ
ị trường tài chính: các yếu tố c a th ủ
ị trường tài chính như lãi suất huy
động, tính chất cạnh tranh của các công c ụ ng v huy độ n, r ố
ủi ro của thị trường tài chính sẽ ảnh hưởng đến việc huy độ ố
ng v n của doanh nghiệp như tác động đến quy mô, phương thức, đối tượng huy động vốn.
- Ba là, tình hình tài chính và các mục tiêu của doanh nghiệp: M i doanh nghi ỗ ệp tự ch ủ trong
việc đưa ra các quyết định huy động vốn của mình để phù hợp với hiện trạng tài chính và các mục tiêu đề ra.
- Bốn là, các yếu tố khác như quan hệ truyền th ng gi ố
ữa doanh nghiệp và nhà cung cấp v n, ố
chính sách tài chính tiền tệ của nhà nước trong từng thời k , chính sách h ỳ i nh ộ
ập với thị trường tài
chính quốc tế. Ví dụ nếu doanh nghiệp có quan hệ tín dụng lâu năm với m t t ộ ch ổ ức tín dụng thì việc huy động vốn vay sẽ ễ
d dàng hơn vì tổ chức tín dụng đã hiểu rõ về lịch sử tín dụng, nắm được hiện
trạng tài chính của doanh nghiệp.
4.2.1.3. Đầu tư sử dụng và bảo toàn vốn kinh doanh
a) Đầu tư sử dụng vốn Đầu tư sử ụ
d ng vốn là việc bỏ vốn hay sử dụng vốn dưới những hình thức cụ thể nhằ ự m th c hiện
những mục tiêu nhất định trong đó mục tiêu bao trùm và xuyên suốt của quá trình đầu tư sử ụ d ng vốn là thu lợi nhu n. ậ
Như vậy, khi đầu tư sử dụ ố
ng v n, doanh nghiệp có thể ổ
b sung thêm VKD hoặc sử dụng VKD
hiện có để thực hiện các hoạt động đầu tư của mình..
Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại hình thức đầu tư sử d ng v ụ n. ố
Căn cứ vào phạm vi đầu tư: các hình thức đầu tư sử ụ d ố
ng v n của doanh nghiệp bao gồm hai
loại là đầu tư sử dụng vốn bên trong doanh nghiệp và đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp. Đầu tư sử ụ
d ng vốn bên trong doanh nghiệp là những hình thức đầu tư sử dụng vốn mà doanh
nghiệp có quyền trực tiếp kiểm soát và điều hành đối tượng tài sản hình thành từ đầu tư. Ví d ụ như đầu
tư vốn hình thành vật tư hàng hóa, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, văn phòng làm
việc,... thuộc sở hữu c a ủ doanh nghiệp. 8
Đầu tư vốn ra bên ngoài doanh nghiệp là những hình thức đầu tư sử dụng vốn mà doanh
nghiệp không có quyền trực tiếp kiểm soát, quản lý và điều hành đối tượng tài sản hình thành từ
đầu tư. Ví dụ như các hình thức góp vốn kinh doanh, đầu tư chứng khoán, cho vay vốn,...
Căn cứ vào mục tiêu ầ
đ u tư sử dụng vốn: các hình thức ầ đ u tư sử ụ d ố ng v n của doanh nghiệp
bao gồm đầu tư v n thành l ố
ập doanh nghiệp; đầu tư vốn để tăng năng lực kinh doanh của doanh nghiệp;
đầu tư vốn cho đổi mới máy móc thiết bị, công ệ ngh ; ầ
đ u tư chế tạo sản phẩm mới; đầu tư để mở rộng
khả năng tiêu thụ và tăng năng lực cạnh tranh; đầu tư tài chính ra ngoài doanh nghiệp
Căn cứ vào thời hạn đầu tư sử ụ
d ng vốn: các hình thức đầu tư sử ụ d ố ng v n của doanh nghiệp
bao gồm đầu tư hình thành tài sản dài hạn và đầu tư hình thành tài sản ngắn hạn c a doanh nghi ủ ệp.
Việc nhìn nhận các hình thức đầu tư sử dụ ố
ng v n của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau
sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể tìm ra phương thức thích hợp để quản lý, kiểm soát và nâng cao hiệu
quả sử dụng tài sản và hiệu quả đầu tư. Hai loại hình tài sản được hình thành từ đầu tư sử dụng v n c ố ủa doanh nghiệp là:
Thứ nhất, tài sản dài hạn là những tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị trên
một năm hoặc qua nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Trong m t doanh nghi ộ
ệp, tài sản dài hạn có thể bao gồm nhiều loại như tài sản cố định, các khoản
phải thu dài hạn, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, bất động sản đầu tư,…Trong số những tài sản dài
hạn trên thì tài sản cố định đóng vai trò quan trọng nhất của bộ phận tài sản bởi lẽ đây chính là công
cụ lao động chủ yếu của doanh nghiệp.
Một tài sản phải thỏa mãn những điều kiện gì để được coi là một TSCĐ, Về nguyên lý, các điều
kiện đó là: để một tài sản được coi là tài sản cố định bao gồm: tài sản đó phải giữ vai trò tư liệu lao
động trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp vì nếu không đóng vai trò này thì doanh nghiệp
không thể tạo nên sản phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội cũng như ảnh hưởng đến năng suất lao động
và chất lượng của sản phẩm; tài sản đó phải có giá trị đủ lớn, mức tối thiểu của tài sản cố định phụ
thuộc vào quy định của từ ố
ng qu c gia trong từng thời kỳ; tài sản đó phải có thời gian sử dụng dài, thông
thường, thời gian sử dụng này được qui định tối thiểu là một năm. Như vậy, những tài sản của doanh
nghiệp không thoả mãn đồng thời ba điều kiện trên hoặc là tư liêụ lao ộ đ ặ
ng ho c là đối tượng lao động
nhưng đều không phải là tài sản cố đị nh của doanh nghiệp. Thứ hai, tài sả ắ n ng ạ
n h n là những tài sản có thời gian sử ụ
d ng, thu hồi và luân chuyển giá trị là
trong vòng một năm hoặc trong m t chu k ộ kinh doanh c ỳ a doanh nghi ủ ệp.
Các tài sản ngắn hạn c a doanh nghi ủ ệp có thể bao g
ồm nhiều loại, chẳng hạn như tiền mặt tại
quỹ của doanh nghiệp, tiền đang chuyển, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng
tồn kho, các khoản phải thu ngắn hạn,…
Trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, tài sả ắ n ng ạ
n h n có thể thay đổi hình thái biểu
hiện, giá trị của nó được dịch chuyển toàn bộ một lần vào chi phí kinh doanh hay giá trị sản phẩm được tạo ra trong k . Toàn b ỳ
ộ phần giá trị dịch chuyển này sẽ được thu hồi lại dưới hình thái tiền tệ khi hàng hóa, sản phẩm, dịch v
ụ được tiêu thụ. Đây cũng là một tính chất rất khác biệt c a tài s ủ ản ngắn hạn với
tài sản dài hạn. Ví dụ, đ i v ố ới m t tài s ộ
ản dài hạn là máy móc thiết bị, do vốn đầu tư vào máy móc thiết
bị thường là lớn và máy móc thiết bị này được sử dụng trong nhiều kỳ kinh doanh, vì vậy giá trị của
nó không được chuyển dịch toàn bộ một lần vào chí phí kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ mà sẽ
dịch chuyển dần dần từ ộ ng b ậ
ph n vào chi phí kinh doanh theo thời hạn và được trích khấu hao theo
những phương pháp nhất định. Trong khi đó, tài sản ngắn hạn ví dụ như hàng tồn kho, khi được tiêu
thụ thì toàn bộ giá trị của số hàng tồn kho này sẽ được thu hồi lại toàn bộ một lần dưới hình thái tiền tệ trong k ỳ kinh doanh đó. 9
b) Tổ chức chu chuyển vốn kinh doanh
VKD của doanh nghiệp khi được đầu tư sử ụ d ng vào ạ
ho t động kinh doanh thì nó sẽ vận động
và chu chuyển. Tổ chức chu chuyển v n là quá trình theo dõi, ki ố
ểm soát và thực hiện các biện pháp
tác động và quá trình vận động, quay vòng của VKD nh m
ằ hướng sự vận động của VKD theo mục tiêu đặt ra.
Hai yếu tố quan trọng tác động đến quá trình chu chuyển VKD của doanh nghiệp:
Thứ nhất, đặc điểm của ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh: đặc điểm này ảnh hưởng đến qui
mô, thành phần cơ cấu VKD, đồng thời ảnh hưởng có tính chất quyết định đến tốc đ ộ chu chuyển v n ố của doanh nghiệp.
Thứ hai, đặc điểm vận ộ đ ề ng v hình thái
hiện vật và giá trị của từng loại vốn sử dụng trong kinh
doanh. Đặc điểm này ảnh hưởng đến phương thức và tốc độ chu chuyển vốn.
c) Bảo toàn vốn kinh doanh
Mục tiêu hàng đầu trong chu chuyển v n là ph ố
ải bảo toàn và làm tăng giá trị của đ ng v ồ ng ốn đồ
thời phải làm tăng tốc độ chu chuyển vốn. Có như vậy thì hoạt đ ng s ộ
ản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp mới được duy trì ổn định và hưng thịnh. Có hai nhóm biện pháp chủ yếu để bảo toàn VKD:
Thứ nhất, bảo toàn, làm tăng giá trị của vốn và đẩy nhanh tốc độ chu chuyể ố n v n cố định. Để
thực hiện biện pháp này, doanh nghiệp cần đánh giá và đánh giá lại tài sản dài hạn để có căn cứ xác
định hướng quản lý và thu hồi vốn đầu tư. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần lựa chọn phương pháp tính
khấu hao phù hợp để đảm bảo tốc độ thu hồi vốn hợp lý và ngăn ngừa hao mòn vô hình. Doanh nghiệp
có thể nâng cao hiệu suất và hiệu quả sử dụng của tài sản cố định tận dụng tối đa công suất, đảm bảo
chế độ bảo quản, bảo dưỡng của tài sản cố định. Tăng cường kiểm soát tình trạng của các khoản đầu
tư tài chính dài hạn, quản lý tốt quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, áp dụ ệ
ng các bi n pháp thu hồi các
khoản đầu tư tài chính phù hợp.
Thứ hai, bảo toàn, phát triển và làm tăng tốc ộ
đ chu chuyển vốn lưu động. Để thực hiện biện
pháp này, doanh nghiệp cần xác định được nhu cầu vốn lưu độ
ng trong mỗi kỳ kinh doanh m ột cách
chính xác, tổ chức khai thác và tìm kiếm nguồn tài trợ vốn lưu đ ng m ộ t cách phù h ộ ợp và có hiệu quả,
trích lập dự phòng hay mua
bảo hiểm để bảo toàn và phát triển vốn lưu động, thường xuyên phân tích
và đánh giá tình hình sử dụng vốn lưu động để nắm được thự ạ c tr ề ng v sử ụ d ng vốn lưu động.
4.2.2 Chi phí, thu nhập và lợi nhuận doanh nghiệp
4.2.2.1. Chi phí kinh doanh và giá thành s n ph ả m ẩ
a) Chi phí kinh doanh của DN
Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là quá trình kết hợp và tác động qua lại của các
yếu tố cơ bản bao gồm tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao ộng. Qua đó sẽ đ phát sinh các
hao phí liên quan của các yếu tố này. Các hao phí có thể được đo lường bằng nhiều đơn vị khác nhau.
Tuy nhiên, khi chúng ta quy đổi về thước đo thống nhất là dưới dạng tiền tệ thì được gọi là chi phí.
Vậy thì khi các hao phí phát sinh, có liên quan và phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
và được đo lường bằng tiền tệ, thì gọi là chi phí kinh doanh của doanh nghiệp đó. …
Vậy, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là biểu hiện bằng tiền của những hao phí
về các yếu tố có liên quan và phục vụ cho ho
ạt động kinh doanh c a doanh nghi ủ
ệp trong một khoảng
thời gian nhất định.
Chi phí kinh doanh c a doanh nghi ủ ệp g m nhi ồ
ều loại, nếu căn cứ theo cơ chế ản lý TCDN thì qu
bao gồm 2 bộ phận là chi phí hoạt động kinh doanh và các chi phí khác . 10
+ Chi phí hoạt đ ng kinh doanh l ộ
à những khoản chi phí có liên quan và phục vụ trực tiếp hoặc
gián tiếp cho hoạt động kinh doanh c a doanh nghi ủ ệp trong một thời k nh ỳ ất định.
Chi phí hoạt động kinh doanh bao gồm chi phí kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và chi phí tài chính.
Chi phí kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thể được chia ra thành 2 loại: chi phí trực tiếp và chi
phí gián tiếp. Chi phí trực tiếp là các khoản chi phí phát sinh và phục vụ trực tiếp cho các đối tượng kinh doanh c a doanh nghi ủ
ệp như chi phí vật tư, chi phí khấu hao nhà xưởng, kho tàng, máy móc thiết
bị, chi phí tiền lương cho lao động trực tiếp,... Các chi phí này có đặc điểm là phục vụ trực tiếp cho các
đối tượng kinh doanh của doanh nghiệp cho nên một mặt nó thường được tập hợp trực tiếp theo đối
tượng hoặc nhóm đối tượng kinh doanh để tính giá thành, mặt khác nó phản ánh khối lượng sản phẩm,
hàng hoá, dịch vụ được tạo ra hoặc tiêu thụ trong kỳ. Ngược lại chi phí gián tiếp là các khoản chi phí
phát sinh và phục vụ gián ti
ếp cho các đối tượng kinh doanh c a doanh nghi ủ ệp như chi phí khấu hao
văn phòng, thiết bị dụng cụ ả
qu n lý doanh nghiệp, chi phí tiền lương cho cán bộ nhân viên quản lý
doanh nghiệp,... Các chi phí này thường không phản ánh qui mô sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được tạo
ra trong kỳ và thường không được tập hợp trực tiếp theo đối tượng kinh doanh mà được theo dõi và phâ ổ n b để
tính tổng chi phí giá thành theo đố ợng hay nhóm đố i tư i tượng kinh doanh.
+ Chi phí khác là chi phí phát sinh b ng, ngoài chi phí ho ất thườ
ạt động kinh doanh và không
liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh c a doanh nghi ủ
ệp. Chi phí khác thường bao gồm: chi
phí nhượng bán, thanh lý tài sản, chi phí cho việc thu hồ ả i các kho n nợ khó k
đòi đã xoá sổ ế toán, chi
phí về tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế, chi phí để thu tiền phạt và các chi phí bất thường khác.
Với tính chất phát sinh không thường p không th xuyên, doanh nghiệ
ể dự đoán và kế hoạch hoá được các chi phí này.
b) Giá thành sản phẩm
* Giá thành được hiểu là chi phí phát sinh khi thực hiện sản xuất và tiêu th
ụ một đơn vị sản phẩm hay m t kh ộ
ối lượng sản phẩm nhất định. Nói cách khác, giá thành là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
hao phí lao động sống, lao động vật hoá và các phí tổn cần thiết khác kết tinh trong một đơn vị sản
phẩm hay một khối lượng sản phẩm được tạo ra và tiêu thụ.
* Giữa chi phí và giá thành có điểm tương đồng nhưng cũng có những khác biệt nhất định. Đây
chính là căn cứ để chúng ta phân biệt và nhận th hai ph ức đúng về ạm trù này.
- Điểm tương đồng giữa chi phí và giá thành là đều phản ánh giá trị của những hao phí về các
yếu tố có liên quan và phục vụ cho kinh doanh của DN.
- Tuy nhiên, giữa hai phạm trù này có hai điểm khác nhau cơ bản như sau:
Chi phí là khái niệm dùng để chỉ giá trị của những hao phí về các yếu tố trong m ột thời kì nhất
định, nó liên quan chặt chẽ đế ế
n y u tố thời gian. Do đó, sẽ có thể tồn tại chi phí phát sinh ở ỳ k trước
nhưng được phân bổ và gánh chịu ở kỳ này và chi phí phát sinh ở ỳ
k này nhưng lại được phân bổ và
gánh chịu ở kỳ sau. Nhìn vào chi phí chúng ta không thể biết được số lượng chi phí này phục vụ cho
sản phẩm nào bởi vì có thể còn có chi phí kinh doanh d
ở dang. Ngược lại, giá thành là khái niệm dùng
để chỉ các chi phí có liên quan và phục vụ cho việc sả ấ
n xu t và tiêu thụ một đơn vị sả ẩ n ph m hay một
khối lượng sản phẩm nhất định. Như vậy, giá thành không liên quan đến yếu tố thời gian, không bao
gồm các chi phí kinh doanh dở dang, mà ch
ỉ bao gồm các chi phí có liên quan đến số lượng, khố ợ i lư ng
sản phẩm đã hoàn thành quá trình sản xuất và tiêu thụ.
Ngoài ra, chi phí là căn cứ để tính giá thành của sản phẩm dịch vụ đã hoàn thành, sự tiết kiệm
hay lãng phí về chi phí có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và việc quản lí giá thành gắn liền với quản lí chi phí của DN.
* Giá thành sản phẩm có thể xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. 11
- Nếu căn cứ vào mức đ hay ph ộ ạm vi tập hợp chi phí:
+ Giá thành sản xuất sả ẩ
n ph m: là giá thành bao gồm các chi phí có liên quan và phục vụ trực
tiếp cho việc sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hay m t kh ộ
ối lượng sản phẩm. Giá thành sản xuất bao
gồm chi phí vật tư trực tiếp (đây là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tạo ra sản phẩm), chi phí nhân công
trực tiếp (là chi phí tiền lương, tiền công mà DN trả cho người lao đ ng tr ộ
ực tiếp tham gia tạo ra sản
phẩm) và chi phí sản xuất chung (là những chi phí chung phát sinh trong quá trình sản xuất tạo ra HH,
DV như chi phí quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất...). Đây
cũng chính là căn cứ để doanh nghiệp tính giá v n hàng bán khi hang hoá, ố
dịch vụ được tiêu thụ và là
cơ sở để doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp phấn đấu hạ thấp giá thành sản xuất. + Giá thành toàn b
ộ của sản phẩm: là giá thành bao gồm các chi phí có liên quan và phục v ụ
trực tiếp cho việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sả ẩ n ph m hay một kh i lư ố
ợng sản phẩm nhất định.
Cấu thành nên giá thành toàn bộ gồm ba b ph ộ
ận: giá thành sản xuất của sả ẩ n ph m, chi phí bán hàng
và chi phí quản lí doanh nghiệp phân bổ cho s
ản phẩm. Giá thành toàn bộ của sản phẩm là cơ sở để
doanh nghiệp định ra giá bán đơn vị sản phẩm, đông thời là căn cứ để tính toán kết quả kinh doanh và
là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp đưa ra các biện pháp hạ thấp giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Nếu căn cứ vào ngu n s ồ li
ố ệu sử dụng để tính toán giá thành:
+ Giá thành dự toán : là giá thành được tính toán dựa trên các số liệu dự toán về các yếu t c ố ấu
thành nên nó. Giá thành dự toán được tính
toán và xác định trước khi tiến hành quá trình sản xuất sản
phẩm, nó là một công cụ quản lý tài chính của doanh nghiệp.
+ Giá thành kế hoạch: là giá thành được hình thành trong kế hoạch giá thành, nó đựơc tính toán
dựa trên các số liệu kế hoạch về chi phí và sản lượng.
+ Giá thành thực tế: là giá thành được tính toán dựa trên số liệu thực tế về chi phí và sản lượng
kinh doanh. Nó chỉ có thể được tính toán và xác định sau khi đã sả ấ
n xu t ra một số lượng sả ẩ n ph m
nhất định và tập hợp được đầy đủ các chi phí thực tế có liên quan.
Trong quản trị tài chính doanh nghiệp, việc tính toán, xác định và phân tí t quan ch giá thành rấ
trọng đối với doanh nghiệ đượ p, c thể hiện cụ t ể h như sau:
- Thứ nhất, giá thành sản phẩm là thước đo chi phí phải bỏ ra và gánh chịu để sản xuất và tiêu
thụ một đơn vị sản phẩm.
- Thứ hai, giá thành sản phẩm, dịch vụ là cơ sở để DN xác định kết quả kinh doanh và là căn cứ để đề
ra các biện pháp phấn đấu hạ giá thành. 4.2.2.2 Thu nh p ậ Thu nh p là toàn b ậ
ộ lượng giá trị được tạo ra từ các quá trình kinh doanh trong một kho ng th ả ời
gian nhất định để bù đắp các khoản chi phí, tái t o VKD và góp ph ạ n t ầ o ra l ạ ợi nhu n cho doanh ậ nghiệp.
Thu nhập của doanh nghiệp bao g m hai kho ồ
ản m c chính là doanh thu và thu nh ụ ập khác.
+ Doanh thu của doanh nghiệp là các nguồn tài chính được tạo ra từ tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ và từ các hình thức kinh doanh khác nhau trong một thời k nh ỳ ất định c a doanh nghi ủ ệp. Doanh thu c a doanh nghi ủ
ệp bao gồm 2 bộ phận, là doanh thu từ bán hàng hoá, dịch v , và doanh ụ thu tài chính…
Doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ là toàn bộ giá trị tính theo giá bán của số lượng sản phẩm, dịch
vụ mà DN xác định là đã tiêu thụ được, không phân biệt là đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. 12
Đây là bộ phận quan tr ng t ọ rong t ng doanh thu c ổ
ủa DN, để bù đắp chi phí kinh doanh trong kỳ và là
căn cứ xác định kết quả kinh doanh của DN.
Doanh thu tài chính là nguồn tài chính được tạo ra từ các ho
ạt động đầu tư tài chính và các nỗ
lực tài chính khác c a DN, v ủ
í dụ như tiền lãi thu được từ liên doanh liên kết, lãi tiền gửi, lãi cho vay,
lãi mua bán chứng khoán,…
Trong quản trị tài chính DN, DN ph
ải luôn tìm kiếm và áp dụng các biện pháp làm tăng doanh thu c a doanh nghi ủ
ệp, bởi vì việc tăng doanh thu sẽ giúp cho doanh nghiệp không ngừng lớn mạnh về
nhiều mặt như mở rộng thị phần, tăng trưởng vốn, tăng trưởng lợi nhuận,...
+ Thu nhập khác c a doanh nghi ủ
ệp là thu nhập phát sinh từ các nguồn khác không phải là hoạt
động tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp. Như vậy, đây là các khoản thu nhập phát sinh không thường
xuyên và không thuộc doanh thu bán hàng hóa dịch vụ cũng như doanh thu tài chính. Chẳng hạn như
thu nhập từ nhượng quyền, thanh lý tài sản, thu từ các khoản nợ khó đòi đã xử lý, thu tiền phạt vi phạm
hợp đồng kinh tế từ đối tác,… 4.2.2.3 Lợi nhu n ậ * Khi kết thúc m t chu k ộ kinh doanh hay m ỳ
ột năm tài chính, Các nhà đầu tư, nhà quản trị tài
chính sẽ quan tâm đến yếu t quan tr ố
ọng đó là lợi nhuận. Lợi nhu n là ch ậ
ỉ tiêu kinh tế t ng h ổ ợp phản ánh hiệu qu ho ả
ạt động sản xu t kinh doanh c ấ
ủa DN, được biểu hiện là chênh lệch giữa thu nhập đạt đượ ỳ
c trong k với chi phí đã bỏ ra để có được thu nhập đó trong một thời kỳ nhất định. * Lợi nhuận c a doanh nghi ủ
ệp được cấu thành bởi hai b ph ộ
ận là lợi nhuận hoạt đ ng kinh doanh ộ và lợi nhuận khác.
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là bộ phận lợi nhuận được tạo ra từ hoạt động
kinh doanh của DN, được tính bằng chênh lệch giữa doanh thu và chi phí hoạt đ ng kinh doanh phát ộ
sinh trong kỳ. Nhìn chung, lợi nhuận hoạt động kinh doanh thường chiếm tỷ tr ng l ọ ớn trong t ng l ổ ợi
nhuận của doanh nghiệp vì nó thể hiện kết quả của hoạt động kinh doanh mà đây là hoạt động cơ bản
nhất của DN và cũng là mục tiêu mà các doanh nghiệp muốn hướng tới.
Lợi nhuận khác là bộ phận lợi nhuận phát sinh từ hoạt ộ
đ ng ngoài các hoạt đ ng kinh doanh, ộ
được tính bằng chênh lệch giữa thu nhập khác với chi phí khác trong một thời k nh ỳ ất định. Đây là bộ
phận lợi nhuận thứ yếu và thường chiếm tỷ trọng không đáng kể và thậm chí có thể không tồn tại bộ phận lợi nhuận này.
* Lợi nhuận được xem là mục tiêu sau cùng của doanh nghiệp, là chỉ tiêu tài chính tổng hợ ả p ph n
ánh kết quả và hiệu quả hoạt động c a doa ủ nh nghiệp trong m t kho ộ
ảng thời gian nhất định. Lợi nhuận
còn là nguồn tài chính cơ bản để doanh nghi
ệp tích luỹ và bổ sung v n c ố ho sản xuất kinh doanh c ủa
doanh nghiệp, là cơ sở để đảm bảo cho các phân ph i tài chính ố
cần thiết trong doanh nghiệp như bù lỗ kỳ trước, chi trả c t
ổ ức, trích lập các quĩ doanh nghiệp,.... Bên cạnh đó, lợi nhuận còn là một căn cứ tài
chính quan trọng để đảm bảo sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
* TỔNG KẾT CHƯƠNG
Kết thúc Chương 4 “Tài chính doanh nghiệp”, chúng ta cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Tài chính doanh nghiệp được hiểu là hệ th ng nh ố
ững quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát
sinh trong quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quĩ tiền tệ c a doanh nghi ủ ệp nhằm phục vụ
cho các hoạt động của doanh nghiệp và góp phần đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. - VKD là toàn b
ộ lượng giá trị cần thiết nhất định để bắt đầu và duy trì sự hoạt ng kinh doanh độ liên tục c a các ch ủ
ủ thể kinh doanh, hay là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lượng giá trị của các tài sản
hiện có. Nguồn VKD của DN là toàn bộ các ngu
ồn tài chính mà DN có thể khai thác, huy động được 13
để tạo nên vốn kinh doanh của mình. Căn cứ vào tính chất pháp lý, nguồn VKD gồm nguồ ố n v n chủ
sở hữu và nợ phải trả. - T
ổ chức chu chuyển vốn là quá trình theo dõi, kiểm soát và thực hiện các biện ph ng áp tác độ
vào quá trình vận động, quay vòng của VKD nhằm hướng sự vận động của VKD theo mục tiêu đặt ra.
- Chi phí kinh doanh của DN là biểu hiện bằng tiền của những hao phí về các yếu tố có liên quan và phục vụ cho ho
ạt động kinh doanh của DN trong một khoảng thời gian nhất định. Chi phí kinh
doanh bao gồm chi phí hoạt động kinh doanh và chi phí khác.
- Thu nhập của DN là toàn bộ lượng giá trị được tạ ừ
o ra t các quá trình kinh doanh trong một
khoảng thời gian nhất định để bù đắp các khoản chi phí, tái tạo v n kinh d ố
oanh và góp phần tạo ra lợi
nhuận DN. Thu nhập của DN bao gồm doanh thu và thu nhập khác.
- Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả hoạt ộ
đ ng sản xuất kinh doanh của
DN, được biểu hiện là chênh lệch giữa thu nhập đạt được trong kỳ với chi phí đã bỏ ra để có được thu
nhập đó trong một thời kỳ nhất định. Lợi nhuận của DN bao gồm lợi nhuận hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác.
* TÀI LIỆU THAM KHẢO Năm
Tên sách, giáo trình, NXB, tên tạp chí/ TT Tên tác giả XB
tên bài báo, văn bản nơi ban hành VB Giáo trình chính
Giáo trình Nhập môn tài chính Nhà xuất bản 1 TS. Vũ Xuân Dũng 2012 tiền tệ Thống kê
Sách giáo trình, sách tham khảo
2011 Giáo trình tài chính - tiền tệ Nhà xuất bả PGS.TS. Phạm Ngọc 2 Dũng; PGS. TS Đinh n Tài Xuân Hạng chính
2006 Giáo trình nhập môn tài chính PGS. TS. Sử Đình Nhà xuất bản Đại Thành; TS. Vũ Thị học quốc gia thành 3 tiền tệ Minh Hằng phố Hồ Chí Minh. 14