lOMoARcPSD| 61630929
CHƯƠNG 5: NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM
I. Khái niệm và phân loại nguyên nhân của tội phạm.
1. Khái niệm:
- Nguyên nhân của tội phạm là tổng thể những hiện tượng tiêu cực của ời sống hội
kết hợp với những yếu tố tâm lý, những yếu tố sinh học những tình huống theo chế
biện chứng nhất định làm phát sinh ra tội phạm, hỗ trợ, thúc đẩy hay kìm hãm sự tồn tại
phát triển của nó.
- Nguyên nhân của tội phạm còn 1 dạng đặc biệt nữa là hình thức tự phát sinh của tội
phạm (tức bản thân tạo ra các hvi chống hội mới thông qua 1 quá trình tự phát sinh
tội phạm). Bốn hình thức điển hình của các nh thức biểu hiện của quá trình tự xác định
này là:
+) Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ nhất là việc thực hiện tội phạm thành công và ko bị
phát hiện thường làm phát sinh ra tội phạm khác
xuất hiện tội phạm (phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội…), làm phát sinh tội phạm
chuyên nghiệp và tái phạm tội.
+) Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ hai tội phạm được thực hiện phát sinh do nhu
cầu (che dấu…) hay sự kích thích bởi tội phạm khác
→ tạo ra bối cảnh tội phạm tiềm ẩn.
+) Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ ba là những loại tội phạm có tổ chức
→ dẫn đến quá trình tự làm phát sinh ra nhiều tội phạm khác nhau.
+) Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ tư thể hiện qua tâm lý của cộng đồng xã hội.
* Điều kiện của tội phạm và mối quan hệ biện chứng với nguyên nhân:
- Ngoài các nguyên nhân của tội phạm, cũng có khái niệm về các điều kiện góp phần
tạo ra tội phạm, bao gồm các yếu tố tự nhiên, hội hoặc kỹ thuật. Bản thân các iều kiện
này ko tạo ra tội phạm nhưng giúp cho việc thực hiện thuận lợi.
- Điều kiện và nguyên nhân ôi khi thể thay đổi vị trí cho nhau và các điều kiện tiêu
cực có thể hoán đổi cho nhau.
- Trên thực tế, việc đánh giá các hiện ợng nhất định như nguyên nhân các điều
kiện khác là điều tương đối. Một hiện ợng cụ thể trong 1 số tương tác có thể đóng vai trò
của 1 nguyên nhân, trong khi ở những người khác là điều kiện.
- Có những hoàn cảnh rất tiêu cực, bất lợi nhưng cũng khó để kết luận đó nguyên
nhân của tội phạm bởi những hoàn cảnh này khi tác động với các loại nhân thân khác nhau
thể dẫn đến những kết quả ngược nhau. Tuy nhiên, thchỉ ra những hoàn cảnh
trong đó nhiều người xu ớng phạm tội thường xuyên hơn, ó hoàn cảnh tiềm ẩn
nguy cơ phạm tội (chúng mang trong mình khả năng phạm tội).
b. Phân loại nguyên nhân của tội phạm *
Căn cứ theo cái chung và cái riêng:
- Những nguyên nhân của tội phạm với tính chất là hiện tượng xã hội nói chung.
lOMoARcPSD| 61630929
- Những nguyên nhân của từng loại tội phạm (tội phạm vụ lợi, tội phạm vũ lực…).
- Những nguyên nhân của tội phạm cụ thể (tội cướp tài sản, tội hiếp dâm, tội cố ý gây
thương tích…).
* Căn cứ theo bản chất của sự xuất hiện:
- Khách quan: những mâu thuẫn trong đời sống xã hội, trong các mối quan hệ kinh tế
và xã hội.
- Chủ quan: trênsở những yếu tố tâm lý xã hội, những yếu tố nhận thức pháp luật,
mục đích, động cơ, chuẩn mực giá trị.
* Căn cứ theo nhóm các yếu tố có cùng tính chất:
- Những yếu tố sinh học.
- Những yếu tố tâm lý. - Những yếu tố xã hội.
* Căn cứ vào mức độ (phạm vi):
- Mức sở: mức độ m (cá nhân): nghiên cứu những nguyên nhân tâm của
việc thực hiện tội phạm bởi những con người cụ thể (cơ chế của hvi phạm tội)
→ Làm sáng tỏ những nguyên nhân chung của xử sự phạm tội mức độ cá nhân chính
sự xã hội hóa ko đầy đủ nhân thân.
- Mức cao và trừu tượng hơn - mức độ xã hội: xem xét những tệ nạn và những bất
cập trong hệ thống xã hội.
- Mức độ cao nhất - mức độ quy luật: trả lời được những câu hỏi về nguyên nhân của
những hiện tượng tiêu cực trong xã hội nói chung.
2. Các yếu tố sinh học trong nguyên nhân của tội phạm
- Các yếu tố sinh học vai trò trong qtrình phát triển của tất cả c hvi của con
người. Chúng ko vận động đơn lẻ mà mỗi yếu tố tương tác với rất nhiều yếu tố sinh học và
các yếu tố phi sinh học trong 1 chuỗi quan hệ nhân quả phức tạp.
- Các trạng thái sinh học - tình trạng hoạt động của các yếu tố sinh học trong 1 thời
điểm nhất định các yếu tố trong 1 số ít trường hợp trực tiếp liên quan được coi là nguyên
của các hvi ược cho là tội phạm. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, các yếu tố sinh
học đóng vai trò gián tiếp trong việc xác định các hvi như vậy.
a. Các yếu tố sinh học trực tiếp liên quan đến hvi phạm tội
- Quá trình hủy hoại não: những cấu trúc não cụ thể tạo ra chấm dứt các hvi gây
hấn.
+) Các hình thức khác nhau của hvi hung hăng liên quan đến cấu trúc khác nhau. +
Nếu các cấu trúc này bị tác động bởi khối u, bởi các quá trình tính kích động hoặc
các bệnh khác của não, bởi hvi gây hấn, bằng lời nói và bạo lực, sẽ gây ra ảnh hưởng. -
Tổn thương não (bẩm sinh hoặc do ngoại lực tác động):
lOMoARcPSD| 61630929
+) Trong số những người phạm tội nghiêm trọng được giám định tâm thần, 1 tỷ lệ cao iều
trị cho chấn thương ở đầu có tài liệu minh chứng rõ ràng.
+ Chấn thương đầu ở độ tuổi sớm rất có thể là nguyên nhân gây ra tổn thương nhỏ cho não
mà biểu thị ặc iểm cho các trẻ em trở thành người phạm tội sau này.
- Rối loạn động kinh:
+) Nếu các cấu trúc não tạo ra chấm dứt các hvi gây hấn được ch hoạt bởi hoạt tính
iện tử bất thường, hvi gây hấn sẽ xảy ra.
+) Bệnh động kinh 1 rối loạn trong đó 1 số nhỏ các tế bào não bhại. Trong 1 số
trường hợp, tùy thuộc vào vị trí của các tế o bị hỏng, sự lên cơn thể tạo ra dạng hvi
gây hấn.
+) Ngay cả khi những trường hợp tổn thương não là hiển nhiên, thì các yếu tố khác phi sinh
học (tầng lớp hội, học tập, chức năng gia đình) vẫn góp phần vào sự phát triển của hvi
gây hấn.
- Rối loạn nội tiết: Chỉ 1 số phụ nữ phạm tội có thiên hướng xử sự gây hấn trong giai đoạn
và ngay trước giai đoạn hành kinh.
b. Các yếu tố sinh học gián tiếp liên quan đến hvi phạm tội:
- Các yếu tố gen: Có sự tồn tại của yếu tố di truyền trong việc xác định hvi phạm tội, tuy
nhiên, trường hợp, yếu tố di truyền xuất hiện nhưng ko đủ để quyết định 1 người trưởng
thành phạm tội.
→ Ko phải chỉ có 1 chuỗi tương tác nhân quả dẫn tới hvi phạm tội của người trưởng thành,
mà có các tương tác khác nhau.
- Nhiễm sắc thể: các kiến thức hiện nay về vai trò của yếu tố di truyền trong việc xác định
hvi phức tạp của người trưởng thành kết thúc 1 thời đại được đánh dấu bởi việc tìm kiếm
các bất thường của NST thể gây ra tội phạm. - Các nghiên cứu về gia đình
song sinh:
+) Nghiên cứu cho rằng gia đình góp phần quan trọng trong việc xác định hvi phạm tội,
nhưng lại ko giúp tách biệt những yếu tố quyết định cụ thể của nó như học tập, tầng lớp xã
hội, di truyền…
+) Các nghiên cứu về sự ơng đồng giữa các cặp song sinh đối với hvi phạm tội đã được
thực hiện với nỗ lực nhằm khám phá ra liệu yếu tố di truyền thể liên quan đến yếu tố
quyết định hvi phạm tội của người đã trưởng thành.
- Những tổn thương nhỏ ở não:
+) Các tổn thương nhỏ não phản ánh bằng các xét nghiệm bệnh học thần kinhchỉ số
IQ có thể là do các loại chấn thương tới não bộ trong khi mang thai hoặc thời gian đầu đời.
+) Một dấu hiệu khác của tổn thương não ở trẻ nhỏ là sự hiện diện của động thái bồn chồn,
bốc đồng và khó khăn trong việc chú ý.
lOMoARcPSD| 61630929
- Chất hóa học thần kinh của o: 1 trong những mạch, trong đó sử dụng hợp chất hóa
học từ axit amin, là cơ sở cho việc bốc đồng, hvi hung hăng.
- Các yếu tố tâm sinh lý:
+) 1 số nghiên cứu gần đây chứng minh chức năng đặc biệt của hệ thống thần kinh tự trị
25 trong 1 số tội phạm nam giới.
+) Các nghiên cứu về điện cực (hoạt động điện của các tuyến mhôi da) cho thấy sự
phục hồi chậm tỷ lệ bản được đo các trai liên quan đến việc phạm tội sự gây
hấn, trong khi các tội phạm nam giới đã trưởng thành thì nó dự đoán tái phạm.
- Các yếu tố nội tiết: hệ thống thần kinh tự trị là hệ thống kiểm soát các hoạt động ko cố
ý, chẳng hạn như hoạt động của tim các tuyến, quá trình hô hấp và tiêu hóa, các phản
xạ. Các hệ thống thần kinh tự trị gồm các bộ phận của hệ thống thần kinh ngoại vi
trung ương trong đó quy định các chức năng nội tạng.
+) Các trẻ em với mức adrenalin thấp đã được đánh giá bởi các giáo viên hung hăng
hiếu động.
+) 1 số người phạm tội bạo lực thể nồng độ Testosterone (hormone giới tính nam)
tăng cao trong huyết thanh.
+) Mối liên hệ giữa hạ đường huyết và hvi gây hấn đã bị nghi ngờ.
3. Các yếu tố tâm lý trong nguyên nhân của tội phạm:
- Các yếu tố tâm lý trong các thuyết về tâm lý chủ yếu liên quan đến giải thích hvi
mức độ của cá nhân. Các thuyết về nhân cách hoặc thuyết về học tập xã hội được tạo ra để
giải thích hvi của 1 cá nhân trong 1 tình huống cụ thể.
- Gần như tất cả các nghiên cứu có thể đượctả như 1 phản ánh của 1 trong 2 giả
định giá trị:
+) Giả định về sự thiếu hụt của người phạm tội: các thuyết sự can thiệp được đặt nền
tảng trên quan niệm rằng có 1 điều gì đó trái với tâm lý đối với người phạm tội. - Giả định
về các đặc điểm phân biệt: những người phạm tội khác với những người ko phạm tội, đặc
biệt là những tình trạng như bốc đồng và gây hấn, thù hằn.
- Nghiên cứu về những điểm thiếu hụt trong tâm của những người phạm tội hay
người có xu hướng phạm tội thì cũng cần chú ý cả những điểm tích cực của họ thì mới có
cái nhìn tổng thể chính xác về hình hvi của những người này. Thêm vào đó, các
nghiên cứu tâm trong lý giải nguyên nhân của tội phạm cần ớng cả tới tầm quan trọng
tiềm ẩn của các yếu tố tình huống và môi trường ảnh hưởng đến hvi cá nhân.
- Động cơ phạm tội sẽ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý, bao gồm sự học hỏi trong
quá khứ niềm tin của cá nhân, hoặc có thể đã được tiếp nhận 1 cách thức về hvi phạm
tội.
- Các yếu tố tâm lý sự khác biệt nhân liên quan đến nhân thân điều quan trọng
hàng đầu trong mối quan hệ với cả nguyên nhân của tội phạm sự kiểm soát của nó. -
Thông qua sự ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển nhân cách của mỗi cá nhân, các
lOMoARcPSD| 61630929
yếu tố tâm lý hình thành ở họ các ặc iểm, thuộc tính ổn định và bền vững giúp định hướng
nhận thức, cảm xúc, hvi trong từng tình huống cụ thể.
- Các yếu tố tâm lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nhân cách tiêu cực
ở người phạm tội thông qua 3 nhóm yếu tố:
+) Các tiến trình tinh thần:
Thể hiện quá trình phát triển nhân cách con người được quy định bởi các yếu tố nội
tâm bản năng (Instinct), nhu cầu (need), xung đột vô thức (Unconscious conflicts)
và nhận thức (Cognitive).
Cấu trúc nhân cách của con người được chia thành 3 phần: bản năng, bản ngã, siêu
bản ngã. Trong trạng thái hoạt động bình thường, cả 3 phần này kiềm chế, giải
phóng, dung hòa với nhau. Nhưng nếu 1 hoặc 1 số phần trên hoạt động quá yếu
hoặc quá mạnh sẽ nảy sinh hvi tiêu cực ở cá nhân, dẫn đến thực hiện hvi phạm tội.
Các yếu tố nhận thức cho rằng quá trình trình nhận thức ảnh ởng mạnh đến hvi
con người. Nhận thức sai lệch sẽ khiến thực tại bị diễn dịch méo mó, dẫn đến thực
hiện tội phạm.
+) Các yếu tố hvi:
Sự hình thành và phát triển nhân cách chính là việc thành lập, duy trì hay sửa đổi 1
hệ thống các hvi trong suốt quá trình phát triển của nhân, thông qua việc tiếp xúc
với các kích thích tiêu cực từ môi trường, cá nhân học hỏi và hình thành hvi phạm
tội.
Hvi phạm tội được củng cố hay suy giảm do hậu quả tạo ra trong môi
trường.
Tình huống cũng có vai trò quan trọng thúc đẩy hvi phạm tội.
+) Các yếu tố nhân cách:
Sự phát triển nhân cách quá trình lâu dài, từ các yếu tố di truyền DNA đến hình
thành vỏ não, sau đó các suy nghĩ, hvi ơn lẻ tập hợp thành thói quen các nét
nhân cách dẫn đến kết quả là các kiểu nhân cách với các thuộc tính, khuynh hướng
tâm lý ổn định.
1 số kiểu nhân cách ớng ngoại (extraversion) (bốc ồng, liều lĩnh, mạo hiểm)
mối liên hệ với tội phạm trẻ, kiểu thần kinh bất an (neuroticism) (lo lắng, lòng tự
trọng thấp, dễ xúc động) có mối liên hệ với tội phạm già và kiểu rối loạn tâm thần
(psychoticism) (ích kỷ, thiếu thấu cảm, lạnh lùng) có mối liên hệ với tất cả các hvi
phạm tội của người mang nhân cách này.
Rối loạn nhân cách chống ối hội (Antisocial Personality Disorder) cũng được
xác định có mối liên hệ mạnh mẽ với hvi phạm tội.
+) Việc ứng dụng kiến thức về tâm nhằm lý giải cho hvi phạm tội ngày càng rộng
rãi và đã được minh chứng bằng nhiều nghiên cứu khác nhau ối với các loại tội phạm
cụ thể:
lOMoARcPSD| 61630929
Tội phạm bạo lực: Hvi gây hấn và bạo lực có thể là kết quả của việc giải tỏa xung
đột thức, nhu cầu hoặc bắt nguồn từ bản năng chiến đấu của con người.
Tội phạm tình dục:
+) ng lực nhận thức - tri giác trong giao tiếp hội kém khiến 1 sngười hiểu
sai lệch ý muốn của phụ nữ và ko thể kiềm chế trước kích thích nhỏ, kết quả là thực
hiện hvi tấn công tình dục.
+) Nhân cách trong tội phạm tình dục gồm: giận dữ (sử dụng nhiều hvi bạo lực, làm
nhục lên nạn nhân), khống chế (thường bắt cóc, giam cầm nhằm áp chế, kiểm soát
nạn nhân), bạo dâm (thích tra tấn, gây thương tích nặng cho nạn nhân nhằm đạt
được hưng phấn). Trong đó, 90% tội phạm tình dục thuộc giận dữ và khống chế.
Chứng rối loạn tâm thần và tội phạm:
+) Rối loạn tâm thần phân liệt (schizophrenia spectrum disorders) có mối liên hệ
mạnh nhất với hvi bạo lực nghiêm trọng và dai dẳng, ặc biệt là đối với những người
đã có tiền sử biểu hiện hvi bạo lực trong quá khứ.
+) Người phạm tội mắc chứng rối loạn nhân cách chống đối hội (Antisocial
personality disorder), nếu nam giới thì thường thực hiện bạo lực tập thể, chống
lại cảnh sát, tấn ng tình dục để giải tỏa giận dữ, thù hận hvi phạm tội rất dai
dẳng; nếu nữ thì xu hướng quan hệ tình dục bừa bãi, thiếu mục tiêu dài hạn,
kết hôn và ly hôn nhiều lần, thường phạm pháp với người quen.
- Tâm cộng đồng cũng góp 1 phần quan trọng trong nguyên nhân của tội phạm,
gồm 4 cấp độ: mức độ cá nhân, mức độ nhómnhân, mức độ tổ chức và cấp độ thể chế
hoặc cộng đồng. Cách tiếp cận này sẽ cho chúng ta giải về các tội phạm “ko nạn
nhân” như nghiện ma túy và mại dâm.
4. Các yếu tố xã hội trong nguyên nhân của tội phạm:
- Hậu quả khiến gia tăng tội phạm là giúp thỏa mãn nhu cầu nào ó (ăn, ở,...) hoặc tránh sự
khó chịu (nghèo đói, tan vỡ gia đình,...). Hậu quả khiến suy giảm hvi phạm tội sự khó
chịu (bị n án, bị bắt giữ, vào tù,...) hoặc loại bỏ cảm giác thỏa mãn (nạn nhân ko còn sợ
hãi, thành viên trong các nhóm tội phạm ko tôn sùng thủ lĩnh…). Căn cứ để xác định hậu
quả nào giúp thỏa mãn hoặc suy giảm hvi phải dựa trên chính cá nhân thực hiện hvi đó.
a. Khái quát các lý giải về nguyên nhân của tội phạm thông qua các yếu tố xã hội: -
Cấu trúc xã hội và tội phạm: Tội phạm là kết quả của vị trí cá nhân trong 1 cấu trúc xã
hội.
- Cách tiếp cận này tập trung vào các iều kiện kinh tế và xã hội của ời sống: sự thiếu thống
nhất, sự khác nhau về cơ hội, phân biệt chủng tộc, vô tổ chức xã hội, sự thất bại cá nhân,
phương thức thay thế thành công, những giá trị văn hóa nhóm xung đột với những giá
trị được thừa nhận chung.
- Cách tiếp cận này giải thích tội phạm ở 3 nội dung:
lOMoARcPSD| 61630929
+) Nhấn mạnh yếu tố nhân khẩu học và địa lý của 1 nhóm người và chỉ ra sự thiếu tổ chức
xã hội chính là nguyên nhân chính của hvi phạm tội và nạn nhân hóa.
+) Chỉ ra sự thiếu hụt giữa mục tiêu thành công chung của xã hội và phương tiện để đạt
được mục tiêu đó
→ Cá nhân ko đạt được thành công bằng các cách hợp pháp sẽ tìm ra phương án khác
(bất hợp pháp) để được sự thành công trong kinh tế sự công nhận của hội. +)
Xem xét nguồn gốc của tội phạm trong mối liên hệ với sự xung đột giữa các nhóm xã hội
khác nhau về việc hvi nào có thể được chấp nhận là hvi phù hợp được chấp nhận.
- Góc nhìn này nhấn mạnh tầm quan trọng của vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng trong mối liên
hệ đến xu hướng lựa chọn nạn nhân.
- Những mục ích được xem hợp pháp bao gồm sự giàu có, địa vị hội, hạnh phúc cá
nhân đều là mong muốn của tất cả mọi người. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận các cách thức
chính thống để đạt được những mục tiêu trên như giáo dục, tài chính,... lại ko đồng đều
giữa các cá nhân trong xã hội
→ Tội phạm và các hvi phạm pháp có xu hướng gia tăng.
- Xung đột văn hóa chỉ ra rằng căn nguyên của sự phạm tộithể được tìm thấy sự bất
đồng những nguyên tắc giữa các nhóm văn hóa khác nhau về những cái có thể chấp nhận
được hay những hvi đúng đắn, thích hợp.
- Quá trình xã hội và tội phạm: Tội phạm là kết quả của cả 1 quá trình xã hội đa dạng, đặc
biệt là sự học hỏi và xã hội hóa không phù hợp.
- Cách tiếp cận này nhấn mạnh vào vai trò của các mối quan hệ giữa các cá nhân, sức mạnh
của những ràng buộc hội, các hậu quả của những phản ứng hội của nhân và
của nhóm ối với hvi lệch chuẩn khi họ tham gia phạm tội.
- Học thuyết quá trình xã hội:
+) Cho rằng mỗi người ý định VPPLtính cách phạm tội ko phải là tính cách bẩm sinh
của con người, được học theo trong sự tương tác với hvi khác quá trình hội hóa
là kết quả ban đầu thông qua việc học tập.
+) Cho rằng đó là quá trình mà thông qua đó tính cách người phạm tội thu lại được, khái
niệm tự lệch chuẩn được thiết lập, kết quả của hvi phạm tội hoạt động, kết thúc
mở và tiếp tục suốt cuộc đời 1 con người. - Các học thuyết khác:
+) Học thuyết học tập hội từ sớm đã nhấn mạnh vai trò của giao tiếp hội hóa
trong việc thu ược các mẫu hvi phạm tội và các tiêu chuẩn giúp củng cố hvi đó → Cho
rằng tất cả mọi hvi học tập nhiều lần cùng 1 ch tội phạm, nnhững dạng hvi khác,
cũng được học tập.
- Có 2 loại xung đột văn hóa: một là xung đột chủ yếu phát sinh khi những xung đột văn
hóa căn bản diễn ra (ví dụ như tục bắt vợ là tục lệ của 1 vùng này ko thể thực hiện ở vùng
khác ko có tục lệ này nếu ko sẽ là hvi phạm pháp). Hai là, xung đột thứ yếu phát sinh khi
những văn hóa nhbên trong 1 văn hóa lớn hơn chúng bất đồng với nhau. +) Học
lOMoARcPSD| 61630929
thuyết dán nhãn chỉ ra đặc trưng nổi bật của sự phản hồi của hội đối với người phạm
tội → cho rằng phản ứng của xã hội về hvi lệch chuẩn là rất quan trọng liên quan đến xử
sự phạm tội.
+) Nỗi xấu hổ khi tái hòa nhập nhấn mạnh hậu quả có khả năng tích cực của quá trình gán
nhãn.
+) Học thuyết kiểm soát xã hội tập trung nhấn mạnh vào tầm quan trọng của sự liên kết xã
hội con người chia sẻ với những người quen thuộc các nhân xung quanh họ
xác định những nét đặc trưng của các nhân môi trường giữ cho con người ko thực
hiện hvi phạm tội.
- Xung đột xã hội và tội phạm: xung đột xã hội tạo ra tội phạm. Tội phạm là hậu quả của
xung đột giữa những nhóm người trong xã hội.
- Thuyết xung đột (nền tảng học thuyết mác-xít): Tội phạm là 1 chức năng của cuộc
đấu tranh giai cấp. Hệ thống tư bản nhấn mạnh vào cạnh tranh và sự giàu có là thứ tạo ra
1 môi trường kinh tế và xã hội trong đó tội phạm điều ko thể tránh khỏi. - Thuyết
xung đột xã hội:
+) Nhấn mạnh vào kinh tế, xã hội, chính trị và ịa iểm phạm tội được gắn với bối cảnh. +)
Tội phạm và hvi phạm tội chính là kết quả của cuộc tranh cãi. Sự xung đột giữa các nhóm
xã hội góp phần tạo nên tội phạm.
- Tội phạm học cấp tiến đương thời cho rằng tội phạm bắt nguồn từ những điều kiện xã hội
đã trao quyền cho 1 bộ phận giàu vị thế chính trị nhưng lại tước đi lợi ích của
nhóm người kém may mắn hơn.
- Tội phạm học cấp tiến dựa trên nền tảng học thuyết chính trị Mác-xít cho rằng sự bất bình
đẳng trong địa vị xã hội và sức mạnh kinh tế là những thứ đóng góp vào sự biến động của
tội phạm.
- Tội phạm học phê phán tập trung o phê phán những mối quan hệ giữa các giai cấp trong
xã hội.
- Tội phạm học bình quyền nam nữ nhận thấy sự bất bình đẳng tồn tại trong hội trong
sự phân biệt về giới.
- Tội phạm học hiện thực cánh tả hướng tới việc tranh cãi cái gọi tội phạm “thực sự”. -
Tội phạm học hòa giải tán thành rằng sự giảm tội phạm là do việc hợp tác giữa sự nỗ lực
của quan pháp công n họ phục vụ: Tác dụng kiểm soát tội phạm công
dân phải gắn với nhau làm giảm bớt các vấn ề xã hội bao gồm cả tội phạm.
b. Các lý giải cụ thể về nguyên nhân của tội phạm thông qua các yếu tố xã hội làm cơ
sở cho các chương trình, chiến lược phòng ngừa tội phạm:
- Chương trình, chiến lược phòng ngừa tình huống phạm tội: (3 học thuyết).
+) Thuyết chu kỳ hoạt động: giúp giải thích hoàn cảnh cần thiết cho hvi phạm tội xảy ra.
+) Thuyết hoạt động thường xuyên cho rằng hầu hết hvi phạm tội được thực hiện bởi người
lOMoARcPSD| 61630929
phạm tội có động chống lại 1 mục tiêu hoặc nạn nhân tiềm năng tại 1 thời gian và ịa iểm
cụ thể.
=> Phòng ngừa tội phạm tình huống đề cập đến 2 yếu tố cuối cùng của phương trình này:
phục vụ để bảo vệ 1 mục tiêu hoặc nạn nhân tiềm năng thông qua các biện pháp làm
giảm cơ hội cho tội phạm xảy ra trong 1 thời gian và ịa iểm cụ thể.
=> Phòng ngừa tội phạm tình huống liên quan với những người phạm tội chỉ trong chừng
mực các can thiệp làm giảm cơ hội ể ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của anh/cô ta.
+) Thuyết lựa chọn cơ hội hợp lý: giải về quyết định của người phạm tội lập luận rằng
người phạm tội có những lựa chọn và quyết định trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện
1 hành động phạm tội, và do ó có thể bị ngăn cản.
- Phòng ngừa tình huống phạm tội ko hoàn toàn tiền đề thuyết kinh tế của hvi
phạm tội, mà xem người phạm tội là người ra quyết định và tính toán những lợi thế và bất
lợi khi thực hiện 1 hvi phạm tội cụ thể.
- Phòng ngừa tình huống phạm tội cho thấy rằng ko phải tất cả người phạm tội đều
1 quá trình ra quyết định hợp khi họ dự định hoặc thực hiện 1 hvi phạm tội. - Tuy
nhiên, phòng ngừa tình huống phạm tội là tiền đề trên các giả định rằng nhiều người phạm
tội thực hiện 1 số hình thức của duy hợp lý sẽ cân nhắc những rủi ro tiềm tàng chống lại
các lợi ích tiềm năng.
- Thuyết tìm kiếm người phạm tội: cho thấy những hvi có nguyên nhân từ cơ hội của
người phạm tội được kích thích bởi những tín hiệu được phát ra bởi môi trường vật chất. -
Môi trường xã hội và vật lý cung cấp những tín hiệu thiết lập các cơ hội cho hvi phạm tội
hoặc chống đối xã hội nhất định bằng cách giao cho cá nhân có hvi cơ hội có thể được tha
thứ trong các tình huống nhất định.
- Thuyết cửa sổ bị phá vỡ cho rằng nếu công an xã hội nói chung ko xử những
hvi gây mất trật tự (say rượu, sử dụng ma túy,...) thể dẫn đến nhận thức của những người
phạm tội tiềm năng rằng tội lỗi của họ sẽ được tha thứ, ko được chú ý và ko bị trừng phạt.
* Chiến lược, chương trình phòng ngừa tội phạm dựa trên sự phát triển xã hội:
- Tình trạng vô tổ chức và sự căng thẳng
- Những hvi phạm tội được coi 1 sản phẩm của tình trạng tchức: 1 số người trong
hội thể du nhập những chuẩn mực hay cách hành xử khác nhau vào trong 1 cộng
đồng, tuy nhiên những điều đó đôi khi ko phù hợp với những tập quán thông thường
gây ra sự ko vững chắc trong hội, dẫn đến việc nhiều quy tắc xã hội ko được coi trọng,
bị phá bỏ và dẫn đến sự phát sinh tội phạm.
* Nhóm khác biệt:
- Nhiều hvi xã hội có thể được học được trong quá trình lớn lên
lOMoARcPSD| 61630929
→ xu hướng phạm tội có thể được nuôi dưỡng nếu 1 nhân sống trong 1 môi trường
đó các hvi phạm tội thể bị quan sát, được học bởi chính những nhân đó qua việc
tiếp xúc với những người khác, đặc biệt là từ những người phạm tội.
- Những hvi phạm tội thường xuất phát từ những cộng đồng thường xuyên coi thường PL
và bởi sự cô lập với những cộng đồng tuân thủ PL.
+) Học hỏi, bắt chước theo hội Giống như thuyết khác biệt trên, thuyết bắt chước
cho rằng hvi phạm tội là do học được từ 1 môi trường sống ko tốt hvi phạm tội thường
xuất phát từ việc quan sát những hvi phạm tội được thực hiện bởi người khác.
- Thuyết bắt chước giải thích hvi của con người dựa trên sự kết hợp của nhận thức,
hvi và tác động môi trường.
+)Thuyết này được đưa ra để giải thích hvi bạo lực của trẻ: bạo lực ko gắn liền với bất kỳ
nhân nào, thay o đó hvi này chịu tác động từ gia đình, truyền thông, môi trường
sống những hvi y hấn của trẻ do học được thông qua 1 quá trình gọi hình
hóa hvi” khi đó trẻ em được “huấn luyện” để hành động 1 cách quá khích sử dụng
bạo lực như 1 cách phỏng lại hvi của những người trưởng thành thể hiện sự hung hãn
và hành động 1 cách bạo lực.
- Các yếu tố kiểm soát, các yếu tố liên kết xã hội:
+) Học thuyết liên kết hội tranh luận rằng tội phạm ko cần động lực đặc biệt. Qua liên
kết xã hội, xã hội khuyến khích cá nhân từ bỏ sự ích kỷ của mình và tuân thủ các quy định
và chuẩn mực nhất định.
- Tình trạng vô tổ chức dùng để chỉ 1 trạng thái mà ở đó những quy tắc xử sự xã hội ko rõ
ràng hoặc ko được thực hiện bởi con người trong hội ó. Người tuân theo PL ko trở
thành nạn nhân của sự cám dỗ bởi hvi phạm tội sự tự kiểm soát trong nội tại của họ,
điều giúp họ kiềm chế sự cám dỗ chống đối hội. Sự tự kiểm soát nhân kém do
những khiếm khuyết của quá trình xã hội hóa. - Có 4 yếu tố kiểm soát xã hội:
+) Sự gắn bó với cha mẹ, gia đình, những định chế quan trọng như trường học hay cộng
đồng địa phương được xem như liên kết quan trọng nhất tự sự hội hóa tích cực của 1
đứa trẻ. Chất lượng số lượng thời gian 1 ứa trẻ cha mẹ dành cho nhau, cảm c của
họ đối với người kia, mức độ thân mật như sự liên kết và sự tương hỗ đại diện cho những
điểm then chốt của yếu tố gắn bó.
Mối quan hệ lỏng lẻo sự gắn từ cha mẹ gia đình ngầm phá hoại quá trình xã
hội hóa tích cực cản trở tự kiểm soát, cũng ntăng tính bốc đồng, đặt nhân vào nguy
cơ cao của xu hướng lệch chuẩn hoặc tội phạm.
+) Sự cam kết là mức độ mà cá nhân thực sự thấy chính bản thân học có giá trị với xã hội.
Những người có cam kết với xã hội mất nhiều hơn khi họ thực hiện tội phạm hoặc hvi lệch
chuẩn. Thiếu sự cam kết với giá trị quy ước sẽ tăng nguy nhân thực hiện các hvi
VPPL và tội phạm.
lOMoARcPSD| 61630929
+) Sự tham gia đề cập đến khối lượng thời gian 1 người dành cho việc tham gia vào các
thiết chế xã hội quan trọng. 1 cá nhân tham gia sâu vào xã hội dân sự thì sẽ ít thời gian cho
các hvi VPPL.
+) Niềm tin trong các giá trị các chuẩn mực của hội, gồm cả sự tôn trọng PL. Nếu
niềm tin đó bị pha loãng hay mất đi thì 1 cá nhân sẽ rất có khả ng thực hiện các hvi phản
xã hội và hvi phạm tội.
* Chiến lược, chương trình phòng ngừa tội phạm dựa trên cộng đồng:
- Xuất phát từ giả thuyết về sự mất đi tính gắn kết trong cộng đồng tại các đô thị trong
quá trình đô thị hóa, CNH-HĐH quá nhanh:
+) Xã hội đô thị hiện đại đang tạo ra các mối ràng buộc yếu hơn và hời hợt hơn giữa các
nhân, dẫn đến sự ám hội, gây nguy hiểm cho sự gắn kết hội hội dân sự. +)
Sự phát triển của các khu đô thị và công nghiệp đã tác động tạo ra các thuyết cho rằng các
hội trở n nhanh hơn trong đô thị hóa, CNH-HĐH sự ơng c nhân phi chính
thức giữa con người được thay thế bằng các mối quan hệ phi cá nhân và có tính pháp lý.
- 1 học thuyết quan trọng khác cho rằng sự mất đi của cộng đồng hội gắn kết góp
phần gây ra tội phạm và rối loạn hội phương Tây Học thuyết về tội phạm rối
loạn bàn luận rằng quy mô và sự phức tạp của hàng loạt xã hội đã cướp đi của các cá nhân
ở khu vực thành thị sự gắn kết vững bền.
- Di sản thuyết chủ đạo của phòng ngừa tội phạm trên nền tảng cộng đồng bắt
nguồn từ khi mà các nhà TPH trường phái Chicago kết nối mối quan hệ giữa hvi phạm tội
và xã hội bấy giờ.
5. Mối liên hệ giữa yếu tố xã hội, tâm lý và sinh học trong lý giải nguyên nhân của tội
phạm:
- Các yếu tố xã hội, sinh học tiêu cực chỉ có vai trò gián tiếp trong hình thành hvi phạm tội
thông qua việc y ra các yếu tố tâm tiêu cực khiến hình thành nhân cách tiêu cực
người phạm tội và thúc đẩy họ thực hiện tội phạm.
- Các yếu tố nguy cơ trong môi trường xã hội khiến tăng khả năng cá nhân gặp những vấn
đề về tâm lý tiêu cực.
- Các yếu tố nguy cơ về trạng thái sinh học:
+) Di truyền: có mối liên hệ giữa yếu tố di truyền, gen với hvi phạm tội
+) Các yếu tố nguy cơ trong môi trường xã hội là: nghèo đói (tình trạng thiếu nguồn lực cơ
bản để duy trì cuộc sống); sự từ chối bởi các nhóm ngang hàng (ko được bạn bè, anh em
cùng lứa tuổi cho gia nhập); thiếu chăm sóc tích cực trong thời thơ ấu (giai đoạn 35 tuổi ít
được quan tâm, hỗ trợ); thất bại trong học tập ( đạt thành tích học tập kém và ko hòa nhập
trong môi trường học tập); các yếu tố bất lợi từ gia đình (sống trong gia đình thiếu hạnh
phúc, bạo lực gia đình, bố/mẹ nuôi con đơn thân, phương pháp nuôi dạy sai lệch, thiếu
kiểm soát của cha mẹ, chịu ảnh hưởng tiêu cực từ anh chị em).
+) Tâm sinh lý: mối liên hệ giữa phản ứng điện cực (tuyến mồ hôi ới da), nhịp tim
thấp với hvi phạm pháp ở tuổi vị thành niên.
lOMoARcPSD| 61630929
+) Tâm thần kinh: sự suy giảm chức năng điều hành não và chấn thương não liên quan
đến hvi hung hăng, bốc ồng ở trẻ em;
+) Nội tiết tố (hormone) chất dẫn truyền thần kinh: có mối liên hệ giữa mức Adrenalin
(nội tiết tố hưng phấn hoặc lo âu), testosterone (nội tiết tố giới tính nam), serotonin với các
rối loạn tâm lý và hvi bạo lực, bốc ồng ở tội phạm vị thành niên.
- Các yếu tố nguyvề hội hoặc sinh học thúc đẩy việc hình thành nhân cách tiêu cực
người phạm tội, thông qua việc gây ra các yếu tố tâm tiêu cực như: thiếu sự gắn bó,
suy giảm nhận thức và ngôn ngữ; suy giảm chỉ số thông minh,...
Nhìn chung, các yếu tố tâm là hệ quả trung gian giữa các yếu tốhội, sinh học đối
với cá nhân người phạm tội. Thông qua các yếu tố tâm lý, nhân cách tiêu cực của tội phạm
được hình thành, dẫn đến thực hiện tội phạm ở họ.

Preview text:

lOMoAR cPSD| 61630929
CHƯƠNG 5: NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM
I. Khái niệm và phân loại nguyên nhân của tội phạm. 1. Khái niệm: -
Nguyên nhân của tội phạm là tổng thể những hiện tượng tiêu cực của ời sống xã hội
kết hợp với những yếu tố tâm lý, những yếu tố sinh học và những tình huống theo cơ chế
biện chứng nhất định làm phát sinh ra tội phạm, hỗ trợ, thúc đẩy hay kìm hãm sự tồn tại và phát triển của nó. -
Nguyên nhân của tội phạm còn 1 dạng đặc biệt nữa là hình thức tự phát sinh của tội
phạm (tức là bản thân nó tạo ra các hvi chống xã hội mới thông qua 1 quá trình tự phát sinh
tội phạm). Bốn hình thức điển hình của các hình thức biểu hiện của quá trình tự xác định này là:
+) Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ nhất là việc thực hiện tội phạm thành công và ko bị
phát hiện thường làm phát sinh ra tội phạm khác
→ xuất hiện tội phạm (phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội…), làm phát sinh tội phạm
chuyên nghiệp và tái phạm tội.
+) Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ hai là tội phạm được thực hiện phát sinh do nhu
cầu (che dấu…) hay sự kích thích bởi tội phạm khác
→ tạo ra bối cảnh tội phạm tiềm ẩn.
+) Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ ba là những loại tội phạm có tổ chức
→ dẫn đến quá trình tự làm phát sinh ra nhiều tội phạm khác nhau.
+) Hình thức tự phát sinh tội phạm thứ tư thể hiện qua tâm lý của cộng đồng xã hội.
* Điều kiện của tội phạm và mối quan hệ biện chứng với nguyên nhân: -
Ngoài các nguyên nhân của tội phạm, cũng có khái niệm về các điều kiện góp phần
tạo ra tội phạm, bao gồm các yếu tố tự nhiên, xã hội hoặc kỹ thuật. Bản thân các iều kiện
này ko tạo ra tội phạm nhưng giúp cho việc thực hiện thuận lợi. -
Điều kiện và nguyên nhân ôi khi có thể thay đổi vị trí cho nhau và các điều kiện tiêu
cực có thể hoán đổi cho nhau. -
Trên thực tế, việc đánh giá các hiện tượng nhất định như nguyên nhân và các điều
kiện khác là điều tương đối. Một hiện tượng cụ thể trong 1 số tương tác có thể đóng vai trò
của 1 nguyên nhân, trong khi ở những người khác là điều kiện. -
Có những hoàn cảnh rất tiêu cực, bất lợi nhưng cũng khó để kết luận đó là nguyên
nhân của tội phạm bởi những hoàn cảnh này khi tác động với các loại nhân thân khác nhau
có thể dẫn đến những kết quả ngược nhau. Tuy nhiên, có thể chỉ ra những hoàn cảnh mà
trong đó nhiều người có xu hướng phạm tội thường xuyên hơn, ó là hoàn cảnh tiềm ẩn
nguy cơ phạm tội (chúng mang trong mình khả năng phạm tội).
b. Phân loại nguyên nhân của tội phạm *
Căn cứ theo cái chung và cái riêng:
- Những nguyên nhân của tội phạm với tính chất là hiện tượng xã hội nói chung. lOMoAR cPSD| 61630929
- Những nguyên nhân của từng loại tội phạm (tội phạm vụ lợi, tội phạm vũ lực…).
- Những nguyên nhân của tội phạm cụ thể (tội cướp tài sản, tội hiếp dâm, tội cố ý gây thương tích…).
* Căn cứ theo bản chất của sự xuất hiện: -
Khách quan: những mâu thuẫn trong đời sống xã hội, trong các mối quan hệ kinh tế và xã hội. -
Chủ quan: trên cơ sở những yếu tố tâm lý xã hội, những yếu tố nhận thức pháp luật,
mục đích, động cơ, chuẩn mực giá trị.
* Căn cứ theo nhóm các yếu tố có cùng tính chất:
- Những yếu tố sinh học.
- Những yếu tố tâm lý. - Những yếu tố xã hội.
* Căn cứ vào mức độ (phạm vi): -
Mức cơ sở: mức độ tâm lý (cá nhân): nghiên cứu những nguyên nhân tâm lý của
việc thực hiện tội phạm bởi những con người cụ thể (cơ chế của hvi phạm tội)
→ Làm sáng tỏ những nguyên nhân chung của xử sự phạm tội ở mức độ cá nhân chính là
sự xã hội hóa ko đầy đủ nhân thân. -
Mức cao và trừu tượng hơn - mức độ xã hội: xem xét những tệ nạn và những bất
cập trong hệ thống xã hội. -
Mức độ cao nhất - mức độ quy luật: trả lời được những câu hỏi về nguyên nhân của
những hiện tượng tiêu cực trong xã hội nói chung.
2. Các yếu tố sinh học trong nguyên nhân của tội phạm -
Các yếu tố sinh học có vai trò trong quá trình phát triển của tất cả các hvi của con
người. Chúng ko vận động đơn lẻ mà mỗi yếu tố tương tác với rất nhiều yếu tố sinh học và
các yếu tố phi sinh học trong 1 chuỗi quan hệ nhân quả phức tạp. -
Các trạng thái sinh học - tình trạng hoạt động của các yếu tố sinh học trong 1 thời
điểm nhất định và các yếu tố trong 1 số ít trường hợp trực tiếp liên quan được coi là nguyên
của các hvi ược cho là tội phạm. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, các yếu tố sinh
học đóng vai trò gián tiếp trong việc xác định các hvi như vậy.
a. Các yếu tố sinh học trực tiếp liên quan đến hvi phạm tội
- Quá trình hủy hoại não: có những cấu trúc não cụ thể tạo ra và chấm dứt các hvi gây hấn.
+) Các hình thức khác nhau của hvi hung hăng có liên quan đến cấu trúc khác nhau. +
Nếu các cấu trúc này bị tác động bởi khối u, bởi các quá trình có tính kích động hoặc
các bệnh khác của não, bởi hvi gây hấn, bằng lời nói và bạo lực, sẽ gây ra ảnh hưởng. -
Tổn thương não (bẩm sinh hoặc do ngoại lực tác động): lOMoAR cPSD| 61630929
+) Trong số những người phạm tội nghiêm trọng được giám định tâm thần, 1 tỷ lệ cao iều
trị cho chấn thương ở đầu có tài liệu minh chứng rõ ràng.
+ Chấn thương đầu ở độ tuổi sớm rất có thể là nguyên nhân gây ra tổn thương nhỏ cho não
mà biểu thị ặc iểm cho các trẻ em trở thành người phạm tội sau này.
- Rối loạn động kinh:
+) Nếu các cấu trúc não tạo ra và chấm dứt các hvi gây hấn được kích hoạt bởi hoạt tính
iện tử bất thường, hvi gây hấn sẽ xảy ra.
+) Bệnh động kinh là 1 rối loạn trong đó 1 số nhỏ các tế bào não bị hư hại. Trong 1 số
trường hợp, tùy thuộc vào vị trí của các tế bào bị hỏng, sự lên cơn có thể tạo ra dạng hvi gây hấn.
+) Ngay cả khi những trường hợp tổn thương não là hiển nhiên, thì các yếu tố khác phi sinh
học (tầng lớp xã hội, học tập, chức năng gia đình) vẫn góp phần vào sự phát triển của hvi gây hấn.
- Rối loạn nội tiết: Chỉ 1 số phụ nữ phạm tội có thiên hướng xử sự gây hấn trong giai đoạn
và ngay trước giai đoạn hành kinh.
b. Các yếu tố sinh học gián tiếp liên quan đến hvi phạm tội:
- Các yếu tố gen: Có sự tồn tại của yếu tố di truyền trong việc xác định hvi phạm tội, tuy
nhiên, có trường hợp, yếu tố di truyền xuất hiện nhưng ko đủ để quyết định 1 người trưởng thành phạm tội.
→ Ko phải chỉ có 1 chuỗi tương tác nhân quả dẫn tới hvi phạm tội của người trưởng thành,
mà có các tương tác khác nhau.
- Nhiễm sắc thể: các kiến thức hiện nay về vai trò của yếu tố di truyền trong việc xác định
hvi phức tạp của người trưởng thành kết thúc 1 thời đại được đánh dấu bởi việc tìm kiếm
các bất thường của NST mà có thể gây ra tội phạm. - Các nghiên cứu về gia đình và song sinh:
+) Nghiên cứu cho rằng gia đình góp phần quan trọng trong việc xác định hvi phạm tội,
nhưng lại ko giúp tách biệt những yếu tố quyết định cụ thể của nó như học tập, tầng lớp xã hội, di truyền…
+) Các nghiên cứu về sự tương đồng giữa các cặp song sinh đối với hvi phạm tội đã được
thực hiện với nỗ lực nhằm khám phá ra liệu yếu tố di truyền có thể liên quan đến yếu tố
quyết định hvi phạm tội của người đã trưởng thành.
- Những tổn thương nhỏ ở não:
+) Các tổn thương nhỏ ở não phản ánh bằng các xét nghiệm bệnh học thần kinh và chỉ số
IQ có thể là do các loại chấn thương tới não bộ trong khi mang thai hoặc thời gian đầu đời.
+) Một dấu hiệu khác của tổn thương não ở trẻ nhỏ là sự hiện diện của động thái bồn chồn,
bốc đồng và khó khăn trong việc chú ý. lOMoAR cPSD| 61630929
- Chất hóa học thần kinh của não: 1 trong những mạch, trong đó sử dụng hợp chất hóa
học từ axit amin, là cơ sở cho việc bốc đồng, hvi hung hăng.
- Các yếu tố tâm sinh lý:
+) 1 số nghiên cứu gần đây chứng minh chức năng đặc biệt của hệ thống thần kinh tự trị
25 trong 1 số tội phạm nam giới.
+) Các nghiên cứu về điện cực (hoạt động điện của các tuyến mồ hôi ở da) cho thấy sự
phục hồi chậm tỷ lệ cơ bản được đo ở các bé trai liên quan đến việc phạm tội và sự gây
hấn, trong khi các tội phạm nam giới đã trưởng thành thì nó dự đoán tái phạm.
- Các yếu tố nội tiết: hệ thống thần kinh tự trị là hệ thống kiểm soát các hoạt động ko cố
ý, chẳng hạn như hoạt động của tim và các tuyến, quá trình hô hấp và tiêu hóa, các phản
xạ. Các hệ thống thần kinh tự trị gồm các bộ phận của hệ thống thần kinh ngoại vi và
trung ương trong đó quy định các chức năng nội tạng.
+) Các trẻ em với mức adrenalin thấp đã được đánh giá bởi các giáo viên là hung hăng và hiếu động.
+) 1 số người phạm tội bạo lực có thể có nồng độ Testosterone (hormone giới tính nam)
tăng cao trong huyết thanh.
+) Mối liên hệ giữa hạ đường huyết và hvi gây hấn đã bị nghi ngờ.
3. Các yếu tố tâm lý trong nguyên nhân của tội phạm: -
Các yếu tố tâm lý trong các thuyết về tâm lý chủ yếu liên quan đến giải thích hvi ở
mức độ của cá nhân. Các thuyết về nhân cách hoặc thuyết về học tập xã hội được tạo ra để
giải thích hvi của 1 cá nhân trong 1 tình huống cụ thể. -
Gần như tất cả các nghiên cứu có thể được mô tả như 1 phản ánh của 1 trong 2 giả định giá trị:
+) Giả định về sự thiếu hụt của người phạm tội: các thuyết và sự can thiệp được đặt nền
tảng trên quan niệm rằng có 1 điều gì đó trái với tâm lý đối với người phạm tội. - Giả định
về các đặc điểm phân biệt: những người phạm tội khác với những người ko phạm tội, đặc
biệt là những tình trạng như bốc đồng và gây hấn, thù hằn. -
Nghiên cứu về những điểm thiếu hụt trong tâm lý của những người phạm tội hay
người có xu hướng phạm tội thì cũng cần chú ý cả những điểm tích cực của họ thì mới có
cái nhìn tổng thể và chính xác về mô hình hvi của những người này. Thêm vào đó, các
nghiên cứu tâm lý trong lý giải nguyên nhân của tội phạm cần hướng cả tới tầm quan trọng
tiềm ẩn của các yếu tố tình huống và môi trường ảnh hưởng đến hvi cá nhân. -
Động cơ phạm tội sẽ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tâm lý, bao gồm sự học hỏi trong
quá khứ và niềm tin của cá nhân, hoặc có thể đã được tiếp nhận 1 cách vô thức về hvi phạm tội. -
Các yếu tố tâm lý và sự khác biệt cá nhân liên quan đến nhân thân là điều quan trọng
hàng đầu trong mối quan hệ với cả nguyên nhân của tội phạm và sự kiểm soát của nó. -
Thông qua sự ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển nhân cách của mỗi cá nhân, các lOMoAR cPSD| 61630929
yếu tố tâm lý hình thành ở họ các ặc iểm, thuộc tính ổn định và bền vững giúp định hướng
nhận thức, cảm xúc, hvi trong từng tình huống cụ thể. -
Các yếu tố tâm lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành nhân cách tiêu cực
ở người phạm tội thông qua 3 nhóm yếu tố:
+) Các tiến trình tinh thần:
Thể hiện quá trình phát triển nhân cách con người được quy định bởi các yếu tố nội
tâm bản năng (Instinct), nhu cầu (need), xung đột vô thức (Unconscious conflicts)
và nhận thức (Cognitive). •
Cấu trúc nhân cách của con người được chia thành 3 phần: bản năng, bản ngã, siêu
bản ngã. Trong trạng thái hoạt động bình thường, cả 3 phần này kiềm chế, giải
phóng, dung hòa với nhau. Nhưng nếu 1 hoặc 1 số phần trên hoạt động quá yếu
hoặc quá mạnh sẽ nảy sinh hvi tiêu cực ở cá nhân, dẫn đến thực hiện hvi phạm tội. •
Các yếu tố nhận thức cho rằng quá trình trình nhận thức ảnh hưởng mạnh đến hvi
con người. Nhận thức sai lệch sẽ khiến thực tại bị diễn dịch méo mó, dẫn đến thực hiện tội phạm.
+) Các yếu tố hvi:
Sự hình thành và phát triển nhân cách chính là việc thành lập, duy trì hay sửa đổi 1
hệ thống các hvi trong suốt quá trình phát triển của cá nhân, thông qua việc tiếp xúc
với các kích thích tiêu cực từ môi trường, cá nhân học hỏi và hình thành hvi phạm tội. •
Hvi phạm tội được củng cố hay suy giảm là do hậu quả mà nó tạo ra trong môi trường. •
Tình huống cũng có vai trò quan trọng thúc đẩy hvi phạm tội.
+) Các yếu tố nhân cách:
Sự phát triển nhân cách là quá trình lâu dài, từ các yếu tố di truyền DNA đến hình
thành vỏ não, sau đó là các suy nghĩ, hvi ơn lẻ tập hợp thành thói quen và các nét
nhân cách dẫn đến kết quả là các kiểu nhân cách với các thuộc tính, khuynh hướng tâm lý ổn định. •
1 số kiểu nhân cách hướng ngoại (extraversion) (bốc ồng, liều lĩnh, mạo hiểm) có
mối liên hệ với tội phạm trẻ, kiểu thần kinh bất an (neuroticism) (lo lắng, lòng tự
trọng thấp, dễ xúc động) có mối liên hệ với tội phạm già và kiểu rối loạn tâm thần
(psychoticism) (ích kỷ, thiếu thấu cảm, lạnh lùng) có mối liên hệ với tất cả các hvi
phạm tội của người mang nhân cách này. •
Rối loạn nhân cách chống ối xã hội (Antisocial Personality Disorder) cũng được
xác định có mối liên hệ mạnh mẽ với hvi phạm tội.
+) Việc ứng dụng kiến thức về tâm lý nhằm lý giải cho hvi phạm tội ngày càng rộng
rãi và đã được minh chứng bằng nhiều nghiên cứu khác nhau ối với các loại tội phạm cụ thể: lOMoAR cPSD| 61630929 •
Tội phạm bạo lực: Hvi gây hấn và bạo lực có thể là kết quả của việc giải tỏa xung
đột vô thức, nhu cầu hoặc bắt nguồn từ bản năng chiến đấu của con người. 
Tội phạm tình dục:
+) Năng lực nhận thức - tri giác trong giao tiếp xã hội kém khiến 1 số người hiểu
sai lệch ý muốn của phụ nữ và ko thể kiềm chế trước kích thích nhỏ, kết quả là thực
hiện hvi tấn công tình dục.
+) Nhân cách trong tội phạm tình dục gồm: giận dữ (sử dụng nhiều hvi bạo lực, làm
nhục lên nạn nhân), khống chế (thường bắt cóc, giam cầm nhằm áp chế, kiểm soát
nạn nhân), bạo dâm (thích tra tấn, gây thương tích nặng cho nạn nhân nhằm đạt
được hưng phấn). Trong đó, 90% tội phạm tình dục thuộc giận dữ và khống chế. •
Chứng rối loạn tâm thần và tội phạm:
+) Rối loạn tâm thần phân liệt (schizophrenia spectrum disorders) có mối liên hệ
mạnh nhất với hvi bạo lực nghiêm trọng và dai dẳng, ặc biệt là đối với những người
đã có tiền sử biểu hiện hvi bạo lực trong quá khứ.
+) Người phạm tội mắc chứng rối loạn nhân cách chống đối xã hội (Antisocial
personality disorder), nếu là nam giới thì thường thực hiện bạo lực tập thể, chống
lại cảnh sát, tấn công tình dục để giải tỏa giận dữ, thù hận và hvi phạm tội rất dai
dẳng; nếu là nữ thì có xu hướng quan hệ tình dục bừa bãi, thiếu mục tiêu dài hạn,
kết hôn và ly hôn nhiều lần, thường phạm pháp với người quen. -
Tâm lý cộng đồng cũng góp 1 phần quan trọng trong nguyên nhân của tội phạm,
gồm 4 cấp độ: mức độ cá nhân, mức độ nhóm cá nhân, mức độ tổ chức và cấp độ thể chế
hoặc cộng đồng. Cách tiếp cận này sẽ cho chúng ta lý giải về các tội phạm “ko có nạn
nhân” như nghiện ma túy và mại dâm.
4. Các yếu tố xã hội trong nguyên nhân của tội phạm:
- Hậu quả khiến gia tăng tội phạm là giúp thỏa mãn nhu cầu nào ó (ăn, ở,...) hoặc tránh sự
khó chịu (nghèo đói, tan vỡ gia đình,...). Hậu quả khiến suy giảm hvi phạm tội là sự khó
chịu (bị lên án, bị bắt giữ, vào tù,...) hoặc loại bỏ cảm giác thỏa mãn (nạn nhân ko còn sợ
hãi, thành viên trong các nhóm tội phạm ko tôn sùng thủ lĩnh…). Căn cứ để xác định hậu
quả nào giúp thỏa mãn hoặc suy giảm hvi phải dựa trên chính cá nhân thực hiện hvi đó.
a. Khái quát các lý giải về nguyên nhân của tội phạm thông qua các yếu tố xã hội: -
Cấu trúc xã hội và tội phạm: Tội phạm là kết quả của vị trí cá nhân trong 1 cấu trúc xã hội.
- Cách tiếp cận này tập trung vào các iều kiện kinh tế và xã hội của ời sống: sự thiếu thống
nhất, sự khác nhau về cơ hội, phân biệt chủng tộc, vô tổ chức xã hội, sự thất bại cá nhân,
phương thức thay thế ể thành công, những giá trị văn hóa nhóm xung đột với những giá
trị được thừa nhận chung.
- Cách tiếp cận này giải thích tội phạm ở 3 nội dung: lOMoAR cPSD| 61630929
+) Nhấn mạnh yếu tố nhân khẩu học và địa lý của 1 nhóm người và chỉ ra sự thiếu tổ chức
xã hội chính là nguyên nhân chính của hvi phạm tội và nạn nhân hóa.
+) Chỉ ra sự thiếu hụt giữa mục tiêu thành công chung của xã hội và phương tiện để đạt được mục tiêu đó
→ Cá nhân ko đạt được thành công bằng các cách hợp pháp sẽ tìm ra phương án khác
(bất hợp pháp) để có được sự thành công trong kinh tế và sự công nhận của xã hội. +)
Xem xét nguồn gốc của tội phạm trong mối liên hệ với sự xung đột giữa các nhóm xã hội
khác nhau về việc hvi nào có thể được chấp nhận là hvi phù hợp được chấp nhận.
- Góc nhìn này nhấn mạnh tầm quan trọng của vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng trong mối liên
hệ đến xu hướng lựa chọn nạn nhân.
- Những mục ích được xem là hợp pháp bao gồm sự giàu có, địa vị xã hội, hạnh phúc cá
nhân đều là mong muốn của tất cả mọi người. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận các cách thức
chính thống để đạt được những mục tiêu trên như giáo dục, tài chính,... lại ko đồng đều
giữa các cá nhân trong xã hội
→ Tội phạm và các hvi phạm pháp có xu hướng gia tăng.
- Xung đột văn hóa chỉ ra rằng căn nguyên của sự phạm tội có thể được tìm thấy ở sự bất
đồng những nguyên tắc giữa các nhóm văn hóa khác nhau về những cái có thể chấp nhận
được hay những hvi đúng đắn, thích hợp.
- Quá trình xã hội và tội phạm: Tội phạm là kết quả của cả 1 quá trình xã hội đa dạng, đặc
biệt là sự học hỏi và xã hội hóa không phù hợp.
- Cách tiếp cận này nhấn mạnh vào vai trò của các mối quan hệ giữa các cá nhân, sức mạnh
của những ràng buộc xã hội, và các hậu quả của những phản ứng xã hội của cá nhân và
của nhóm ối với hvi lệch chuẩn khi họ tham gia phạm tội.
- Học thuyết quá trình xã hội:
+) Cho rằng mỗi người có ý định VPPL và tính cách phạm tội ko phải là tính cách bẩm sinh
của con người, mà được học theo trong sự tương tác với hvi khác và quá trình xã hội hóa
là kết quả ban đầu thông qua việc học tập.
+) Cho rằng đó là quá trình mà thông qua đó tính cách người phạm tội thu lại được, khái
niệm tự lệch chuẩn được thiết lập, và kết quả của hvi phạm tội là có hoạt động, kết thúc
mở và tiếp tục suốt cuộc đời 1 con người. - Các học thuyết khác:
+) Học thuyết học tập xã hội từ sớm đã nhấn mạnh vai trò của giao tiếp và xã hội hóa
trong việc thu ược các mẫu hvi phạm tội và các tiêu chuẩn giúp củng cố hvi đó → Cho
rằng tất cả mọi hvi học tập nhiều lần cùng 1 cách và tội phạm, như những dạng hvi khác, cũng được học tập.
- Có 2 loại xung đột văn hóa: một là xung đột chủ yếu phát sinh khi những xung đột văn
hóa căn bản diễn ra (ví dụ như tục bắt vợ là tục lệ của 1 vùng này ko thể thực hiện ở vùng
khác ko có tục lệ này nếu ko sẽ là hvi phạm pháp). Hai là, xung đột thứ yếu phát sinh khi
những văn hóa nhỏ bên trong 1 văn hóa lớn hơn và chúng bất đồng với nhau. +) Học lOMoAR cPSD| 61630929
thuyết dán nhãn chỉ ra đặc trưng nổi bật của sự phản hồi của xã hội đối với người phạm
tội → cho rằng phản ứng của xã hội về hvi lệch chuẩn là rất quan trọng liên quan đến xử sự phạm tội.
+) Nỗi xấu hổ khi tái hòa nhập nhấn mạnh hậu quả có khả năng tích cực của quá trình gán nhãn.
+) Học thuyết kiểm soát xã hội tập trung nhấn mạnh vào tầm quan trọng của sự liên kết xã
hội mà con người chia sẻ với những người quen thuộc và các cá nhân xung quanh họ →
xác định những nét đặc trưng của các cá nhân và môi trường giữ cho con người ko thực hiện hvi phạm tội.
- Xung đột xã hội và tội phạm: xung đột xã hội tạo ra tội phạm. Tội phạm là hậu quả của
xung đột giữa những nhóm người trong xã hội.
- Thuyết xung đột (nền tảng là học thuyết mác-xít): Tội phạm là 1 chức năng của cuộc
đấu tranh giai cấp. Hệ thống tư bản nhấn mạnh vào cạnh tranh và sự giàu có là thứ tạo ra
1 môi trường kinh tế và xã hội mà trong đó tội phạm là điều ko thể tránh khỏi. - Thuyết xung đột xã hội:
+) Nhấn mạnh vào kinh tế, xã hội, chính trị và ịa iểm phạm tội được gắn với bối cảnh. +)
Tội phạm và hvi phạm tội chính là kết quả của cuộc tranh cãi. Sự xung đột giữa các nhóm
xã hội góp phần tạo nên tội phạm.
- Tội phạm học cấp tiến đương thời cho rằng tội phạm bắt nguồn từ những điều kiện xã hội
đã trao quyền cho 1 bộ phận giàu có và có vị thế chính trị nhưng lại tước đi lợi ích của
nhóm người kém may mắn hơn.
- Tội phạm học cấp tiến dựa trên nền tảng học thuyết chính trị Mác-xít cho rằng sự bất bình
đẳng trong địa vị xã hội và sức mạnh kinh tế là những thứ đóng góp vào sự biến động của tội phạm.
- Tội phạm học phê phán tập trung vào phê phán những mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội.
- Tội phạm học bình quyền nam nữ nhận thấy sự bất bình đẳng tồn tại trong xã hội trong
sự phân biệt về giới.
- Tội phạm học hiện thực cánh tả hướng tới việc tranh cãi cái gọi là tội phạm “thực sự”. -
Tội phạm học hòa giải tán thành rằng sự giảm tội phạm là do việc hợp tác giữa sự nỗ lực
của cơ quan tư pháp và công dân mà họ phục vụ: Tác dụng kiểm soát tội phạm và công
dân phải gắn với nhau làm giảm bớt các vấn ề xã hội bao gồm cả tội phạm.
b. Các lý giải cụ thể về nguyên nhân của tội phạm thông qua các yếu tố xã hội làm cơ
sở cho các chương trình, chiến lược phòng ngừa tội phạm:
- Chương trình, chiến lược phòng ngừa tình huống phạm tội: (3 học thuyết).
+) Thuyết chu kỳ hoạt động: giúp giải thích hoàn cảnh cần thiết cho hvi phạm tội xảy ra.
+) Thuyết hoạt động thường xuyên cho rằng hầu hết hvi phạm tội được thực hiện bởi người lOMoAR cPSD| 61630929
phạm tội có động cơ chống lại 1 mục tiêu hoặc nạn nhân tiềm năng tại 1 thời gian và ịa iểm cụ thể.
=> Phòng ngừa tội phạm tình huống đề cập đến 2 yếu tố cuối cùng của phương trình này:
nó phục vụ để bảo vệ 1 mục tiêu hoặc nạn nhân tiềm năng thông qua các biện pháp làm
giảm cơ hội cho tội phạm xảy ra trong 1 thời gian và ịa iểm cụ thể.
=> Phòng ngừa tội phạm tình huống có liên quan với những người phạm tội chỉ trong chừng
mực các can thiệp làm giảm cơ hội ể ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của anh/cô ta.
+) Thuyết lựa chọn cơ hội hợp lý: lý giải về quyết định của người phạm tội và lập luận rằng
người phạm tội có những lựa chọn và quyết định trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện
1 hành động phạm tội, và do ó có thể bị ngăn cản. -
Phòng ngừa tình huống phạm tội ko hoàn toàn là tiền đề lý thuyết kinh tế của hvi
phạm tội, mà xem người phạm tội là người ra quyết định và tính toán những lợi thế và bất
lợi khi thực hiện 1 hvi phạm tội cụ thể. -
Phòng ngừa tình huống phạm tội cho thấy rằng ko phải tất cả người phạm tội đều
có 1 quá trình ra quyết định hợp lý khi họ dự định hoặc thực hiện 1 hvi phạm tội. - Tuy
nhiên, phòng ngừa tình huống phạm tội là tiền đề trên các giả định rằng nhiều người phạm
tội thực hiện 1 số hình thức của tư duy hợp lý sẽ cân nhắc những rủi ro tiềm tàng chống lại các lợi ích tiềm năng. -
Thuyết tìm kiếm người phạm tội: cho thấy những hvi có nguyên nhân từ cơ hội của
người phạm tội được kích thích bởi những tín hiệu được phát ra bởi môi trường vật chất. -
Môi trường xã hội và vật lý cung cấp những tín hiệu thiết lập các cơ hội cho hvi phạm tội
hoặc chống đối xã hội nhất định bằng cách giao cho cá nhân có hvi cơ hội có thể được tha
thứ trong các tình huống nhất định. -
Thuyết cửa sổ bị phá vỡ cho rằng nếu công an và xã hội nói chung ko xử lý những
hvi gây mất trật tự (say rượu, sử dụng ma túy,...) có thể dẫn đến nhận thức của những người
phạm tội tiềm năng rằng tội lỗi của họ sẽ được tha thứ, ko được chú ý và ko bị trừng phạt.
* Chiến lược, chương trình phòng ngừa tội phạm dựa trên sự phát triển xã hội:
- Tình trạng vô tổ chức và sự căng thẳng
- Những hvi phạm tội được coi là 1 sản phẩm của tình trạng vô tổ chức: 1 số người trong
xã hội có thể du nhập những chuẩn mực hay cách hành xử khác nhau vào trong 1 cộng
đồng, tuy nhiên những điều đó đôi khi ko phù hợp với những tập quán thông thường →
gây ra sự ko vững chắc trong xã hội, dẫn đến việc nhiều quy tắc xã hội ko được coi trọng,
bị phá bỏ và dẫn đến sự phát sinh tội phạm. * Nhóm khác biệt:
- Nhiều hvi xã hội có thể được học được trong quá trình lớn lên lOMoAR cPSD| 61630929
→ xu hướng phạm tội có thể được nuôi dưỡng nếu 1 cá nhân sống trong 1 môi trường mà
ở đó các hvi phạm tội có thể bị quan sát, được học bởi chính những cá nhân đó qua việc
tiếp xúc với những người khác, đặc biệt là từ những người phạm tội.
- Những hvi phạm tội thường xuất phát từ những cộng đồng thường xuyên coi thường PL
và bởi sự cô lập với những cộng đồng tuân thủ PL.
+) Học hỏi, bắt chước theo xã hội → Giống như thuyết khác biệt ở trên, thuyết bắt chước
cho rằng hvi phạm tội là do học được từ 1 môi trường sống ko tốt và hvi phạm tội thường
xuất phát từ việc quan sát những hvi phạm tội được thực hiện bởi người khác.
- Thuyết bắt chước giải thích hvi của con người dựa trên sự kết hợp của nhận thức,
hvi và tác động môi trường.
+)Thuyết này được đưa ra để giải thích hvi bạo lực của trẻ: bạo lực ko gắn liền với bất kỳ
cá nhân nào, thay vào đó hvi này chịu tác động từ gia đình, truyền thông, và môi trường
sống → những hvi gây hấn của trẻ là do học được thông qua 1 quá trình gọi là “mô hình
hóa hvi” mà khi đó trẻ em được “huấn luyện” để hành động 1 cách quá khích và sử dụng
bạo lực như 1 cách mô phỏng lại hvi của những người trưởng thành thể hiện sự hung hãn
và hành động 1 cách bạo lực.
- Các yếu tố kiểm soát, các yếu tố liên kết xã hội:
+) Học thuyết liên kết xã hội tranh luận rằng tội phạm ko cần động lực đặc biệt. Qua liên
kết xã hội, xã hội khuyến khích cá nhân từ bỏ sự ích kỷ của mình và tuân thủ các quy định
và chuẩn mực nhất định.
- Tình trạng vô tổ chức dùng để chỉ 1 trạng thái mà ở đó những quy tắc xử sự xã hội ko rõ
ràng hoặc ko được thực hiện bởi con người trong xã hội ó. Người tuân theo PL ko trở
thành nạn nhân của sự cám dỗ bởi hvi phạm tội vì sự tự kiểm soát trong nội tại của họ,
điều giúp họ kiềm chế sự cám dỗ chống đối xã hội. Sự tự kiểm soát cá nhân kém là do
những khiếm khuyết của quá trình xã hội hóa. - Có 4 yếu tố kiểm soát xã hội:
+) Sự gắn bó với cha mẹ, gia đình, và những định chế quan trọng như trường học hay cộng
đồng địa phương được xem như liên kết quan trọng nhất tự sự xã hội hóa tích cực của 1
đứa trẻ. Chất lượng và số lượng thời gian 1 ứa trẻ và cha mẹ dành cho nhau, cảm xúc của
họ đối với người kia, mức độ thân mật như sự liên kết và sự tương hỗ đại diện cho những
điểm then chốt của yếu tố gắn bó.
→ Mối quan hệ lỏng lẻo và sự gắn bó từ cha mẹ và gia đình ngầm phá hoại quá trình xã
hội hóa tích cực và cản trở tự kiểm soát, cũng như tăng tính bốc đồng, đặt cá nhân vào nguy
cơ cao của xu hướng lệch chuẩn hoặc tội phạm.
+) Sự cam kết là mức độ mà cá nhân thực sự thấy chính bản thân học có giá trị với xã hội.
Những người có cam kết với xã hội mất nhiều hơn khi họ thực hiện tội phạm hoặc hvi lệch
chuẩn. Thiếu sự cam kết với giá trị quy ước sẽ tăng nguy cơ cá nhân thực hiện các hvi VPPL và tội phạm. lOMoAR cPSD| 61630929
+) Sự tham gia đề cập đến khối lượng thời gian 1 người dành cho việc tham gia vào các
thiết chế xã hội quan trọng. 1 cá nhân tham gia sâu vào xã hội dân sự thì sẽ ít thời gian cho các hvi VPPL.
+) Niềm tin trong các giá trị và các chuẩn mực của xã hội, gồm cả sự tôn trọng PL. Nếu
niềm tin đó bị pha loãng hay mất đi thì 1 cá nhân sẽ rất có khả năng thực hiện các hvi phản
xã hội và hvi phạm tội.
* Chiến lược, chương trình phòng ngừa tội phạm dựa trên cộng đồng: -
Xuất phát từ giả thuyết về sự mất đi tính gắn kết trong cộng đồng tại các đô thị trong
quá trình đô thị hóa, CNH-HĐH quá nhanh:
+) Xã hội đô thị hiện đại đang tạo ra các mối ràng buộc yếu hơn và hời hợt hơn giữa các cá
nhân, dẫn đến sự rã ám xã hội, gây nguy hiểm cho sự gắn kết xã hội và xã hội dân sự. +)
Sự phát triển của các khu đô thị và công nghiệp đã tác động tạo ra các thuyết cho rằng các
xã hội trở nên nhanh hơn trong đô thị hóa, CNH-HĐH và sự tương tác cá nhân và phi chính
thức giữa con người được thay thế bằng các mối quan hệ phi cá nhân và có tính pháp lý. -
1 học thuyết quan trọng khác cho rằng sự mất đi của cộng đồng xã hội gắn kết góp
phần gây ra tội phạm và rối loạn ở xã hội phương Tây → Học thuyết về tội phạm và rối
loạn bàn luận rằng quy mô và sự phức tạp của hàng loạt xã hội đã cướp đi của các cá nhân
ở khu vực thành thị sự gắn kết vững bền. -
Di sản lý thuyết chủ đạo của phòng ngừa tội phạm trên nền tảng cộng đồng bắt
nguồn từ khi mà các nhà TPH trường phái Chicago kết nối mối quan hệ giữa hvi phạm tội và xã hội bấy giờ.
5. Mối liên hệ giữa yếu tố xã hội, tâm lý và sinh học trong lý giải nguyên nhân của tội phạm:
- Các yếu tố xã hội, sinh học tiêu cực chỉ có vai trò gián tiếp trong hình thành hvi phạm tội
thông qua việc gây ra các yếu tố tâm lý tiêu cực khiến hình thành nhân cách tiêu cực ở
người phạm tội và thúc đẩy họ thực hiện tội phạm.
- Các yếu tố nguy cơ trong môi trường xã hội khiến tăng khả năng cá nhân gặp những vấn
đề về tâm lý tiêu cực.
- Các yếu tố nguy cơ về trạng thái sinh học:
+) Di truyền: có mối liên hệ giữa yếu tố di truyền, gen với hvi phạm tội
+) Các yếu tố nguy cơ trong môi trường xã hội là: nghèo đói (tình trạng thiếu nguồn lực cơ
bản để duy trì cuộc sống); sự từ chối bởi các nhóm ngang hàng (ko được bạn bè, anh em
cùng lứa tuổi cho gia nhập); thiếu chăm sóc tích cực trong thời thơ ấu (giai đoạn 35 tuổi ít
được quan tâm, hỗ trợ); thất bại trong học tập ( đạt thành tích học tập kém và ko hòa nhập
trong môi trường học tập); các yếu tố bất lợi từ gia đình (sống trong gia đình thiếu hạnh
phúc, bạo lực gia đình, bố/mẹ nuôi con đơn thân, phương pháp nuôi dạy sai lệch, thiếu
kiểm soát của cha mẹ, chịu ảnh hưởng tiêu cực từ anh chị em).
+) Tâm sinh lý: có mối liên hệ giữa phản ứng điện cực (tuyến mồ hôi dưới da), nhịp tim
thấp với hvi phạm pháp ở tuổi vị thành niên. lOMoAR cPSD| 61630929
+) Tâm thần kinh: sự suy giảm chức năng điều hành ở não và chấn thương não có liên quan
đến hvi hung hăng, bốc ồng ở trẻ em;
+) Nội tiết tố (hormone) và chất dẫn truyền thần kinh: có mối liên hệ giữa mức ộ Adrenalin
(nội tiết tố hưng phấn hoặc lo âu), testosterone (nội tiết tố giới tính nam), serotonin với các
rối loạn tâm lý và hvi bạo lực, bốc ồng ở tội phạm vị thành niên.
- Các yếu tố nguy cơ về xã hội hoặc sinh học thúc đẩy việc hình thành nhân cách tiêu cực
ở người phạm tội, thông qua việc gây ra các yếu tố tâm lý tiêu cực như: thiếu sự gắn bó,
suy giảm nhận thức và ngôn ngữ; suy giảm chỉ số thông minh,...
⇒ Nhìn chung, các yếu tố tâm lý là hệ quả trung gian giữa các yếu tố xã hội, sinh học đối
với cá nhân người phạm tội. Thông qua các yếu tố tâm lý, nhân cách tiêu cực của tội phạm
được hình thành, dẫn đến thực hiện tội phạm ở họ.