



















Preview text:
Chương 5: BẢO HIỂM
Danh mục các từ viết tắt BH: Bảo hiểm BHXH: Bảo hiểm xã h i ộ
BHTM: Bảo hiểm thương mại BHYT: Bảo hiểm y tế
BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp NLĐ: Người lao động * GIỚI THIỆU CHƯƠNG
Ngày nay nhu cầu được đảm bảo an toàn càng trở nên
quan trọng đối với mọi chủ thể
trong xã hội. Do đó, hoạt ộng đ
bảo hiểm đã thu hút được sự quan
tâm và tham gia của nhiều tổ
chức và cá nhân trong xã hội. Với mục đích giúp cho người học có được cái nhìn tổng quát về
hoạt động bảo hiểm, nội dung của chương sẽ đề cập đến các ấn v đề cơ ản b về ả b o hiểm như sự
cần thiết khách quan, đặc điểm và vai trò của bảo hiểm. Trên cơ sở đó, phần tiếp theo của
chương sẽ nghiên cứu về hai loại hình bảo hiểm là bảo hiểm kinh doanh và bảo hiểm xã hội.
* TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG
Cô Lan được một người bạn khuyên nên tham gia bảo hiểm nhân thọ để đề phòng rủi ro về sức kh e
ỏ cho bản thân và các thành viên trong gia đình. Cô đang rất băn khoăn về việc có nên
tham gia bảo hiểm như lời người bạn giới thiệu hay không vì cô chưa hiểu rõ bảo hiểm nhân thọ
là gì? Sản phẩm bảo hiểm này có khác gì với bhxh mà cô đang tham gia cũng như những lợi ích
bảo vệ mà cô và gia đình sẽ nhận được khi tham gia loại hình bảo hi ểm này? * MỤC TIÊU:
- Hiểu được sự cần thiết khách quan , khái niệm, các đặc điểm, các hình thức và vai trò
của bảo hiểm trong nền kinh tế
- Nắm vững khái niệm bảo hiểm thương mại, nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương
mại, các yếu tố cơ bản của hợp đồng bảo hiểm thương mại và các l ại hình bả o o hiểm thương mại.
- Nắm vững khái niệm bảo hiểm xã hội, các nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội,
các đối tượng và chế độ ả
b o hiểm xã hội, cơ chế hình thành và sử ụng quỹ d ả b o hiểm xã hội 3
- Vận dụng các kiến thức học để giải thích, phân tích và đánh giá thực trạng các hiện
tượng tài chính trong quá trình tạo lập, phân phối và sử ụng các quỹ d
bảo hiểm trong nền kinh tế. * NỘI DUNG:
5.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM
5.1.1.1. Khái niệm của bảo hiểm
Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình
hình thành, phân phối và sử d ng qu ụ ỹ b o hi ả ểm nhằm đ m b ả
o cho quá trình tái s ả ản xuất và đời
sống của con người trong xã hội được ổn định và phát triển bình thường trong điều kiện có
những biến cố bất lợi xảy ra.(theo TS. Vũ Xuân Dũng (2012), Giáo trình Nhập môn Tài chính –
Tiền tệ, NXB thống kê)
5.1.1.2 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm trong nền kinh tế
Trong đời sống xã hội, các chủ thể t hường xuyên có mối quan hệ tác ộng đ qua lại với tự
nhiên và xã hội để tạo ra những sản phẩm, những giá trị cần
thiết cho sự tồn tại và phát triển của
mình. Trong quá trình đó, những biến cố bất lợi xảy ra gây tổn thất, thiệt hại cho quá trình sản
xuất kinh doanh và đời sống con người được gọi là những rủi ro.
Các rủi ro có thể xảy ra đối với các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm:
- Đối với đời sống dân cư
Trong cuộc sống, con người vẫn phải phụ thuộc v
ào thiên nhiên. Sự biến đổi của tự nhiên
thường làm cho con người gặp phải những rủi ro khó lường trước như bão lụt, hạn hán, động đất,
hỏa hoạn, sóng thần, ...Mặc dù họ đã thực hiện các biện pháp phòng chống, bả ệ o v ằ b ng cách
đắp đê chống lụt, xây dựng hệ thống thủy nông, dự báo
thời tiết, … nhưng các biến cố ấ b t lợi đó
vẫn có thể xảy ra và gây tổn thất thiệt hại. Khi xảy ra các thiệt hại, họ ả ph i tìm cách ắ kh c ph c ụ
thiệt hại, ổn định đời sống bằng các biện pháp khác nhau như đi vay, xin cứu trợ,… nhưng các
biện pháp này có nhiều hạn chế và
mang tính tạm thời. Vì vậy, song song với các biện pháp
phòng tránh rủi ro, một biện pháp hữu hiệu là con người dành một phần thu nhập từ lao động của
mình tích lũy, đóng góp hình thành quỹ tiền tệ đủ lớn để có thể bù ắ
đ p kịp thời những thiệt hại
khi rủi ro xảy ra nhằm ổn định cuộc sống.
Ngoài ra, trong quá trình lao động sản xuất, con người có thể gặp phải những rủi ro khách
quan mang tính chất xã hội như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp...làm cho
họ mất khả năng lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn, làm giảm hoặc mất đi thu nhập của họ. Khi
đó, họ cần có nguồn tài chính để bù đắp phần thu nhập bị giảm và trang trải các chi phí phát sinh 4
nhằm ổn định cuộc sống bản thân, gia đình người lao ộng. đ Nhận thức được ấn v đề này, từng cá
nhân đã dành một phần thu nhập của mình để lập nên quỹ dự trữ bảo hiểm.
- Đối với các đơn vị s n xu ả t, kinh doanh: ấ
Các hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế cũng luôn tiềm
ẩn các rủi ro khó lường. Sự biến đổi bất lợi của tự nhiên như bão lụt, động đất, sóng thần… có
thể làm cho sản xuất ngưng trệ, gây tổn thất thiệt hại đến tài sản của các chủ thể kinh doanh. Mặt
khác, các hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể còn có chịu tác động của các rủi ro khác
như mất trộm, mất cắp, tai nạn lao động, tai nạn giao thông,… khi đó, cũng đòi hỏi phải có biện
pháp tài chính để phòng ngừa và bù đắp những tổn thất thiệt hại để ổn định sản xuất kinh doanh.
Ngoài các rủi ro mang tính chất tự nhiên và xã i
hộ , các chủ thể kinh doanh còn chịu tác
động bởi các quy luật kinh tế khách
quan trong nền kinh tế thị trường như: quy luật giá cả, quy
luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Các quy luật này có thể mang
đến những cơ hội kinh doanh
nhưng cũng có thể tiềm ẩn các rủi ro. Do đó cần thiết phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa
tài chính dưới các hình thức lập quỹ dự phòng, tham gia các hình thức bảo hiểm.
- Đối với Nhà nước:
Để thực hiện chức năng của Nhà nước là phát triển kinh tế và ổn định xã hội thì nhà nước
phải có quỹ dự trữ để đ
ảm bảo vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước sẽ dùng quỹ này để
can thiệp vào nền kinh tế mỗi khi có sự biến động bất lợi cho nền kinh tế vĩ mô. Như vậy, sự tồn
tại của bảo hiểm là một tất yếu khách quan đối với vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước.
Như vậy, việc tạo lập và sử ụng quĩ d
dự trữ bảo hiểm là một nhu cầu tất yếu, nhằm phòng
ngừa tạo nguồn bù đắp tổn thất và đảm bảo cho nền kinh tế xã hội phát triển bình thường trong
điều kiện có những biến cố ấ
b t lợi xảy ra. Người ta thường ví cuộc sống không có bảo hiểm
giống như "cầu thang không có tay vịn". Bảo hiểm đã thực sự đi vào từng lĩnh vực c a ủ đời sống
kinh tế - xã hội với các sản phẩm hết sức phong phú, đa dạng. Ban ầu, đ các hoạt ộng đ bảo hiểm
ra đời chủ yếu là do nhu cầu ổn định sản xuấ kinh doanh và đời sống con người, với chức năng
chủ yếu là phòng ngừa, tạo nguồn tài chính để ắ kh c ph c
ụ những rủi ro hoặc tai nạn bất ngờ.
Ngày nay, các tổ chức bảo hiểm còn hoạt động với vai trò như một tổ chức tài chính trung gian,
thực hiện chức năng thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội, góp phần đáp ứng nhu cầu v n ố của nền kinh tế.
5.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm
Việc nghiên cứu đặc điểm của bảo hiểm có ý nghĩa thiết thực trong việc quản lý, tổ chức
triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm. Bên cạnh đó, điều này còn có ý nghĩa quan trọng trong việc 5
chọn lựa và kiểm soát phương thức tạo lập và phân phối sử ụng d
quỹ bảo hiểm. Bảo hiểm có hai
đặc điểm cơ bản như sau:
- Bảo hiểm là m t hình th ộ
ức dự trữ tài chính nhằm bù đắp và kh c
ắ phục những t n th ổ ất
thiệt hại đối với sản xuất kinh doanh và đời sống con người khi những biến cố ấ b t lợi xảy ra.
Cũng như các quỹ tiền tệ khác, quỹ
bảo hiểm được tạo lập thông qua quá trình phân phối
của cải xã hội dưới hình thái giá trị, việc tạo lập quỹ có thể dưới nhiều hình thức khác nhau như
bắt buộc hay tự nguyện, tự bảo hiểm hay bảo hiểm thông qua một tổ chức bảo hiểm,... nhưng tất
cả đều xuất phát từ nhu cầu cần được đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất kinh doanh và đời
sống của con người trước những tác động của rủi ro. Chính vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu của
người tham gia bảo hiểm, việc phân phối sử dụng quỹ ả
b o hiểm phải đảm bảo chi trả, bồi thường
tổn thất thiệt hại khi có những biến cố bất lợi xảy ra đối với đố ợng bả i tư o hiểm.
Cùng với sự phát triển của ền kinh n tế - xã hội, ả
b o hiểm đã trở thành một loại hình dịch
vụ tài chính đặc biệt. Sản ẩ
ph m bảo hiểm là sự đảm bả ề
o v mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo hiểm.
- Bảo hiểm vừa mang tính chất b i hoàn v ồ
ừa mang tính ch t không b ấ i hoàn ồ
Trong thời gian được bảo hiểm, nếu rủi ro không xảy ra hoặc có xảy ra nhưng không gây
thiệt hại ảnh hưởng đến đối tượng bảo hiểm thì người bảo hiểm không phải bồi thường hay trả
tiền cho bên mua bảo hiểm. Ngược lại, nếu xảy ra sự cố, đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại hoặc bị
ảnh hưởng thì bên mua bảo hiểm sẽ được chi trả, bồi thường. Như vậy, quan hệ giữa tổ chức bảo
hiểm và người tham gia bảo hiểm trên thị trường vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính
chất không bồi hoàn. Đặc điểm này đã tạo ra tính nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm, nguồn tài chính này
thường được các công ty bảo hiểm sử ụng để d đầu tư nhằ
m bảo toàn và phát triển quỹ bảo hiểm.
5.1.2 Các hình thức bảo hiểm Cùng với sự phát
triển kinh tế - xã hội, hoạt động bảo hiểm ngày càng đa dạng, phong
phú. Dựa trên các tiêu thức phân loại khác nhau, có nhiều hình thức bảo hiểm khác nhau:
a. Căn cứ vào phương thức xử lý rủi ro
Thứ nhất, căn cứ vào phương thức xử lý rủi ro, bảo hiểm được chia thành 2 loại: Tự bảo
hiểm và bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm.
- Hình thức thứ nhất là Tự bảo hiểm: là hình thức bảo hiểm mà các t ổ chức, cá nhân thành lập các ỹ
qu riêng để bù đắp các tổn thất có thể xảy ra đối với quá trình sản xuất và đời sống của
mình. Trong giới hạn thu nhập hay lợi nhuận của mình, cá nhân hay tổ chức có thể trích mộ t tỷ lệ nhất định từ thu
nhập của mình để lập quỹ tiền tệ với mục đích ự
d phòng cho các rủi ro. Hoạt 6
động này gần giống như hoạt động tiết kiệm nhưng yêu cầu tính thanh khoản phải cao hơn và
đảm bảo nguồn tài chính nhất định để ử
x lý kịp thời các rủi ro.
- Hình thức thứ hai là Bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm: là hình thức bảo hiểm
mà các chủ thế có nhu cầu bảo hiểm chuyển giao phần lớn hay phân tán rủi ro cho các tổ chức
bảo hiểm mà bản thân họ không muốn hoặc không đủ khả năng để tự gánh chịu rủi ro đó thông
qua việc trích nộp một phần thu nhập của mình cho các tổ chức bảo hiểm dưới dạng phí bảo
hiểm. Trên thực tế, hình thức bảo hiểm này được biểu hiện thông qua các tổ chức bảo hiểm
chuyên nghiệp như các công ty bảo hiểm, tập đoàn bảo hiểm và tổ chức bảo hiểm xã hội.
b. Căn cứ vào mục đích hoạt động
Thứ hai, căn cứ vào mục đích hoạt động, bảo hiểm được chia thành 2 loại: Bảo hiểm có
mục đích kinh doanh và bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh.
- Bảo hiểm có mục đích kinh doanh: là hình thức bảo hiểm do các tập đoàn, các công ty
bảo hiểm tiến hành nhằm mục tiêu lợi nhuận, họ tìm kiếm lợi ích kinh tế trên cơ sở thu phí bảo hiểm và cam ế k t thực hiện bồ ờng hoặ i thư ả
c tr tiền bảo hiểm cho người mua. Các tổ chức thực hiện hoạt ộng đ
bảo hiểm với mục đích kinh doanh cung ứng các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm trên thị trư
ờng để tìm kiếm lợi nhuận và phát triển. Hoạt động của các tổ chức này bị chi phối bởi Các
quy luật của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Do đó, họ không
những phải chú ý đến chất lượng dịch ụ,
v thị hiếu, nhu cầu của khách hàng mà còn
phải chú ý tới giá cả của sản phẩm dịch vụ cung cấp.
- Bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh là hình thức bảo hiểm do các chủ thể tiến hành
không nhằm mục tiêu lợi nhuận, hướng đến việc đảm bảo an sinh xã hội, đảm bảo phúc lợi xã
hội, vì lợi ích và quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội và của cả cộng đồng. Việc hình thành và sử ụng d
quỹ dự trữ tập trung của Nhà nước, quỹ BHXH, quỹ dự trữ, dự phòng của các
gia đình cũng vì mục tiêu an toàn, ổn định sự phát triển của nền kinh tế, của từng doanh nghiệp,
từng hộ gia đình hay cá nhân cũng là những hình thức bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh.
5.1.4 Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế
- Bảo hiểm góp ph n
ầ ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống con người
Trong bảo hiểm thương mại, khi các tổ chức kinh tế gặp phải những rủi ro, trách nhiệm chi trả, i
bồ thường cho người được ả
b o hiểm là yêu cầu bắt buộc đối với người bảo hiể ờ m. Nh
vào những khoản chi trả, bồi thường này mà các cơ sở sản
xuất kinh doanh có thể xây dựng lại
cơ sở vật chất, mua lại các máy móc thiết bị đã bị hư ỏng, h mất mát,... để có thể tiếp tục hoạt
động. Trong bảo hiểm xã hội, nhờ vào các khoản trợ cấp, i
bồ thường trong trường hợp ốm đau,
tai nạn, không còn khả năng
lao động hay mất việc làm ...mà người lao động có thể khắc phục 7
khó khăn, ổn định đời sống, đồng thời góp phần giảm bớt gánh nặng về mặt tài chính cho tổ chức
sử dụng lao động. Trong trường hợp người lao động bị chết, thân nhân của họ sẽ nhận được một
khoản tiền hỗ trợ từ tổ chức ả
b o hiểm xã hội. Khi về hưu tổ chức ả
b o hiểm xã hội sẽ chi trả
lương hưu và hỗ trợ các chi phí y tế, chăm sóc sức ỏe,... kh
Trong mọi hoạt động bảo hiểm người
tham gia bảo hiểm có thể khắc ụ
ph c kịp thời những tổn thất vật chất do rủi ro tai nạn gây ra một
các nhanh chóng nhất, sớm hồi phục sức khỏe, ổn định đời sống để tiếp tục quá trình học tập, lao
động, sinh hoạt bình thường. Như vậy, thông qua việc sử dụng quỹ ả
b o hiểm đã được tạo lập để
bồi thường, chi trả kịp thời, chính xác những tổn thất vật chất cho người tham gia bảo hiểm. Do
vậy, bảo hiểm đã góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống của người tham gia bảo hiểm.
- Bảo hiểm góp ph n phòng tránh, h ầ ạn chế r i ro t ủ n th ổ t ấ
Đứng trên giác độ lợi ích của các tổ chức bảo hiểm, việc tổ chức tốt các biện pháp đề
phòng, hạn chế tổn thất có hiệu quả sẽ giảm
được khoản chi phí bồi thường, trả tiền bảo hiểm,
đảm bảo an toàn cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Để tổ chức tốt các biện pháp đề
phòng, hạn chế rủi ro tổn thất, các tổ chức bảo hiểm đã theo dõi, thống kê tình hình tai nạn, tổn
thất, xác định những nguyên nhân chủ yếu gây ra tai nạn. Trên cơ sở đó, tổ chức bảo hiểm phối
hợp với các cơ quan hữu quan để đề xuất, hỗ trợ về tài chính và tổ chức t ự h c hiện các biện pháp
đề phòng có hiệu quả nhất, nhằm giảm thấp nhất mức tổn thất có thể xảy ra.
Đứng trên giác độ người tham gia bảo hiểm, ngoài trách nhiệm phải đóng góp đầ đủ y phí
bảo hiểm, họ còn phải thực hiện tốt trách nhiệm đề phòng hạn chế tổn thất, thông báo tình hình
và diễn biến tai nạn, tổn thất để có
biện pháp ngăn chặn kịp thời. Nếu không, để xảy ra tổn thất
trầm trọng thì có thể bị giảm mức bồi thường hoặc thậm chí tổ chức bảo hiểm có quyền từ chối
nghĩa vụ bồi thường nếu rủi ro xảy ra không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
Đối với bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, các tổ chức quản lý phải thường xuyên kiểm
tra an toàn trong các doanh nghiệp nhằm phòng tránh tai ạn n
xảy ra. Trong trường hợp các đơn
vị này thực hiện không tốt các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh dịch tễ thì có thể áp
dụng các biện pháp xử ạt
ph và truy tố trước pháp luật. Tổ chức ả
b o hiểm xã hội còn hỗ trợ các đơn vị sử ụng d
lao động thực hiện các biện pháp an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp, xây
dựng các trại điều dưỡng nghỉ ngơi để
cải thiện, nâng cao sức khỏe cho người lao động.
Về phía Nhà nước, đảm bảo ổn định phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân là nhiệm vụ củ
a bất cứ Nhà nước nào, vì vậy, việc hình thành và phát triển các hình thức ả b o
hiểm là những giải pháp tích cực giúp cho Nhà nước giảm được nguồn kinh phí dành để đầu tư cho các m c
ụ tiêu khác, đồng thời vẫn đảm bảo được mục tiêu về phát triển kinh tế, chăm só c sức khỏe nhân dân. 8
- Bảo hiểm góp ph n cung ầ ứng v n cho phát tri ố
ển kinh tế - xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm không chỉ là tấm lá chắn kinh tế cho quá t rình sản
xuất kinh doanh và đời sống của con người trước những rủi ro, mà nó còn hoạt động với tư cách
là các tổ chức tài chính trung gian để đầu
tư phát triển kinh tế - xã hội. Các tổ chức bảo hiểm
thường sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hình thành từ thu phí bảo hiểm của mình để đầu
tư, chính vì vậy mà các tổ chức bảo hiểm được coi là một định chế tài chính trung gian, bên cạnh
các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, ...
Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cũng góp phần tạo ra một nguồn vốn quan trọng thông
qua việc thu phí bảo hiểm từ người lao ộng đ và người sử ụng d
lao động. Khi chưa sử ụng d đến,
phần quỹ này sẽ được đầu tư trên thị trường tài chính, nhằm bảo toàn và phát triển quỹ. Quỹ bảo
hiểm xã hội còn là một nguồn tiết kiệm quan trọng, tiết kiệm từ ả
b o hiểm xã hội là chênh lệch
giữa thu và chi bảo hiểm xã hội, góp phần quan trọng vào tiết kiệm của mỗi quốc gia.
5.2 BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI
5.2.1 Khái niệm và nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại
5.2.1.1. Khái niệm
Bảo hiểm thương mại (BHTM) là hình thức b o hi ả
ểm do các tổ chức kinh doanh bảo
hiểm tiến hành trên cơ sở huy động sự đóng góp của các chủ thể để tạo l p qu ậ
ỹ bảo hiểm, phân
phối và sử dụng chúng để trả tiền bảo hiểm, bồi thường những tổn thất cho các đối tượng được
bảo hiểm khi các rủi ro được bảo hiểm x y ra. ả
5.2.1.2 Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại
Hoạt động của bảo hiểm thương mại do các tổ chức tiến hành nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Tuy nhiên, đây là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt nên ngoài những nguyên tắc chung áp dụng
cho doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh bảo hiểm cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ ản sau: b - Nguyên t c sàng l ắ
ọc rủi ro: các tổ chức bảo hiểm sẽ sàng lọc những rủi ro nghiêm trọng
và tập hợp thông tin có hiệu quả để
đảm bảo lợi nhuận của mình. Không phải bất cứ rủi ro nào
dẫn đến những tổn thất thiệt hại cũng được tổ chức bảo hiểm chi trả mà họ sẽ sàng lọc và giới
hạn những loại hình rủi ro nhất định để cung cấp sản phẩm bảo hiểm phù hợp nhằm đem lại hiệu
quả kinh doanh. Thông thường, các tổ chức ả
b o hiểm tiến hành xác định những rủi ro nào cần
phải loại trừ ra khỏi phạm vi bảo hiểm, những rủi ro nào có thể chấp nhận bảo hiểm. Trong các
trường hợp chấp nhận các rủi ro cụ thể thì
cũng phải có sự phân nhóm để thực hiện các hình thức
bảo hiểm phù hợp, trên cơ sở đó mới có thể xác định phí bảo hiểm và trả tiền bảo hiểm một cách
hợp lý và có hiệu quả. 9
- Nguyên tắc định phí b o hi ả ểm phải trên ở
cơ s “giá” của các rủi ro: Các rủi ro rất đa
dạng, những tác hại của nó đối với quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống con người cũng rất
khác nhau. Vì vậy, các tổ chức ả
b o hiểm phải dựa trên cơ sở giá của các rủi ro hay cái giá phải
trả khi rủi ro xảy ra ể
đ định phí mới đảm bảo sự công bằng và hợp lý đối với người tham gia bảo
hiểm. Trên cơ sở của khoa học thống kê số lớn, nếu một rủi ro có xác suất xảy ra lớn, thiệt hại
nhiều thì người nào muốn tham gia bảo hiểm cho những rủi ro đó sẽ phải trả phí cao và ngược lại
những rủi ro có xác suất xảy ra thấp, thiệt hại ít thì người tham gia bảo hiểm sẽ ả ph i nộp phí thấp.
- Nguyên tắc đảm b o an toàn ả . Trong b o hi ả ểm kinh doanh, t ch ổ
ức bảo hiểm thu phí bảo
hiểm trước còn các nghĩa vụ chi trả, bồi thường cho người được bảo hiểm chỉ diễn ra sau khi thu
phí bảo hiểm và rủi ro b o hi ả
ểm xảy ra. Tổ chức ả
b o hiểm được xem là con nợ đối với những
người tham gia bảo hiểm, cho nên vấn đề an toàn tài chính của tổ chức bảo hiểm luôn được đặt
lên hàng đầu. Do đó, trong quản lý bảo hiểm người bảo hiểm phải thận trọng ngay từ khi tiếp cận
khách hàng và ký kết hợp đồng bảo hiểm, như đánh giá rủi ro bảo hiểm, các điều kiện chấp nhận
bảo hiểm... để tránh các trường hợp sai sót, gian lận, cũng như bất cẩn của người tham gia bảo
hiểm. Mặt khác, trong hoạt động đầu tư, nguyên tắc đảm bảo an toàn cũng được các tổ chức bảo
hiểm quan tâm thực hiện nhằm bảo toàn và phát triển quỹ bảo hiểm đảm bảo khả năng chi trả trong tương lai.
- Nguyên tắc l y s
ấ ố đông bù số ít: Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức kinh doanh bảo hiểm
phải huy động sự tham gia của nhiều người, họ cùng đóng phí, với những mức đóng góp có thể
chấp nhận được để bù
đắp tổn thất của một số ít người ặp g
rủi ro. Dựa trên mức tổn thất, thiệt
hại, những người này thường sẽ nhận được ững nh
khoản tiền bồi thường khá lớn so với khoản
phí bảo hiểm đã đóng. Đây cũng là sự hấ ẫ
p d n đối với người tham gia bảo hiểm, bên cạnh lý do
về sự đe dọa của những rủi ro đối với cuộc sống của họ khiến họ đến với tổ chức bảo hiểm.
5.2.2. Các yếu tố cơ bản của hợp đồng bảo hiểm thương mại
Một hợp đồng BHTM thường đề cập đến các yếu tố chủ y ếu sau:
Thứ nhất, các bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm
+ Người bảo hiểm: Đây là Tổ chức đứng ra thiết kế sản phẩm, cung cấp dịch vụ ả b o hiểm
và chịu trách nhiệm xây dựng quỹ bảo hiểm thông qua hình thức thu bảo hiểm phí đồng thời chịu
trách nhiệm chi trả, bồi thường thiệt hại đối với người được bảo hiểm. Ví dụ: công ty bảo hiểm
Bảo Việt, Bảo Minh, Prudential, Manulife, Daichi,… 10
+ Người tham gia bảo hiểm: Là người trực tiếp ký kết hợp đồng với người bảo hiểm đồng
thời chịu trách nhiệm đóng bảo hiểm phí cho người bảo hiểm.
+ Người được bảo hiểm: Là người mà vì tài sản, trách nhiệm hay tính mạng, tình trạng
sức khoẻ của người này mà khiến người tham gia bảo hiểm đi đến quyết định ký kết hợp đồng
bảo hiểm với nhà bảo hiểm.
+ Người được chỉ định hưởng bồi thường bảo hiểm: là người được người tham gia bảo
hiểm chỉ định bằng văn bản sẽ được hưởng bồi thường bảo hiểm khi xảy ra rủi ro hoặc được
hưởng bồi thường bảo hiểm khi người tham gia bảo hiểm bị chết theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, Đối tượng bảo hiểm: là những đối tượng chịu tác đ ng ộ bởi rủi ro bảo hiểm,
từ đó có thể làm cho các đối tượng này bị thiệt hại, t n th ổ
ất. Ví dụ: Đối với bảo hiểm nhân
thọ, đối tượng bảo hiểm là sức khoẻ, tính mạng, khả năng lao đ ng c ộ a ủ con người;
Thứ ba, Rủi ro bảo hiểm và Tai n n ạ b o ả hiểm
+ Rủi ro bảo hiểm: Là những sự cố có khả năng xảy ra được quy định trong hợp đồng
bảo hiểm mà khi những sự cố này xảy ra nhà Bảo hiểm phải có trách nhiệm chi trả, bồi
thường tổn thất, thiệt hại.
+ Tai nạn bảo hiểm (sự kiện bảo hiểm): là sự cố bảo hiểm đã xảy ra kéo theo trách
nhiệm của người bảo hiểm phải bồi thường tổn thất cho người được bảo hiểm. Nói cách
khác, Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp l ậ u t quy định
mà khi sự kiện đó xảy ra thì tổ chức bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng
hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.
Thứ tư, Giá trị BH và s ti ố ền BH
+ Giá trị bảo hiểm: là khoản tiền hay giá trị của đố ợ
i tư ng được bảo hiểm theo thỏa th ậ u n mà người chủ sở ữ
h u đối tượng bảo hiểm và người bảo hiểm ghi tron ợ g h ồ p đ ả
ng b o hiểm để xác định
phí bảo hiểm và giới hạn trách nhiệm trả tiền bảo hiểm. Thông thường, giá trị tài sản cũng là giá trị
bảo hiểm của tài sản được bảo hiểm.
+ Số tiền bảo hiểm: là khoản tiền tính cho đố ợng bả i tư
o hiểm, mà trong giới hạn ấy nhà
bảo hiểm phải trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm khi tai nạn bảo hiểm xảy ra. Nói
cách khác, đây là số tiền được người bảo hiểm chấp thuận và được ghi trên hợp đồng bảo hiểm
nhằm xác định các quyền lợi bảo hi
ểm theo quy định hợp đồng.
Thứ năm, phí bảo hiểm: đây là số tiền mà ngườ i tham gia ả
b o hiểm phải đóng góp cho
người bảo hiểm về các đối tượng được bảo hiểm. 11
Ngoài ra, trong hợp đồng BH còn có một số ếu tố y khác như:
- Thời hạn hợp đồng: là khoảng thời gian được xác ịnh đ
để các bên thực hiện các quyền
và nghĩa vụ đã thỏa th ận u
trong hợp đồng. Khoảng thời gian này được tính từ thời điểm hợp
đồng phát sinh hiệu lực cho tới thời điểm xuất hiện các căn cứ ẫn đế d n chấm dứt hợp đồng.
- Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm: đây là quy định trường hợp doanh nghiệp
bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền giải quyết quyền lợi bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
5.2.3. Phân loại bảo hiểm thương mại
a. Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm
- Bảo hiểm tài sản: Đây là loại hình bảo hiểm có i tư đố
ợng bảo hiểm là giá trị các tài sản
thuộc mọi hình thức sở hữu. Mục đích của loại hình bảo hiểm này là nhằm thỏa mãn nhu cầu bồi
thường, chi trả vật chất cho người tham gia bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro hay sự cố bất ngờ như:
thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, mất cắp,… làm cho tài sản của họ bị hư
hỏng, mất mát hoặc bị tiêu
hủy toàn bộ. Mức tiền bồ ờng cho ngườ i thư
i tham gia bảo hiểm cao hay thấp tùy thuộc vào tính
chất của từng loại tài sản được bảo hiểm, phương thức bảo hiểm và mức ộ đ thiệt hại thực tế.
- Bảo hiểm con người (còn gọi là bảo hiểm thân thể): đây là hình thức bảo hiểm có đối
tượng bảo hiểm là sức khỏe, khả năng lao động và tính mạng của con người. M c ụ đích của loại
hình bảo hiểm này là nhằm thỏa mãn nhu cầu chi trả ề v ậ
v t chất cho người tham gia ả b o hiểm
khi gặp phải những sự cố bất ngờ làm giảm, làm mất khả năng lao động, thiệt hại về mặt sức khỏe, hay tử vong.
Bảo hiểm con người không chỉ có tác dụng phòng ngừa, hạn chế và khắc
phục kịp thời hậu quả nặng nề do rủ
i ro bất ngờ gây ra, đảm bảo cho đời sống con người ổn định,
mà còn thể hiện tinh thần nhân đạo, tính cộng đồng trong phòng ngừa khắc phục rủi ro.
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: là hình thức bảo hiểm mà đ i tư ố ợng bảo hiểm là phần
nghĩa vụ hay trách nhiệm dân sự của
người tham gia bảo. Mục đích của bảo hiểm trách nhiệm
dân sự là nhằm giải phóng người tham gia bảo hiểm thoát khỏi yêu cầ ả
u ph i bồi thường tổn thất
cho người khác do hành vi hoạt động của người tham gia bảo hiểm gây ra.
b. Căn cứ vào tính chất hoạt động
- Bảo hiểm bắt bu c
ộ : là hình thức bảo hiểm được pháp luật Nhà nước qui định bắt buộc
đối với cả người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Tính chất bắt buộc x ất phát từ u việc bảo
vệ lợi ích của cộng đồng xã hội trong đó có lợi ích của người tham bảo hiểm bắt buộc. Bảo hiểm
bắt buộc là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hi o hi ểm, mức phí bả ểm, số
tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và tổ chức ả b o hiểm có nghĩa vụ 12
thực hiện.Mục đích của bảo hiểm bắt buộc là nhằm hạn chế, phòng ngừa những rủi ro làm tổn
hại đến tài sản và đời sống của người tham gia bảo hiểm và của cả cộng đồng.
Hình thức bảo hiểm này được tiến hành theo qui định của pháp luật, các sản phẩm bảo
hiểm thuộc hình thức này đều có trong quy định bắt buộc phải bảo hiểm. Thông thường các sản
phẩm bảo hiểm này được thiết lập trên nguyên tắc trách nhiệm tự động như khi hành khách mua
vé tàu, vé xe, vé máy bay thì trong gia vé đã có cả phí bảo hiểm. Hành khách không được quyền
lựa chọn có tham gia bảo hiểm hay không. Ngoài ra, loại hình bảo hiểm này còn gắn với vai trò
quản lí Nhà nước vì nó liên quan đến lợi ích và an toàn chung của cả xã hội.
- Bảo hiểm tự nguyện: là loại hình bảo hiểm dựa trên nguyên tắc thoả thuận giữa người
tham gia bảo hiểm và người bảo hiểm.
Khác với hình thức bảo hiểm bắt buộc, hình thức bảo hiểm tự nguyện do người tham gia
bảo hiểm và người bảo hiểm tự lựa chọn và đi đến
ký kết hợp đồng bảo hiể ườ m. Ng i tham gia
bảo hiểm có tham gia bảo hiểm hay không phụ thuộc vào nhu cầu và khả năng tài chính của mình. Tổ chức ả
b o hiểm có nhận bảo hiểm hay không tuỳ thuộc vào khả năng bảo hiểm có hiệu
quả hay không. Hình thức bảo hiểm này chỉ có hiệu lực khi hợp đồng bảo hiểm đã được kí kết và
người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm.
Bảo hiểm tự nguyện là loại hình bảo hiểm mà người tham gia được quyền lựa chọn công
ty bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm, mức phí và quyền lợi bảo hiểm. Trong loại hình BH tự nguyện,
Các sản phẩm bảo hiểm được triển khai hoặc bán thông qua các doanh nghiệp bảo hiểm.
c. Căn cứ vào phương thức chi trả, b o hi ả
ểm thương mại g m có: ồ
- Bảo hiểm nhân th : ọ là loại hì
nh bảo hiểm tự nguyện nhằm bảo đảm toàn diện cho các
rủi ro liên quan đến sức ỏe, sinh mạng và đờ kh
i sống con người, như sức khỏe, tai ạn, n tuổi thọ,
tình trạng tài chính,… Khi sở hữu một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, nếu chẳng may khách hàng gặ ả
p ph i các rủi ro không mong đợi liên quan đến các điều khoản trong hợp đồng thì sẽ đượ c
doanh nghiệp bảo hiểm đền bù số tiền bảo hiểm như đã thỏa thuận.
Tuy nhiên, nếu trong quá trình tham gia bảo hiểm, khách hàng không gặp bất cứ rủi ro
nào thì sẽ được nhận một phần hoặc toàn bộ số
tiền bảo hiểm được quy định trong hợp đồng sau
khi kết thúc hợp đồng bảo hiểm đó. Điều này không chỉ thể hiện sự bảo đảm cho các rủi ro
không mọng đợi, mà còn là một khoản tiết kiệm cho các nhu cầu tài chính trong tương lai. Nói
cách khác, khi kết thúc hợp đồng nếu không có rủi ro, công ty bảo hiểm nhân thọ sẽ thực hiện chi
trả quyền lợi đáo hạn bằng tiền cho
khách hàng. Đó là khoản tích lũy từ phí bảo hiểm tham gia
và lãi suất/ lãi chia (nếu có) 13
- Bảo hiểm phi nhân th :
ọ là loại hình bảo hiểm tự nguyện
hướng tới con người và các
đối tượng liên quan đến con người, như tai nạn, sức ỏe, kh hàng hóa nhằm ả đ m bảo chi trả, bồi
thường tổn thất thiệt hai do các rủi ro ả b o hiểm gây ra.
5.3 BẢO HIỂM XÃ HỘI
5.3.1 Khái niệm và nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội
5.3.1.1. Khái niệm
Trong mỗi quốc gia, đảm bảo an toàn và ổ ịnh đờ n đ
i sống của người dân là một mục tiêu
lớn trong chính sách xã hội, thể hiện vai trò củ
a Nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh t ế - xã hội nhằm khắc ph c, ụ ạ
h n chế những khiếm khuyết của kinh tế thị trường. Bảo hiểm xã hội
chính là một chính sách xã hội của Chính phủ cá
c nước nhằm thực hiện mục tiêu công bằng xã
hội trong phân phối và đảm bảo sự ổn định trong xã hội.
Theo Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ban hành ngày 20/11/2014: Bảo hiểm xã
hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giả m
hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động
hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Theo Giáo trình “Nhập môn tài chính – Tiền tệ” của trường ĐHTM, do TS Vũ Xuân
Dũng làm chủ biện, NXB Thống kê 2012: Bảo hiểm xã hội là hình thức bảo hiểm do tổ chức
BHXH tiến hành dựa trên cơ sở huy ộ
đ ng sự đóng góp của các chủ t ể
h liên quan để tạo lập quỹ
BHXH, phân phối và sử ụng d chúng để bù đắp một ầ
ph n thu nhập cho người lao động và gia
đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động.
So với BHTM, BHXH hoạt ộng đ
không vì mục tiêu lợi nhuận, Quỹ BHXH là một quỹ
tiêu dùng, đồng thời là một quỹ ự
d phòng tài chính mang tính chất xã hội cao. Sự tồn tại của quỹ
BHXH không những là điều
kiện, cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo cho hoạt động của chính
sách xã hội của Nhà nước có hiệu quả mà còn làm cho chính sách đó tồn tại, phát triển với mục tiêu vì con người.
5.3.1.2. Nguyên t c ho ắ
ạt động của b o hi ả ểm xã h i ộ
Bảo hiểm xã hội là một công cụ thực hiện chính sách ã
x hội của Nhà nước, hoạt động của
bảo hiểm xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì quyền lợi, lợi ích của người lao ộng đ và sự
an toàn chung của cả cộng đồng. Để đảm bảo mục tiêu đó à v có sự công bằng trong xã ội, h hoạt
động của BHXH được t ực hiện theo các nguyên tắ h c cơ ản sau: b
- Nguyên tắc thứ nhất, Hoạt động của BHXH vì ền quy
lợi của người lao ộng đ và của cả
cộng đồng. Nói cách khác, BHXH hoạt ộng đ
không vì mục tiêu lợi nhuận. Do đó, các nôi dung 14
hoạt động của BHXH, các chế độ thu, chi BHXH phải hướng tới đảm bảo quyền lợi cho người
tham gia và lợi ích của cả cộng đồng.
- Nguyên tắc thứ hai, Quỹ BHXH là một
quỹ tiền tệ độc lập. Dựa trên nguyên tắc này,
trong quá trình hoạt ộng, đ
tổ chức BHXH phải có trách nhiệm đảm bảo sự cân ối đ thu chi, bảo
toàn và phát triển quỹ. Quỹ ả
b o hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh
bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của bảo
hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.
- Nguyên tắc thứ 3, Việc ình thành và h sử d ph ụng quỹ
ải tuân thủ các yêu cầu cơ bản sau:
+ Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm
xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
+ Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của
người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do
người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.
+ Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng
bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ
tử tuất trên cơ sở thời gian đã
đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian đóng BHXH đã được tính hưởng BHXH một lần thì không tính
vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH.
Ngoài ra, Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đả m kịp thời và
đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.
5.3.2. Nội dung hoạt động của bảo hiểm xã hôikj
5.3.2.1 Đối tượng và các chế b độ o hi ả ểm xã h i ộ
Ở hầu hết các nước, BHXH thường mang tính bắt buộc ố
đ i với các đối tượng có thu nhập
ổn định để giải quyết được một số rủi
ro chung. Phạm vi đối tượng BHXH chung nhất là thu nhập của ững nh
người làm công ăn lương trong toàn xã ội. h
Tuy nhiên, phạm vi đối tượng
BHXH tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Một số quốc gia ban à h nh chế độ BHXH chung cho tất cả cá c ố
đ i tượng lao động trong xã ộ
h i. Các nước đang phát triển
thương có đối tượng BHXH hẹp hơn, tập trung chủ ếu y
vào những người hưởng lương từ ngân
sách Nhà nước và những người làm công ăn lương ở khu
vực thành thị. Giới hạn mức lương
được bảo hiểm tối thiểu là mức lương tối thiểu ở quố
c gia, còn mức lương tối đa là mức lương
trung bình của quốc gia đó. 15
Điều kiện để hưởng BHXH là phải tham gia óng đ
góp vào quỹ BHXH. Tùy theo từng quốc gia mà quy định ề
v mức đóng và các chế độ trợ cấp của bảo hiểm xã ộ h i của mỗi quốc gia sẽ có ự x khác nhau. Theo công ước số 102 của tổ chức lao ộng đ
thế giới, BHXH bao gồm nhiều chế độ căn cứ à
v o chức năng của BHXH và chỉ quy định những điều kiện tối thiểu để cho mọi nước có thể
áp dụng vào thời điểm thích hợp. Có 9 chế độ
hưởng bảo hiểm xã hội bao gồm: 1. Chăm sóc y tế 2. Phụ cấ ốm đau p
3. Trợ cấp thất nghiệp 4. Trợ cấp tuổi già
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 6. Trợ cấp gia đình 7. Trợ cấp sinh đẻ 8. Trợ cấp khi tàn phế
9. Trợ cấp mất người nuôi dưỡng Tổ chức lao động c
quố tế khuyến khích mỗi nước thành viên thực hiện ít nhất 3 chế độ,
đặc biệt lưu ý chế độ 3, 4, 5, 8, 9.
Trong thực tế, chỉ có các nước công nghiệ á
p ph t triển và nhóm đầu các nước phát triển thực
hiện đủ 9 chế độ. Các nước còn lại thực hiện một số chế độ ù ph ợ h ớ
p v i hoàn cảnh kinh tế xã hội
của nước mình. Mức hưởng trợ c
ấp BHXH nói chung đếu thấp hơn mức lương khi đang làm việc.
Thực chất, BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp nhất là những nước c ó
nền sản xuất hàng hóa theo cơ chế kinh
tế thị trường. Đồng thời, nó cũng mang lại ý nghĩa thực
tiễn trong việc lựa chọn hình thức, cơ chế và mức độ thỏa mãn các nhu cầu BHXH phù hợp với
tập quán, khả năng thu nhập và định hướng phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước.
5.3.2.2. Cơ chế hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã h i ộ
a. Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp c a
ủ các bên: người sử ụng d lao động, người
lao động và các nguồn tài trợ khác (ngân sách Nhà nước hỗ trợ, các tổ chức và cá nhân ủng
hộ...), trong đó, nguồn tài chính chủ ếu từ y người sử ụng lao động và d người lao động. Cụ thể: 16
* Người sử ụng lao động có d
trách nhiệm đóng một phần BHXH cho người lao động theo
quy định của pháp luật. Khi người lao động gặp phải rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động hay hết
tuổi lao động sẽ được tổ chức BHXH trợ cấp, chi trả ựa trên số d
tiền đóng BHXH trước đó. * Người lao ộng đ có trách nhiệm óng đ
góp một phần thu nhập của mình để góp phần tạo
lập quỹ BHXH đồng thời tăng cường sự chia sẻ trách nhiệm trong đóng góp hình thành quỹ BHXH.
* Ngân sách Nhà nước hỗ trợ quỹ BHXH khi Quỹ BHXH bị mất cân đối nghiêm trọng.
Đây là trách nhiệm của Nhà nước vì những lý do sau: Thứ nhất, BHXH là công cụ quan trọng
trong tay Nhà nước nhằm thực hiện chính sách phân phối lại thu nhập trong xã ội, h góp phần ổn
định xã hội, đảm bảo an toàn xã hội. Thứ hai, các luật lệ về BHXH của Nhà nước sẽ là những
chuẩn mực về pháp lý mà cả giới chủ và giới thợ ải
ph tuân theo, những tranh chấp chủ thợ t rong
lĩnh vực BHXH có cơ sở ững chắ v c để giải quyế t. * Ngoài các ồn ngu
thu nêu trên, quỹ bảo hiểm xã hội còn có có thể các nguồn thu khác như:
- Tiền sinh lời từ các phương án bảo toàn và phát triển quỹ BHXH - Ti m
ền phạt do đóng BHXH chậ
- Thu từ ủng hộ của các t ổ chức và cá nhân...
b. Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
Việc chi trả từ quỹ BHXH là để thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho những người
tham bảo hiểm xã hội theo các chế độ ã
đ quy định trong luật bảo hiể ỹ m. Qu BHXH thực hiện chi trả các khoản trợ cấ à
p v chi phí cho người tham gia BHXH trong những trường hợp s au:
- Chi cho đối tương tham gia BHXH gặp phải các biến cố ã
đ quy định trong các chế độ chi trả, trợ cấp BHXH.
- Trang trải chi phí quản lý và một số các khoản chi khác.
5.3.3 Bảo hiểm xã hội ệt Nam Vi
5.3.5.1 Đối tượng tham gia của BHXH
Trước hết, về đối tượng tham gia BHXH. Người lao ộng đ
tham gia bảo hiểm xã hội bắt
buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:
- Người làm việc theo hợp
đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động
xác định thời hạn, ợp đồng h lao
động theo mùa vụ hoặc theo m t
ộ công việc nhất định có thời hạn 17
từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồ
ng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao
động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
- Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ
đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
- Cán bộ, công chức, viên chức;
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật
công an nhân dân; người làm công tác cơ ếu y hưởng
lương như đối với quân nhân;
- Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục v ụ
có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao ộng đ Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
*Đối với BHXH tự nguyện, Người tham gia ả
b o hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt
Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc ố
đ i tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc. Những người
làm nghề tự do như bác sĩ, luật sư, những buôn bán nhỏ, thợ thủ công, nông dân.. Những công
việc theo mùa vụ hoặc công việc có tính chất tạm thời khác.
Đối với BH thất nghiệp, Người tham gia BH thất nghiệp: Theo quy định của l ật lao động u
số 38/2013/QH13, điều 43, người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo
hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau:
- Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn;
- Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn;
- Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ 03 đủ
tháng đến dưới 12 tháng.
Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng lao động
quy định tại khoản này thì người lao động và người sử ụng d
lao động của hợp đồng lao động
giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp. 18
5.3.5.2 Các chế b độ o hi ả ểm xã h i ộ Theo luật BHXH số 58/2
014/QH13, các chế độ chi trả, trợ cấp BHXH gồm có:
- Đối với bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các chế độ sau: Trợ cấp ốm đau; Thai sản;
Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Hưu trí; Tử tuất.
- Đối với bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các chế độ: Hưu trí; Tử tuất.
Theo luật việc làm số 38/2013/QH13,
điều 42, bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các chế độ
sau: trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ học nghề; hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề để
duy trì việc làm cho người lao động
5.3.5.3 Quản lý quỹ b o hi ả ểm xã h i ộ a. Quỹ b o hi ả
ểm xã hội b t bu ắ c ộ
* Quĩ BHXH bắt buộc được hình thành từ các nguồn sau:
1. Từ người lao động: Hằng tháng, người lao ộng đ
đóng 8% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử
tuất; 1% BHTN và 1,5% BHYT, tổng là 10,5%
2. Từ người sử dụng lao động: Hằng tháng, người sử ụng d
lao động đóng trên quỹ tiền
lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của người lao động 21,5% bao gồm:
+ 3% vào quỹ ốm đau và thai sản (trong đó người sử ụng d
lao động giữ lại 2% để trả kịp thời cho người lao ộng đ
đủ điều kiện hưởng chế độ quy định và thực hiện quyết toán hằng quý
với tổ chức bảo hiểm xã hội)
+ 0,5% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
+ 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất;
+ 1% vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Ngoài ra, quỹ BHXH bắt buộc có thể có các nguồn thu khác như: + NSNN hỗ trợ để đả
m bảo thực hiện các chế độ đ ối với NLĐ.
+ Tiền lãi thu từ việc thực hiện các phương án bảo toàn và phát triển quỹ BHXH
+ Thu từ các nguồn tài trợ, viện trợ
của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước...
* Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc được sử ụng cho các mục đích sau: d
1. Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định 19
2. Đóng bảo hiểm y tế c
ho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng. 3. Chi phí quản lý.
4. Chi khen thưởng theo quy định 5. Đầu tư để ảo toàn b và tăng trưởng quỹ theo quy định b. Quỹ b o hi ả
ểm xã hội tự nguyện * Nguồn hình thành quỹ 1. Người lao ộng đ
đóng: Theo Khoản 2, Điều 87 Luật BHXH năm 2014, mức đóng
BHXH tự nguyện bằng 22% mức thu nhập tháng.
Mức thu nhập làm cơ sở để
tính đóng bảo hiểm xã hội được thay ổ đ i tuỳ theo khả năng của người lao ộng đ
ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất
bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.
2. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ. 3. H ỗ trợ của Nhà nước.
4. Các nguồn thu hợp pháp khác. * Sử ụng quỹ d
bảo hiểm xã hội tự nguyện
1. Trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định.
2. Đóng bảo hiểm y tế cho
người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang hưởng lương hưu. 3. Chi phí quản lý.
4. Đầu tư để ảo toàn và tăng trưởng quỹ b theo quy định.
c. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Theo quy định, quỹ bảo hiểm thất nghiệp được hạch toán ộ
đ c lập. Tổ chức bảo hiểm xã
hội thực hiện việc thu, chi, quản lý và sử dụng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. * Nguồn hình thành quỹ
1. Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. 2. Người sử ụng d
lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm
thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp. 20
3. Hằng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng
đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần.
4. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ. 5. Các nguồn thu khác. * Sử ụng quỹ d
1. Chi trả trợ cấp thất nghiệp; 2. Hỗ trợ đào
tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động; 3. H ỗ trợ học nghề; 4. H
ỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm;
5. Đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp;
6. Chi phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã h i; ộ 7. b
Đầu tư để ảo toàn và tăng trưởng Quỹ.
5.3.5.4 Hoạt động đầu tư của b o hi ả ểm xã hội Quỹ BHXH sẽ sử
dụng hình thức đầu tư nào để bảo toàn và phát triển quỹ?
- Về Nguyên tắc đầu tư: Đảm bảo an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết.
- Về Các hình thức đầu tư từ b
quỹ ảo hiểm xã hội bao gồm:
+ Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của ngân hàng thương mại c a ủ Nhà nước.
+ Cho ngân hàng thương mại của Nhà nước vay.
+ Đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia.
+ Các hình thức đầu tư khác do Chính phủ quy định. * TỔNG KẾT CHƯƠNG
Kết thúc Chương 5, chúng ta cần lưu ý một số ấn đề v sau đây: 21
- Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ KT dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình
thành, phân phối và sử dụng quỹ BH ằ nh m ả
đ m bảo cho quá trình tái SX và đời sống của con
người trong XH được ổn định và phát triển bình thường trong điều kiện có biến cố bất lợi xảy ra.
- BHTM là hình thức BH do các tổ chức KD BH tiến hành trên cơ sở huy động sự đóng
góp của các chủ thể để tạo lập quỹ BH, phân phối sử ụng d
chúng để trả tiền BH, bồi thường
những tổn thất cho các đố
ợng được BH khi các rủi ro được BH xảy ra. i tư
- BHXH là hình thức bảo hiểm do tổ chức BHXH tiến hành dựa trên cơ sở huy động sự
đóng góp của các chủ thể liên quan để
tạo lập quỹ BHXH, phân phối và sử ụng chúng để d bù đắ p
một phần thu nhập cho NLĐ và gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình “Nhập môn Tài chính - Tiền tệ”, Trường Đại học Thuơng mại, Chủ biên TS.
Vũ Xuân Dũng, NXB Thống kê, 2012.
2. Giáo trình “Lý thuyết Tài chính”, Học viện Tài chính, Chủ biên PGS,TS. Dương Đăng Chinh, NXB Tài chính, 2005.
3. Giáo trình “Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ”, Chủ biên
PGS,TS. Nguyễn Hữu Tài, NXB
Đại học Kinh tế Quốc dân, 2005.
4. Giáo trình “Tài chính - Tiền tệ - Ngân hàng”, PGS,TS. Nguyễn Văn Tiến, NXB Thống kê, 2009. 22