-
Thông tin
-
Quiz
Chương 6 - tư tưởng Hồ Chí Minh| Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tốt và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới
Tư tưởng Hồ Chí Minh (LLTT1101) 326 tài liệu
Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Chương 6 - tư tưởng Hồ Chí Minh| Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Đại học Kinh tế Quốc dân với những kiến thức và thông tin bổ ích giúp các bạn định hướng và họp tập dễ dàng hơn. Mời bạn đọc đón xem. Chúc bạn ôn luyện thật tốt và đạt điểm cao trong kì thi sắp tới
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh (LLTT1101) 326 tài liệu
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:























Tài liệu khác của Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Preview text:
Chương 6
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN HƯỚNG DẪN HỌC
Để nắm được kiến thức bài học này, học viên cần thực hiện một số phương pháp học cơ bản sau:
- Học theo đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ
và tham gia thảo luận trên diễn đàn trao đổi của lớp học thường xuyên. - Đọc tài liệu:
1. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, NxbCTQG, Hà Nội 2015, tr.204-228.
2. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, (Hội đồng Lý luận Trung ương), Nxb CTQG, Hà Nội, 2010.
3. Nguyễn Đình Lộc (1998), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do
dân, vì dân, Nxb CTQG, Hà Nội, tr.16-60.
4. Song Thành (2005), Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr.285-316.
- Học viên làm việc theo nhóm và trao đổi trực tiếp với giảng viên trên lớp học hoặc qua email.
- Thông qua trang web môn học, v.v. MỤC TIÊU:
- Giúp người học hiểu và phân tích được những quan điểm cơ bản của Hồ Chí
Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
- Chỉ rõ giá trị của tư tưởng đối với việc nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện Nhà
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay.
- Biết vận dụng các quan điểm của Hồ Chí Minh về Nhà nước vào giải quyết
các tình huống đặt ra trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta hiện nay.
- Nhận thức được bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta, nghiêm túc thực hiện quyền
và nghĩa vụ của công dân đối với việc xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh. NỘI DUNG: 1
Khái quát những nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
của dân, do dân, vì dân; chỉ ra bản chất của Nhà nước dân chủ kiểu mới; khái quát và
phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ; chỉ
ra những nội dung cơ bản để xây dựng nhà nước trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu quả. TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP:
1. Nhà nước dân chủ kiểu mới ở nước ta được thành lập từ khi nào? Tại sao nói
Nhà nước dân chủ kiểu mới ở nước ta là nhà nước do nhân dân lao động làm chủ?
Để giải quyết được tình huống này cần làm rõ: Nội dung quan điểm của Hồ Chí
Minh về xây dựng nhà nước thể hiện quyền là chủ và làm chủ của nhân dân.
2. Tại sao trong thời kỳ đổi mới Đảng và Nhà nước ta lại khẳng định: Tiếp tục
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN?
Để giải quyết được tình huống này cần làm rõ: Nội dung quan điểm của Hồ Chí
Minh về xây dựng nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ; đánh giá được thực trạng
tình hình xây dựng nhà nước ta hiện nay.
Nắm vững những nội dung kiến thức trong Bài 6 “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước của dân, do dân, vì dân” sẽ giúp chúng ta có cơ sở lý luận và thực tiễn để
luận giải được những vấn đề nêu trên.
6.1. Xây dựng nhà nước thể hiện quyền là chủ và làm chủ của nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt nam. Người đã
có nhiều cống hiến đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Một trong những cống
hiến quan trọng đó là, Người đã sớm xây dựng lên một hệ thống những luận điểm về
nhà nước của dân, do dân, vì dân. Và trên thực tế, chính Người đã khai sinh ra nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945, đây là nhà nước dân chủ đầu
tiên ở nước ta. Qua đó đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Trong quá trình xây dựng chế độ dân chủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm
nhận thức được một vấn đề quan trọng đó là: "Trong bầu trời không có gì quý bằng
nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân", "dân 2
chủ là của quý báu nhất của nhân dân". Do đó, theo Người, nhà nước của dân, do dân,
vì dân là nhà nước dân chủ. Ở đó quyền lực bắt nguồn từ dân, quyền hạn tối cao nhất
thuộc về nhân dân. Những người trong bộ máy nhà nước, dù ở cấp nào cũng đều là
"đầy tớ của dân", đều do dân cử ra bằng phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp, là đại
biểu cho nhân dân để thực thi quyền lực. Người dân làm chủ đất nước của mình thông
qua những đại diện do mình bầu ra. Vai trò của nhân dân được đặt ở vị trí tối cao và
quyền lực của nhân dân được bảo đảm trên thực tế. Quyền hành của nhân dân được
thể hiện trước hết là quyền bầu cử và ứng cử. Người nhấn mạnh: "Tổng tuyển cử là
một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác
công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước
thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì
đều có quyền đi bầu cử". Nhân dân không chỉ
có quyền ứng cử, bầu cử, mà còn có quyền
kiểm tra, giám sát và bãi miễn những người
không làm tròn trách nhiệm trước nhân dân.
Theo đó thì nội hàm của quan điểm nhà nước thể hiện quyền là chủ và làm chủ của
nhân dân được thể hiện ở một số nội dung sau: 6.1.1. Nhà nước của dân
- Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là xác lập tất cả mọi quyền lực trong Nhà
nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân. Dân “là chủ” của Nhà nước.
Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: nước ta là nước dân chủ; địa vị cao nhất
là dân, vì dân là chủ; bao nhiêu quyền hạn là của dân; quyền hành và lực lượng đều ở
nơi dân. Trong Nhà nước ta, toàn bộ quyền lực đều thuộc về nhân dân. Quan niệm
toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thể hiện rõ nhất tính dân chủ triệt để
của Nhà nước ta, trở thành nguyên tắc cơ bản tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước và
phải được thể hiện rõ trong các văn bản pháp lý mà đạo luật cao nhất là Hiến pháp.
Điều này thuộc về tính chất nhân dân và dân tộc của nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa. Hiến pháp năm 1946 do Hồ Chí Minh làm trưởng ban soạn thảo đã
khẳng định rõ ngay tại điều 1: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả 3
quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống,
gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Điều 32: “Những việc liên quan đến vận mệnh
quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết...”, thực chất đó là chế độ trưng cầu dân ý,
một hình thức dân chủ đề ra khá sớm ở nước ta.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Dân là chủ thì Chính phủ là đầy tớ, nếu Chính phủ làm
hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ đi”. Mối quan hệ giữa nhà nước với công dân
được thể hiện cụ thể trong mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ. Nhà nước có nghĩa vụ
với công dân đồng thời có những quyền theo quy định của pháp luật để thực thi công
quyền mà nhân dân giao phó; ngược lại công dân vừa có quyền, đồng thời có nghĩa vụ
công dân đối với nhà nước. Người viết: “nhưng khi dân dùng đầy tớ để bảo vệ cho
mình thì phải giúp đỡ, nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình không có nghĩa là
chửi”. Trên tinh thần đó, Hiến pháp năm 2013 của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam có những quy định rất cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan
trong bộ máy nhà nước, đồng thời cũng dành toàn bộ Chương 2 với 35 điều (từ Điều
14 đến Điều 49) quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
- Trong Nhà nước ta, dân là chủ thể của quyền lực thì người cầm quyền, cán bộ
công chức nhà nước chỉ là người được ủy quyền, được nhân dân trao quyền để gánh
vác, giải quyết những công việc chung của đất nước.
Hồ Chí Minh gọi người cầm quyền, cán bộ công chức nhà nước là "đầy tớ",
"công bộc" của dân. Làm công bộc của dân là một trách nhiệm rất vẻ vang, nhưng rất
khó khăn, nặng nề. Muốn vậy, người cầm quyền phải gần dân, sát dân, hiểu dân,
thương dân, tin dân và biết sử dụng sức mạnh của dân. Tác phong của người cầm
quyền phải là: óc nghĩ, mắt thấy, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm.
- Để quyền lực nhà nước thực sự là của dân, Hồ Chí Minh yêu cầu không chỉ thể
hiện bằng những khẩu hiệu trừu tượng, mà phải được xác lập bằng một cơ chế khoa
học. Đó là cơ chế mà nhân dân có thể tạo ra quyền lực nhà nước một cách dân chủ,
nhân dân có quyền kiểm soát quyền lực nhà nước một cách hữu hiệu và nhân dân có
quyền thu hồi lại quyền lực nhà nước nếu có sự tha hóa. Từ yêu cầu đó Hồ Chí Minh
đã nêu lên và thực hiện 3 vấn đề: 4
+ Xây dựng một chế độ bầu cử dân chủ nhằm bảo đảm “Chính quyền từ xã đến
Chính phủ trung ương do dân cử ra”.
Khi đã giành được chính quyền, chỉ một ngày sau khi tuyên bố độc lập, trong
phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (3/9/1945), Người yêu cầu phải “tổ chức
càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để bầu ra
một nhà nước hợp hiến hợp pháp. Ngày 17/10/1945, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 51
quy định tất cả công dân Việt Nam, từ
18 tuổi trở lên không phân biệt nam,
nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử, trừ
những người mất trí, những người mất
quyền công dân. Nhân dân có quyền tự
do lựa chọn đại biểu của mình. Cuộc
bầu cử 6/1/1946 được tiến hành theo
thể thức dân chủ và tiến bộ nhất lúc bấy giờ.
+ Xây dựng một cơ chế bảo đảm “quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại
biểu của mình”, làm cho “tất cả các cơ quan nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên
hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân”.
Sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với viên chức là yêu cầu tối cần thiết
nhằm bảo đảm nhân dân tiếp tục giữ được quyền lực của mình sau khi đã thực hiện thủ
tục ủy quyền (bỏ phiếu bầu). Nếu đạo đức, phẩm hạnh của viên chức nhà nước không
còn trong sáng nữa thì sự kiểm tra, giám sát giúp cho nhân dân kịp thời phát hiện để
khắc phục tình trạng tha hóa của quyền lực, tránh tình trạng quyền lực mất phương hướng kiểm soát.
+ Xây dựng cơ chế để “nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại
biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tở ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”
Quyền bãi miễn là một khâu rất quan trọng thể hiện sự chi phối tuyệt đối của
nhân dân đối với quá trình vận hành của quyền lực nhà nước. Nhân dân chỉ trao quyền
hành với đúng chức năng, nhiệm vụ cụ thể cho những cán bộ, công chức đủ tài năng 5
và phẩm hạnh. Nếu cán bộ, công chức có biểu hiện tư túng, thoái hóa biến chất thì
nhân dân sẽ thu hồi những quyền đó bằng hình thức bãi miễn và trao lại quyền hành
cho những người mà nhân dân tín nhiệm.
+ Nhà nước của dân thì mọi người dân là chủ, người dân có quyền làm bất cứ
việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật.
=> Như vậy, trong nhà nước dân chủ mới, nhân dân ở vị trí tối thượng và các
đại diện của dân, do dân cử ra chỉ là người được ủy quyền của dân, chỉ là “công bộc”
của dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chính phủ là là Chính phủ của nhân dân chỉ có một mục
đích là phụng sự cho lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn
đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân. 6.1.2. Nhà nước do dân
Nhà nước “do dân” thực chất là khẳng định quyền “làm chủ” nhà nước của nhân
dân. Nhà nước “của dân” là nhà nước do dân “là chủ”, đã “là chủ” thì ắt nhân dân phải
có quyền “làm chủ”. Nhưng làm chủ như thế nào? Điều này được thể hiện qua các phương diện:
- Nhân dân có quyền lập nên nhà nước bằng việc lựa chọn, bầu ra đại biểu của
mình với hình thức phổ thông đầu phiếu, dân chủ trực tiếp, hoặc gián tiếp, nhân dân có
quyền lập ra các cơ quan nhà nước từ Quốc hội, chính phủ, các đoàn thể chính trị xã hội khác.
Trên cơ sở đó, ngày 6-1-1946 lần đầu tiên trong lịch sử của dân tộc ta tất cả mọi
công dân từ đủ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam, nữ, tôn giáo, đảng phái, dân tộc…
được cầm lá phiếu của mình để bầu ra những đại biểu ưu tú nhất vào trong bộ máy của Nhà nước.
- Nhân dân có quyền tham gia vào công việc quản lý nhà nước, sao cho các quyết
định của cơ quan nhà nước đều xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
Tất cả mọi công việc từ to đến bé của nhà nước, nhân dân đều có quyền tham ra.
Nhân dân có thể tham gia trực tiếp vào công việc quản lý của nhà nước hoặc giám sát mọi
hoạt động của bộ máy nhà nước. Khi phát hiện những dấu hiệu sai trái thì nhân dân có 6
quyền khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền để sửa chữa, khi dân phát hiện ra những đại
biểu do mình bầu ra không có đủ tín nhiệm thì dân có quyền bãi miễn những đại biểu đó
và thay thế bằng những người có đủ năng lực và tiêu chuẩn.
- Nhân dân đóng thuế để nhà nước chi tiêu, hoạt động; nhân dân ủng hộ bằng
việc thực hiện các chủ trương, chính sách, kế hoạch nhà nước đề ra.
Để bộ máy nhà nước hoạt động được thì cần có ngân quỹ, ngân quỹ ấy lấy từ
đâu, từ chính sự đóng góp của nhân dân. Đó chính là thuế, nhà nước thu thuế không
phải để nhà nước tự chi tiêu cho mình mà nhà nước dùng thuế đó nhằm kiến thiết xây
dựng đất nước chăm lo đời sống cho nhân dân. Bên cạnh nghĩa vụ đóng thuế cho nhà
nước thì theo Người, nhân dân còn phải nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, chính
sách, pháp luật do nhà nước đề ra. Có như vậy mới thể hiện được vị thế “là chủ” và
“làm chủ ” nhà nước của nhân dân.
- Nhân dân yêu cầu đồng thời đóng góp tinh thần, trí tuệ xây dựng nhà nước ngày càng hoàn thiện.
- Nhà nước muốn là của dân, nhà nước phải làm tốt bổn phận là người đại biểu
thay mặt nhân dân, quyền hành nơi nhà nước là do nhân dân giao phó. Có nghĩa là
quyền hành của nhân dân là quyền hành được thông qua người đại diện do dân cử ra.
Năm 1946, trả lời phỏng vấn báo nước ngoài, Hồ Chí Minh nói “Tôi tuyệt đối
không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ nhận chức chủ tịch là vì đồng bào
ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra
trước mặt trận, bao giờ đồng bào cho lui, thì tôi rất vui lòng lui…”.
Nhà nước do dân, dân làm chủ nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống
nhất biện chứng của cả quyền và nghĩa vụ làm chủ; nó thể hiện bản chất dân chủ triệt để của nhà nước. 6.1.3. Nhà nước vì dân
Nhà nước vì dân, theo Hồ Chí Minh, là nhà nước phục vụ nhân dân, đem lại lợi
ích cho nhân dân. Điều này được Người giải thích rõ trên các phương diện: 7
- Nhà nước phục vụ nhân dân, nghĩa là nhà nước đó được tổ chức và hoạt động
theo một mục tiêu duy nhất không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân.
Đúng với phương châm "Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến
dân phải hết sức tránh". Cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân là cơ sở hàng
đầu đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và năng lực của đội ngũ cán bộ công chức nhà nước.
- Nhà nước vì dân là nhà nước biết chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân,
trước hết là thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu nhất: làm cho dân có ăn; làm cho dân có
mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân được
học hành; làm cho dân có điều kiện khám chữa
bệnh, chăm sóc sức khỏe. Nhà nước chăm lo
cho dân không phải làm thay dân mà là hướng
dẫn dân tự chăm lo đời sống của mình.
Ngay sau buổi ra mắt Chính phủ thì Hồ
Chí Minh đã yêu cầu Chính phủ phải quan tâm
đến đời sống của nhân dân, Người nói: nếu dân
đói thì Đảng và Chính phủ có lỗi; dân dốt Đảng và
Chính phủ có lỗi; dân rét Đảng và Chính phủ có lỗi. Chính sách của Chính phủ chỉ có
4 điều là: làm sao cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân được học hành.
- Đối với cán bộ, đảng viên, nhân viên nhà nước, Người gọi đó là “công bộc”
của dân, cách gọi ấy thật là dân dã mà sâu sắc.
Trong buổi đầu thành lập chính quyền, khi thuyết phục cụ Huỳnh Thúc Kháng
ra làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tâm sự với cụ Huỳnh Thúc
Kháng: “… Khi xưa làm quan là hưởng đỉnh chung, bây giờ chúng ta làm việc cho
dân, cho nước gọi là công bộc”. Khi Quốc hội tín nhiệm bầu Người làm Chủ tịch nước
– người đứng đầu Chính phủ, Người trả lời các nhà báo: “Tôi tuyệt nhiên không ham
muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ gánh vác chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ 8
thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận”.
- Bên cạnh việc đem lại lợi ích cho dân, chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân,
nhà nước phải biết kết hợp, điều chỉnh các loại lợi ích khác nhau giữa các giai cấp,
tầng lớp xã hội, các bộ phận dân cư để luôn được mọi người dân ủng hộ, xây dựng.
Đồng thời là người hướng dẫn nhân dân, nhà nước phải còn biết kết hợp giữa lợi ích
trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích của Trung ương và lợi ích của địa phương, lợi ích
của các ban, ngành, các chủ thể xã hội, làm sao để bất kỳ ai cũng thấy được nhà nước
là người đại diện cho lợi ích chân chính của họ.
- Điều đặc biệt quan trọng mà Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh là để phục vụ
tốt nhân dân, vì dân, nhà nước phải thực sự liêm khiết, trong sạch, tránh quan liêu,
tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, phải loại hết "các ông quan cách mạng" ra khỏi bộ
máy nhà nước. Người căm ghét thói cậy quyền, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, tham ô,
lãng phí, quan liêu, móc ngoặc, tham nhũng… vì nó “là kẻ thù của nhân dân, của dân
tộc, của Chính phủ. Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm súng, nó
nằm trong tổ chức của ta, nó là giặc nội xâm để làm hỏng công việc của ta”. Người
dạy: “Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi
nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho nhân dân.
Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”.
6.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công
nhân với tính nhân dân, tính dân tộc của nhà nước
6.2.1.Về Bản chất giai cấp công nhân của nhà nước
Quán triệt các nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất giai cấp
của nhà nước, Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ: tính chất của nhà nước là nội dung giai
cấp của chính quyền; trong nhà nước đó, giai cấp nào thống trị, giai cấp nào bị thống trị;
nhà nước đem lại lợi ích cho giai cấp nào thì mang bản chất của giai cấp đó; trong lịch
sử xã hội có giai cấp, một kiểu nhà nước bao giờ cũng gắn với một chủ thể giai cấp nhất
định. Không có một nhà nước nào lại đứng ngoài giai cấp, đứng trên giai cấp, không có 9
nhà nước phi giai cấp. Nhà nước bao giờ cũng là công cụ thống trị của một giai cấp và
nhằm bảo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước của dân, do dân và vì dân về bản chất là
nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân. Trên cơ sở quan niệm chung, Hồ Chí
Minh khẳng định "Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên
minh công - nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo". Như vậy, sự lãnh đạo của giai cấp
công nhân đối với nhà nước thông qua chính đảng của nó quyết định bản chất giai cấp
công nhân của nhà nước ta.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất giai cấp công nhân của nhà nước kiểu
mới được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau đây:
- Nhà nước ta được tổ chức, hoạt động theo các nguyên tắc phổ biến của chủ
nghĩa Mác-Lênin về nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa nói
chung. Nền tảng tư tưởng của nhà nước ta là học thuyết Mác-Lênin.
- Nhà nước luôn luôn được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản. Ở
nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo nhà nước trong tất cả các giai đoạn cách mạng.
+ Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân.
+ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước bằng phương thức thích hợp như:
Bằng đường lối, nghị quyết, quan điểm, chủ trương để nhà nước thể chế hóa
thành pháp luật, chính sách, kế hoạch;
Bằng các hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên của mình trong bộ máy, cơ quan nhà nước;
Bằng công tác kiểm tra giám sát của Đảng
Bằng công tác tự phê bình và phê bình
Bằng cơ chế khen thưởng và kỷ luật nghiêm minh tự giác của Đảng...
- Nhà nước ta được tổ chức, hoạt động và vận hành theo nguyên tắc dân chủ tập
trung. Đây là một nguyên tắc tổ chức đặc thù của giai cấp công nhân: tập trung trên 10
nền tảng dân chủ và dân chủ dưới sự chỉ đạo của tập
trung; dân chủ càng mở rộng, tập trung càng cao độ.
- Bản chất giai cấp của Nhà nước còn thể hiện ở
tính định hướng đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội.
“Bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo
chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền
kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến.”
- Cơ sở xã hội của Nhà nước là khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại đoàn kết toàn
dân, mà nòng cốt là liên minh công - nông - trí thức.
- Nhà nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là
thống nhất, nhưng trong tổ chức và hoạt động có sự phân công rành mạch về chức
năng, nhiệm vụ giữa quyền lập pháp và hành pháp, tư pháp.
- Nhà nước ta điều hành, quản lý xã hội bằng pháp luật mà pháp luật đó đại biểu
cho ý chí, nguyện vọng, lợi ích của giai cấp công nhân và đông đảo quần chúng lao
động thực hiện công cuộc cải tạo xã hội cũ, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
6.2.2. Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân, tính dân tộc của Nhà nước
Hồ Chí Minh là người giải quyết hết sức thành công vấn đề về mối quan hệ giữa
bản chất giai cấp với tính nhân dân và tính dân
tộc của Nhà nước ta. Trong Nhà nước ta, bản
chất giai cấp công nhân thống nhất chặt chẽ
với tính nhân dân và tính dân tộc. Sự thống
nhất này được bảo đảm bởi các yếu khách quan cơ bản:
- Sự ra đời của Nhà nước ta là thành quả
đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ với sự hy sinh của những người con đất Việt, sẵn 11
sàng ngã xuống vì nền độc lập của dân tộc. Từ phong trào Cần Vương, Đông Du, v.v, đến
cao trào Xô Viết Nghệ tĩnh ...
- Cơ sở xã hội của nhà nước là khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại đoàn kết toàn
dân. Sự thống nhất dân tộc là nhân tố bảo đảm tính bền vững, không chia cắt và là sức
mạnh của nhà nước ta. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong lời
tuyên bố sau khi thành lập nước, Hồ chủ tịch nói: “Theo ý Quốc hội, Chính phủ mới
phải tỏ rõ cái tinh thần đại đoàn kết, không phân đảng phái … Tôi có thể tuyên bố
trước Quốc hội rằng … Chính phủ này là Chính phủ toàn quốc, có đủ nhân tài Trung, Nam, Bắc tham gia”.
- Nhà nước dân chủ kiểu mới của ta vừa ra đời đã phải đảm nhiệm nhiệm vụ
lịch sử là tổ chức cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của dân tộc để bảo vệ thành
quả cách mạng. Nhờ biết phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, trên cơ sở
liên minh công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh
đứng đầu đã hoàn thành được sứ mệnh vẻ vang là lãnh đạo cả dân tộc tiến hành thắng
lợi hai cuộc kháng chiến vĩ đại trong lịch sử, bảo vệ được nền độc lập, thống nhất tổ
quốc và bắt tay vào xây dựng đất nước theo con đường CNXH.
- Nhà nước ta bảo vệ lợi ích của nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.
Sự thống nhất lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân với nhân dân lao động, các dân
tộc tạo nên cơ sở khách quan quy định sự thống nhất bản chất giai cấp công nhân với
tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước. Nhà nước dân chủ nhân dân mang bản
chất giai cấp công nhân trở thành nhà nước của dân, do dân và vì dân là theo nghĩa đó.
- Trong thực tế, Nhà nước ta đã đứng ra làm nhiệm vụ của cả dân tộc giao phó,
đã lãnh đạo nhân dân tiến hành các cuộc kháng chiến để bảo vệ nền tảng độc lập, tự do
của Tổ quốc, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và
giàu mạnh, góp phần tích cực vào sự phát triển tiến bộ của thế giới.
6.3. Xây dựng nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ
6.3.1. Xây dựng nhà nước hợp hiến 12
- Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ trước hết
là một nhà nước hợp hiến. Nhà nước hợp hiến là nhà nước
ra đời phù hợp với các quy định của hiến pháp. Hiến pháp
1946 quy định nhà nước do nhân dân bầu ra.
Vì vậy, sau khi giành chính quyền, Hồ Chí Minh đã
thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào
và thế giới khai sinh ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Chính phủ lâm thời có
địa vị hợp pháp, tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội rồi từ đó lập Chính phủ và các cơ quan nhà nước mới.
Sau đó Người bắt tay xây dựng hiến pháp dân chủ, tổ chức tổng truyển cử với
chế độ phổ thông đầu phiếu, thành lập uỷ ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà. Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội nhất trí bầu làm Chủ tịch
Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Đây là Chính phủ hợp
hiến đầu tiên do nhân dân bầu ra, có đầy đủ tư cách và
hiệu lực trong việc giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại.
6.3.2. Hoạt động quản lý nhà nước bằng Hiến
pháp, pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào cuộc sống
* Nhà nước có hiệu lực pháp lý là nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật.
- Trong nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật luôn đi đôi với nhau, đảm bảo
cho chính quyền trở nên mạnh mẽ. Mọi quyền dân chủ phải được thể chế hoá bằng
Hiến pháp và pháp luật. Xây dựng một nền pháp chế XHCN đảm bảo việc thực hiện
quyền lực của nhân dân là mối quan tâm lớn của Hồ Chí Minh.
Ngay từ năm 1919, khi đưa bản yêu sách 8 điểm đòi các quyền tự do, dân chủ
cho nhân dân Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã đòi thực dân Pháp phải cải cách nền pháp
lý ở Đông Dương, phải bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh thay vào đó là các đạo luật.
Trong bài Việt Nam yêu cầu ca Người đã viết và khẳng định vai trò của pháp luật:
“Bảy xin Hiến pháp ban hành 13
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.
- Là người sáng lập ra Nhà nước dân chủ kiểu mới, Hồ Chí Minh cũng là người
có công lớn nhất trong sự nghiệp lập pháp. Ở cương vị Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh
đã hai lần đứng đầu ủy ban soạn thảo Hiến Pháp, Hiến pháp1946 và Hiến pháp 1959,
người đã ký lệnh công bố 16 đạo luật và nhiều văn bản dưới luật khác.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất cương quyết với những hành vi vi phạm pháp
luật và trừng trị nghiêm khắc những kẻ phạm tội, dù người đó ở cương vị nào. Trong
trả lời chất vấn của Quốc hội vào năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chính phủ
hết sức làm gương, nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ
hối lộ, đã trừng trị, đang trừng trị và sẽ trừng trị cho kỳ hết”. Hồ Chủ tịch đã bác đơn
xin ân xá giảm án tử hình của nhiều kẻ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, dù đó là cán
bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước; Người cho rằng: “Không dùng xử phạt cũng là không
đúng, song việc gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”.
* Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, có luật pháp cũng chưa đủ, điều quan trọng là
pháp luật của nhà nước phải đi vào cuộc sống, phải trở thành hoạt động tự giác của mỗi
người trong xã hội. Người cho rằng: công bố luật chưa phải đã là xong, phải tuyên truyền,
giáo dục lâu dài. Để đưa pháp luật vào trong cuộc sống người yêu cầu:
- Phải xây dựng được hệ thống pháp luật “đúng và đủ”. Đây là yêu cầu đầu tiên
của việc thực hiện pháp luật. Nếu hệ thống các đạo luật thiếu và yếu thì sẽ không có
giá trị áp dụng, không quản lý được trật tự xã hội. Muốn có hệ thống pháp luật đúng
và đủ thì yêu cầu phải kiện toàn các cơ quan xây dựng pháp luật và phát huy dân chủ
trong công tác xây dựng pháp luật, để đảm bảo pháp luật điều chỉnh được tất cả các
mối quan hệ trong xã hội.
- Phải chú trọng nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ của nhân dân, phát
triển văn hóa chính trị và tính tích cực của công dân, khuyến khích nhân dân tham gia
vào các công việc của nhà nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.
- Thường xuyên tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho mọi công dân, để người
dân hiểu và thực thi pháp luật. 14
Luật pháp là cần thiết, là quan trọng cho quốc gia. Khi không có pháp luật thì dễ
đẩy xã hội đến chỗ hỗn loạn, vô Chính phủ. Khi luật được ban hành, Nhà nước phải tổ
chức triển khai phổ biến cho toàn dân học tập, để cuối cùng làm cho người dân hiểu và
thực hiện nó một cách tự giác. Đây là một nhiệm vụ không kém phần khó khăn nhằm
đưa pháp luật vào trong cuộc sống.
- Mỗi cán bộ phải là tấm gương sáng trong việc thực thi và áp dụng pháp luật,
trước hết là các cán bộ trong ngành hành pháp và tư pháp.
Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người phải hiểu và tuyệt đối chấp hành pháp luật, bất
kể người đó giữ cương vị nào. Công tác giáo dục luật cho mọi người, đặc biệt là cho
thế hệ trẻ cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng một nhà nước pháp quyền có hiệu lực
pháp lý, đảm bảo quyền và nghĩa vụ công dân được thực thi trong cuộc sống. Cuộc đời
của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về chấp hành pháp luật, về đạo đức,
phong cách mà chúng ta mãi mãi học tập, noi theo.
- Tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên truyền pháp luật và thực thi pháp luật có đủ đức và tài.
6.4. Xây dựng Nhà nước trong sạch hoạt động có hiệu quả
6.4.1. Xây dựng đôi ngũ cán bộ, công chức đủ đức, đủ tài
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vị trí, vai trò của cán bộ
trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Cụ thể:
Về vị trí của cán bộ: Người cho rằng, cán bộ là giây chuyền của bộ máy Đảng,
Nhà nước, đoàn thể nhân dân, “là những người đem chính sách của Đảng, của Chính
phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân
chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Như vậy,
cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp cách mạng nước ta do Đảng lãnh đạo. Vị trí lãnh
đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là do Đảng, Nhà nước, đoàn thể phân công, và quyền lực
của cán bộ cũng như nhiệm vụ của người cán bộ là do nhân dân giao cho. 15
Về vai trò của cán bộ: Hồ Chí Minh khẳng
định rằng: cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn
việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt hay
kém. Với ý nghĩa như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng,
cán bộ là lực lượng tinh tuý nhất của xã hội, có vị trí
vừa tiên phong vừa là trung tâm của xã hội và có vai
trò cực kỳ quan trọng của hệ thống chính trị nước ta.
Để tiến tới một nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh mẽ, Người cho rằng, phải
nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ viên chức nhà nước có
trình độ văn hoá, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành chính và nhất là phải có
đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một tiêu chuẩn cơ bản của người cầm cán
cân công lý. Yêu cầu của đội ngũ cán bộ phải có đức và tài trong đó đức là gốc, đội ngũ này
phải được tổ chức hợp lý và có hiệu quả. Cụ thể là:
(1) Tuyệt đối trung thành với cách mạng.
(2) Hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ.
(3) Phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân.
(4) Cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết đoán,
dám chịu trách nhiệm, nhất là những tình huống khó khăn, “thắng không kiêu, bại không nản”.
(5) Phải thường xuyên tự phê bình và phê bình, luôn luôn có ý thức và hành
động vì sự lớn mạnh, trong sạch của Nhà nước
Để đảm bảo công bằng và dân chủ trong tuyển dụng cán bộ nhà nước, với
cương vị là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã ký ban hành hai sắc lệnh: Sắc lệnh số 188
năm 1948 và sắc lệnh số 76 năm 1950 quy định thi tuyển viên chức và các ngạch bậc của
nền hành chính quốc gia. Công chức theo chế độ chức nghiệp, vì vậy phải qua thi tuyển
công chức để bổ nhiệm vào ngạch, bậc hành chính. Nội dung thi tuyển khá toàn diện bao
gồm 6 môn thi: chính trị, chuyên môn, pháp luật, địa lý, lịch sử và ngoại ngữ. Điều này thể
hiện tầm nhìn xa, tính chính quy hiện đại, tinh thần công bằng dân chủ của Hồ Chí Minh
trong việc xây dựng nền móng cho pháp quyền Việt Nam. 16
6.4.2. Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước
Trong quá trình lãnh đạo xây dựng Nhà nước, Hồ Chí Minh chỉ rõ những tiêu cực
và nhắc nhở mọi người đề phong khắc phục. Do tập quán của kinh tế tiểu nông, muốn
hình thành ngay một nhà nước pháp quyền là chưa được. Vì vậy, một mặt phải nhấn
mạnh vai trò của luật pháp, đồng thời tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong
nhân dân nhất là giáo dục đạo đức. Đạo đức và pháp luật là hai hình thái ý thức xã hội có
thể kết hợp cho nhau. Khắc phục những biểu hiện tiêu cực sau:
- Đặc quyền, đặc lợi.
Xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh trước hết phải xóa bỏ những thói
cậy mình là người của cơ quan nhà nước để cửa quyền, hống hách, trục lợi cho cá
nhân mình, làm như vậy sẽ sa vào chủ nghĩa cá nhân. Từ chủ nghĩa cá nhân sinh ra
hàng trăm thứ bệnh khác.
- Tham ô, lãng phí quan liêu.
Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí quan liêu là thứ giặc nội xâm, nó nguy hiểm
hơn cả giặc ngoại xâm. Bởi vì nó ở trong lòng mỗi con người chúng ta, đó là thứ giặc
vô hình. Người cho rằng “tham ô, lãng phí quan liêu” dù là cố ý hay không cũng đều
là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến… tội lỗi ấy cũng nặng như việt gian và phong kiến.
+ Tham ô theo Người là lấy của chung làm của riêng, lấy tài sản của nhà nước,
của nhân dân làm tài sản của mình để hưởng lợi.
+ Lãng phí: đây là một căn bênh mà Người lên án gay gắt. Bản thân Người là
tấm gương tích cực chống lãng phí trong cuộc sống. Lãng phí ở đây được Hồ Chí
Minh xác định đó là lãng phí tiền của, lãng phí thời giờ, lãng phí sức lao động. Chống
lãng phí là biện pháp để thực hành tiết kiệm.
+ Quan liêu: theo Người đây là một căn bệnh hết sức nguy hiểm cho cách mạng,
“tỏ ra ở chỗ thích giấy tờ, xa quần chúng, không điều tra nghiên cứu, không kiểm tra,
theo dõi việc thi hành, không học tập kinh nghiệm của quần chúng”. Đây là gốc sinh
ra các bệnh tham ô, lãng phí, muốn trừ sạch bệnh tham ô, lãng phí trước hết phải tẩy sạch bệnh quan liêu. 17
- “Tư túng”, “chia rẽ”, “kiêu ngạo”.
+ Tư túng: theo Người đó là “kéo bè kéo cánh, bà con, bạn hữu mình không tài
năng gì cũng chức này chức nọ. Người có tài có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy
ra ngoài. Quên rằng việc là việc công chứ không phải việc của riêng của ai”.
+ Chia rẽ: theo Người đó là “bênh vực lớp này chống lớp khác, không biết làm
cho các tầng lớp nhân nhượng nhau, hòa thuận với nhau..”
+ Kiêu ngạo: theo Người đó là “tưởng mình ở trong cơ quan của Chính phủ là
thần thánh rồi, coi khinh nhân dân, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” nên
không biết thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin của nhân dân, sẽ hại đến uy tín của Chính phủ”.
6.4.3. Tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật đi đôi với đẩy mạnh
giáo dục đạo đức cách mạng
- Tư tưởng Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa quản lý xã hội bằng
pháp luật với phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc được hình thành qua
hàng ngàn năm lịch sử. Đó chính là tư tưởng kết hợp giữa “đức trị” và “pháp trị” trong
hoạt động quản lý của nhà nước.
- Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên cơ sở những nhận thức trước đây
về một nhà nước “phải có thần linh pháp quyền”, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến
quyền lực của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thuộc về nhân dân, lợi ích
phải vì dân. Đó phải là một nhà nước dân chủ – dân là chủ và dân làm chủ. Đồng thời
nhà nước đó phải được vận hành và quản lý bằng pháp luật kết hợp chặt chẽ với việc
giáo dục đạo đức. Quan niệm về sự thống nhất giữa “đức trị” với “pháp trị” trong tư
tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ truyền thống văn hóa phương Đông và từ
tấm gương trị nước của các vị vua chúa hiền minh trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên,
vượt lên tất cả những ông vua đức độ và kẻ sĩ hiền tài trong quá trình trị vì đất nước,
Hồ Chí Minh đã thực thi triệt để vấn đề “đức trị” với “pháp trị” trên cơ sở cách mạng,
khoa học và nhân nghĩa, nói đi đôi với làm vì hạnh phúc của nhân dân.
- Pháp luật và đạo đức là hai lĩnh vực khác nhau thuộc hình thái ý thức xã hội.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hai vấn đề này có mối quan hệ mật thiết với nhau. 18
Pháp luật là một biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức; ngược lại
đạo đức là những nguyên tắc, chuẩn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có
tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với người khác, nhưng
nhiều khi rất cần sự hỗ trợ của pháp luật. Bởi vì nếu không kết hợp với tính nghiêm
minh, khoa học của pháp luật thì giáo dục đạo đức trở thành vô nghĩa. Tư tưởng và
tấm gương Hồ Chí Minh cho thấy rõ điều này.
Chẳng hạn khi trả lời vụ Chu Bá Phượng, Người nói Chính phủ đã cố gắng liêm
khiết (tức là đạo đức). Nhưng nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị
những kẻ ăn hối lộ. Trước khi ký lệnh bác đơn chống án của Trần Dụ Châu, với một
trái tim bao dung, độ lượng, Hồ Chí Minh rất đau lòng, suy nghĩ nhiều đêm. Nhưng rõ
ràng, những vụ tham nhũng kiểu đó mà nếu chỉ kêu gọi, giáo dục đạo đức không thôi
thì không bao giờ giải quyết được vấn đề. Phải có một bộ máy thể hiện tính khoa học
và nghiêm minh của pháp luật.
Trọn đời Hồ Chí Minh là một cuộc đời giáo dục mọi người làm người, lấy đức
làm gốc. Bởi vì, dù tài giỏi đến mấy mà không có đức, không có căn bản thì không làm
được cách mạng. Nhưng Người luôn quán triệt “đức trị” phải thống nhất với “pháp trị”.
Trong Di chúc, Người viết: “Đối với nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái
điếm, cờ bạc, buôn lậu,v.v..thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để
cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện” . TÓM TẮT CUỐI BÀI
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ kiểu mới được hình thành dựa
trên cơ sở lý luận và thực tiễn hết sức phong phú: giá trị truyền thống của dân tộc; tinh
hoa văn hóa nhân loại; đặc biệt là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về nhà nước.
- Tư tưởng về nhà nước dân chủ kiểu mới (nhà nước của dân, do dân, vì dân) mà
Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng đã để lại rất nhiều những bài học có giá cả về mặt
lý luận và thực tiễn đối với công cuộc xây dựng nhà nước ta hiện nay.
- Hồ Chí Minh đã thể hiện sự sáng tạo trong lý luận về nhà nước.
+ Lựa chọn kiểu nhà nước phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam.
+ Khẳng định bản chất dân chủ triệt để của nhà nước dân chủ mới. 19
+ Quan niệm về sự thống nhất bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và
tính dân tộc của nhà nước ta.
+ Kết hợp cả đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội.
- Đặt cơ sở lý luận quan trọng cho công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền
Việt Nam XHCN trong giai đoạn hiện nay.
- Ý nghĩa của việc học tập chuyên đề này đối với sinh viên:
+ Thấy được vai trò của Hồ Chí Minh trong việc khơi nguồn dân chủ và xác
lập nhà nước kiểu mới ở Việt Nam.
+ Nhận thức bản chất tốt đẹp của nhà nước ta.
+ Có thái độ đúng đắn trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân, tham gia
xây dựng nhà nước trong sạch, sáng suốt, mạnh mẽ. 20 CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1. Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước thể hiện quyền là chủ
và làm chủ của nhân dân?
Câu 2. Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất của nhà nước dân chủ mới ở nước ta?
Câu 3. Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ? CÂU HỎI TỰ LUẬN
Câu 1. Anh, chị hãy phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước của dân? Gợi ý:
* Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có công lao to lớn trong việc xây dựng lên nhà
nước dân chủ mới ở nước ta. Nhà nước dân chủ mới ở nước ta được Hồ Chí Minh chỉ
rõ đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân:
* Nhà nước của dân được hiểu như như sau:
- Khẳng định vị thế của nhân dân trong nhà nước: vị thế là chủ nhà nước
- Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
- Nhân dân có quyền quyết định mọi công việc liên quan đến vận mệnh dân tộc
- Cán bộ công chức trong bộ máy nhà nước là công bộc, là đầy tớ trung thành
của nhân dân; được nhân dân trao quyền lãnh đạo.
Câu 2. Anh, chị hãy phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước vì dân ? Gợi ý:
* Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có công lao to lớn trong việc xây dựng lên nhà
nước dân chủ mới ở nước ta. Nhà nước dân chủ mới ở nước ta được Hồ Chí Minh chỉ
rõ đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân:
* Nhà nước vì dân được hiểu như sau: 21
- Nhà nước phục vụ nhân dân, nghĩa là nhà nước đó được tổ chức và hoạt động
theo một mục tiêu duy nhất không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân.
- Nhà nước vì dân là nhà nước biết chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân,
trước hết là thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu nhất: làm cho dân có ăn; làm cho dân có
mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân được học hành; làm cho dân có điều kiện
khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe.
- Đối với cán bộ, đảng viên, nhân viên nhà nước, Người gọi đó là “công bộc” của dân.
- Bên cạnh việc đem lại lợi ích cho dân, chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân,
nhà nước phải biết kết hợp, điều chỉnh các loại lợi ích khác nhau giữa các giai cấp,
tầng lớp xã hội, các bộ phận dân cư để luôn được mọi người dân ủng hộ, xây dựng.
- Điều đặc biệt quan trọng mà Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh là để phục vụ
tốt nhân dân, vì dân, nhà nước phải thực sự liêm khiết, trong sạch, tránh quan liêu,
tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, phải loại hết "các ông quan cách mạng" ra khỏi bộ máy nhà nước.
Câu 3. Anh, chị hãy phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất giai
cấp của nhà nước dân chủ kiểu mới ở nước ta? Gợi ý:
* Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhà nước
luôn mang bản chất giai cấp một cách sâu sắc. Đó là bản chất giai cấp nắm quyền lực nhà nước.
* Khi xây dựng Nhà nước dân chủ kiểu mới ở nước ta Hồ Chí Minh đã kế thừa các
quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin về bản chất của nhà nước.
Người khẳng định, nhà nước dân chủ kiểu mới ở nước ta mang bản chất giai cấp công
nhân. Bản chất giai cấp công nhân của nhà nước dân chủ kiểu mới ở nước ta được thể hiện ở các khía cạnh:
- Nhà nước do Đảng cộng sản lãnh đạo. 22
- Bản chất giai cấp của Nhà nước còn thể hiện ở tính định hướng đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Bản chất giai cấp của nhà nước ta còn thể hiện ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động
cơ bản là nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Cơ sở xã hội của Nhà nước là khối đại đoàn kết dân tộc, khối đại đoàn kết toàn
dân, mà nòng cốt là liên minh công - nông - trí thức, v.v.
* Mặt khác khi khẳng định bản chất giai cấp của nhà nước Hồ Chí Minh còn chỉ
ra rằng: bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân, tính dân tộc của
Nhà nước (Nhà nước ta còn mang tính nhân dân và tính dân tộc). 23