












Preview text:
CHƯƠNG 7: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Danh mục các từ viết tắt
TTTC: Thị trường tài chính
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTW: Ngân hàng trung ương * GIỚI THIỆU CHƯƠNG
Chương này cung cấp những vấ ề n đ cơ bả ấ
n nh t về thị trường tài chính trên các khía cạnh: khái
niệm, đặc trưng cơ ản, b
phân loại, chức năng và vai trò của thị trường tài chính. Trên cơ sở đó, phần
tiếp theo của chương sẽ đi sâu nghiên cứu n i dung c ộ
ủa hai loại hình thị trường tài chính điển hình là
thị trường tiền tệ và thị trường v n. ố
* TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG Anh Minh là chủ một
doanh nghiệp khởi nghiệp, anh Minh đang cần huy động vốn để trang
trải cho các chi phí khởi nghiệp, đặc biệt là ầu đ
tư máy móc thiết bị cho
sản xuất sản phẩm mới. Sau khi tìm hiể ề
u v các phương án huy độ ốn, anh ng v
Minh được biết thị trường tài chính là kênh huy động
vốn rất hiệu quả dành cho doanh nghiệp. Tuy nhiên anh Minh đang cân nhắc về quyết định này vì
doanh nghiệp của anh mới thành lập, anh chưa hiểu rõ thị trường tài chính là gì? Thị trường tài chính
có chức năng và vai trò gì và doanh nghiệp có thể huy độ ố
ng v n trên thị trường tài chính bằng cách thức nào? * MỤC TIÊU:
− Hiểu được những vấn đề chung về thị trường tài chính như khái niệm, đặc trưng, chức năng
vai trò của thị trường tài chính.
− Nắm được hai bộ phận của thị trường tài chính là thị trư
ờng tiền tệ và thị trường vốn cũng
như các công cụ được sử ụ d ng ở hai loạ i thị trường này. − Vận d ng các ki ụ
ến thức học để giải thích, phân tích và đánh giá về chức năng, vai trò và hoạt
động của các thị trường tài chính trong thực tế * NỘI DUNG:
7.1. Những vấn đề chung về Thị trường tài chính
7.1.1. Khái niệm thị trường tài chính
Cơ sở khách quan cho sự sự ra đời của TTTC, đó chính là nhu cầu giải quyết mẫu thuẫn giữa
cung và cầu về vốn trong nền kinh tế thông qua các công cụ
tài chính đặc biệt là các loại chứng khoán,
làm nảy sinh nhu cầu mua bán, chuyển nhượng các công cụ tài chính giữa các chủ thể khác nhau trong
nền kinh tế. Chính sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ mà đỉnh cao của nó là kinh tế thị
trường làm nảy sinh một loại thị trư ờng mới là thị trư ờng tài chính. Vậy TTTC là gì? 1 - Theo cách tiếp cậ ề
n v cung và cầu vốn, Frederic S. Mishkin (The economics of money, banking
and financial markets,2007) đã đưa ra khái niệm: “Các thị trường tài chính là nơi diễn ra việc luân chuyể ố
n v n từ người dư thừa đến người thiế ụ u h t”
- Theo cách tiếp cận về các thành phần tham gia, phương tiện, phương thức giao ịch, d Scott
Besley and Eugene F. Brigham (Managerial Finance, 2008) đã đưa ra quan điểm: “Các thị trường tài
chính là hệ thống bao gồm các cá nhân và tổ chức, các công cụ, và cơ chế để người đi vay và người
tiết kiệm gặp nhau, mà không cần đề cập đến địa điểm cụ thể” Để ừ
v a đáp ứng được khía cạnh tiếp cậ ề n v cung cầ ố u v ừ
n v a mô tả được các thành phần tham
gia cũng như phương tiện, phương thức giao ịch d
và thanh toán, “Thị trường tài chính là nơi thực
hiện việc chuyển gi ồ
ao các ngu n v n t
ố ừ người cung vốn sang người c u v ầ
ốn theo các nguyên tắc
thị trường. Thị trường tài chính là tổng hòa của các mối quan hệ hàng hóa- vốn tiền tệ cung c , ầu,
giá cả, phương thức giao dịch và phương thức thanh toán.” (Ngu n
ồ : Giáo trình “Nhập môn tài
chính - tiền tệ” Chủ biên TS. Vũ Xuân Dũng, NXB Thống kê 2012)
Ở đây, thị trường tài chính không đơn thuần gắn với một địa điểm và không gian giao dịch cụ thể
mà có thể diễn ra ở bất cứ không gian, thời gian nào, ở đó
có quá trình trao đổi, mua bán vốn, tiền tệ.
TTTC cũng không đơn thuần chỉ là
cấu trúc giản đơn là người mua ngườ –
i bán, hàng-tiền, mà là một
hệ thống bao gồm tổng hợp các m i quan h ố
ệ mối quan hệ đa dạng phức tạp như các mqh sản phẩm tài
chính – tiền tệ, người mua – người bán – người trung gian, cơ chế vận hành, các phương thức giao dịch và thanh toán.
7.1.2. Các đặc trưng cơ bản của Thị trường tài chính
Về các đặc trưng của TTTC, so với các thị trường khác, thị trường tài chính có những đặc trưng cơ bản như sau:
- Thứ nhất là đặc trưng về đối tượng giao dịch. Ở các thị trường khác, đối tượng giao dịch hiện hữu
một cách rõ ràng. Tuy nhiên ở thị trường tài chính lại không như vậy. Bởi lẽ hàng hóa lưu thông trên
TTTC là một loại hàng hóa ặ
đ c biệt mà quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn rách rời nhau và việc giao
dịch chúng được thực hiện thông qua các sản phẩm tài chính (còn gọi là công cụ tài chính) như trái
phiếu, cổ phiếu, chứng khoán phái sinh.Ví dụ, một doanh nghiệp muốn huy ng độ vốn, họ phát hành
trái phiếu và bán cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Đối tượng giao dịch ở đây là trái
phiếu. Nhà đầu tư sẽ nhận được trái phiếu – loại chứng nhận về khoản nợ của doanh nghiệp và doanh
nghiệp sẽ nhận được phần v n n ố
ợ từ phát hành trái phiếu.
- Thứ hai là đặc trưng về ch
ủ thể giao dịch. Ở các thị trường khác, chẳng hạn thị trường hàng hóa tiêu
dùng, chủ thể giao dịch là người mua tham gia vào giao dịch với mục tiêu tiêu dùng trực tiếp sản phẩm
đó. Tuy nhiên ở thị trường tài chính, những người mua các công cụ tài
chính không phải để tiêu dùng
mà để kiếm lời hay phòng ngừa rủi ro.
- Thứ ba là đặc trưng về phương thức hoạt ộng. Đặc đ
trưng này thể hiện ở chỗ, các giao dịch trên thị
trường tài chính có thể dễ dàng thay đổi quyền sử ụ d ốn nhưng ng v quyền sở hữ ố u v n thì gắn liền với người có nguồ ố
n v n nhàn rỗi. Thông qua các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, thương phiếu,
chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu kho bạc hay các công c
ụ tài chính phái sinh, dòng vốn được luân chuyển
từ người sở hữu đến người sử dụng. Việc thực hiện các giao dịch cũng được thực hiện theo nhiều
phương thức khác nhau như
giao dịch tập trung thông qua cá nhà môi giới, tạo lập thị trường, thông 2
qua các sàn giao dịch và giao dịch phi tập trung thông qua hệ thống máy tính, các thiết bị điện tử hiện
đại, internet và các nền tảng mạng xã hội.
7.1.3. Phân loại Thị trường tài chính
TTTC có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau:
Thứ nhất, Căn cứ vào phạm vi hoạt động:
- Thị trường tài chính nội địa: là thị trường diễn ra các giao dịch mua bán các công cụ tài chính trong
phạm vi một quốc gia, bao gồm các chủ thể trong cùng quốc gia đó. Ví dụ: Thị trường giao dịch các
chứng chỉ tiền gửi dành cho khách hàng trong nước, thị trườ giao dị ng ch các sả ẩm bảo hiểm dành n ph
cho khách hàng trong nước.
- Thị trường tài chính quốc tế: là thị trường diễn ra các giao dịch mua bán các sản phẩm tài chính, các
công cụ tài chính giữa các chủ thể đến từ các quốc gia khác nhau. Ví dụ: Sở giao dịch chứng khoán
New York, nơi các nhà đầu tư đến từ nhiề ố
u qu c gia có thể tham gia giao dịch mưa bán chứng khoán niêm yết ở đó.
Thứ hai, căn cứ vào thời hạn thu hồi vốn đầu tư:
- Thị trường tiền tệ: là thị trường giao dịch các nguồn tài chính, các công cụ tài chính có thời hạn đầu
tư trong vòng một năm, hay còn gọi là các công cụ tài chính ngắn hạn.
- Thị trường vốn: là thị trường giao dịch các nguồn tài chính, các công cụ tài chính có thời hạn đầu tư
trên năm trở lên, hay còn gọi là các công cụ tài chính dài hạn.
Thứ ba, căn cứ vào cơ chế hoạt động:
- Thị trường tập trung: là thị trường có tổ chức và có phương thức giao ị
d ch (khớp lệnh, thỏa thuận)
tập trung qua sàn giao dịch, c ịu
h sự quản lý của đơn vị tổ chức t ị
h trường và chịu sự giám sát ở b i cơ
quan quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật. Ví dụ về thị trường tập trung ở Việt Nam, chúng
ta có sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Mi nh (HOSE)
là hai thị trường tập trung về giao dị ch chứng khoán.
- Thị trường phi tập trung: là thị trường có tổ chức nhưng không có địa điểm giao dịch th ng nh ố ất, địa
điểm giao dịch là các sàn giao dịch của các công ty chứng khoán thành viên của thị trường. Các hoạt
động trên thị trường này thường được thực hiện thông qua hệ thống máy vi tính và điện thoại kết nối
giữa các chủ thể tham gia. Ví ụ
d ở Mỹ, thị trường phi tập trung (OTC) bao g m ồ các giao dịch mua bán
các loại chứng khoán chưa đủ điều kiện để niêm yết trên thị trường tập trung.
Thứ tư, căn cứ vào đối tượng giao dịch:
- Thị trường vàng: là thị trường bao gồm các giao dịch trao đổi, mua bán vàng vật chất và phi vật chất
(chứng chỉ vàng). Trên thị t ờng rư
này, hang hóa giao dịch là kim loại quý vừa đóng vai trò là tiền tệ
vừa đóng vai trò là phương tiện đầu tư, tích trữ của cải.
- Thị trường ngoại hối: là thị trường trao đổi giữa các đ ng t ồ
iền và các phương tiện thanh toán có giá
trị ngoại tệ, đồng thời là nơi hình thành tỉ giá hối đoái theo quan hệ cung cầu.
- Thị trường chứng khoán: là thị trường diễn ra các giao dịch phát hành, trao đổi, chuyển nhượng các
loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, các chứng khoán phái sinh 3
- Thị trường tín dụng: là thị trường bao gồm các giao dịch tín dụng như nhận gửi, cho vay và các hình thức tín dụng khác.
Thứ năm, căn cứ vào thời hạn giao nhận:
- Thị trường giao nhận ngay: Thị trường giao ngay là thị trường mà ở đó việc ký kết hợp đồng giao
dịch các công cụ tài chính và việc thanh toán, giao nhận được thực hiện ngay trong ngày giao dịch hoặc
trong thời gian thanh toán bù trừ theo quy đị nh.
- Thị trường giao nhận có h
kỳ ạn là thị trường mà tại đó việc ký kết hợp đồng giao dịch mua bán các
công cụ tài chính diễn ra tại một thời điểm nhất định, nhưng việc giao nhận và thanh toán chúng được
thực hiện sau ngày giao dịch một khoảng thời gian nhất định. Thứ sáu, căn cứ n v vào các giai đoạ
ận động của các công cụ tài chính:
- Thị trường sơ cấp: Là thị trường diễn ra việc phát hành các công cụ tài chính. Việc phát hành các
công cụ tài chính chủ yếu là để tạo vốn cho chủ thể phát hành;
- Thị trường thứ cấp: Là thị trường diễn ra việc mua bán lại các công c
ụ tài chính đã phát hành. Thị
trường này không tạo vốn cho chủ thể phát hành, mà để di chuyể ố n v ầu n đ
tư và công cụ tài chính giữa các nhà đầu tư.
Thứ bảy, căn cứ vào tính chất pháp lý:
- Thị trường tài chính chính thức: là b
ộ phận của thị trường tài chính, mà tại đó mọi hoạt ộng đ huy
động, cung ứng, giao dịch các nguồn tài chính, các công cụ tài chính được thực hiện theo những nguyên
tắc, thể chế do nhà nước quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Các chủ thể tham gia được pháp
luật thừa nhận và được nhà nước bảo vệ; Đây là thị trường hoạt động công khai, minh bạch, có sự quản
lý và giám sát chặt chẽ của nhà nước.
- Thị trường tài chính phi chính thức: là thị trường tài chính, mà ở đó mọi hoạt động huy động, cung
ứng, giao dịch các ng ồn tài u
chính, các công cụ tài chính không theo những nguyên tắc, thể chế do nhà
nước quy định. Đây là thị trường thường hoạt động không công khai, thiếu sự minh bạch, thiếu sự quản
lý và giám sát chặt chẽ của nhà nước. Do đó, có nhiều rủi ro so với thị trường chính thức.
7.1.4. Chức năng và vai trò của Thị trường tài chính a. Chức năng
Thị trường tài chính có bốn chức năng quan trọng, đó là: Thứ ấ
nh t, thị trường tài chính dẫn v n t
ố ừ nơi dư thừa vốn đến nơi thiếu hụt vốn. Nếu không có
thị trường tài chính thì người dư thừa v n ch ố
ỉ biết giữ vốn của mình, như vậy không có khả năng sinh
lời và người khát vốn để tiêu dùng hay sả ất cũng không n xu
tiếp cận được người cung vốn vì khó tìm
được người đáp ứng nhu cầ ố
u v n của mình. Chính thị trường tài chính là nơi giải quyết những khoảng
cách giữa người dư thừa vốn và người thiế t v ụ u h
ốn, nó chính là chiếc cầu nối giữa cung và cầu vốn
trong nền kinh tế. Thông qua các công cụ tài
chính, người phát hành công cụ tài chính là người đang thiế ụ
u h t vốn, còn người mua các công cụ tài
chính đó là người đang dư thừa vốn, muốn đem nguồn
vốn nhàn rỗi của mình đi đầu tư kiếm lời. Do đó mà vốn được luân chuyển từ nơi dư thừa đến nơi thiếu
hụt trong nền kinh tế xã hội.
Thứ hai, thị trường tài chính cung cấp khả năng thanh khoản cho các công c ụ tài chính. Người
tham gia trên thị trường tài chính với mục tiêu chính là kiếm lợi nhuận hay phòng ngừa rủi ro. Do đó, 4 bên cạnh một ộ b ận ph
nhà đầu tư nắm giữ công cụ tài
chính lâu dài, thì một bộ ận ph không nhỏ nhà
đầu tư luôn tìm cách mua đi bán lại các công cụ tài chính để
kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá hoặ c để
chuyển đổi danh mục đầu tư. ệ Vi c giao ị
d ch mua bán qua lại các công cụ tài chính với nhau trên thị
trường tài chính tạo nên tính thanh khoản cao cho các công cụ tài chính. Hi
ện nay, các công cụ tài
chính có tính thanh khoản cao nhất trên thị trường có thể kể đến như ngoại tệ mạnh, cổ phiếu, trái phiếu
của các công ty đại chúng có uy tín.
Thứ ba, thị trường tài chính cung cấp thông tin, hình thành giá cả của các tài sản tài chính. Trên
thị trường tài chính, tất cả các tài sản tài chính khi được giao dịch trên thị trường cần phải cung cấp thông tin đầ ủ, r y đ
õ ràng, minh bạch cho các chủ thế mua bán nắm được. Thị trường tài chính chính là
nơi hình thành nên giá cả của những công cụ tài
chính cũng giống như việc thị trường thông thường
hình thành nên giá cả của hàng hóa thông qua quy luật cung cầu của thị trường.
Thứ tư, thị trường tài chính đánh giá giá trị doanh nghiệp và đánh giá nền kinh tế. Đối với một
doanh nghiệp khi phát hành các công cụ tài chính trên thị trường tài chính, giá cả ần ph nào thể hiện giá
trị của bản thân doanh nghiệp đó. ậy, Vì v
thông qua thị trường tài chính, chúng ta có thể đánh giá được
giá trị của một doanh nghiệp. Xét về tổng thể nền kinh tế, thị trường tài chính phản ánh sức khỏe của
nền kinh tế. Với chức năng dẫn v n c ố
ủa mình, khi thị trường tài chính phát triển, các công cụ tài chính
đa dạng, hành lang pháp lý ổn định, hợp lý, cơ chế quản trị rủi ro hiệ ả, u qu sẽ là một chất xúc tác vô
cùng quan trọng cho sự phát triển của tất cả các ngành trong nền kinh tế xã ộ
h i. Một kênh dẫn truyền
vốn hoạt động minh bạch hiệu quả sẽ kích thích hoạt ộng đ
sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hóa.
Chính vì vậy mà chúng ta hoàn toàn có thể đánh gi á trình độ phát tri
ển của một nền kinh tế thông qua
sự phát triển của thị trường tài chính của quốc gia đó. b. Vai trò
Thị trường tài chính có ba vai trò cơ bản như sau:
Vai trò thứ nhất, thị trường tài chính là kênh tập trung và huy độ ố
ng v n trong nền kinh tế. Thông
qua việc phát hành các công cụ tài chính trên TTTC, các n v nguồ
ốn nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội
được tập trung về các chủ thể huy độ ốn, ng v
hình thành các quỹ tiền tệ đủ
lớn để phân phối lại tới
những chủ thể có nhu cầu sử dụng. TTTC trở thành kênh trung huy động vốn trong nền kinh tế, nó
giống như là một cục nam châm thu hút nhữ ồ ng ngu ố
n v n nhàn rỗi từ mọi chủ thể. Vai trò thứ hai,
thị trường tài chính là công cụ điều
hòa vốn trong nền kinh tế. Vai trò này thể
hiện rất rõ ở chỗ, thị trường tài chính dẫn vốn từ nơi dư thừa đến nơi thiế ụ u h ồ t. Ngu ố n v n dư thừa của
các chủ thể trong nền kinh tế xã hội sẽ được tập trung, huy động trên TTTC, từ đó cung cấ ố p v n cho các chủ thể đang thiế ốn u v
để đáp ứng nhu cầu đầu tư, sả ất, n xu
kinh doanh và tiêu dùng. Thông qua
thị trường tài chính, nhà đầu tư đang dịch chuyể ốn n v
đầu tư của mình từ doanh nghiệp niêm yết này
sang doanh nghiệp niêm yết khác, từ ngành này sang ngành khác, từ công cụ tài chính này sang công
cụ tài chính khác, từ nơi có tỷ suất sinh lợi thấp, rủi ro cao sang những nơi có tỷ suất sinh lợi cao,rủi ro thấp.
Vai trò thứ ba, thị trường tài chính là môi trường giúp Nhà nước thực hiện các chính sách kinh tế
vĩ mô. Thông qua thị trường tài chính, nhà nước có thể triển khai thực hiện các chính sách tài chính,
tiền tệ của mình. Đối với chính sách tài khóa, việc phát hành tín phiếu, trái phiếu chính phủ hay trái
phiếu chính quyền địa phương trên thị trường tài chính sẽ giúp
Nhà nước tập trung, huy động được 5 nguồn v n nhàn r ố
ỗi trong nền kinh tế xã hội để cân đ i
ố Ngân sách Nhà nước. Đối với chính sách tiền tệ ằ
, b ng việc ban hành và điều chỉnh các các công cụ c
hính sách tiền tệ như lãi suấ
t điều hành, tỷ lệ dữ
trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở,… Nhà nước có thể điều tiết lượng tiền cung ứng trong nền kinh
tế để kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiề ốc n qu
gia, hay kích thích thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm.
7.2. Thị trường tiền tệ
7.2.1. Khái niệm, đặc điểm và các bộ phận của thị trường tiền tệ a. Khái niệm:
Thị trường tiền tệ là một bộ phậ ấ
n c u thành của thị trường tài chính, nơi diễn ra quá trình
phát hành, giao dịch, mua bán các công tài cụ chính ng n h ắ
ạn nhằm đáp ứng nhu c u v ầ n ng ố ắn
hạn của nền kinh tế (Nguồn: Giáo trình “Nhập môn tài chính - tiền tệ” Chủ biên TS. Vũ Xuân Dũn g, NXB Thống kê 2012) b. Đặc điểm
Thị trường tiền tệ có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Đối tượng giao dịch trên thị trường tiền tệ được gọi là “công c
ụ của thị trường tiền tệ” có thời hạn
đáo hạn ngắn (thời hạn hiệu lực trong vòng 1 năm), có tính thanh khoản cao, độ rủi ro thấp. - Hoạt ộ
đ ng của thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu trong hệ thống tổ chức tín d ng qua h ụ ình thức tài
chính đặc trưng – tài chính gián tiếp. Về bản chất, đây là một thị trường giao dịch “quyền sử ụ d ng vốn”
có thời gian sử dụng trong vòng một năm thông qua hoạt ộng đ
giao dịch giữa những người tiết kiệm
vốn và các tổ chức tín dụng mà chủ yếu là ngân hàng thương mại.
c. Cấu trúc của thị trường tiền tệ
Xét theo đối tượng giao dịch và đặc điểm ạ
ho t động, thị trường tiền tệ được cấu thành bởi các bộ phận cơ bản, đó là: - Thị trường tín d ng ng ụ ắn hạn. Các hoạt ộ
đ ng tại trường này bao gồm: hoạt ộng đ huy động vốn và
cho vay ngắn hạn của các tổ chức tín dụng và các hoạt ộ
đ ng trên thị tường liên ngân hàng nhằm giải quyết nhu cầu về ố v ắ n ng ạ
n h n giữa các ngân hàng. Giá cả hình thành trên thị trường này là các lãi suất ngắ ạ n h n.
- Thị trường ngoại hối (thị trường hối đoái) là thị trường diễn ra các giao dịch trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các ồ
đ ng tiền. Giá cả hình thành trên thị trường này là tỷ giá hối đoái. Thị trườ ối ng h đoái
Cung cấp dịch vụ cho các khách hàng có nhu cầu thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế. Giúp luân chuyển các ản kho đầu tư, tín dụ ố
ng qu c tế, các giao dịch tài chính quốc tế khác. Thông qua hoạt
động của thị trường ngoại hối có thể xác định được sức mua đối ngoại của đồng tiề c gi ố n qu a một cách
khách quan theo qui luật cung cầu của thị trườ ạnh đó, t ng. Bên c
hị trường ngoại hối còn cung cấp các công cụ phòng ngừa rủi ro tỉ giá
thông qua công cụ như các ợp h
đồng kì hạn, hoán đổi, quyền chọn,
tương lai. Đây còn là nơi để NHTW thực thi chính sách tỷ giá hối đoái của mình, đồng thời can thiệp,
điều chỉnh đến tỷ giá hối đoái theo nhữ mụ ng c tiêu nhất định.
- Thị trường giao dịch các các giấy tờ có giá ngắn hạn: Các giấy tờ có giá ắ
ng n hạn bao gồm: thương
phiếu, tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng, …. 6
7.2.2. Các công cụ của thị trường tiền tệ
Các tài sản tài chính hay hàng hóa được giao dịch trên thị trường tiền tệ khá đa dạng, bao gồm các loại sau đây:
a. Tín phiếu kho b c ạ
Tín phiếu kho bạc là loại chứ ậ
ng nh n nợ ngắn hạn c a Chính ph ủ
ủ do kho bạc Nhà nước phát hành nhằm bù đắp thiế ụ
u h t tạm thời của NSNN. Tín phiếu kho bạc được phát hành với thời gian có thể đư ợc tính
theo ngày, tuần hoặc tháng. thông thường là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng hoặc 12 tháng. Đây là công cụ tài chính quan tr ng nh ọ
ất của thị trường tiền tệ vì có độ an toàn cao, khố
ợng phát hành lớn, có tính i lư
thanh khoản cao, có chi phí chuyển nhượng thấp. Tín phiếu kho bạc được xem là công cụ tài chính có
độ rủi ro thấp nhất trên thị trường tiền tệ bởi vì hầu như không có khả năng vỡ
nợ từ người phát hành.
Tuy nhiên mức lãi suất của nó thường thấp hơn các công cụ khác
lưu thông trên thị trường tiền tệ. Tín
phiếu kho bạc thường được phát hành theo từng lô bằng phương pháp đấu giá. Người mua chủ yếu là
trung gian tài chính như các ngân hàng thương mại, các công ty, các công ty bảo hiểm và các trung gian tài chính khác. b. Thương phiếu
Thương phiếu là công cụ ghi nhận sự cam kết thanh toán vô điều kiện một số tiền xác định trong một
thời hạn nhất định. Đây là các giấy tờ chứng nhận quyền chủ nợ về số ti
ền hàng hoá, dịch vụ mua bán
chịu giữa các doanh nghiệp với nhau. Thương phiếu được phát hành không chỉ trong qua n hệ mua bán
chịu hàng hóa mà còn được phát hành để vay vốn trên thị trường tiền tệ. Các công ty danh tiếng khi có
nhu cầu vốn có thể phát
hành thương phiếu bán trực tiếp cho người mua theo mức giá chiết khấu.
Những người đầu tư thương phiếu thường là các ngân hàng thương mại, ngoài ra còn có các trung gian
tài chính và công ty khác. Các thương phiếu có đặc điểm là có mức độ rủi ro cao hơn tín phiếu kho bạc
nhưng mức lãi suất chiết khấu cũng cao hơn. Thương phiếu bao gồm:
+ Lệnh phiếu hay kỳ phiếu (promissory note): Do người mua chịu ký phát hành cho người bán, trong
đó cam kết thanh toán một món nợ bằng tiề ất đị n nh nh khi tới hạn.
+ Hối phiếu (Bill of exchange): Là loại thương phiếu do người bán ký phát hành ra lệnh cho người mua
khi tới hạn phải thanh toán một số tiền nợ cho người bán chịu hay bất kỳ một người nào xuất trình hối phiếu.
c. Chứng chỉ tiền gửi ngân hàng
Chứng chỉ tiền gửi ngân hàng: là công cụ vay nợ do NHTM phát hành, xác nhận một khoản tiề ử n g i
có kì hạn hoặc không có kì hạn của người được cấp chứng chỉ, với lãi suất được qui định cho từng thời
hạn nhất định. Trên thực tế, loại giấy tờ này có giá trị như một quyển sổ tiết kiệm để thể hiện người
nắm giữ đang có một khoản tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng đó. Loại hình chứng chỉ này xuất hiện lần đầ ạ
u tiên t i Mỹ vào năm 1961 và được lưu hành rộng rãi hơn ở Anh. Khi đó, chứng chỉ tiề ửi đượ n g c
xem là một loại trái phiếu và người sở hữu có thể chuyển nhượng, tặng cho người khác. Khi ạ b n sở
hữu chứng chỉ tiền gửi này, bạn vẫn sẽ được hưởng các khoản tiền lãi định k
ỳ theo quy định của ngân
hàng, nên bạn có thể an tâm hơn về độ an toàn và minh bạch.
d. Giấy chấp nh n thanh toán c ậ ủa ngân hàng 7
Giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng là lệnh thanh toán một số tiền vào một ngày trong tương lai mà ngân hàng chấ
ận thanh toán cho khách hàng của mình. Trong các giao dịch mua bán chịu, khi p nh
người bán không tin tưởng vào khả năng t
hanh toán của người mua, họ sẽ yêu cầu người mua phải có
sự bảo đảm thanh toán từ một
ngân hàng có uy tín. Khi ngân hàng chấp nhận ảo lãnh b cho khoản thanh
toán, nó cho phép người bán ký phát hối phiếu đòi tiền thẳng từ ngân
hàng và ngân hàng sẽ đóng dấ u chấ ậ p nh n trả ti
ền lên tờ hối phiếu đó. Như vậy người trả tiền h i phi ố
ếu bây giờ không phải là người
mua nữa mà là ngân hàng, do vậy người bán được đảm bảo khá chắc chắ ề
n v khả năng thanh toán củ a
tờ hối phiếu. Để được ngân hàng ký chấp nhận vào tờ hối phiếu, người mua chịu phải ký quỹ gửi vào
ngân hàng một phần hoặc toàn ộ
b số tiền ghi trên tờ hối phiếu hoặc được ngân hàng đồng ý cho vay để
thanh toán hối phiếu. Ngân hàng sẽ thu từ người mua chịu một khoản phí bảo đảm thanh toán. Các
giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng này được sử d ng khá ph ụ
ổ biến trong lĩnh vực xuất nhập
khẩu. Do được ngân hàng chấp nhận thanh toán nên các giấy chấp nhận thanh toán ngân hàng là một công cụ nợ có ộ đ an
toàn khá cao, nhất là khi ngân hàng chấ ận p nh
là các ngân hàng lớn, có uy tín.
Những người sở hữu giấy chấ ận p nh thanh toán có thể đem
bán chúng trên thị trường tiền tệ với giá
chiết khấu để thu tiền mặt ngay khi cầ ố n v n. Do đó, có thể xem
giấy chấp nhận thanh toán của ngân
hàng là loại CK rất an toàn vì chúng được ngân hàng đảm bảo chi trả.
e. Các hợp đồng mua lại
Các hợp đồng mua lại: Hợp đồng mua lại (tiếng Anh: Repurchase Agreement) hay còn gọi là thỏa
thuận mua lại là hợp đồng mua bán tài sản tài chính với cam kết của người bán sẽ mua lại tài sản tài
chính đó từ người mua với một mứ ụ
c giá c thể vào một ngày cụ thể trong tương la i.
Về mặt bản chất, thỏa thuận mua lại là một khoản vay có tài sản thế chấp, trong đó tài sản thế chấp là
các công cụ tài chính như tín phiếu, trái phiếu kho bạc, các chứng khoán bảo đảm bằng hợ ồ p đ ng thế
chấp, các chứng khoán bảo đảm bằng tài sản, thậm chí là các loại cổ phiếu. Chênh lệch giữa giá mua
lại và giá bán chính là tiền lãi của khoản vay và được xác ịnh đ
theo công thức như trên mành hình.
Việc xác định giá mua lại căn cứ trên lãi suất repo đượ c th a thu ỏ ận với khách hàng.
Kỳ hạn của repo thường là các kì hạ ắn, n ng trong đó phổ biế ấ
n nh t là các thỏa thuận qua đêm hoặc vài
ngày. Thỏa thuận mua lại qua đêm (Overnight Repo) là khoản vay trong một ngày; khoản vay theo
hình thức Repo trong thời hạn lâu hơn một ngày được gọi là thỏa thuận mua lại có thời hạn (Term Repo).
Các hợp đồng mua lại dài hạn hơn thường được kí kết theo các kì hạn tiêu chuẩn như 1 tuần, 2 tuần, 3
tuần hay 1, 2, 3 tháng hay 6 tháng. Thời hạn hợp đồng Repo có thể đượ
c thỏa thuận theo nguyên tắc
"mở", tùy thuộc vào nhu cầ ố
u v n của bên đi vay và khả năng đáp ứ ồ ng ngu ố
n v n của bên cho vay, hợp
đồng có thể tiếp tục như hàng loạ ợp t các h
đồng repo qua đêm. Chúng có thể được gia hạn mỗi ngày
với mức giá (lãi suất) thay đổi theo điều kiện thị trường
f. Trái phiếu ngắn h n c ạ ủa công ty
Trái phiếu ngắn hạn của các công ty là giấy chứng nhận nợ ngắn hạn do các công ty phát hành nhằm
mục đích đáp ứng nhu cầu vốn tạm thời thiế ụ
u h t của mình. Thông thường thì chỉ ững nh dn, những tập
đoàn lớn, có uy tín cao mới có thể phát hành thành công công cụ này để huy độ ố ng v n.
g. Tín phiếu ngân hàng trung ương 8
Tín phiếu NHTW là chứng chỉ vay nợ do NHTW phát hành bán cho các NHTM và các t ổ chức tín
dụng, có thời hạn dưới 12 tháng nhằm mục đích huy động vốn trong những trường hợp đặc biệt.
7.3. Thị trường vốn
7.3.1. Khái niệm, đặc điểm và cấu trúc thị trường vốn a. Khái niệm
Thị trường v n là b ố
ộ phận của thị trường tài chính, tại đó diễn ra quá trình giao dịch phát
hành, mua bán, chuyển nhượng các công cụ TC trung và dài hạn (Ngu n: Giáo trình “Nh ồ ập môn
tài chính - tiền tệ” Chủ biên TS. Vũ Xuân Dũng, NXB Thống kê 2012)
Khác với thị trường tiền tệ, các công cụ tài chính trên th
ị trường vốn có thời hạn trên 1 năm.
Chính vì vậy, các công cụ tài chính trên thị trường vốn có độ rủi ro cao hơn và tính thanh khoản của
chúng cũng thấp hơn so với các công cụ trên thị trường tiền tệ.
Bên cạnh đó, chủ thể tham gia trên thị trường vốn khá đa dạng như các các công ty, chính phủ,
các tổ chức tài chính trung gian, các nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư cá nhân, nhà giao dịch, tạo lập thị
trường,… Xét về cơ cấu, thị trư
ờng vốn bao gồm thị trư
ờng vốn sơ cấp – nơi diễn ra các ạ ho t ộ đ ng
phát hành các công cụ tài chính để tạ ốn cho o v chủ thể phá t hành, và thị trườ ố
ng v n thứ cấp – nơi diễn
ra các hoạt động mua đi, bán lại các công cụ tài chính đã phát hành nhằm di chuyể ố n v n đầu tư, kiểm
soát và thay đổi mức chấp nhận rủi ro. b. Đặc điểm
Thị trường vốn có những đặc điểm cơ bản sau:
- Đối tượng hàng hóa giao dịch trên thị trường vốn được gọi ông là “c
cụ của thị trường vốn” c ó
thời hạn đáo hạn từ 1 năm trở lên, có tính thanh khoả ụ
n ph thuộc vào trạng thái thị trường và chất
lượng của chính đối tượng đang được giao dịch trên thị trường, có độ rủi ro cao hơn các đối tượng giao
dịch trên thị trường tiền tệ. - Hoạt ộ
đ ng của thị trường v n di ố
ễn ra trong phạm vi rộng, bao quát cả thị trường tín dụng, cho
thuê tài chính, cho vay thế chấp và thị trường chứng khoán. Về bản chất, đây là loại hình thị trường
giao dịch các công cụ tài chính có thời gian sử ụ d ng từ một năm trở lên.
c. Cấu trúc của thị trường vốn
Thị trường vốn có nhiều bộ phận hợp thành và tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu t ổ chức quản
lý điều hành mà thị trường vốn được chia thành những bộ phận khác nhau.
Căn cứ vào hình thức vận động, thị trườ ố
ng v n được cấu thành bởi các bộ phận gồm: thị trường
tín dụng trung, dài hạn và thị trường chứng khoán.
- Thị trường tín d ng tru ụ
ng và dài hạn được biểu hiện chủ yếu qua hoạt động c a hai hình th ủ ức
phổ biến là thị trường tín dụng cho thuê tài chính và thị trường cho vay thế chấp. Thị trường tín dụng
cho thuê tài chính là loại hình thị trường tín dụng diễn ra các giao ịch cho d
thuê tài chính. Thị trường
cho vay thế chấp là thị trường thực hiện cho vay vố ắn n g liền với giao ịch, d đảm ảo b tiền vay bằng
việc thế chấp tài sản, thông thường là thế chấ ằng bấ p b
t động sản của người đi vay. Thị trường này gắn
bó mật thiết với thị trường bất động sản. 9
- Thị trường chứng khoán: Đây là bộ phận thị trường biểu hiện hình thức phát triển cao nhất của
thị trường vốn, tại thị trường này diễn ra các hoạt ộng đ
phát hành, giao dịch, mua bán các loại chứng khoán. Nếu nhìn từ góc độ bao
quát về các hình thức giao dịch vốn thông qua các công cụ tài chính
trung và dài hạn trong nền kinh tế, có thể thấy thị trường v n và t ố
hị trường chứng khoán chỉ là cách
gọi khác nhau của cùng một thi trường giao dịch các nguồn vốn (trung và dài hạn) trong nền kinh tế, trong đó thị trườ ốn ng v
biểu hiện bản chất của quá trình giao dịch các chứng khoán còn thị trường
chứng khoán biểu hiện hình thức bên ngoài của của giao dịch vốn trung và dài hạn.
7.3.2. Các công cụ của thị trường vốn
Các công cụ tài chính được giao dịch trên thị trường vốn cũng khá đa dạng. Bao gồm các công cụ ch ủ yếu sau đây: a. Cổ phiếu
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác ận quyền và l nh
ợi ích hợp pháp của người sở ữu đố h i với một phần v n c ố ph ổ
ần của tổ chức phát hành. C phi ổ
ếu có bản chất là công cụ góp vốn và chỉ do các công ty cổ phầ ầ n phát hành. Khi c n huy
động vốn, công ty cổ phần chia số vốn cần huy động thành nhiều phầ ỏ
n nh bằng hau, gọi là các cổ
phần. Người mua và nắm giữ những cổ ần này ph
được gọi là cổ đông.
Với số cổ phần đã mua, các cổ
đông được cấp một giấy chứ ận sở ng nh
hữu, giấy này gọi là cổ phiếu.
Cổ phiếu có một số đặc điểm cơ bản sau đây: - Thời hạn của c phi ổ ếu: bằng cách mua c
ổ phiếu do công ty cổ phần phát hành, các nhà đầu tư đã cung cấ ốn p v cho công ty hoạt ộng. đ Tuy nhiên, các cổ đông
lại không được phép rút khoả ố n v n này về trừ trườ ợp ng h công ty ngừng hoạt ộng đ
hoặc có quy định đặc biệt cho phép được rút vốn.
Chính vì lý do như vậy nên có thể coi cổ phiếu có thời hạn thanh toán vốn bằng thời gian hoạt ộ đ ng
của công ty. Trên thực tế, trừ trườ ợ
ng h p phá sản hoặc kết quả kinh doanh quá tồi tệ, còn nói chung thì các công ty sẽ ẫ
v n duy trì hoạt động mãi mãi, cho nên có thể nói thờ
i hạn của cổ phiếu là vô hạn. Mặc
dù vậy, các cổ đông được phép chuyển nhượng cổ phần mà mình nắm giữ cho người khác và bằng
cách đó có thể rút lại khoả
ốn mà mình đã đầu tư vào công ty cổ n v phần.
- Giá trị của cổ phiếu được thể hiện trên 3 phương diện sau:
+ Mệnh giá: là số tiền ghi trên bề mặt cổ phiếu. Mệnh giá thường được ghi bằng n i t ộ ệ và bằng
bao nhiêu là do luật chứng khoán quy định hoặc điều lệ của công ty cổ ần quy đị ph nh.
+ Giá trị ghi sổ: là giá trị của mỗi cổ phần căn cứ vào giá trị tài sản ròng của công ty trên bảng tổng kết tài sản.
+ Giá trị thị trường: là giá cả c a c ủ
ổ phiếu khi mua bán trên thị trường.
Cổ phiếu có hai loại cơ bản là cổ phiế ổ
u ph thông (còn gọi là cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi. - C phi ổ ếu ph
ổ thông: là loại cổ phiếu mà cổ tức không được xác định trước, mức cổ tức và hình thức chi trả ụ
ph thuộc vào kết quả hoạt động và chính sách phân phối cổ tức của công ty phát hành.
Đối với cổ phiếu phổ thông, cổ đông có quyền tham dự đạ
i hội cổ đông, được quyền bỏ phiếu biểu quyết ố
đ i với các vấn đề của công ty, có quyền ứng cử bầ
u cử các thành viên trong ban quản trị điề u
hành của công ty. Tuy nhiên, cổ tức của cổ phiếu phổ thông lại hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh 10
doanh của công ty phát hành, và trong trườ ợp ng h
công ty phá sản, thì cổ đông sở ữu CP thường này h là một trong số ững nh
đối tượng được trả nợ sau
cùng, sau khi công ty đã thực hiện xong tất cả các nghĩa vụ nợ khác,
kể cả việc trả nợ trái phiếu và phân chia tài sản còn lại cho cổ độ ng ưu đãi. Vì vậy mà cổ phiế ổ
u ph thông có phần rủi ro cao hơn, nhưng cũng đi kèm với ả
kh năng sinh lợi cao hơn so
với các cổ phiếu khác. - C
ổ phiếu ưu đãi: Là loại cổ phiếu mang lại cho chủ sở ữ
h u những quyền lợi ưu đãi so với cổ đông phổ thông
như CP ưu đãi về cổ thức, CP ưu đãi tham dự, CP ưu đãi chuyển đổi, CP ưu đãi tích
lũy, CP ưu đãi về quyển bỏ phiế oặ
u h c được quyền đòi lại vốn). Đối với cổ phiếu ưu đãi, mặc dù cổ
đông ưu đãi không có những quyền như cổ đông phổ thông,
nhưng lại có những quyền lợi ưu đãi mà
cổ đông sơ hữu cổ phiếu thường không có. Trong trường hợp công ty phá sản, sau khi công thực hiện
các nghĩa vụ nợ và nghĩa vụ tài chính khác, thì cổ đông sở ữu CP ưu đãi là h đố ợng đượ i tư c phân chia tài s i tr ản còn lạ
ước cổ đông sở hữu cổ phiế ổ u ph thông. b. Trái phiếu
Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu trái phiếu
đối với một phần nợ của tổ chức phát hành.
Các loại trái phiếu trên thị trườ ố ng v ồ n g m:
- Trái phiếu chính phủ: Đây là loại Trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục đích huy động
vốn để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, đầu tư của ngân sách nhà nước. Nói cách khác, trái phiếu chính phủ
là chứng thư xác nhận khoản nợ của chính phủ. Thông thường, chính phủ sẽ giao cho cơ quan chuyên
môn là kho bạc nhà nước chịu trách nhiệm phát hành trái phiế ậy, loạ u. Vì v
i trái phiếu này còn có tên
là trái phiếu kho bạc. Ví dụ: ở Việt Nam trái phiếu chính phủ do Chính phủ ủy quyền cho kho bạc Nhà nước ặ ho c ngân hàng phát triể ệ n Vi t Nam (trước đây ọ g i là quỹ ỗ
h trợ phát triển) phát hành với mục
đích huy động vốn để tài trợ c
ho nhu cầu chi tiêu, đầu tư của nhà nước.
- Trái phiếu chính quyền ịa
đ phương. Đây là loại trái phiếu được các chính ền quy địa phương phát hành để huy độ
ng vốn cho các mục đích cụ thể, thường là để xây dựng những công trình hạ tầng
cơ sở hay phúc lợi công cộng của địa phương. Ví dụ: trái phiếu phát triển đô thị do UBNN TP. Hồ Chí
Minh phát hành. Khác với trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyề ịa phương n đ tiềm ẩn rủi ro thanh
toán, tùy theo từng chính quyền địa phương mà mức độ rủi ro này cũng khác nhau.
- Trái phiếu công trình là loại trái phiếu được phát hành để huy độ ố
ng v n cho những mục đích cụ
thể, thường là để xây dự ững ng nh
công trình cơ sở hạ tầng hay công trình phúc lợi công cộng. Trái
phiếu này có thể do Chính phủ
trung ương hoặc chính quyền địa phương phát hành.
- Trái phiếu doanh nghiệp: Đây là loại trái phiếu do các công ty hoặc các doanh nghiệp đang hoạt
động phát hành với mục đích ổ
b sung vốn kinh doanh. Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán
có lợi tức cố định và người sở hữu trái phiếu chỉ l à chủ nợ của doanh nghiệp phát hành, do đó chủ sở
hữu trái phiếu không được tham dự và can thiệp vào hoạt động của tổ chức phát hành. Tuy nhiên, đầu tư vào trái phiế ẫn có mứ u v
c độ an toàn cao hơn so với đầu tư vào cổ phiếu.
Ngoài các loại trái phiế ể
u k trên, còn có một số loại trái phiếu khác ít phổ biến hơn như trái phiếu
ngân hàng và các tổ chức tài chính, trái phiếu xây dựng,… c. Chứng chỉ ỹ qu 11
Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp
của quỹ đầu tư chứng khoán. Nói cách khác, chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở
hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đầu tư chứng khoán. Có hai mô hình thành lậ ỹ p qu đầu tư:
- Một là, quỹ đầu tư dạng công ty có tư cách pháp nhân, có hội ồ
đ ng quản trị - cơ quan quản lý điều
hành cao nhất được phép phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng đ ể huy độ ốn ng v đầu tư. Thực chất,
mô hình này giống một công ty cổ phần.
- Hai là, quỹ đầu tư dạng hợp đồng, đây là loại hình quỹ đầu
tư không có tư cách pháp nhân, do một công ty quản lý quỹ huy độ ốn ng v
bằng cách lấy tổng lượ ố
ng v n dự kiến huy động chia nhỏ thành những phầ ằ
n b ng nhau và phát hành chứng chỉ tương ứng với phần vốn đó bán ra cho công chúng như là một đơn vị đ
ầu tư. Công ty quản lý quỹ đảm nhiệm cả hai chức năng huy độ ố ng v n và đầu tư kiếm lời cho chủ sở ữ h u vốn. Ưu điểm ổ n i bật của việc ầ
đ u tư vào chứng chỉ ỹ
qu là giảm thiểu rủi ro cho
các nhà đầu tư nhỏ lẻ ốn ít, v
không có kinh nghiệm trên thị trường chứng khoán. Trên thị trườ ố ng v n chứng chỉ ỹ
qu cũng có tính thanh khoản cao, thậm chí ầu đ tư vào chứng chỉ ỹ qu ẫn v thu được chênh
lêch giá cao ngoài cổ tức được chia theo điều lệ của quỹ đầu tư. d. Chứng khoán phái sinh
Chứng khoán phái sinh là một công cụ tài
chính trong đó giá trị của nó phụ thuộc vào môt hay nhiều
tài sản cơ sở, hiểu đơn giản là giá trị của nó được sinh ra từ giá trị của tài sản khác.
Theo quy định của luật chứng khoán số 54/2019/QH14,
chứng khoán phái sinh là công cụ tài chính
dưới dạng hợp đồng, bao gồm hợp đồng quyền chọn, hợp đồ g n tương lai, hợp đồ ỳ ng k ạn, h trong đó
xác nhận quyền, nghĩa vụ của các bên đối với việc thanh toán tiền, chuyển giao số lượng tài sản cơ sở
nhất định theo mức giá đã được xác định trong khoảng thời gian hoặc vào ngày đã xác định trong tương lai. Trong đó
Hợp đồng quyền chọn là loại chứng khoán phái sinh, xác nhận quyền của người mua và nghĩa vụ của
người bán để thực hiện một trong các giao dịch sau đây:
i) Mua hoặc bán số lượng tài sản cơ sở nhất định theo mức giá thực hiện đã được xác định tại thời điểm
trước hoặc vào ngày đã xác định trong tương lai;
ii) Thanh toán khoản chênh lệch giữa giá trị tài sản cơ sở đã
được xác định tại thời điểm giao kết hợp
đồng và giá trị tài sản cơ sở tại thời điểm trước hoặc vào ngày đã xác định trong tương lai.
Hợp đồng tương lai là loại chứng khoán phái sinh niêm yết, xác nhận cam kết giữa các bên để thực
hiện một trong các giao dịch sau đây:
iii) Mua hoặc bán số lượng tài sản cơ sở nhất định theo mức giá đã được xác định vào ngày đã xác định trong tương lai;
iv) Thanh toán khoản chênh lệ
ch giữa giá trị tài sản cơ sở đã đượ c xác ị
đ nh tại thời điểm giao kết hợp
đồng và giá trị tài sản cơ sở vào ngày đã xác định trong tương lai.
Hợp đồng kỳ hạn là loại chứng khoán phái sinh giao dịch thỏa thuận, xác ậ nh n cam ế k t giữa các bên
về việc mua hoặc bán số lượng tài sản cơ sở nhất định theo mức giá đã được xác định vào ngày đã xác định trong tương lai. 12 * TỔNG KẾT CHƯƠNG
Kết thúc chương 7, chúng ta cần lưu ý một số vấn đề sau đây:
- Thị trường tài chính là nơi thực hiện việc chuyển giao các n v nguồ n t
ố ừ người cung vốn sang người
cầu vốn theo các nguyên tắc thị trường. Thị trường tài chính là tổng hòa của các mối quan hệ hàng hóa-
vốn tiền tệ, cung cầu, giá cả, phương thức giao dịch và phương thức thanh toán.
- Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường v n. ố
- Thị trường tiền tệ nơi diễn ra quá trình phát hành, giao dịch, mua bán các công cụ tài chính ngắn hạn
nhằm đáp ứng nhu cầu v n ng ố
ắn hạn của nền kinh tế.
- Thị trường vốn là nơi diễn ra quá trình giao dịch phát hành, mua bán, chuyển nhượng các công cụ tài chính dài hạn. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình “Nhập môn Tài chính - Tiền tệ”, Trường Đại học Thuơng mại, Chủ biên TS. Vũ
Xuân Dũng, NXB Thống kê, 2012.
2. Giáo trình “Lý thuyết Tài chính”, Học viện Tài chính, Chủ biên PGS,TS. Dương Đăng Chinh, NXB Tài chính, 2005.
3. Giáo trình “Lý thuyết Tài chính - Tiền tệ”, Chủ biên
PGS,TS. Nguyễn Hữu Tài, NXB Đại
học Kinh tế Quốc dân, 2005.
4. Giáo trình “Tài chính - Tiền tệ - Ngân hàng”, PGS,TS. Nguyễn Văn Tiến, NXB Thống kê, 2009. 13