












Preview text:
CHƯƠNG 7
THỊ TRƯỜNG YẾU TỐ SẢN XUẤT
(Vốn - Lao động - Đất đai)
Trong các chương trước chúng ta chủ yếu tập trung xem xét, phân tích hành vi
người mua và người bán trên thị trường các hàng hoá, dịch vụ. Để sản xuất ra các hàng
hoá dịch vụ này các doanh nghiệp cần sử dụng các yếu tố sản xuất như lao động, vốn, đất
đai... Các doanh nghiệp thuê mua các yếu tố sản xuất và người sở hữu các yếu tố này thu
được thu nhập thông qua thị trường các yếu tố sản xuất. Thu nhập này được xác định
thông qua giá của các yếu tố sản xuất. Giá của lao động được gọi là tiền lương, giá của
vốn là lãi suất, giá của đất đai tiền thuê. Trong chương này chúng ta sẽ đi vào xem xét
một số vấn đề cơ bản như nguyên tắc thuê mua các yếu tố sản xuất, các thị trường lao
động, thị trường vốn, thị trường đất đai.
I. NGUYÊN TẮC THUÊ MUA YẾU TỐ SẢN XUẤT
1. Giá của yếu tố sản xuất
Cũng giống như hàng hoá, dịch vụ giá của các yếu tố sản xuất được hình thành
thông qua sự tương tác giữa các lực lượng cung và cầu trên thị trường. Tuy nhiên lúc này
xuất hiện sự hoán đổi vị trí trên thị trường yếu tố sản xuất. Các doanh nghiệp là người
cầu các yếu tố sản xuất và những người sở hữu các yếu tố sản xuất (hộ gia đình, doanh
nghiệp) cung ứng những yếu tố này trên thị trường.
Trên hình 7.1 ta thấy giá của yếu tố sản xuất f được xác định bởi mô hình cung - cầu
đã được đề cập ở các chương trước. Mức giá cân bằng Pf đối với lao động chính là tiền
lương, đối với yếu tố vốn là lãi suất, đối với đất đai là tiền thuê. Thu nhập của yếu tố sản
xuất f là diện tích phần tô đậm ở hình 7.1, nó được xác định bằng giá yếu tố P f nhân với
lượng yếu tố Qf sản xuất f giao dịch trên thị trường. Sf Pf Thu nhập của Giá yếu t yế ố s u t ả ố n sản xuất Df f Qf Lượng yếu tố sản
Hình 7.1 - Giá và thu nhập của yếu tố sản xuất
Sự thay đổi của các lực lượng cung và cầu trên thị trường yếu tố sẽ dẫn đến sự thay
đổi của giá các yếu tố sản xuất. Sự thay đổi này được hiểu giống như sự thay đổi của
trạng thái cân bằng trên thị trường trong mô hình cung cầu. Ví dụ, trong thời gian khủng
hoảng, tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp yếu kém do cầu đối với hàng hoá, dịch
vụ giảm, dẫn đến cầu đối với lao động giảm (đường cầu Df dịch chuyển sang bên trái)
làm cho tiền lương giảm xuống. Hoặc cung về vốn tăng lên do tỷ suất lợi nhuận đầu tư
vào các lĩnh vực khác như cổ phiếu, bất động sản… giảm (đường cung Sf dịch chuyển
sang bên phải) làm cho lãi suất cân bằng giảm xuống.
2. Cầu đối với yếu tố sản xuất
Cầu đối với mỗi yếu tố sản xuất là cầu thứ phát (hay cầu dẫn xuất). Vì các yếu tố
sản xuất được sử dụng để sản xuất các hàng hoá, dịch vụ, do đó nó bị ràng buộc bởi công
nghệ sản xuất, điều kiện thị trường của doanh nghiệp. Mặt khác nó phụ thuộc vào mục
tiêu của bản thân doanh nghiệp.
Trong chương 1 chúng ta đa giả định mục tiêu của mọi doanh nghiệp là tối đa hoá
lợi nhuận. Trong phần này chúng ta xem xét cách thức một doanh nghiệp thuê mua yếu tố
sản xuất f như thế nào để đảm bảo mục tiêu đó.
Trước hết chúng ta xem xét một số khái niệm cơ bản sau:
a. Sản phẩm doanh thu cận biên (MRPf)
Sản phẩm doanh thu cận biên được hiểu là phần doanh thu tăng thêm khi sử dụng
thêm một đơn vị yếu tố sản xuất f trong quá trình sản xuất. Hay nói cách khác, khi sử
dụng thêm một đơn vị yếu tố sản xuất f doanh nghiệp sản xuất thêm được một lượng sản
phẩm nhất định (sản phẩm cận biên hay năng suất cận biên của yếu tố f- MPf), số lượng
sản phẩm này bán ra thị trường hàng hoá, dịch vụ thu thêm được bao nhiêu đơn vị doanh
thu được gọi là sản phẩm doanh thu cận biên.
Dựa trên khái niệm đó chúng ta có được công thức xác định sản phẩm doanh thu cận biên như sau:
Nhân cả tử và mẫu với ta có: Trong đó: MR là doanh thu cận biên
MPf là sản phẩm cận biên hay năng suất cận biên
Sản phẩm cận biên có thể biểu được biểu diễn dưới 2 hình thức:
+ Bằng đơn vị hiện vật: được gọi là sản phẩm hiện vật cận biên (MPPf). MPPf = MPf
+ Bằng đơn vị giá trị: được gọi là sản phẩm giá trị cận biên (MVPf) và được xác định như sau: trong đó P là giá của h 0 àng hoá, dịch vụ
Nếu thị trường hàng hoá, dịch vụ mang cấu trúc cạnh tranh hoàn hảo, lúc đó MR P 0và như vậy MRPf MVPf.
b. Chi phí tài nguyên cận biên
Chi phí tài nguyên cận biên được hiểu là phần chi phí tăng thêm khi doanh nghiệp
sử dụng thêm một đơn vị yếu tố sản xuất f. Nó được xác định bằng công thức sau:
Trong trường hợp thị trường yếu tố sản xuất là cạnh tranh hoàn hảo, mỗi người bán
cũng như mỗi người mua (doanh nghiêp) không có khả năng ảnh hưởng đến giá cả trên
thị trường, do đó MRCf Pf (Pf là mức giá cân bằng trên thị trường yếu tố sản xuất f).
c. Điều kiện tối ưu
Dựa trên 2 khái niệm được đề cập ở trên chúng ta xem xét điều kiện tối đa hoá lợi
nhuận của doanh nghiệp khi thuê mua yếu tố sản xuất f (ở đây chúng ta giữ cố định số
lượng các yếu tố sản xuất khác):
Như vậy điều kiện tối ưu trong việc thuê mua các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp
là sử dụng yếu tố sản xuất cho đến khi mà sản phẩm doanh thu cận biên thu được của đơn
vị yếu tố f cuối cùng bằng với chi phí tài nguyên cận biên của nó.
Trong trường hợp cả thị trường hàng hoá, dịch vụ lẫn thị trường yếu tố sản xuất
đều là cạnh tranh hoàn hảo thì điều kiện tối ưu trở thành: MRPf = Pf
Trong đó MRPf = MR. MPf = P0.MPf
II. THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 1. Cầu lao động
Cầu lao động được hiểu là số lượng lao động mà các doanh nghiệp có khả năng và
sẵn sàng thuê mua ở các mức tiền lương khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định.
Cầu lao động là cầu thứ phát, nó bị ràng buộc bởi công nghệ sản xuất, điều kiện thị
trường cũng như mục tiêu của các doanh nghiệp.
Như vậy yếu tố nào quyết định số lượng lao động mà mỗi doanh nghiệp quyết định
thuê mua ở các mức tiền lương khác nhau? ở phần trên chúng ta đã xem xét nguyên tắc
chung trong việc thuê mua các yếu tố sản xuất. Dựa trên nguyên tắc này, chúng ta có thể
áp dụng cho việc thuê mua lao động của các doanh nghiệp như sau: MRPL = MRCL
Trong đó: MRPL là sản phẩm doanh thu cận biên của lao động MRCL là chi phí tài
nguyên cận biên của lao động
Nếu trong trường hợp thị trường lao động và thị trường hàng hoá dịch vụ là cạnh
tranh hoàn hảo, thì nguyên tắc trên trở thành: MRPL = w
Trong đó, w là tiền lương hay giá của một đơn vị lao động MRPL = MR. MPL = P0. MPL
Khi xem xét cầu lao động chúng ta giữ tất cả các yếu tố sản xuất khác cố định. Coi
lao động là đầu vào biến đổi duy nhất. Theo quy luật năng suất cận biên giảm dần MPL có
xu hướng giảm dần nếu ta tăng số lượng lao động đầu vào, dó đó sản phẩm doanh thu cận
biên của lao động (MRPL) cũng có xu hướng giảm dần khi số lượng lao động đầu vào
tăng lên. Đường cầu lao động chính là đờng sản phẩm doanh thu cận biên của lao động.
Sản phẩm doanh thu cận biên của lao động đợc tính theo công thức: MRPL=d d T L R =dTR dQ dL=MR.MPL dQ
Khi thị trờng sản phẩm là cạnh tranh hoàn hảo thỡ MR = P, do đó: MRPL = MPL.P MRPL,w Thị trờng sản phẩm cạnh tranh hoàn hảo DL = MPL . P Thị trờng sản phẩm khụng DL = phải cạnh tranh hoàn hảo L
Hỡnh 7.1. Đờng cầu lao động ngắn hạn của
Do đường cầu về lao động chính là đường sản phẩm doanh thu cận biên nên nó chịu
ảnh hưởng của ba nhân tố cơ bản sau:
Giá của hàng hoá, dịch vụ: khi giá của hàng hoá, dịch vụ tăng lên trong điều kiện
các yếu tố khác không đổi sẽ làm tăng giá trị sản phẩm doanh thu cận biên. Dẫn đến
đường cầu lao động dịch chuyển sang phía bên phải.
Giá của các yếu tố sản xuất khác: điều này không ảnh hưởng đến cầu lao động
trong ngắn hạn vì các yếu tố sản xuất khác được giữ cố định. Nhưng khi xét cầu lao động
dài hạn ta thấy khi giá của tư bản giảm xuống, doanh nghiệp có xu hướng thay thế lao
động bằng tư bản, do đó làm cho cầu về lao động giảm và ngược lại.
Công nghệ: việc thay đổi công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm cận biên
của lao động và do đó ảnh hưởng đến cầu lao động. Ví dụ, doanh nghiệp áp dụng dây
chuyền công nghệ tự động sẽ làm giảm năng suất cận biên của lao động thủ công, nhưng
làm tăng năng suất cận biên của lao động có kỹ năng vận hành dây chuyền. Như vậy việc
thay đổi công nghệ này làm cho cầu dài hạn đối với lao động thủ công giảm nhưng cầu
dài hạn đối với lao động có kỹ năng tăng lên.
Cầu lao động dài hạn của hóng
Trong dài hạn, các yếu tố đầu vào đều có thể thay đổi, do đó sự thay đổi giá lao động
có thể làm thay đổi cầu đầu vào khác. Hỡnh 7.2 minh hoạ điều này. Giả sử rằng khi đơn giá
tiền lơng là w1 hóng thuờ L đơn 1
vị lao động, biểu thị ở điểm A trên đờng MRPL1. Khi đơn
giá tiền lơng giảm xuống w ,2 sản phẩm doanh thu cận biên của lao động lớn hơn đơn giá
tiền lơng, hóng sẽ thuờ nhiều lao động hơn. Nhng đờng MRPL1 là đờng cầu lao động khi số
lợng máy móc thiết bị là cố định. Đơn giá tiền lơng thấp hơn sẽ khuyến khích các hóng
thuê nhiều hơn cả máy móc thiết bị và lao động. Vỡ số lợng mỏy múc thiết bị tăng lên do
đó sản phẩm doanh thu cận biên của lao động sẽ tăng, đờng sản phẩm doanh thu cận biên
của lao động dịch chuyển đến vị trí MRPL2. Đơn giá tiền lơng (nghìn A w C w B DLR MRPL2 MRPL1 O L1 L’1 L2 Số giờ lao động
Hình 7.2. Cầu lao động dài hạn của hãng
Như vậy ở đơn giá tiền lơng w 2hãng thuê L 2đơn vị lao động, biểu thị bằng điểm C,
chứ không phải thuê L1' đơn vị lao động, nh biểu thị ở điểm B. A và C là hai điểm trên đ-
ờng cầu lao động dài hạn của hãng - khi cả máy móc thiết bị và lao động đều có thể thay
đổi đợc. Nh vậy cầu lao động trong dài hạn của hãng co giãn hơn cầu lao động ngắn hạn.
1.2. Cầu lao động của thị trờng
Để xác định cầu lao động của thị trờng trớc hết phải xác định cầu lao động của mỗi
ngành, sau đó cộng theo chiều ngang các đờng cầu lao động của các ngành. Trong hỡnh 7.3
a với mức giá sản phẩm xác định, cầu lao động của hóng là MRPl1.
Nếu đơn giá tiền lơng là w1 hóng thuờ l1 đơn vị lao động. Khi đơn giá tiền lơng giảm
xuống cũn w ,2 nếu giỏ sản phẩm giữ nguyờn thỡ hóng sẽ thuờ l3 đơn vị lao động. Nhng
nếu tất cả các hóng trong ngành đều thuê nhiều lao động hơn thỡ sản lợng của ngành sẽ
tăng lên, làm dịch chuyển đờng cung của ngành sang phải, giá thị trờng của sản phẩm sẽ giảm xuống. ở hỡnh 7.3 khi a
giỏ sản phẩm giảm xuống thỡ đờng sản phẩm doanh thu cận biên của
lao động dịch chuyển sang trái, từ MRPL1 đến MRPL2. Điều đó làm cho lợng cầu lao động
ở đơn giá tiền lơng w 3ít hơn dự kiến - là l 2chứ khụng phải l3. ở hỡnh 7.3 b đờng nét liền
biểu thị tổng chiều ngang của cầu lao động của các hóng khi giỏ sản phẩm khụng đổi, đ-
ờng nét đứt là đờng cầu lao động của ngành khi giá sản phẩm giảm xuống. Đơn giá Đờng cầu lao động tiền lơng Đơn giá của ngành khi giá (đồng/giờ tiền lơng sản phẩm giảm ) (đồng/giờ ) Đờng cầu lao động w1 của ngành khi giá w1 sản phẩm không đổi w2 w2 MRPL1 MRPL2O O l L1L2L 1l2l3 3 (a) Giờ lao (b) Giờ lao động động
Hình 7.3. Cầu lao động của ngành 2. Cung lao động Cung lao động cá nhân
Cung lao động cá nhân được hiểu là lượng lao động có khả năng và sẵn sàng cung
cấp tại các mức tiền lương khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định.
Cung lao động liên quan đến việc các cá nhân phân bổ thời gian 24 giờ mỗi ngày
của mình cho các mục đích khác nhau. Để đơn giản cho phân tích chúng ta giả định mỗi
cá nhân chỉ có hai cách sử dụng thời gian trong ngày của mình là làm việc và nghỉ ngơi.
Làm việc tạo ra thu nhập từ đó chúng ta có thể sử dụng để mua sắm các hàng hoá, dịch
vụ tiêu dùng và đạt được lợi ích. Nghỉ ngơi cũng được coi là một loại hàng hoá dịch vụ
nhưng chúng ta thu được lợi ích trực tiếp từ hoạt động đó.
Luôn luôn tồn tại sự mâu thuẫn đánh đổi giữa thu nhập kiếm được và số giờ nghỉ
ngơi trong ngày. Chúng ta có thể coi cung lao động như đại lượng đối ngẫu của cầu đối
với hàng hoá nghỉ ngơi. Số giờ nghỉ ngơi càng lớn thì số giờ lao động càng nhỏ.
Hai đặc tính của cầu đối với hàng hoá nghỉ ngơi đóng vai trò quan trọng trong
phân tích cung đối với lao động. Thứ nhất, nghỉ ngơi là hàng hoá thông thường, khi thu
nhập tăng lên sẽ làm cho cầu đối với hàng hoá nghỉ ngơi tăng lên. Thứ hai, “giá” của
hàng hoá nghỉ ngơi chính là tiền lương lao động (chi phí cơ hội).
Khi tiền lương lao động tăng lên sẽ gây ra hai ảnh hưởng khác nhau:
ảnh hưởng thay thế: khi tiền lương tăng người lao động có xu hướng thay thế nghỉ
ngơi bằng lao động. Tức là khi tăng lương thì số lượng lao động có xu hướng tăng lên.
Để rõ ràng hơn ta xét điều kiện cân bằng sau:
trong đó MUHH là lợi ích cận biên của hàng hoá dịch vụ tiêu dùng, PHH là giá cả của
hàng hoá dịch vụ, MUNN là lợi ích cận biên của nghỉ ngơi và w là tiền lương của một giờ
lao động hay giá của một giờ nghỉ ngơi.
Khi w tăng lên sẽ làm cho MUNN/w giảm và như vậy:
Do đó cá nhân này sẽ tăng số giờ lao động và giảm số giờ nghỉ ngơi. Tuy nhiên nếu
tiếp tục xu hướng này, lợi ích cận biên của nghỉ ngơi sẽ tăng lên và lợi ích cận biên tiêu
dùng hàng hoá dịch vụ giảm xuống và trở lại trạng thái cân bằng MUHH/PHH = MUNN/w như ban đầu.
ảnh hưởng thu nhập: khi tiền lương tăng lên đồng thời cũng làm cho thu nhập tăng
lên, trong khi đó nghỉ ngơi là hàng hoá thông thường do đó số lượng giờ nghỉ ngơi tăng
lên. Điều đó có nghĩa số giờ lao động giảm xuống.
Như vậy ảnh hưởng thay thế và ảnh hưởng thu nhập khi tiền lương tăng lên luôn
hoạt động ngược chiều nhau. Hành vi cung ứng lao động của mỗi cá nhân phụ thuộc vào
sự tổng hợp của cả hai loại ảnh hưởng trên.
Ban đầu khi tiền lương tăng lên, ảnh hưởng thay thế sẽ lớn hơn ảnh hưởng thu nhập
vì ở giai đoạn đầu này lợi ích cận biên của nghỉ ngơi là tương đối thấp, khi tiền lương
tăng cá nhân có xu hướng thay thế nghỉ ngơi bằng lao động. Hơn nữa, ở giai đoạn đầu khi
chỉ có một số ít giờ trong ngày được sử dụng cho lao động thì ảnh hưởng thu nhập là
tương đối nhỏ. Tuy nhiên ở giai đoan sau, khi ảnh hưởng thu nhập đủ lớn và lấn át ảnh
hưởng thay thế của việc tăng lương thì cá nhân có xu hướng thay thế lao động bằng nghỉ
ngơi. Do đó, đường cung lao động cá nhân có dạng cong trở lại về phía sau như hình vẽ. W SL W3 W2 W1 L1L2 L3L
Hình 7.3 Đường cung lao động cá nhân
Cung lao động thị trường
Cung lao động thị trường được hình thành từ sự tổng hợp tất cả các đường cung lao
động cá nhân trên thị trường. Đường cung lao động của mỗi cá nhân cong trở lại về phía
sau ở các mức tiền lương khác nhau, mức tiền lương tối thiểu để mỗi cá nhân chấp nhận
cung ứng lao động cũng khác nhau, đồng thời có sự chuyển dịch của lao động giữa các
ngành khác nhau khi tiền lương thay đổi, từ ngành có tiền lương thấp sang ngành có tiền
lương cao hơn tương đối, nên đường cung lao động thị trường vẫn được coi là đường dốc lên (SM). W S1 S2 S M L
Hình 7.4 - Đường cung lao động thị trường
Các nhân tố ảnh hưởng đến cung lao động
Sở thích: khi cá nhân đánh giá lợi ích của hoạt động nghỉ ngơi cao hơn, cung lao
động có xu hướng giảm xuống, ngược lại khi cá nhân muốn có nhiều hàng hoá dịch vụ hơn
cung lao động sẽ tăng lên.
Thu nhập: Khi thu nhập tăng lên sẽ làm tăng cầu đối với nghỉ ngơi và cung lao động
giảm. Tuy nhiên chúng ta cần phân biệt rõ sự vận động và dịch chuyển của đường cung
lao động. Nếu thu nhập tăng do ảnh hưởng của tiền lương thì đó là sự vận động trên cùng
một đường cung lao động, nhưng nếu thu nhập tăng do các nguồn khác ngoài thu nhập từ
tiền lương lao động thì sẽ làm cho đường cung lao động dịch chuyển về phía trái.
Giá của các hàng hoá dịch vụ có liên quan: khi giá cả đi lại giảm sẽ làm cho cung
lao động tăng lên hay ngược lại nếu giá của các hoạt động giải trí giảm có thể làm cho
cầu về nghỉ ngơi tăng và cung lao động giảm.
Dân số: khi dân số tăng sẽ làm tăng cung lao động. Hiện tượng di dân tự nhiên hay
nhập khẩu lao động vào các trung tâm công nghiệp cũng gây ra áp lực làm giảm tiền
lương do cung lao động tăng lên.
Bên cạnh các nhân tố trên, cung lao động còn chịu ảnh hưởng của những nhân tố
phi kinh tế như áp lực tâm lý xã hội, nhu cầu lao động, phong tục tập quán v.v.
3. Cân bằng trên thị trường lao động
Cung và cầu trên thị trường lao động là sự tổng hợp cung cầu lao động ở các ngành.
Quá trình chuyển dịch lao động giữa các ngành khác nhau hình thành nên thị trường lao
động cũng như trạng thái cân bằng của nó (hình 7.5 a). W W SL WE MRPL D L LE L* L (a (b ) )
Hình 7.5 - Cân bằng trên thị trường lao động
Khi thị trường lao động cân bằng, mức tiền lương cân bằng được hình thành. Mỗi
doanh nghiệp là người chấp nhận giá trong trường hợp thị trường lao động cạnh tranh sẽ
quyết định thuế mua lao động tại mức L như trên hình 7.5 b. *
Mức lương cân bằng trên thị trường thay đổi khi phát sinh sự thay đổi đối với cung
cầu lao động thị trường. Nếu nền kinh tế rơi vào trạng thái giảm sút, cầu đối với các hàng
hoá dịch vụ giảm làm cho giá cả của các hàng hoá giảm xuống dẫn đến cầu đối với lao
động giảm, tiền lương cân bằng trên thị trường cũng giảm xuống (hình 7.6 a). Nếu cung
lao động tăng lên do lao động nhập cư sẽ làm cho tiền lương cũng có xu hướng giảm xuống (hình 7.6 b). W W S1 S S2 W W 1 1 W W 2 2 D D 1 D 2 L L1 L1 L2 L2 L (a )(b )
Hình 7.6 - Sự thay đổi trên thị trường lao động
4. Tiền lương tối thiểu
Nếu để cho thị trường hoàn toàn tự do hoạt động thi mức tiền lương được xác định
theo cơ chế hoạt động trong hình 7.5. Tuy nhiên trên thị trường có sự chênh lệch về tiền
lương giữa các loại lao động khác nhau. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện
tượng này là do sự tiến bộ của khoa học và công nghệ dẫn đến cầu về lao động được đào
tạo trinh độ cao tăng lên nhưng cầu đối với lao động không có kỹ năng có xu hướng giảm
xuống. Do đó một trong những giải pháp được các chính phủ áp dụng đó là quy định tiền
lương tối thiểu để đảm bảo một mức lương nhất định cho các lao động không có kỹ năng.
Khi chính phủ quy định tiền lương tối thiểu WM sẽ làm cho số lượng việc làm giảm từ
mức LE xuống mức L1, nhưng nó làm tăng thu nhập của những lao động tiếp tục được
duy trì công việc. Tiền lương tối thiểu đồng thời gây ra hiên tượng thất nghiệp, chính là
lượng lao động dư thừa L - L 2 . 1
Một số nhà kinh tế phản đối việc quy định tiền lương tối thiểu vì nó làm gia tăng
hiện tượng thấp nghiệp, nhưng một số khác thì ủng hộ chính sách này vì họ căn cứ trên
lập luận rằng cầu đối với lao động là tương đối không co dãn, do đó việc quy định tiền
lương tối thiểu sẽ làm cho tổng thu nhập của người lao động tăng lên. W SL WM WE DL L1 LE L2 L
Hình 7.7 - Tiền lương tối thiểu
Một chính sách khác có thể áp dụng đó là việc kích cầu lao động để làm tăng mức
lương cân bằng và đồng thời cũng làm tăng số lượng việc làm ví dụ như các chương trình
đào tạo cộng đồng nhằm làm tăng vốn con người. W S W 2 W 1 D 2 D 1 L1 L2 L
Hình 7.8 - Kích cầu lao động
Ngoài ra một giải pháp nữa cũng thường được thực hiện đó là trợ cấp thất nghiệp.
Một khoản trở cấp dành cho những lao động thiếu kỹ năng cần thiết để làm việc. Tuy
nhiên giải pháp này là hết sức tốn kém đồng thời nó cũng làm giảm động lực để những
lao động thiếu kỹ năng này phát triển mình để đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi của thị trường lao động.