



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
PHÂN HIỆU TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
-----
BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN
MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Th.S. Mai Vạn Hậu CHỦ ĐỀ :
Chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng (1939
- 1941). Chủ trương trên đã khắc phục hạn chế của Luận Cương
chính trị tháng 10/1930 như thế nào? Họ và Tên MSSV
Mức độ hoàn thành Trần Quốc Nam 6451030040 10/10 Lê Trung Hiếu 6451030026 10/10 Ngô Anh Tài 6451030059 10/10 Đặng Minh Vũ 6451030080 10/10 Trần Vũ Khoa 6451030033 10/10 Nguyễn Tấn Phát 6451030052 10/10 Trần Xuân Nhã 6451030048 10/10 Trần Tuấn Quang 6451030054 10/10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
PHÂN HIỆU TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
-----
BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN
MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Th.S. Mai Vạn Hậu CHỦ ĐỀ :
Chủ trương chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng (1939
- 1941). Chủ trương trên đã khắc phục hạn chế của Luận Cương
chính trị tháng 10/1930 như thế nào? Họ và Tên MSSV
Mức độ hoàn thành Trần Quốc Nam 6451030040 10/10 Lê Trung Hiếu 6451030026 10/10 Ngô Anh Tài 6451030059 10/10 Đặng Minh Vũ 6451030080 10/10 Trần Vũ Khoa 6451030033 10/10 Nguyễn Tấn Phát 6451030052 10/10 Trần Xuân Nhã 6451030048 10/10 Trần Tuấn Quang 6451030054 10/10 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin phép gửi đến Quý Thầy Cô của Bộ môn Kỹ Thuật Điều Khiển
và Tự Động Hoá trường Đại học Giao thông Vận tải - Phân hiệu tại Tp Hồ Chí
Minh lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc nhất. Thầy đã tận tình hướng dẫn,
truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện ở tại trường.
Kế tiếp, em xin cảm ơn nhà trường đã tạo điều kiện tốt nhất cho chúng em, để em
có một môi trường học tập thật tốt. Đặc biệt cảm ơn đến các giảng viên của Bộ môn
Kỹ Thuật Điều Khiển và Tự Động Hoá đã truyền đạt và dạy dỗ em rất nhiều kiến
thức trong quãng thời gian học tập vừa qua.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Mai Vạn Hậu, thầy đã tận tình hướng dẫn
chỉ bảo để chúng em có thể hoàn thành bài báo cáo bài tập lớn chủ đề “ xử lý ảnh
nhận diện biển báo giao thông”
Lời sau cùng, chúc sức khỏe đến tất cả các thành viên trong gia đình, toàn thể giảng
viên của trường Đại học Giao thông Vận tải phân hiệu tại Thành phố Hồ Chí Minh
đặc biệt là các giảng viên thuộc Bộ Môn Kỹ Thuật Điều Khiển và Tự Động Hoá, và
các bạn thuộc lớp Kỹ Thuật Điều Khiển và Tự Động Hoá K64, các bạn bè khác của em đã giúp đỡ em. Em xin chân thành cảm ơn!
Trân trọng cảm ơn Th.S. Mai Vạn Hậu
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2025
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tp. Hồ Chí Minh, ngày ….… tháng 11 năm 2025
Giảng viên hưỡng dẫn MỞ ĐẦU
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, mỗi bước ngoặt lớn lao đều gắn liền với sự ra
đời của những lực lượng tiên phong dẫn dắt nhân dân vượt qua thử thách. Đầu thế
kỷ XX, khi đất nước chìm trong bóng tối của ách đô hộ thực dân và phong trào yêu
nước rơi vào khủng hoảng về đường lối, sự xuất hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam
không chỉ mang ý nghĩa của một tổ chức chính trị mới, mà còn là bước ngoặt lịch
sử mở ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, khoa học và phù hợp với quy luật
phát triển của thời đại.
Môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam vì vậy có vai trò đặc biệt quan trọng đối với
mỗi sinh viên. Đây không chỉ là môn học trang bị tri thức về quá trình hình thành,
phát triển và lãnh đạo cách mạng của Đảng, mà còn là hành trình giúp người học
hiểu sâu sắc hơn về cội nguồn của độc lập, tự do hôm nay. Thông qua môn học,
chúng ta nhận thức rõ giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; hiểu được sự lựa chọn của lịch sử, sự hy sinh của các thế hệ cha anh và
những bài học quý giá cho công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đổi
mới và hội nhập quốc tế.
Việc nghiên cứu Lịch sử Đảng không chỉ nhằm nắm bắt quá khứ, mà còn để soi
sáng hiện tại và định hướng tương lai. Hiểu đúng lịch sử giúp mỗi sinh viên củng
cố niềm tin, hun đúc lý tưởng, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị và trách nhiệm đối với
đất nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cạnh tranh gay gắt và nhiều vấn đề phức tạp
nảy sinh, việc nắm vững những bài học lịch sử càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Với tinh thần đó, môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là yêu cầu
bắt buộc trong chương trình đào tạo, mà là hành trang quan trọng để mỗi người trẻ
bước vào đời với tri thức, niềm tin và sự hiểu biết sâu sắc về con đường mà dân tộc
đã kiên định lựa chọn.
CHƯƠNG I: CHỦ TRƯƠNG CHUYỂN HƯỚNG CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG (1939–1941)
1.1 Hoàn cảnh ra đời chủ trương
a) Tình hình thế giới
- Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đã làm đảo lộn toàn bộ trật tự chính trị quốc
tế, mở ra thời kỳ biến động dữ dội có ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào cách mạng
thế giới và các dân tộc thuộc địa.
+ Ngày 01/09/1939, phát xít Đức bất ngờ tấn công Ba Lan theo chiến lược “đánh
nhanh, thắng nhanh”. Chỉ trong thời gian ngắn, Ba Lan bị chia cắt; ngày
03/09/1939, Anh và Pháp buộc phải tuyên chiến với Đức, chính thức mở màn
Chiến tranh thế giới thứ hai.
+ Tháng 06/1940, Đức tiến hành chiến dịch tấn công quy mô lớn vào Pháp.
Trước sức mạnh quân sự vượt trội của Đức, Chính phủ Pháp nhanh chóng tan rã
và phải ký hiệp định đầu hàng. Sự kiện này khiến toàn bộ hệ thống thuộc địa của
Pháp, trong đó có Đông Dương, rơi vào khủng hoảng sâu sắc về chính trị và quân sự.
+ Ngày 22/06/1941, Đức tấn công Liên Xô, phá vỡ Hiệp ước Xô – Đức trước đó.
Từ đây, chiến tranh thế giới bước sang giai đoạn mới: cuộc xung đột trở thành sự
đối đầu quyết liệt giữa phe phát xít (Đức – Ý – Nhật) và phe dân chủ – chống
phát xít, trong đó Liên Xô trở thành lực lượng trụ cột của mặt trận chống phát xít.
- Những diễn biến này không chỉ làm thay đổi tương quan lực lượng trên thế giới
mà còn tác động trực tiếp đến cục diện các nước thuộc địa. Ở khu vực châu Á –
Thái Bình Dương, phát xít Nhật nhân cơ hội mở rộng ảnh hưởng, đẩy mạnh chiến
lược xâm lược Đông Nam Á, trong đó có Đông Dương.
- Đối với Việt Nam, sự suy yếu của thực dân Pháp và sự bành trướng của Nhật đã
làm cho tình hình chính trị thêm phần rối ren, khiến nhân dân ta phải đối mặt với
nguy cơ chịu ách thống trị kép. Đồng thời, cuộc chiến tranh cũng tạo ra những thời
cơ mới cho phong trào cách mạng, đòi hỏi Đảng phải nhanh chóng xác định lại
đường lối và chiến lược phù hợp với hoàn cảnh mới.
b) Tình hình trong nước
- Chiến tranh thế giới thứ hai không chỉ tạo ra những biến động trên trường quốc tế
mà còn tác động trực tiếp, toàn diện và sâu sắc đến tình hình Đông Dương và Việt
Nam. Ngay từ những ngày đầu chiến tranh, thực dân Pháp đã đặt toàn bộ Đông
Dương vào tình trạng giới nghiêm, coi thuộc địa là hậu phương để phục vụ cho
chiến tranh. Chúng thi hành chế độ cai trị khắc nghiệt, thủ tiêu mọi quyền tự do,
dân chủ mà nhân dân ta đã giành được trong phong trào 1936–1939.
+ Ngày 28/09/1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên truyền
cộng sản, đóng cửa các tờ báo tiến bộ, cấm hội họp và tụ tập đông người. Hàng
loạt cơ sở cách mạng bị khủng bố, phong trào quần chúng bị trấn áp mạnh mẽ.
+ Sau khi Pháp đầu hàng Đức (6/1940), tình hình chính trị ở Đông Dương rơi
vào hỗn loạn. Lợi dụng thời cơ này, ngày 22/09/1940, quân Nhật tiến vào Lạng
Sơn, đồng thời đổ bộ lên Hải Phòng để buộc Pháp mở cửa Đông Dương phục vụ
chiến tranh xâm lược của Nhật ở châu Á – Thái Bình Dương.
+ Ngày 23/09/1940, Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật, chấp nhận cho quân Nhật
đóng quân và sử dụng cơ sở kinh tế – quân sự tại Đông Dương.
- Từ đây, nhân dân Việt Nam phải chịu ách thống trị kép của thực dân Pháp và phát
xít Nhật, rơi vào cảnh “một cổ hai tròng”. Cả hai lực lượng đều thực hiện chính
sách đàn áp và bóc lột khốc liệt nhằm phục vụ nhu cầu chiến tranh ngày càng tăng của chúng.
c) Tình hình kinh tế – xã hội
- Thực dân Pháp thực hiện chính sách “kinh tế chỉ huy”, đặt toàn bộ nền kinh tế
Đông Dương dưới sự kiểm soát chặt chẽ của bộ máy quân sự – thuộc địa. Chúng ra
sức vơ vét tài nguyên, tăng thuế, cưỡng bức nhân công và dốc sức khai thác thuộc
địa nhằm phục vụ cho nhu cầu chiến tranh của chính quốc. Hàng loạt chính sách
bóc lột được tăng cường: độc quyền xuất – nhập khẩu, kiểm soát lúa gạo, than, kim
loại; cưỡng bức mua nông sản với giá rẻ; bắt dân lao dịch và trưng thu trâu bò, thóc gạo.
- Khi quân Nhật tiến vào Đông Dương năm 1940, tình hình càng thêm tồi tệ. Để
tiếp tục duy trì quyền thống trị, Pháp buộc phải nhượng bộ Nhật, dẫn đến sự hình
thành cơ cấu áp bức kép. Pháp và Nhật tuy đối địch nhau trên chiến trường quốc tế
nhưng ở Đông Dương lại câu kết chặt chẽ trong việc khai thác và đàn áp nhân dân
ta. Nhật vừa lợi dụng bộ máy cai trị sẵn có của Pháp, vừa áp đặt thêm bộ máy quân
sự của riêng mình, biến Đông Dương thành hậu phương kinh tế – quân sự cho cuộc
chiến ở châu Á – Thái Bình Dương.
- Để phục vụ chiến tranh của Nhật, chúng áp dụng một loạt chính sách kinh tế hà khắc:
+ Ép nông dân nhổ lúa trồng đay, thầu dầu, làm nguyên liệu quân nhu.
+ Tăng mức thu thuế và trưng thu lúa gạo, khống chế chặt chẽ việc vận chuyển lương thực.
+ Bắt thanh niên đi phu, đi lính, phục vụ cho quân đội Pháp – Nhật.
+ Đặt ra chế độ kiểm soát lúa gạo nghiêm ngặt, khiến nhiều khu vực mất khả
năng tự cân đối lương thực.
- Hậu quả là đời sống nhân dân trở nên vô cùng cực khổ. Nhiều vùng nông thôn
vốn đã nghèo lại càng kiệt quệ. Đến cuối năm 1944 – đầu năm 1945, hậu quả tích
tụ của chính sách bóc lột tàn bạo và việc phát xít Nhật phá kho tàng dự trữ của
Pháp đã dẫn đến nạn đói khủng khiếp, cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào.
Bệnh tật, thất nghiệp, thiếu đói lan tràn, đẩy mâu thuẫn xã hội lên mức căng thẳng tột độ.
- Trong bối cảnh ấy, mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp
– phát xít Nhật trở nên cực kỳ gay gắt và trở thành mâu thuẫn chủ yếu của xã hội
Việt Nam. Tình hình đòi hỏi phong trào cách mạng phải nhanh chóng chuyển
hướng đấu tranh từ mục tiêu dân chủ sang mục tiêu giải phóng dân tộc.
- Chính từ thực tiễn nghiêm trọng đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời
nhận rõ thời cơ – nguy cơ mới của cách mạng, xác định yêu cầu cấp bách phải điều
chỉnh chiến lược, tập trung vào nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai, chuẩn bị tiến tới
khởi nghĩa vũ trang giành độc lập dân tộc. Đây là tiền đề quan trọng để Đảng đề ra
chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong giai đoạn 1939 – 1941.
1.2 Nội dung chủ trương chuyển hướng chiến lược của Đảng
- Chủ trương chuyển hướng chiến lược của Đảng trong giai đoạn 1939 – 1941
không phải được hình thành ngay lập tức, mà được xây dựng và hoàn thiện qua một
quá trình nhận thức sâu sắc về sự thay đổi của tình hình thế giới và trong nước. Quá
trình này thể hiện qua ba Hội nghị Trung ương quan trọng:
+ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11/1939): Đây là hội nghị mở đầu cho quá
trình chuyển hướng. Hội nghị đã nêu rõ yêu cầu trước mắt của cách mạng là phải
tập trung vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc, xác định kẻ thù chính là chủ nghĩa đế
quốc và tay sai, đồng thời điều chỉnh lại phương pháp và hình thức đấu tranh.
+ Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (11/1940): Trước sự phát xít hóa của bộ máy
cai trị và những biến động dữ dội trong nước, Hội nghị tiếp tục bổ sung và phát
triển nội dung chuyển hướng, nhấn mạnh việc chuẩn bị lực lượng vũ trang và coi
khởi nghĩa vũ trang là con đường tất yếu để giành chính quyền.
+ Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (05/1941): Dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái
Quốc, hội nghị đã hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chiến lược. Đây là bước
ngoặt mang tính quyết định, xác lập đường lối giải phóng dân tộc rõ ràng, đầy đủ và khoa học nhất.
* Nội dung chủ yếu của chủ trương chuyển hướng chiến lược
1. Đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu
- Đảng xác định trong hoàn cảnh đất nước đang bị áp bức bởi hai tầng thống trị
Pháp – Nhật, nhiệm vụ trước mắt, cấp bách nhất của cách mạng Việt Nam là
giành độc lập dân tộc. Vì vậy, Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu “cách mạng
ruộng đất”, thay bằng chủ trương tịch thu ruộng đất của đế quốc và tay sai chia
cho dân nghèo, nhằm tập trung xây dựng khối đoàn kết rộng rãi chống ngoại xâm.
- Đây là sự chuyển hướng mang tính chiến lược, phù hợp với mâu thuẫn chủ yếu
của dân tộc lúc bấy giờ.
2. Thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh)
- Để tập hợp mọi lực lượng yêu nước, Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt
Minh. Đây là hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, bao gồm tất cả các
giai cấp, tầng lớp yêu nước không phân biệt chính trị, tôn giáo.
- Việc thành lập Việt Minh đánh dấu sự hoàn chỉnh của chiến lược đại đoàn kết
toàn dân, huy động sức mạnh toàn dân tộc vào sự nghiệp giải phóng đất nước.
3. Đổi tên các tổ chức phản đế thành các hội cứu quốc
- Các tổ chức phản đế trước đây được đổi thành các hội cứu quốc, nhằm tạo sự
gần gũi với quần chúng, phù hợp với nhiệm vụ cứu nước cấp bách. Điều này
giúp mở rộng nhanh chóng lực lượng chính trị trong nhân dân, đưa cách mạng
lan tỏa vào mọi tầng lớp: nông dân, công nhân, thanh niên, phụ nữ, phụ lão…
4. Xác định nhiệm vụ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm
- Đảng khẳng định khởi nghĩa vũ trang là con đường duy nhất để giành chính
quyền từ tay đế quốc và phong kiến tay sai.
- Do đó, nhiệm vụ trọng tâm là chuẩn bị mọi mặt cho khởi nghĩa, từ tổ chức lực
lượng chính trị, xây dựng các đội tự vệ, vận động quần chúng, đến phát triển lực
lượng vũ trang tập trung.
5. Chủ trương tiến hành khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa
- Dựa trên kinh nghiệm của phong trào cách mạng trong nước và cách mạng thế
giới, Đảng đề ra phương châm:
+ Chủ động khởi nghĩa từng phần ở những nơi có điều kiện,
+ Từ đó mở rộng vùng giải phóng, xây dựng chính quyền cách mạng ở địa phương,
+ Khi thời cơ cách mạng chín muồi, nhất tề tiến hành tổng khởi nghĩa trong cả nước.
- Đây là chiến lược đúng đắn, thể hiện tính chủ động, linh hoạt và khoa học của
Đảng trong việc nắm bắt thời cơ.
6. Chú trọng xây dựng lực lượng cách mạng toàn diện
- Chủ trương chuyển hướng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đồng thời:
+ Lực lượng chính trị của quần chúng,
+ Lực lượng vũ trang nhân dân,
+ Căn cứ địa và vùng giải phóng, với trọng tâm là căn cứ Cao – Bắc – Lạng,
+ Xây dựng, củng cố Đảng về tổ chức và tư tưởng, bảo đảm vai trò lãnh đạo
duy nhất của Đảng đối với cách mạng.
- Những nội dung trên đã tạo nên một hệ thống chủ trương hoàn chỉnh, đặt nền
tảng trực tiếp cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
1.3 Ý nghĩa của chủ trương chuyển hướng
- Chủ trương chuyển hướng chiến lược của Đảng trong giai đoạn 1939 – 1941
mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt to lớn, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong
đường lối cách mạng Việt Nam. Đây là sự điều chỉnh chiến lược kịp thời, sáng tạo
và phù hợp với tình hình mới, thể hiện tầm nhìn chính trị sắc bén của Đảng.
1. Giải quyết đúng đắn nhiệm vụ trung tâm của cách mạng Việt Nam
- Chủ trương chuyển hướng đã xác định dứt khoát nhiệm vụ hàng đầu của cách
mạng là giải phóng dân tộc, đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích giai cấp.
- Điều này thể hiện sự vận dụng linh hoạt chủ nghĩa Mác – Lênin, khắc phục tư
duy giáo điều, cứng nhắc trước đây và phù hợp với yêu cầu sống còn của đất
nước đang chịu ách thống trị kép Pháp – Nhật.
2. Tạo cơ sở tư tưởng, chính trị và tổ chức cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945-
- Chủ trương chuyển hướng đã:
+ Định hướng đúng đắn mục tiêu, phương pháp cách mạng,
+ Xây dựng và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân,
+ Chuẩn bị lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang,
+ Phát triển căn cứ địa cách mạng.
- Nhờ đó, đến năm 1945, khi thời cơ đến, Đảng đã có tiền đề đầy đủ để lãnh đạo
nhân dân tiến hành tổng khởi nghĩa thắng lợi.
3. Thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng trong cả nước
- Từ sau các Hội nghị Trung ương (1939–1941), phong trào đấu tranh của quần chúng:
+ Lan rộng ở nông thôn và thành thị,
+ Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị và vũ trang,
+ Gắn liền với các hoạt động của Mặt trận Việt Minh.
- Nhờ có đường lối mới, cách mạng Việt Nam thoát khỏi thế bị động, phục hồi
và phát triển mạnh mẽ, đặc biệt tại vùng núi phía Bắc và nông thôn Trung – Bắc Kỳ.
4. Đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng
- Chủ trương chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang đã thúc đẩy:
+ Sự ra đời của các đội tự vệ, du kích,
+ Sự hình thành căn cứ địa Bắc Sơn – Võ Nhai,
+ Thành lập các đội vũ trang tập trung.
- Từ nền tảng này, đến cuối năm 1944, Đảng đã đủ điều kiện để thành lập Đội
Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên của Quân
đội nhân dân Việt Nam sau này.
5. Hình thành các căn cứ địa cách mạng vững chắc - Các căn cứ địa như: + Bắc Sơn – Võ Nhai, + Cao Bằng,
- được xây dựng theo đường lối mới đã trở thành trung tâm hoạt động cách mạng, là nơi:
+ Phát triển lực lượng Việt Minh, + Huấn luyện vũ trang,
+ Phát triển hệ thống chính quyền cách mạng địa phương.
- Đây là những vùng tự do đầu tiên, đóng vai trò chiến lược cho cuộc khởi nghĩa sau này.
6. Khẳng định năng lực lãnh đạo và bản lĩnh cách mạng của Đảng
- Việc chuyển hướng chiến lược kịp thời cho thấy:
- Đảng có khả năng phân tích, đánh giá đúng tình hình thế giới – trong nước,
+ Dám điều chỉnh đường lối cho phù hợp thực tiễn,
+ Không rơi vào giáo điều, máy móc.
- Điều này củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, tạo
niềm tin trong quần chúng nhân dân và các lực lượng yêu nước
CHƯƠNG 2 : NHỮNG HẠN CHẾ MANG TÍNH LỊCH SỬ CỦA LUẬN
CƯƠNG CHÍNH TRỊ THÁNG 10/1930
2.1 Sự thay đổi tư duy chỉ đạo so với Cương lĩnh đầu tiên
- Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất (tháng 10/1930) tại
Hương Cảng (Trung Quốc) là dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng hệ
thống lý luận và tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại hội nghị, Luận
cương chính trị do Tổng Bí thư Trần Phú khởi thảo đã được thông qua, trở thành
văn kiện lý luận mang tính chỉ đạo đầu tiên do Đảng trực tiếp soạn thảo sau khi ra đời.
- Tuy nhiên, khi đối chiếu với Cương lĩnh chính trị đầu tiên (tháng 2/1930) do
Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, có thể nhận thấy rằng Luận cương tháng 10/1930 đã
thể hiện một số bước lùi nhất định về tư duy chiến lược. Những hạn chế này không
phải là sai lầm chủ quan của cá nhân lãnh đạo mà bắt nguồn từ bối cảnh lịch sử – lý
luận phức tạp của phong trào cộng sản quốc tế lúc bấy giờ. Chính việc chịu ảnh
hưởng nặng nề của mô hình cách mạng vô sản phương Tây và tư tưởng đấu tranh
giai cấp cứng nhắc đã tác động trực tiếp đến cách xác định nhiệm vụ, lực lượng và
phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam.
1. Xu hướng “giai cấp hóa” nhiệm vụ cách mạng
- Khác với Cương lĩnh đầu tiên – vốn đề cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc và coi
mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn chủ yếu – Luận cương 10/1930 đặt đấu tranh
giai cấp và nhiệm vụ cách mạng ruộng đất lên vị trí trung tâm. Văn kiện nhấn
mạnh việc đánh đổ địa chủ phong kiến và thực hiện “cách mạng tư sản dân
quyền theo con đường vô sản”. Cách tiếp cận này xuất phát từ việc áp dụng máy
móc mô hình cách mạng của các nước tư bản phương Tây vào Việt Nam – một
nước thuộc địa nửa phong kiến.
- Hệ quả là Luận cương đã không xác định đúng mâu thuẫn dân tộc – thuộc địa,
vốn là mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, và vì vậy chưa đặt
nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
2. Phiến diện trong việc đánh giá lực lượng cách mạng
- Cương lĩnh tháng 2/1930 của Nguyễn Ái Quốc rất mềm dẻo, linh hoạt khi xác
định mặt trận đoàn kết rộng rãi, bao gồm công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí
thức, tiểu thương, thậm chí cả phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản dân tộc có tinh thần yêu nước.
- Ngược lại, Luận cương 10/1930 lại thu hẹp lực lượng cách mạng khi nhấn
mạnh vai trò duy nhất của công – nông và đánh giá tiêu cực đối với các tầng lớp
khác, đặc biệt là tư sản dân tộc và trung tiểu địa chủ. Việc phân hóa lực lượng
theo tiêu chí giai cấp quá cứng nhắc đã làm suy giảm khả năng xây dựng một
mặt trận dân tộc thống nhất, vốn là yếu tố tối quan trọng ở một quốc gia bị thực dân xâm lược.
3. Chưa nhận thức đầy đủ vấn đề dân tộc và thuộc địa
- Luận cương tháng 10/1930 không nhấn mạnh yếu tố dân tộc như Cương lĩnh
đầu tiên. Trong bối cảnh Việt Nam là thuộc địa của Pháp, yêu cầu bức thiết nhất
của cách mạng là giành lại độc lập dân tộc. Tuy nhiên, Luận cương vẫn đặt
nhiệm vụ này ngang bằng – thậm chí sau – nhiệm vụ đánh đổ phong kiến và thực
hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa.
- Điều đó cho thấy Luận cương chưa thấy rõ tính chất và đặc điểm của xã hội
thuộc địa, chưa nắm bắt được yêu cầu cấp bách của cách mạng dân tộc giải phóng.
4. Hạn chế từ bối cảnh lịch sử – lý luận
- Những hạn chế của Luận cương cần được nhìn nhận trong bối cảnh:
+ Chủ nghĩa Mác – Lênin đang được quốc tế hóa chủ yếu theo mô hình đấu
tranh giai cấp ở các nước công nghiệp.
+ Quốc tế Cộng sản đề cao lý luận “cách mạng vô sản” và xem nhẹ đặc điểm
của các nước thuộc địa.
+ Trần Phú và nhiều cán bộ lãnh đạo đầu tiên chưa có điều kiện khảo sát đầy
đủ thực tiễn Việt Nam.
+ Sự đàn áp gắt gao của thực dân Pháp giai đoạn 1930 – 1931 làm phong trào
cách mạng bị tổn thất nặng nề.
- Như vậy, những hạn chế của Luận cương tháng 10/1930 là “hạn chế mang tính
lịch sử” – tức là hạn chế mang tính khách quan, không thể tránh khỏi trong giai
đoạn đầu hình thành đường lối cách mạng của Đảng.
2.2 Hạn chế trong việc xác định mâu thuẫn và nhiệm vụ chiến lược
- Đây là hạn chế mang tính cốt tử, chi phối toàn bộ nội dung và phương hướng chỉ
đạo của Luận cương chính trị tháng 10/1930. Việc xác định không đúng mâu thuẫn
cơ bản của xã hội Việt Nam thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến đã dẫn đến những sai
lệch trong việc đề ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng.
1. Xác định sai mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam
- Luận cương tháng 10/1930 nhấn mạnh mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ
phong kiến là mâu thuẫn cơ bản và trước hết cần giải quyết. Luận cương coi việc
đánh đổ chế độ phong kiến và thực hiện cách mạng ruộng đất là nhiệm vụ trung
tâm của cách mạng tư sản dân quyền.
- Cách xác định này mang dấu ấn của tư duy đấu tranh giai cấp kinh điển trong mô
hình cách mạng ở các nước phương Tây. Tuy nhiên, đối với Việt Nam – một nước
bị thực dân Pháp thống trị, mâu thuẫn chủ yếu và gay gắt nhất lại là mâu thuẫn dân
tộc giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với đế quốc xâm lược.
- Việc không đặt mâu thuẫn dân tộc lên hàng đầu dẫn đến hệ quả:
+ Không thấy được nhiệm vụ cấp bách nhất là giải phóng dân tộc.
+ Không xây dựng được một mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi chống thực dân.
+ Làm thu hẹp phạm vi lực lượng cách mạng, nhất là trong bối cảnh đế
quốc đang áp bức trực tiếp.
2. Đề ra nhiệm vụ chiến lược thiên về đấu tranh giai cấp
- Trên cơ sở nhận định sai mâu thuẫn, Luận cương đã xác định nhiệm vụ chiến lược hàng đầu là: + Đánh đổ phong kiến
+ Thực hiện cách mạng ruộng đất
+ Tiến lên con đường cách mạng vô sản
- Trong khi đó, nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc lại không được đặt
vào vị trí ưu tiên số một, mà chỉ được coi như một nhiệm vụ song song với đấu tranh chống phong kiến.
- Điều này trái ngược với yêu cầu thực tiễn:
+ Dân tộc bị xâm lược ⇒ đòi hỏi hàng đầu là độc lập
+ Giải phóng dân tộc là tiền đề để giải phóng giai cấp
+ Mọi mâu thuẫn khác (giai cấp, ruộng đất, dân chủ) chỉ có thể giải
quyết triệt để khi đất nước giành lại chủ quyền
- Việc “đảo ngược thứ tự” nhiệm vụ chiến lược khiến Luận cương mất đi tính linh
hoạt và không phù hợp với đặc điểm của cách mạng thuộc địa.
3. Hệ quả đối với đường lối và phong trào cách mạng
- Những hạn chế trong xác định mâu thuẫn và nhiệm vụ chiến lược đã ảnh hưởng
trực tiếp đến phong trào cách mạng giai đoạn 1930 – 1931:
- Phong trào đấu tranh thiên về bạo lực cách mạng, mang màu sắc “đấu tranh giai
cấp” mạnh mẽ, thiếu sách lược mềm dẻo.
- Ít chú trọng công tác mặt trận dân tộc, không thu hút được các tầng lớp trung gian
và tiến bộ vào phong trào.
- Hạn chế khả năng tập hợp lực lượng đông đảo để chống thực dân Pháp.
- Chính vì vậy, dù phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh 1930 – 1931 phát triển mạnh
mẽ và thể hiện tinh thần cách mạng cao độ, nhưng do thiếu liên minh rộng rãi và do
kẻ thù đàn áp khốc liệt, phong trào đã không thể giữ được lâu dài
2.2.1 Nhận diện sai mâu thuẫn chủ yếu của xã hội
- Trong xã hội Việt Nam dưới ách cai trị của thực dân Pháp, tính chất thuộc địa nửa
phong kiến đã quy định cấu trúc mâu thuẫn xã hội mang hai tầng: mâu thuẫn dân
tộc giữa toàn thể nhân dân với thực dân xâm lược, và mâu thuẫn giai cấp giữa nông
dân với địa chủ phong kiến. Tuy nhiên, giữa hai dạng mâu thuẫn này không tồn tại
quan hệ song song, mà chúng được sắp xếp theo trật tự ưu tiên rõ ràng:
+ Mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn bao trùm, quyết định và chi phối mọi mâu thuẫn khác.
+ Mâu thuẫn giai cấp chỉ có thể được giải quyết đầy đủ sau khi vấn đề dân tộc
– độc lập và chủ quyền – được giải quyết.
* Sai lầm trong nhận định của Luận cương tháng 10/1930
- Tuy nhiên, Luận cương tháng 10/1930 đã không xác định đúng tính chất và vị trí
của các mâu thuẫn này. Văn kiện đặt nặng vấn đề đấu tranh giai cấp, xem mâu
thuẫn giữa thợ thuyền và dân cày với giai cấp tư sản, địa chủ là mâu thuẫn cơ bản
và là động lực chủ yếu của cách mạng.
- Cách xác định này mang nặng ảnh hưởng của mô hình cách mạng vô sản ở
phương Tây – nơi mâu thuẫn giai cấp mới là mâu thuẫn trung tâm – nhưng lại
không phù hợp với hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam, nơi chủ quyền dân tộc bị tước
bỏ hoàn toàn và nhân dân bị đặt dưới ách áp bức trực tiếp của đế quốc.
* Hệ quả của việc nhận diện sai mâu thuẫn
- Việc đề cao mâu thuẫn giai cấp và coi nhẹ mâu thuẫn dân tộc dẫn đến ba hệ quả lớn:
+ Hạ thấp nhiệm vụ giải phóng dân tộc, không đặt mục tiêu chống đế quốc lên hàng đầu.
+ Thu hẹp lực lượng cách mạng, vì khi quá nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, các
tầng lớp trí thức, tiểu tư sản, tư sản dân tộc – vốn có tinh thần yêu nước –
không được coi trọng đúng mức.
+ Làm giảm khả năng hình thành một mặt trận dân tộc thống nhất, vốn là
nhiệm vụ chiến lược then chốt của cách mạng Việt Nam thời kỳ thuộc địa.
* So sánh với tư duy của Cương lĩnh chính trị đầu tiên (2/1930)
- Cương lĩnh của Nguyễn Ái Quốc đã xác định rất đúng đắn:
+ Mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn cơ bản nhất
+ Nhiệm vụ hàng đầu là đánh đổ đế quốc Pháp để giành lại độc lập
+ Từ đó mới tiến hành các nhiệm vụ dân quyền, ruộng đất.
Vì vậy, việc Luận cương tháng 10/1930 “đi chệch” khỏi tư duy đúng đắn này đã tạo
ra bước lùi trong đường lối chiến lược của Đảng, ảnh hưởng đến phương pháp tập
hợp lực lượng và định hướng hành động của phong trào cách mạng những năm 1930 – 1931.
2.2.2 Đảo lộn vị trí của hai nhiệm vụ chiến lược: Chống đế quốc và Chống phong kiến
- Việc xác định sai mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam đã dẫn đến hệ quả quan
trọng trong Luận cương chính trị tháng 10/1930: đảo lộn thứ tự và tầm quan trọng
của hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng – chống đế quốc và chống phong kiến.
Đây là một trong những hạn chế cốt lõi khiến Luận cương chưa phản ánh đúng quy
luật vận động của cách mạng thuộc địa.
1. Quan điểm của Luận cương tháng 10/1930
- Dựa trên lập luận đấu tranh giai cấp kiểu phương Tây, Luận cương cho rằng:
+ Hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến gắn bó hữu cơ, phải tiến hành đồng thời.
+ Nhiệm vụ ruộng đất được xem là trung tâm của cách mạng tư sản dân quyền.
+ Văn kiện nhấn mạnh mạnh mẽ rằng:
“Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền”.
- Điều này thể hiện tư duy giáo điều trong việc vận dụng kinh nghiệm cách mạng
Nga vào bối cảnh Việt Nam – nơi mất nước là vấn đề số một, chứ không phải quan
hệ chiếm hữu ruộng đất.
2. Hạn chế trong cách xác định nhiệm vụ chiến lược
a) Giáo điều trong tư duy lý luận
- Luận cương đã áp đặt mô hình cách mạng vô sản châu Âu vào hoàn cảnh Việt
Nam – nơi mà nhân dân không chỉ bị bóc lột giai cấp mà còn bị đặt dưới ách thống
trị của thực dân ngoại bang. Do đó, việc yêu cầu tiến hành song song “đấu tranh
dân tộc” và “đấu tranh giai cấp” là phi thực tiễn, làm suy yếu trọng tâm của phong trào.
b) Không thấy được tính quyết định của nhiệm vụ dân tộc
- Trong điều kiện thuộc địa:
+ Không thể giải quyết vấn đề ruộng đất khi dân tộc chưa độc lập.
+ Không thể lật đổ giai cấp địa chủ khi toàn bộ bộ máy cai trị đều do đế quốc quyết định.
- Do đó, ưu tiên phải là đánh đổ đế quốc, giành lại chủ quyền dân tộc làm tiền đề để
giải quyết mọi vấn đề xã hội khác.
c) Làm chệch hướng mục tiêu số một của cách mạng
- Bằng cách đặt nhiệm vụ ruộng đất ngang bằng, thậm chí nhấn mạnh hơn nhiệm
vụ giải phóng dân tộc, Luận cương đã:
+ Hạ thấp vai trò của cuộc đấu tranh chống đế quốc Pháp, vốn là trọng tâm của cách mạng Việt Nam.
+ Làm mờ nhạt vấn đề dân tộc, trong khi đây mới là mâu thuẫn chủ yếu và cấp bách nhất.
3. Hệ quả đối với việc tập hợp lực lượng cách mạng
- Việc không đặt nhiệm vụ dân tộc lên trên khiến Luận cương rơi vào tư duy tả khuynh, dẫn đến:
a) Thu hẹp lực lượng cách mạng
- Do quá nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, Luận cương xem: + Địa chủ vừa và nhỏ + Tư sản dân tộc + Tiểu tư sản trí thức
- là các giai cấp “không đáng tin”, trong khi đây là những lực lượng có tinh thần
chống Pháp mạnh mẽ và có khả năng đóng góp quan trọng cho phong trào giải phóng dân tộc.
b) Khoét sâu mâu thuẫn nội bộ dân tộc
- Khi nhiệm vụ ruộng đất được nhấn mạnh quá mức, mâu thuẫn giữa nông dân với
địa chủ trở nên sắc bén, gây ra tình trạng:
+ Giảm sự đoàn kết dân tộc,
+ Khó hình thành mặt trận thống nhất rộng rãi,
+ Làm suy yếu khả năng tập hợp lực lượng để chống lại kẻ thù chung là thực dân Pháp.
- Điều này hoàn toàn trái ngược với tư duy trong Cương lĩnh 2/1930 của Nguyễn
Ái Quốc – vốn đặt trọng tâm “đại đoàn kết dân tộc” lên hàng đầu. 4. Đánh giá tổng quát
- Tóm lại, việc đảo lộn nhiệm vụ chiến lược là một trong những sai lầm quan trọng
nhất của Luận cương tháng 10/1930. Sai lầm này xuất phát từ nhận thức máy móc
về mâu thuẫn giai cấp, không đánh giá đúng vị trí của mâu thuẫn dân tộc trong điều kiện thuộc địa.
- Chỉ đến giai đoạn 1939 – 1941, thông qua chủ trương chuyển hướng chiến lược,
Đảng ta mới khắc phục triệt để sai lầm này, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên
hàng đầu và tạo tiền đề cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
2.3 Hạn chế trong việc xác định lực lượng cách mạng
- Nếu như hạn chế trong xác định mâu thuẫn và nhiệm vụ chiến lược khiến Luận
cương tháng 10/1930 đi chệch hướng về mục tiêu, thì những hạn chế trong việc xác
định lực lượng cách mạng lại khiến Đảng đứng trước nguy cơ bị cô lập về lực
lượng, thu hẹp ảnh hưởng xã hội, không thể huy động tiềm năng của toàn dân tộc
trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp.
- Hạn chế này xuất phát từ quan điểm cứng nhắc, tả khuynh và giáo điều trong vận
dụng lý luận giai cấp vào điều kiện một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam.
1. Tuyệt đối hóa vai trò của công nhân và nông dân
- Luận cương tháng 10/1930 khẳng định:
+ Giai cấp công nhân và nông dân là lực lượng chủ yếu, là “động lực của cách mạng”.
+ Địa vị kinh tế – xã hội của hai giai cấp này quyết định họ là lực lượng trung
thành nhất với sự nghiệp cách mạng.
- Nhận định này đúng nhưng chưa đủ, bởi:
+ Công nhân Việt Nam thời kỳ 1930 còn ít về số lượng (khoảng hơn 20 vạn người).
+ Nông dân tuy chiếm đại đa số, nhưng thiếu tổ chức và dễ phân hóa.
+ Hai lực lượng này không thể tự mình đảm đương toàn bộ nhiệm vụ giải
phóng dân tộc, nếu không có sự tham gia của các tầng lớp khác.
- Việc tuyệt đối hóa vai trò công – nông dẫn đến định kiến lý luận, làm che mờ vai
trò tiềm năng của các tầng lớp khác trong xã hội Việt Nam.
2. Đánh giá sai lệch các giai cấp và tầng lớp khác
- Đây là điểm lùi quan trọng so với Cương lĩnh chính trị (2/1930) của Nguyễn Ái
Quốc – văn kiện đã đánh giá thấu đáo vai trò của từng giai tầng và chủ trương xây
dựng mặt trận thống nhất toàn dân.
- Ngược lại, Luận cương tháng 10/1930 lại có những đánh giá phiến diện và cứng nhắc:
a) Tiểu tư sản (trí thức, học sinh, nhà buôn nhỏ): bị xem là không đáng tin cậy
- Luận cương cho rằng:
+ Tiểu tư sản dễ dao động, cải lương,
+ Có thể bỏ cách mạng để theo đế quốc.
- Đây là nhận định thiếu cơ sở thực tiễn, bởi trên thực tế:
+ Trí thức, học sinh, giáo viên, viên chức, học trò… là lực lượng tiên phong
trong nhiều phong trào yêu nước từ đầu thế kỷ XX,
+ Họ có tri thức, có tinh thần dân tộc, dễ tiếp thu tư tưởng tiến bộ.
- Việc xem nhẹ tiểu tư sản khiến Đảng đánh mất một lực lượng có khả năng truyền
bá tư tưởng và tổ chức phong trào rất hiệu quả.
b) Tư sản dân tộc: bị phủ nhận hoàn toàn
- Luận cương khẳng định tư sản dân tộc:
+ Sớm hay muộn cũng thỏa hiệp với đế quốc,
+ Sẽ chống lại công nhân.
- Quan điểm này phản ánh sự áp đặt máy móc mô hình mâu thuẫn ở châu Âu vào Việt Nam, trong khi:
+ Tư sản dân tộc Việt Nam hình thành muộn, bị tư bản Pháp chèn ép,
+ Họ có mâu thuẫn lợi ích trực tiếp với tư bản Pháp, và nhiều người có tinh
thần yêu nước, sẵn sàng hỗ trợ phong trào dân tộc.
- Do đó, đánh giá họ như lực lượng phản động là sai lệch so với thực tiễn và làm
thu hẹp mặt trận dân tộc.
c) Trung, tiểu địa chủ: bị đánh đồng với địa chủ phong kiến phản động
- Luận cương chủ trương:
+ Đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ,
+ Không phân biệt đại địa chủ phản động với bộ phận trung, tiểu địa chủ có tinh thần dân tộc.
- Quan điểm này mang tính tả khuynh, bởi:
+ Nhiều trung, tiểu địa chủ có quan hệ gần gũi với nông dân,
+ Khi mâu thuẫn dân tộc gay gắt, họ sẵn sàng tham gia hoặc ủng hộ phong trào chống Pháp.
- Cương lĩnh 2/1930 đã phân hóa rất rõ, nhưng Luận cương 10/1930 lại xóa bỏ sự
phân hóa cần thiết này, làm mất đi cơ hội mở rộng lực lượng.
3. Hệ quả: Đảng bị thu hẹp lực lượng và đứng trước nguy cơ cô lập
- Các quan điểm cứng nhắc nêu trên đã dẫn đến:
+ Thu hẹp lực lượng cách mạng vào hai giai cấp công – nông, trong khi lực
lượng dân tộc rộng lớn không được tập hợp.
+ Không hình thành được mặt trận dân tộc thống nhất, một yếu tố quyết định
của cách mạng thuộc địa.
+ Phong trào 1930–1931 tuy bùng nổ mạnh mẽ nhưng không thể lan rộng
thành phong trào toàn dân, vì thiếu sự tham gia của các giai tầng khác. 4. Đánh giá tổng kết
- Luận cương tháng 10/1930 là một văn kiện có giá trị lịch sử, nhưng trong vấn đề
xác định lực lượng cách mạng, nó mang: + tư duy giáo điều,
+ ảnh hưởng nặng nề đấu tranh giai cấp,
+ thiếu tiếp cận linh hoạt và dân tộc gắn với điều kiện thuộc địa.
- Chỉ khi Nguyễn Ái Quốc trực tiếp lãnh đạo (1939–1941), Đảng mới:
+ khắc phục tư duy tả khuynh,
+ xác định đúng lực lượng cách mạng,
+ xây dựng Mặt trận Việt Minh,
+ tập hợp toàn dân, đưa cách mạng đến thắng lợi năm 1945.