



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN.
ĐẢNG TA ĐÃ VẬN DỤNG BÀI HỌC NÀY TRONG THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NHƯ THẾ NÀO? NHÓM 3
Lớp HP : 232_MAEC0111_05 Triết học Mác Lê Nin
CHUYÊN NGÀNH: Quản lý kinh tế STT Họ và tên Nhiệm vụ Nhóm tự sắp xếp Đánh giá của giảng viên 24 Trần Việt Đức Powerpoint 25 Nguyễn Thị Trà Word Giang 26 Đỗ Thu Hà Làm nội dung mở đầu+ 1.1 27 Nguyễn Thu Hà Làm nội dung 1.2+1.3 28 Nguyễn Thu Hà Làm nội dung 2.1.1 29 Đỗ Thị Hạnh Thuyết trình 30 Trần Hồng Hạnh Làm nội dung 2.1.2 31 Phan Thị Hằng Nhóm trưởng Làm nội dung 1.4+2.2+ kết luận 32 Bùi Thúy Hiền Làm nội dung 2.1.3 33 Nguyễn Đức Thuyết trình Hiếu MỤC LỤC
I, CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN
1.1.Lịch sử phát triển của phạm trù vật chất..............................................................5
1.2.Định nghĩa về vật chất của Lê-nin.......................................................................7
1.3.Nội dung định nghĩa..........................................................................................10
1.4.Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ quan niệm vật chất của Lê-nin.................12
II, VẬN DỤNG BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN TRONG
THỰC TIỄN ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA
2.1.Vận dụng bài học trong thực tiễn đổi mới của Đảng ta.....................................13
2.1.1.Vận dụng bài học tôn trọng hiện thực khách quan trong lĩnh vực kinh tế.....13
2.1.2.Vận dụng bài học tôn trọng hiện thực khách quan trong lĩnh vực chính trị - xã
hội...........................................................................................................................16
2.1.3.Vận dụng bài học tôn trọng hiện thực khách quan trong lĩnh vực văn hóa – tư
tưởng........................................................................................................................19
2.2.Giải pháp nhằm nâng cao tác động tích cực của cơ sở lí luận đối với đảng ta
hiện nay....................................................................................................................22 MỞ ĐẦU
Triết học Mác - Lênin rất coi trọng khái niệm thực tiễn, được coi là một trong
những phạm trù cơ bản trong cả triết học nói chung và lý thuyết nhận thức. Quan
điểm này đã mang lại một sự thay đổi căn bản trong lĩnh vực triết học. Các vấn đề
về lý thuyết và thực tiễn thường xuyên gặp phải và là chủ đề được nhiều nghiên
cứu và quan tâm của cộng đồng khoa học.
Sự phát triển của khoa học gắn liền mật thiết với sự phát triển của triết học.
Chủ đề hiện tại liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau của thực tiễn đổi mới.
Cụ thể, nó đi sâu vào sự phức tạp về mặt triết học phát sinh từ các lý thuyết nhận
thức và thực tế. Ngày nay, ở Đông Nam Á nói riêng và vòng cung Châu Á - Thái
Bình Dương nói chung, Việt Nam đang thu hút nhiều sự chú ý của giới quyền lực
và đầu tư. Bởi lẽ chúng ta đang tiến hành một công cuộc đổi mới toàn diện và sâu
sắc. Để tiến hành một cách thuận lợi, Đảng ta cần trang bị những kiến thức và cơ
sở lý luận về bài học tôn trọng hiện thực khách quan từ đó áp dụng vào trong thực
tiễn của đất nước. Đây dường như là một yếu tố tất yếu để tiến hành giai đoạn đổi
mới nên sẽ có rất nhiều văn kiện chính trị và các báo cáo liên quan.
I, Cơ sở lý luận của bài học tôn trọng hiện thực khách quan
1.1. Lịch sử phát triển của phạm trù vật chất.
Phạm trù vật chất là một trong những phạm trù cơ bản của triết học duy
vật. Việc nhận thức đúng đắn nội dung của phạm trù này có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng để khẳng định tính chất khoa học, đúng đắn của quan điểm duy vật biện
chứng về thế giới. Việc khám phá bản chất và cấu trúc của sự tồn tại của thế giới
xung quanh ta, mà trước hết là thế giới những vật thể hữu hình, từ xưa tới nay,
luôn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong lịch sử nhận thức của nhân loại.
Hầu hết các trường phái triết học đều bằng cách này hay bằng cách khác giải quyết
vấn đề này. Và bởi vậy trong triết học, phạm trù vật chất xuất hiện, ngay trong thời
kì cổ đại, dưới chế độ chiếm hữu nô lệ. Tuy nhiên, nội dung của phạm trù này
không phải là bất biến mà nó luôn luôn biến đổi và phát triển.
1.1.1. Quan niệm về phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật trước C.Mác.
a. Quan niệm của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại về vật chất.
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật + Phương Đông cổ đại:
Quan niệm của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại thì đồng nhất vật
chất với những sự vật hiện tượng cụ thể như nước, lửa, không khí, nguyên tử…
coi đó là cái đầu tiên mà từ đó sinh ra mọi cái còn lại. Quan niệm này mang nặng
tính trực quan, ngây thơ, ấu trĩ và chưa khoa học nên đã bị khoa học bác bỏ.
Thuyết Ngũ hành của Trung quốc có xu hướng phân tích về cấu trúc của vạn vật
để quy nó về yếu tố khởi nguyên với tính chất khác nhau. Theo thuyết này có 5
nhân tố khởi nguyên là Kim - Mộc - Thủy - Hòa - Thổ. Năm yếu tố này không tồn
tại độc lập, tuyệt đối mà tác động lẫn nhau theo nguyên tắc tương sinh, tương
khắc với nhau tạo ra vạn vật. Không chỉ vậy, thuyết Âm - Dương cho rằng có hai
lực lượng âm - dương đối lập nhau nhưng lại gắn bó, cấu kết với nhau trong mọi
vật, là sự khởi đầu của mọi sự sinh thành, biến hóa. Những tư tưởng về âm -
dương, ngũ hành, tuy có nhưng hạn chế nhất định nhưng đó là triết lý đặc sắc mang
tính duy vật và biện chứng nhằm lý giải về vật chất và cấu tạo của vũ trụ.
Vào thời cổ đại ở Hy Lạp, các nhà triết học duy vật đều cho có một nguyên thể
vật chất đầu tiên là cơ sở thế giới. Họ quy vật chất về cơ sở đầu tiên đó. Quan niệm
vật chất của các nhà duy vật cổ đại còn mang tính trực quan, cảm tính, họ đồng
nhất vật chất nói chung với những vật thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế
giới bên ngoài. Ấn Độ có Trường phái LOKAYATA cho rằng tất cả được tạo ra
bởi sự kết hợp trong 4 yếu tố Đất - Nước – Lửa - Khí. Những yếu tố này có khả
năng tự tồn tại, tư vận động trong không gian và cấu thành vạn vật. Tính đa dạng
của vạn vật chính là do sự kết hợp khác nhau của 4 yếu tố đó. + Phương Tây cổ đại:
Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật thời cổ đại là đi tìm một
thực thể ban đầu nào đó và coi nó là yếu tố tạo ra tất cả các sự vật, hiện tượng khác
nhau của thế giới, tất cả đều bắt nguồn từ đó và cuối cùng đều tan biến trong đó.
Tức là họ muốn tìm một thực thể chung, là cơ sở bất biến của toàn bộ tồn tại, là cái
được bảo toàn trong sự vật dù trạng thái và thuộc tính của sự vật có biến đổi và
được gọi là vật chất (tiếng Latin là materia). Trong lịch sử triết học cổ đại, các nhà
triết học duy vật cũng quan niệm vật chất rất khác nhau. Thales (624-547 trước
Công nguyên) coi vật chất là nước, Anaximenes (585-524 trước Công nguyên) coi
vật chất là không khí, Heraclitus (540-480 trước Công nguyên) coi vật chất là lửa,
Democritus (460-370 trước Công nguyên) coi vật chất là các nguyên tử... Nói
chung các nhà triết học cổ đại quan niệm vật chất dưới dạng cảm tính và đồng nhất
vật chất thành một thực thể cụ thể, cố định. Những quan điểm trên tuy còn thô sơ,
nhưng có ưu điểm căn bản là vật chất được coi là cơ sở đầu tiên của mọi sự vật
hiện tượng trong thế giới khách quan.
Điều này đối lập với quan điểm duy tâm tôn giáo coi cơ sở đầu tiên của thế
giới là tinh thần, ý thức. Học thuyết nguyên tử là một bước phát triển mới trên con
đường hình thành phạm trù vật chất trong triết học, tạo cơ sở triết học mới cho
nhận thức khoa học sau này.
- Quan niệm về chủ nghĩa duy tâm:
Quan niệm chủ nghĩa duy tâm chất phác thì thừa nhận sự tồn tại của sự vật hiện
tượng vật chất nhưng phủ định đặc tính tồn tại khách quan của vật chất, đồng thời
nó được phân ra thành hai chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ quan. Với chủ
nghĩa duy tâm khách quan cho rằng ý thức khách quan tinh thần khách quan là có
trước và tồn tại độc lập với con người và trong quá trình phát triển của nó, ý thức
chính là nguồn gốc sản sinh ra giới tự nhiên cả con người. Bản thân nhà triết học
Platon cũng từng quan niệm: “Bản chất của thế giới là “ý niệm””.
Thế nhưng, chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì ngược lại khi cảm giác, ý thức con
người là cái có trước và quyết định sự tồn tại của sự vật hiện tượng, mà nói cách
khác sự vật hiện tượng chỉ là “ phúc hợp của những cảm giác” của con người. Tuy
nhiên, quan điểm này là không đúng hoàn toàn với thực tiễn và đã bị bác bỏ.
b. Quan niệm của CNDV về vật chất thế kỉ XV-XVIII:
Đến thời kỳ cận đại, khoa học phát hiện ra sự tồn tại của nguyên tử, cho nên
quan niệm của thuyết nguyên tử về cấu tạo của vật chất ngày càng được khẳng
định. Trong giai đoạn thế kỷ 17 - thế kỷ 18, mặc dù đã có những bước phát triển,
đã xuất hiện những tư tưởng biện chứng nhất định trong quan niệm về vật chất,
song quan niệm đó ở các nhà triết học duy vật thời kỳ này về cơ bản vẫn mang tính
chất cơ giới, đó là khuynh hướng đồng nhất vật chất với nguyên tử hoặc với khối
lượng, giải thích sự vận động của thế giới vật chất trên nền tảng cơ học. Quan niệm
này chịu ảnh hưởng khá mạnh bởi cơ học cổ điển của Newton, một lĩnh vực của
vật lý được coi là phát triển hoàn thiện nhất thời bấy giờ. Cơ học cổ điển coi khối
lượng của vật thể là đặc trưng cơ bản và bất biến của vật chất; thế giới bao gồm
những vật thể lớn nhỏ khác nhau, cái nhỏ nhất không thể phân chia nhỏ hơn là các
nguyên tử; đặc trưng cơ bản của mọi vật thể là khối lượng; tính tất yếu khách quan
trong hiện thực là tính tất yếu khách quan được thể hiện qua các định luật cơ học
của Newton; vật chất, vận động, không gian và thời điểm là những thực tế khác
nhau cùng tồn tại và được các nhà triết học duy vật cũng như các nhà khoa học tự
nhiên nổi tiếng sử dụng cho đến tận cuối thế kỷ 19.
1.1.2. Quan niệm triết học Mác – Lênin về vật chất.
C.Mác và Ph.Ăngghen nêu lên sự đối lập giữa vật chất với ý thức, về tính
thống nhất vật chất của thế giới, về tính khái quát phạm trù vật chất và sự tồn tại
của vật chất dưới các dạng cụ thể. Theo Ph.Ăngghen thì cần có sự phân biệt rõ các
dạng tồn tại khách quan của vật chất và khái niệm về vật chất. Vật chất với tư cách
là một phạm trù triết học không có tồn tại cảm tính khác với các đối tượng vật chất
cụ thể. Theo ông “Những từ như vật chất và vận động chỉ là sự tóm tắt trong đó
chúng ta tập hợp theo những thuộc tính của chúng, rất nhiều sự vật khác nhau có
thể cảm biết được bằng giác quan”. Đồng thời, Ăngghen còn đặc biệt nhấn mạnh
phê phán quan điểm đồng nhất vật chất về nguyên tử, về những hạt nhỏ đồng nhất
hoàn toàn giống nhau về chất, chỉ khác nhau về lượng, ông coi đó là siêu hình,
mang tính cơ giới, qua đó ông nêu lên tính vô hạn và vô tận, tính không thể sáng
tạo và không thể tiêu diệt được của vật chất và các hình thức tồn tại của nó là
không gian và thời gian. Ở đây cần phân biệt quan niệm vật chất với tư cách là một
phạm trù triết học với quan niệm của vật lý học và các khoa học khác về vật chất.
là một phạm trù triết học không có tồn tại cảm tính khác với các đối tượng vật chất
cụ thể. Theo ông “Những từ như vật chất và vận động chỉ là sự tóm tắt trong đó
chúng ta tập hợp theo những thuộc tính của chúng, rất nhiều sự vật khác nhau có
thể cảm biết được bằng giác quan”. Đồng thời, Ăngghen còn đặc biệt nhấn mạnh
phê phán quan điểm đồng nhất vật chất về nguyên tử, về những hạt nhỏ đồng nhất
hoàn toàn giống nhau về chất, chỉ khác nhau về lượng, ông coi đó là siêu hình,
mang tính cơ giới, qua đó ông nêu lên tính vô hạn và vô tận, tính không thể sáng
tạo và không thể tiêu diệt được của vật chất và các hình thức tồn tại của nó là
không gian và thời gian. Ở đây cần phân biệt quan niệm vật chất với tư cách là một
phạm trù triết học với quan niệm của vật lý học và các khoa học khác về vật chất.
Còn với C. Mác, bản thân ông không đưa ra một định nghĩa về vật chất nhưng
đã vận dụng đúng đắn quan điểm duy vật biện chứng về vật chất trong quá trình
phân tích những vấn đề về chính trị - xã hội, đặc biệt là phân tích quá trình sản
xuất vật chất của xã hội.
1.2 Định nghĩa về vật chất của Lênin
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời của định nghĩa
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong vật lý học đã có nhiều phát minh quan trọng:
Năm 1895, Wilhelm Conrad Rontgen (Rơnghen), phát hiện ra tia X.
Năm 1896, Henri Becquerel (Béccoren), phát hiện ra hiện tượng phóng xạ
của nguyên tố urani. Năm 1897, Joseph John Thomson (Tômxơn), phát hiện ra điện tử.
Năm 1901, Kaufman đã chứng mình được khối lượng của điện tử không
phải là bất biến mà thay đổi theo vận tốc vận động của nguyên tử.
Năm 1898-1902, nhà nữ vật lý học người Ba Lan - Marie Sklodowska
(Mari Scôlôđốpsca) cùng với chồng là Pierre Curie, nhà hóa học người Pháp, đã
khám phá ra chất phóng xạ mạnh là pôlôni và rađium.
Những phát hiện vĩ đại đó chứng tỏ rằng, nguyên tử không phải là phần tử nhỏ
nhất mà nó có thể bị phân chia, chuyển hóa.
Năm 1905, thuyết tương đối hẹp và năm 1916, thuyết tương đối tổng quát
của Albert Einstein ra đời đã chứng minh: không gian, thời gian, khối lượng luôn
biến đổi cùng với sự vận động của vật chất….
Trước những phát hiện trên của khoa học tự nhiên, không ít nhà khoa học và
triết học đứng trên lập trường duy vật tự phát, siêu hình đã hoang mang, dao động,
hoài nghi tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật. Họ cho rằng, nguyên tử không phải
là ophần tử nhỏ nhất, mà có thể bị phân chia, tan rã, nị “mất đi”.
Chủ nghĩa duy tâm kinh nghiệm tấn công và phủ nhận quan niệm vật chất của chủ nghĩa duy vật.
Một số nhà khoa học tự nhiên trượt từ chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình sang
chủ nghĩa tương đối, rồi rơi vào chủ nghĩa duy tâm.
• Nhận xét của Lênin về cuộc khủng hoảng và cách giải quyết:
Trước tình hình trên, V.I. Lênin gọi đó là “chủ nghĩa duy tâm vật lý học” và coi đó
là “một bước ngoặt nhất thời”, là “thời kỳ ốm đau ngắn ngủi”, là 17 "chứng bệnh
của sự trưởng thành”, là “một vài sản phẩm và chết, một vài thứ cặn bã nào đó phải
vứt vào sọt rác”. Để khắc phục cuộc khủng hoảng này, V.I. Lênin cho rằng: “Tình
thần duy vật cơ bản của vật lý học, cũng như của tất cả các khoa học tự nhiên hiện
đại, sẽ chiến thắng tất cả mọi thứ khủng hoảng, nhưng với điều kiện tất yếu là chủ
nghĩa duy vật biện chứng phải thay thế chủ nghĩa duy vật siêu hình”.
1.2.2 Định nghĩa của Lê nin về vật chất
“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại, phản
ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Theo V.I Lênin, không thể định nghĩa vật chất bằng phương pháp định nghĩa
các khái niệm thông thường. Phương pháp định nghĩa thông thường là quy khái
niệm cần định nghĩa vào một khái niệm khác rộng hơn, đồngthời chỉ ra đặc điểm
riêng của nó. Ví dụ như định nghĩa về hình vuông:
-Trước hết nó là hình tứ giác.
- Song, nó có đặc điểm riêng là: có 4 cạnh bằng nhau, 4 góc vuông, có haiđường
chéo bằng nhau, giao điểm giữa hai đường chéo vuông góc và chiađường chéo thành hai nửa bằng nhau.
Do vậy, với phạm trù vật chất với tư cách là phạm trù triết học- một phạm trù
khái quát nhất và rộng cùng cực, không thể có một phạm trù nào rộnghơn, thì duy
nhất về mặt phương pháp luận chỉ có thể định nghĩa vật chất bằng cách đối lập nó
với ý thức, xác định nó “là cái mà khi tác động lên giác quan của chúng ta thì gây
ra cảm giác”. V.I.Lênin khẳng định vật chấtkhông có nghĩa gì khác hơn là “thực tại
khách quan tồn tại độc lập đối vớiý thức con người, và được ý thức con người phản ánh”.
1.3 Nội dung định nghĩa
Định nghĩa vật chất của V.I. Lênin bao hàm các nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý
thức và không lệ thuộc vào ý thức.
Khi nói vật chất là một phạm trù triết học là muốn nói phạm trù này là sản phẩm
của sự trừu tượng hóa, không có sự tồn tại cảm tính. Nhưng khác về nguyên tắc với
mọi sự trừu tượng hóa mang tính chất duy tâm chủ nghĩa về phạm trù này, V.I.
Lênin nhấn mạnh rằng, phạm trù triết học này dùng để chỉ cái “đặc tính” duy nhất
của vật chất - mà chủ nghĩa duy vật triết học là gắn liền với việc thừa nhận đặc tính
này - là cái đặc tính tồn tại với tư cách là thực tại khách quan, tồn tại ở ngoài ý
thức của chúng ta”. Mọi sự vật, hiện tượng từ vi mô đến vĩ mô, từ những cái đã
biết đến những cái chưa biết, từ những sự vật “giản đơn nhất” đến những hiện
tượng vô cùng “kỳ lạ”, dù tồn tại trong tự nhiên hay trong xã hội cũng đều là
những đối tượng tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người, nghĩa là đều
thuộc phạm trù vật chất, đều là các dạng cụ thể của vật chất.
Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem
lại cho con người cảm giác.
Trái với quan niệm “khách quan” mang tính chất duy tâm về sự tồn tại của vật
chất, V.I. Lênin khẳng định rằng, vật chất luôn biểu hiện đặc tính hiện thực khách
quan của mình thông qua sự tồn tại không lệ thuộc vào ý thức của các sự vật, hiện
tượng cụ thể, tức là luôn biểu hiện sự tồn tại hiện thực của mình dưới dạng các
thực thể. Các thực thể này do những đặc tính bản thể luận vốn có của nó, nên khi
trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào các giác quan sẽ đem lại cho con người những cảm giác.
Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó.
Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Trong thế giới ấy, theo quy luật
vốn có của nó mà đến một thời điểm nhất định sẽ cùng một lúc tồn tại hai hiện
tượng - hiện tượng vật chất và hiện tượng tình thần. Các hiện tượng vật chất luôn
tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào các hiện tượng tinh thần. Còn các hiện
tượng tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức...) lại luôn luôn có nguồn gốc từ các hiện
tượng vật chất và những gì có được trong các hiện tượng tinh thần ấy (nội dung
của chúng) chẳng qua cũng chỉ là chép lại, chụp lại, là bản sao của các sự vật, hiện
tượng đang tồn tại với tư cách là hiện thực khách quan. Như vậy, cảm giác là cơ sở
duy nhất của mọi sự hiểu biết, song bản thân nó lại không ngừng chép lại, chụp lại,
phản ánh hiện thực khách quan, nên về nguyên tắc, con người có thể nhận thức
được thế giới vật chất.
1.4. Bài học tôn trọng hiện thực khách quan
- Trong quá trình nhận thức, học tập, nghiên cứu, con người phải bắt đầu từ việc
quan sát, xem xét, phân tích đối tượng vật chất. Qua việc tác động vào chúng, ta sẽ
bắt đối tượng vật chất phải bộc lộ những thuộc tính, quy luật của nó. Khi đó, ta sẽ
thu nhận được tri thức. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải có phương pháp nhận
thức khoa học và phải tuân thủ theo các nguyên tắc phương pháp luận trong triết
học để có thể luôn tôn trọng điều kiện khách quan.
- Trong mọi hoạt động, khi chúng ta đề ra phương hướng hoạt động thì bất cứ ai
cũng cần phải căn cứ vào yếu tố khách quan, quy luật khách quan để có thể đảm
bảo được rằng hoạt động đạt hiệu quả và hoạt động đó sẽ không bị những yếu tố khách quan cản trở.
- Khi chúng ta xác định phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động cần phải căn cứ
vào các quy luật khách quan để có thể lựa chọn được đúng phương pháp, cách thức
phù hợp với từng điều kiện khách quan khác nhau. Từ đó, đảm bảo cho sự phát
triển của đối tượng tác động và hoạt động đó diễn ra một cách thành công nhất có thể.
- Chúng ta cũng cần phải có kế hoạch điều chỉnh mục tiêu của bản thân sao cho
phù hợp với thực tiễn, phù hợp với hoàn cảnh hiện tại.
- Không bác bỏ hoặc phủ nhận những sự thật khách quan chỉ vì chúng không phù
hợp với mong muốn của chúng ta. Điều này có thể dẫn đến sự lừa dối bản thân và
đưa ra quyết định sai lầm.
II, VẬN DỤNG BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN
TRONG THỰC TIỄN ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG TA
2.1.Vận dụng bài học trong thực tiễn đổi mới của đảng ta
2.1.1.Vận dụng bài học tôn trọng hiện thực khách quan trong lĩnh vực kinh tế.
+ Thời kì trước đổi mới:
Từ những năm 70 đến giữa những năm 80 của thế kỉ trước, do những sai lầm
mang nặng tính chủ quan, ý chí trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng xã hội chủ nghĩa theo mô
hình cũ đã lỗi thời, vì vậy chỉ mấy năm sau khi hoàn thành sự nghiệp kháng chiến
chống Mĩ cứu nước, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, nước ta đã rơi vào
khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng.
Nền kinh tế trước đổi mới là nền kinh tế có hai hình thức sở hữu, hai loại hình
kinh tế chủ yếu là xí nghiệp quốc doanh và tập thể, chỉ có một ít là loại hình kinh tế
cá thể, chưa có kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn, với hàng chục xí nghiệp quốc
doanh. Gọi là xí nghiệp quốc doanh, nhưng chưa thể gọi là doanh nghiệp, bởi xí
nghiệp gần như không có quyền tự chủ, mọi cái từ đầu vào (lao động, vốn đầu tư,
nguyên nhiên vật liệu…), sản xuất, đầu ra (tiêu thụ ở đâu, giá cả…) đến kết quả
sản xuất, kinh doanh (lỗ, lãi...) đều do Nhà nước lo, Nhà nước chịu.
Kinh tế tập thể chiếm gần hết khu vực ngoài Nhà nước với hàng nghìn hợp tác
xã cũng thuộc đủ các ngành. Gọi là kinh tế tập thể dựa theo phương án tự nguyện
nhưng phương thức ăn chia do Nhà nước duyệt; vật tư chủ yếu do Nhà nước cung
cấp; sản phẩm do Nhà nước thu mua; xã viên ăn theo định lượng.
Sản xuất nông – công nghiệp đình đốn. Lưu thông, phân phối ách tắc. Lạm phát
ở mức ba con số. Đời sống của các tầng lớp nhân dân sa sút chưa từng thấy. Ở
thành thị, lương tháng của công nhân, viên chức chỉ đủ sống 10-15 ngày. Ở nông
thôn, vào lúc giáp hạt có tới hàng triệu gia đình nông dân thiếu ăn. Tiêu cực xã hội
lan rộng. Lòng dân không yên.
Tình hình diễn biến phức tạp đến mức, vào khoảng cuối năm 1985 đến cuối
năm 1986, nghĩa là sau thất bại của cuộc điều chỉnh giá – lương – tiền (9-1985),
đại đa số quần chúng nhân dân cảm thấy không thể tiếp tục cuộc sống như cũ được
nữa; đồng thời các cơ quan lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước cũng cảm
thấy không thể tiếp tục duy trì những chủ trương, chính sách đã lỗi thời, hoặc chỉ
thay đổi tính chất chắp vá, nửa vời một số chính sách riêng lẻ nào đó.
+Thời kì sau đổi mới:
Với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự
thật”, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) đã nghiêm khắc tự phê
bình về những sai lầm đã qua và đề ra đường lối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất
nước ra khỏi khủng hoảng, đi vào thế ổn định và phát triển. Từ năm 1986, Việt
Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. So với công cuộc cải
cách và chuyển từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường như ở các
quốc gia khác, đổi mới Việt Nam có những nét đặc thù riêng. Đổi mới ở Việt
Nam diễn ra từ hai chiều: “từ dưới lên” tức là ở các hợp tác xã doanh nghiệp, và
“từ trên xuống” tức là các quyết định của Đảng và Nhà nước. Mối liên hệ hai chiều
ấy khiến cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam diễn ra không có sự xung đột giữa
“phía trên” và “phía dưới”, cũng như không có các cú sốc quá mạnh được tạo ra
bởi các chính sách và biện pháp điều chỉnh vĩ mô cứng rắn và duy ý chí của bộ
máy lãnh đạo “phía trên”. Đó là đặc điểm nổi bật của quá trình đổi mới ở Việt
Nam, vừa có sự chỉ đạo từ trên xuống, vừa có sự sáng tạo của nhân dân ở bên
dưới. Do đó, đổi mới đã dẫn đến thành công.
Chiến tranh thắng lợi, nền hoà bình lặp lại đã đòi hỏi các nhu cầu về đời
sống. Từ đó, nảy sinh yêu cầu tháo gỡ các cản trở về quản lí kinh tế và sau đó dẫn
đến những thay đổi trong quan niệm từ sự vận hành của nền kinh tế. Nói cách
khác, thực tiễn đã đẩy lùi các quan niệm xơ cứng và thúc ép hoàn thành hệ thống
lý thuyết và quan niệm phù hợp hơn. Đổi mới ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh
quốc tế có nhiều biến đổi lớn lao, hầu như tất cả các nước đều có sự điều chỉnh về
kinh tế, chính trị và xã hội. Những kinh nghiệm cải cách của các nước cũng đã gợi
mở cho Việt Nam trong sự nghiệp tìm tòi con đường đổi mới. Vì vậy, đổi mới ở
Việt Nam không chỉ đúc kết từ những kinh nghiệm của nước mình mà còn học hỏi
từ kinh nghiệm của những nước xã hội chủ nghĩa khác.
Đổi mới ở Việt Nam ở Việt Nam là một quá trình lâu dài, đó là sự đan xem
giữa cái cũ và cái mới. Cái cũ không hoàn toàn mất đi mà từng bước lùi dần, tuy
nhiên theo xu hướng chung là cái mới vẫn luôn được cải thiện từng bước, dần dần
được khẳng định và đưa tới thành công. Điểm nổi bật của công cuộc đổi mới ở
Việt Nam đó là luôn lấy ổn định chính trị - xã hội làm tiền đề, làm điều kiện tiên
quyết cho sự nghiệp đổi mới và phát triển, và sự nghiệp phát triển đó sẽ tạo ra sự
ổn định mới vững chắc hơn.
Trong suốt thời kì đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn mang ý nghĩa lịch sử:
+ Việt Nam đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo
dài nhiều năm, khắc phục được nạn lạm phát có lúc lên đến 700% (năm 1986)
xuống mức lạm phát 12% (năm 1995) và từ đó đến nay lạm phát chỉ còn một con
số; khắc phục được tình trạng thiếu lương thực và kinh tế luôn được phát triển, đặc
biệt là sản xuất lương thực, Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu gạo thứ hai, thứ ba thế giới.
+ Hiện nay Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
để trở thành một nước công nghiệp hoá theo hướng hiện đại.
+ Cùng với tăng trưởng kinh tế, Việt Nam cũng chú ý đến chính sách công
bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo. Nhờ đó, đời sống vật chất tinh thần người dân
cũng được cải thiện một cách đáng kể. Tính riêng trong 5 năm (1993 - 1998), thu
nhập bình quân đầu người của Việt Nam cũng đã tăng lên 2,45 lần.
+ Một đặc điểm khác đáng chú ý là công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã xác
định đổi mới kinh tế là trọng tâm, trước hết là phải đổi mới tư duy về kinh tế. Nhờ
định hướng đúng đắn mà những yêu cầu cấp thiết của nhân dân về đời sống và sản
xuất được giải quyết, đem lại sự tin tưởng của nhân dân với sự nghiệp đổi mới, tự
nó trở thành động lực để thúc đẩy công cuộc đổi mới giành thắng lợi.
Thành tựu đổi mới ở Việt Nam đã thể hiện rõ nét qua những vấn đề sau:
+ Thứ nhất, Việt Nam đã chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung chỉ có hai
thành phần kinh tế (nhà nước và tập thể) sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
(nhà nước, tập thể, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước, có vốn đầu tư nước ngoài…),
trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo với đa dạng các hình thức sở hữu, đa
dạng các hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế là chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất. Đây là đổi mới căn bản mà ý
nghĩa sâu xa của nó là tôn trọng quy luật khách quan về sự phù hợp giữa quan hệ
sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Điều đó đã mở đường giải
phóng mọi tiềm năng xã hội, giải phóng sức sản xuất. Nhân tố quan trọng bậc nhất
của lực lượng sản xuất là con người: trong đó con người làm chủ, được thúc đẩy
bởi quy luật lợi ích, trong đó lợi ích cá nhân của người lao động là động lực trực
tiếp và là cơ sở để thực hiện phát triển lợi ích của tập thể và của toàn xã hội
+ Thứ hai, từ mô hình quản lí kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung
chuyển sang mô hình quản lí kinh tế theo cơ cấu thị trường. Điểm nổi bật của đổi
mới cơ chế quản lí kinh tế là xoá bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp, hình thành
tương đối đồng bộ cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Đổi mới có tính chất đột phá là từ chỗ về cơ bản không sử dụng
quan hệ hàng hoá – tiền tệ, chuyển sang coi thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối
tượng của kế hoạch. Còn kế hoạch mang tính định hướng, điều tiết ở tầm vĩ mô, thị
trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn kinh tế lựa chọn
lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh.
+ Thứ ba, đổi mới hệ thống chính trị từ chế độ tập trung quan liêu, với phương
thức quản lý kinh tế hành chính mệnh lệnh sang dân chủ hoá các lĩnh vực của đời
sống xã hội, thực hiện dân chủ gắn liền với tôn trọng pháp luật kỷ cương xã hội,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đổi mới trong lĩnh vực này đã góp phần
quan trọng vào việc tháo gỡ những lực cản đối với tăng trưởng kinh tế, phát triển
văn hoá xã hội, nảy sinh ra những nhân tố mới, động lực mới, thúc đẩy công cuộc
đổi mới ở Việt Nam giành được nhiều thành quả.
2.1.2.Vận dụng bài học tôn trọng hiện thực khách quan trong lĩnh vực chính trị - xã hội Trước đổi mới *Chính trị:
- Việt Nam là một quốc gia xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo nhà nước
và xã hội, vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đã được ghi nhận trong Hiến pháp và
các văn bản pháp luật. Đảng Cộng sản Việt nam lãnh đạo toàn bộ quá trình xây
dựng và phát triển đất nước.
- Hệ thống chính trị tập trung, quan liêu, bao cấp, với vai trò lãnh đạo tuyệt đối của
Đảng cộng sản: Tính quan liêu được thể hiện ở sự tập trung quá mức ở cấp trung
ương, thiếu phân cấp, phân quyền. Tình trạng chậm trễ, phức tạp hóa các thủ tục
hành chính, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Đó là sự can thiệp quá
sâu của chính quyền trong các hoạt động kinh tế, xã hội. Tình trạng tham nhung,
lãng phí, thiếu trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức xảy ra thường
xuyên. Điều này làm cản trở sự phát triển kinh tế xã hội, giảm sự tin tưởng của
nhân dân với đảng và chính quyền và tạo điều kiện cho tham nhũng, tiêu cực phát triển.
- Quyền lực tập trung ở cấp trung ương, vai trò của địa phương và nhân dân bị hạn
chế: Đảng Cộng sản Việt nam nắm vai trò lãnh đạo tuyệt đối, tập trung quyền lực ở
cấp trung ương, trong khi đó các địa phương thiếu quyền tự chủ, chủ động trong
việc ra quyết định, thực hiện các chính sách, người dân chưa thực sự là chủ thể của
quá trình ra quyết định chính sách. Điều này đã làm giảm tính dân chủ, hạn chế sự
sáng tạo, chủ động của địa phương và nhân trong phát triển đất nước. *Xã hội:
- Nước ta còn tồn tại nhiều hủ tục, tập quán lạc hậu: Do ảnh hưởng của truyền
thống văn hóa tư tưởng phong kiến còn sâu đậm và sự thiếu hiểu biết của một bộ
phận nhân dân, các hủ tục vẫn còn tồn tại như mê tín dị đoan, phân biệt đối xử với
phụ nữ, trẻ em... Sự chia rẽ, đối lập giữa các nhóm lợi ích dẫn đến xung đột bất ổn
trong xã hội, làm cản trở đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân.
- Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn thiếu thốn, bất bình đẳng: Tình trạng
nghèo đói vẫn xảy ra thường xuyên, nhất là ở nông thôn, cơ sở hạ tầng còn nhiều
hạn chế ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống của người dân. Sau đổi mới
*Chính trị: Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị thể
hiện trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại.
Áp dụng Nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy năng động chủ quan trên
lĩnh vực chính trị của Đảng ta.
Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy
chính trị thể hiện trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối
ngoại. Trong những năm đầu, Đảng tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện để
giữ vững ổn định chính trị, xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi
để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội, đồng thời từng bước đổi mới chính
trị. Đến Đại hội X, Đảng đã xác định đổi mới toàn diện, bao gồm đổi mới kinh tế
và đối mới chính trị theo những nguyên tắc xác định.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định rõ bản chất của
Đảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng
thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu
trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc". về
vị trí, vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị, Cương lĩnh năm 1991 xác định rõ:
“Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phân của hệ thống ấy. Đảng
liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong
khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Điều đó là cơ sở của sự gắn bỏ giữa xây dựng
Đảng và xây dựng hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X “Về tiếp tục đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị" đã chỉ rõ các mục tiêu
giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu
quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa
Đảng và nhân dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, chất lượn
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị - xã hội; phát huy dân chủ,
quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã
hội; làm cho nước ta phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, coi trọng phản biện xã hội, mở
rộng dân chú trong tất cả các lĩnh vực, xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa... đã tạo nên những tiền đề, động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp đôi mới ở nước ta ngày càng tiến triển mạnh mẽ. Phát huy những
thành tựu đã đạt được, vượt qua những khó khăn, thách thức trong quá trình hội
nhập quốc tế, đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng tăng
trưởng kinh tế, thực hiện tốt an sinh xã hội, giải quyết những tồn đọng, những vấn
đề gây bức xúc trong dân hiện nay..., sẽ là những yếu tố quan trọng để nâng cao
hơn nữa tính văn hóa chính trị trong sự lãnh đạo của Đảng, để Đảng xứng đáng với
tên gọi: "Đảng ta là đạo đức, là văn minh". *Xã hội:
- Từng bước hạn chế, tiến tới xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu.
- Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam.
- Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Nguyên tắc phát triển lĩnh vực xã hội nước ta là dựa trên nguyên tắc tôn trọng
khách quan và phát huy tính năng động chủ quan. Việc vận dụng được nguyên tắc
này được xem xét trên nhiều khía cạnh, tuy nhiên có thể đề cập tới một số mặt căn bản như sau:
Ở nước ta hiện nay, sự tồn tại của những từ tưởng, phong tục, tập quán lạc
hậu vẫn còn khá phổ biến, với những biểu hiện như trọng nam khinh nữ, gia
trưởng...; là sự tồn tại của tâm lý tiểu nông với biểu hiện rất đa dạng như thói tự do,
tùy tiện, thiếu nhìn xa, trông rộng...; của tâm lý làng xã, biểu hiện ở thói cục bộ địa
phương cũng như những tư tưởng, thói quen, tập quán tiêu cực được hình thành
trong thời kỳ tập trung bao cấp... Do vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng
của việc xây dựng đời sống tinh thần nói chung và ý thức xã hội mới nói riêng hiện
nay ở nước ta là tiến hành đấu tranh hạn chế và khắc phục các loại hình tư tưởng,
phong tục, tập quán cũ, lạc hậu đó. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này,
sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chúng ta phải thay đổi triệt để
những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm...
chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời
sống tươi vui hạnh phúc". Tuy nhiên, do những tư tưởng, phong tục, tập quán này
đã tồn tại lâu dài, đã len lỏi vào những khía cạnh sâu xa trong đời sống xã hội cũng
như ở mỗi con người nên quá trình khắc phục những biểu hiện tiêu cực không hề
đơn giản mà là cả một quá trình khó khăn, lâu dài. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
(năm 2021) cũng xác định: “Từng bước hạn chế, tiến tới xóa bỏ các hủ tục, tập
quán lạc hậu” chứ không thể nhanh chóng xóa bỏ ngay được các hủ tục, tập quán đó.
Nhận thức sâu sắc quan điểm mácxít về tính kế thừa trong sự phát triển của ý
thức xã hội, Đảng ta đã luôn chú ý kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống. Từ
Đề cương văn hóa Việt Nam (năm 1943), Đảng đã khẳng định, nền văn hóa mới là
nền văn hóa phải bảo đảm tính dân tộc, tức là phải kế thừa và phát huy các giá trị
truyền thống của dân tộc. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong suốt quá
trình tiến hành xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay,
dưới tác động của quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là toàn cầu hỏa, Đảng ta
khẳng định, phải đặc biệt quan tâm “Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền
vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam”. Muốn hoàn thành tốt công việc này,
chúng ta cần phải biết phân biệt những giá trị tích cực và những yếu tố lạc hậu,
không còn phù hợp của truyền thống, của quá khứ; phải biết cải biến, chuyển hóa
các yếu tố tích cực cũ để phù hợp với điều kiện tồn tại mới...
Hơn nữa, quá trình kế thừa trong xây dựng ý thức xã hội mới ở nước ta hiện
nay không đơn thuần chỉ là kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc mà đòi hỏi cần
kế thừa, tiếp thu các giá trị tinh thần của thế giới làm để làm phong phú thêm văn
hóa dân tộc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ, cần “Tiếp thu có chọn lọc
tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Điều này không chỉ
đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống tinh thần xã hội mà còn đáp ứng nhu cầu hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.
2.1.3. Vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động
chủ quan trong lĩnh vực văn hoá – tư tưởng. *Trước đổi mới
Nền văn hóa Việt Nam trước đổi mới chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn hóa Trung
Hoa, đặc biệt là qua việc tiếp nhận các giá trị Nho giáo và đạo Phật từ Trung Quốc.
Nho giáo đã ảnh hưởng sâu rộng đến các mô hình gia đình, giáo dục, và cách cư xử
trong xã hội Việt. Đồng thời, nền văn hóa Trung Hoa cũng ảnh hưởng đến ngôn
ngữ, văn hóa ẩm thực, kiến trúc và nghệ thuật của Việt Nam. Một số từ ngữ, phong
tục, và truyền thống cũng có nguồn gốc từ văn hóa Trung Quốc, tạo nên sự đa dạng
và phong phú trong văn hoá Việt Nam trước thời kỳ đổi mới.
- Văn học, phim và nhạc...đềuđược kiểm soát, được xem là gần gũi quần chúng và
có giá trị nghệ thuật. Văn chương chủ yếu tuyên truyền cho chủ nghĩa xã hội -
cộng sản, tinh thần yêu nước, tinh thần tập thể, yêu lao động, tinh thần quốc tế.
-Nhạc tiền chiến, nhạc vàng, nhạc trẻ, ca trù, chầu văn và phần lớn âm nhạc từ các
nước tư bản đều bị cấm. Cuối thời bao cấp, nhạc nhẹ được cho phép.
-Phim chỉ có phim nhựa, chưa có phim truyền hình, chủ yếu chiếu rạp, lưu động và
phát một số buổi nhất định trên truyền hình. Cuối thời bao cấp, phim thương mại
được chấp nhận ở mức độ nhất định. Các phim nước ngoài được trình chiếu chủ
yếu là phim Liên Xô và các phim các nước xã hội chủ. Các phim Việt Nam chủ
yếu tuyên truyền chiến đấu.
-Nhà nước chú trọng chống mê tín dị đoan, phổ biến khoa học. Báo chí không có
quảng cáo thương mại. Các tờ báo rất giống nhau về quan điểm, tư tưởng, chỉ khác
là phục vụ cho các đối tượng khác nhau, không chạy theo lợi nhuận và được bao
cấp. Các văn nghệ sĩ sinh hoạt trong các cơ quan tổ chức của nhà nước, được nhà
nước trả lương như công chức.
- Vào thời bao cấp, xã hội Việt Nam gần như không giao lưu với phương Tây vì tư
tưởng và vấn đề an ninh. Xã hội ít có sự phân hóa giàu nghèo như hiện nay nhưng
mức sống của người dân thấp. Tất cả sinh viên ra trường đều được nhà nước phân
công công việc nên không lo thất nghiệp nhưng không được tự chọn cơ quan làm
việc cho mình. Đời sống tinh thần không có nhiều loại hình giải trí, cuộc sống
bình an nhưng nghèo nàn, khó khăn.
-Về mặt giáo dục: được phổ thông đại trà tới các xã phường với trường cấp 1,2 và
mẫu giáo. Công tác bổ túc văn hóa, xóa mù chữ trong độ tuổi đi học cho người dân
được đẩy mạnh. Có trường bổ túc văn hóa cho cán bộ cơ sở. Từ năm 1981, học
phổ thông gồm 11 năm, trong đó thêm lớp 5 áp dụng cho khu vực miền Bắc.
- Về mặt y tế, người dân không mất tiền khám chữa bệnh nhưng điều kiện còn
nhiều thiếu thốn. Người dân đi khám chữ bệnh, mua thuốc sau đó mang hóa đơn về
cơ quan hay bệnh viên thanh toán. Nhà nước viện trợ trang thiết bị y tế, thuốc
men... Các bệnh viện có các nhà một đến ba tầng, quy mô nhỏ. Bệnh viện cũng
được Bộ y tế phân chỉ tiêu để thực hiện công tác khám chữa bệnh. * Sau đổi mới