Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC –LÊNIN
Đề tài: “Cơ sở lý luận của bài học phát huy tính năng động chủ quan. Vận dụng bài học
này vào việc phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học của sinh viên hiện nay.” Nhóm: 4
Lớp học phần: 231_MLNP0221_02
Giảng viên hướng dẫn: HỒ CÔNG ĐỨC HÀ NỘI, 2023 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, chúng em xin chân thành cảm ơn thầy Hồ Công Đức – Giảng viên
khoa đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn sinh viên trong suốt thời gian môn học. Nhờ vào
những lời khuyên và chỉ bảo đúng lúc của thầy, chúng em đã vượt qua những khó khăn
khi thực hiện bài luận của mình.
Tiếp đến, chúng em xin gửi lời tới các thầy cô trường Đại học Thương Mại –
Những người đã cùng góp sức truyền đạt kiến thức để giúp chúng em có được nền tảng
tốt như ngày hôm nay. Ngoài ra, không thể không nhắc tới gia đình, bạn bè, người thân đã
là hậu phương vững chắc, là chỗ dựa tinh thần trong thời gian qua. Sự thành công của bài
luận không thể không kể đến công ơn của mọi người.
Nhưng sau tất cả chúng em nhận thức rằng với lượng kiến thức và kinh nghiệm ít
ỏi của bản thân, chắc chắn bài luận không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong quý thầy cô
thông cảm và góp ý để em ngày càng hoàn thiện hơn.
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 2 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC Biên bản đánh giá Họ và tên Chức trách Công việc Đánh giá Kết luận -Làm nội dung mục vật chất, yêu cầu của nguyên tắc 1Nguyễn Thị Ngọc Nhóm phương pháp luận. A Huyền trưởng Mục II của nội dung chương 1 -Thuyết trình. -Làm nội dung 2 Lê Thị Thu Hoài Thư ký mục thực trạng. A -Làm powerpoint -Làm nội dung 3Phạm Bá Chí mục nguyên Hiếu Thành viên A nhân. -Thuyết trình -Làm nội dung 4 La Việt Hoàng Thành viên mục phần mở B đầu. -Làm nội dung 5Nguyễn Đức Hoàng Thành viên mục phần mở B đầu. 6Nguyễn Minh Đoàn Hòa Thành viên -Làm nội dung mục ý thức A 7 Hoàng Mỹ Huệ Thành viên -Làm nội dung mục phần mở A
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 3 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC đầu. -Chỉnh sửa word. 8 Vũ Quốc Huy Thành viên -Làm nội dung mục ý thức. A 9Nguyễn Minh Khánh Hưng Thành viên -Làm nội dung mục giải pháp A -Làm nội dung mục ý nghĩa 10 Đỗ Thị Quỳnh phương pháp Hương Thành viên luận, mối quan hệ A biện chứng giữa vật chất và ý thức. -Làm Powerpoint.
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 4 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Lớp học phần: 231_MLNP0221_02 - Lớp Triết Nhóm 04 Lần họp: 1
I. Thời gian, địa điểm
1. Thời gian: 22h ngày 21/10/2023 2. Địa điểm: Google Meet
II. Thành viên tham gia - Có mặt: 10/10 - Muộn: 0 - Vắng: 0 III. Nội dung
1. Đề tài: Cơ sở lý luận của bài học phát huy tính năng động chủ quan. Vận dụng bài học
này vào việc phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học của sinh viên hiện nay. 2. Nội dung thảo luận
- Các thành viên gặp mặt, trao đổi thông tin
- Cùng phân tích đề tài, nêu ý kiến, lập dàn ý
- Căn cứ vào đề tài ra nhóm trưởng phân công công việc cho từng thành viên.
Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2023 Nhóm trưởng Huyền Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 5 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Lớp học phần:231_MLNP0221_02 - Lớp Triết Nhóm 04 Lần họp: 2
I. Thời gian, địa điểm
1. Thời gian: 22h ngày 4/11/2023
2. Địa điểm: Google meet.
II. Thành viên tham gia - Có mặt: 10/10 - Muộn: 0 - Vắng: 0 III. Nội dung
1. Đề tài: Cơ sở lý luận của bài học phát huy tính năng động chủ quan. Vận dụng bài học
này vào việc phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học của sinh viên hiện nay. 2. Nội dung thảo luận
- Tổng hợp bài đọc và phân tích hoàn thiện những chương đã xong.
- Nhóm trưởng giao công việc các chương tiếp theo.
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2023 Nhóm trưởng Huyền Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 6 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Lớp học phần: 231_MLNP0221_02 - Lớp T riết Nhóm 04 Lần họp: 3
I. Thời gian, địa điểm
1. Thời gian: 8h ngày 13/11/2023
2. Địa điểm: Thư viện trường đại học Thương Mại.
II. Thành viên tham gia - Có mặt: 10/10 - Muộn: 0 - Vắng: 0 III. Nội dung
1. Đề tài: Cơ sở lý luận của bài học phát huy tính năng động chủ quan. Vận dụng bài học
này vào việc phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học của sinh viên hiện nay. 2. Nội dung thảo luận
- Làm PPT, chỉnh sửa word và tìm người thuyết trình.
- Nhóm trưởng và các thành viên đánh giá mức độ tham gia của từng thành viên.
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2023 Nhóm trưởng Huyền Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 7 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC MỤC LỤC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI...............................................................................................9
II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA TIỂU LUẬN....................................................10
1. Mục đích................................................................................................................10
2. Nhiệm vụ................................................................................................................ 10
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.........................................................10
IV. KẾT CẤU TIỂU LUẬN..........................................................................................10
NỘI DUNG....................................................................................................................... 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TRIẾT HỌC CỦA NGUYÊN TẮC “PHÁT HUY
TÍNH NĂNG ĐỘNG CHỦ QUAN”.............................................................................11
I. Cơ sở lý luận của nguyên tắc “phát huy tính năng động chủ quan”........................11
1. Vật chất............................................................................................................... 11
2. Ý thức.................................................................................................................11
2.1. Ý thức là gì?.................................................................................................11
2.2. Nguồn gốc của ý thức...................................................................................11
2.3. Bản chất của ý thức......................................................................................13
3. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức.................................................14
II. Yêu cầu của nguyên tắc phương pháp luận “phát huy tính năng động chủ quan”
trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn......................................................17
III. Ý nghĩa của phương pháp luận.............................................................................17
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY...............................................18
I. Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên hiện nay...............................................18
II. Nguyên nhân..........................................................................................................19
1. Nguyên nhân chủ quan........................................................................................19
2. Nguyên nhân khách quan....................................................................................20
III. Một số giải pháp nhằm phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học của sinh
viên hiện nay..............................................................................................................21
1. Đối với bản thân.................................................................................................21
2. Đối với xã hội.....................................................................................................21
IV. Kết luận.................................................................................................................... 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................22 Mục lục hình vẽ
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 8 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
Hình 1:.............................................................................................................................. 19 KHÁI QUÁT
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Triết học Mác - Lênin là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị
trí con người trong thế giới đó. Từ trước đến nay, triết học nghiên cứu những vấn đề cơ
bản nhất của tồn tại và nhận thức, của tự nhiên, xã hội và con người, là một công cụ quan
trọng giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới, là phần không thể thiếu trong đời sống
xã hội của con người. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi thế giới đang bước vào kỉ
nguyên của cách mạng công nghiệp 4.0, cách mạng khoa học và công nghệ đang không
ngừng phát triển với trình độ cao thúc đẩy quá trình dịch chuyển kinh tế và đời sống xã
hội thì phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất của toàn nhân loại. Tính năng động,
chủ quan chính là một trong những quy luật cơ bản của sự phát triển con người và xã hội.
Làn sóng văn minh thứ ba đang đưa loài người tới một kỉ nguyên mới, mở ra bao cơ hội
và thách thức cho nhân loại tìm ra những con đường tối ưu nhất để đi đến tương lai.
Đất nước Việt Nam ta trải qua 20 năm đổi mới đã có sự phát triển mạnh mẽ, đời
sống nhân dân cải thiện rõ rệt và nguồn lực của đất nước ngày càng tăng cao. Tuy nhiên,
tiềm lực kinh tế - kĩ thuật của ta còn yếu trong khi điều kiện khoa học, công nghệ trên thế
giới đang diễn ra rất nhanh. Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta cũng đang không
ngừng đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện. Ngoài đổi mới kinh tế xã hội, chúng ta cần
nâng cao khả năng nhận thức cho mỗi người, xây dựng đời sống tinh thần cả về vật chất,
tri thức, văn hóa, tư tưởng, tạo ra nhiều điều kiện đảm bảo sự phát triển của con người.
Như vậy, phát huy tính năng động chủ quan và biểu hiện trong đời sống xã hội là vấn đề
vô cùng quan trọng, giúp phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức trong quá trình
phản ánh sự vật hiện tượng để tìm ra bản chất quy luật của nó và đề ra đường lối, biện
pháp cải thiện phục vụ cho lợi ích con người, đồng thời phát huy vai trò của nhân tố con người.
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 9 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người
và để hiểu rõ nguồn gốc bản chất của ý thức, nhóm em đã chọn và thảo luận đề tài: “cơ sở
lý luận của bài học phát huy tính năng động chủ quan” trong triết học. Qua đó vận dụng
bài học này vào việc phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học của sinh viên hiện
nay - thế hệ trẻ đang nắm giữ tương lai của đất nước. Đề tài này có thể được ứng dụng
trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội như giáo dục, lao động sản xuất, quản lí, góp phần
thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA TIỂU LUẬN 1. Mục đích
Mục đích của tiểu luận là khái quát một cách chung nhất vấn đề “cơ sở lý luận của
nguyên tắc phát huy tính năng động chủ quan” trong lịch sử triết học và trình bày một
cách cụ thể về vấn đề “cơ sở lý luận của nguyên tắc phát huy tính năng động chủ quan”
trong triết học, từ đó rút ra ý nghĩa, phương pháp luận. 2. Nhiệm vụ
Đưa ra lý thuyết cơ sở về triết học và quan điểm của chủ nghĩa duy vật khoa học về
mối quan hệ giữa vật chất và ý thức; thể hiện khái quát quan niệm về nguồn gốc, bản chất
của vật chất và ý thức trong triết học, phân tích đồng thời làm rõ nội dung “cơ sở lý luận
của nguyên tắc phát huy tính năng động chủ quan” trong triết học Mác - Lênin, từ đó nêu
ra ý nghĩa phương pháp luận.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là nội dung cơ bản về cơ sở lý luận của nguyên tắc “phát
huy tính năng động chủ quan” trong phạm vi lịch sử triết học và triết học Mác - Lênin.
IV. KẾT CẤU TIỂU LUẬN
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 2 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TRIẾT HỌC CỦA NGUYÊN TẮC “PHÁT HUY
TÍNH NĂNG ĐỘNG CHỦ QUAN”
I. Cơ sở lý luận của nguyên tắc “phát huy tính năng động chủ quan”.
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 10 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
II. Yêu cầu của nguyên tắc phương pháp luận “phát huy tính năng động chủ quan” trong
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
III. Ý nghĩa phương pháp luận.
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG VIỆC PHÁT HUY NH N TỐ CHỦ QUAN TRONG
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
I. Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên hiện nay. II. Nguyên nhân.
III. Một số giải pháp nhằm phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học của sinh viên hiện nay NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TRIẾT HỌC CỦA NGUYÊN TẮC
“PHÁT HUY TÍNH NĂNG ĐỘNG CHỦ QUAN”
I. Cơ sở lý luận của nguyên tắc “phát huy tính năng động chủ quan”
Cơ sở lý luận chung của nguyên tắc “phát huy tính năng động chủ quan” là quan
điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. 1. Vật chất
Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan mà con người biết
được qua cảm giác, được cảm giác chụp lại, chép lại, phản ánh tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác. 2. Ý thức
Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người dựa trên cơ sở hoạt
động thực tiễn, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Đây là phản ánh tích cực
chủ động, sáng tạo hình ảnh chủ quan. 2.1. Ý thức là gì?
Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác - Lênin là một phạm trù được quyết định
với phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ
óc con người và có sự cải biến, sáng tạo. Ý thức có mối quan hệ biện chứng với vật chất.
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 11 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
2.2. Nguồn gốc của ý thức
Quan điểm trước Mác:
- Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm: Khi lý giải nguồn gốc ra đời của ý thức, các
nhà triết học duy tâm cho rằng, ý thức là nguyên thể đầu tiên, tồn tại vĩnh viễn, là nguyên
nhân sinh thành, chi phối sự tồn tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất
- Chủ nghĩa duy tâm khách quan (Platon và Hegel) : tuyệt đối hóa vai trò của lý
tính, khẳng định thế giới “ý niệm”, hay “ý niệm tuyệt đối” là bản thể, sinh ra toàn bộ thế
giới hiện thực. Ý thức của con người chỉ là sự “hồi tưởng” về “ý niệm”, hay “tự ý thức”
lại “ý niệm tuyệt đối”
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan (G.Berkeley, E.Mach): tuyệt đối hóa vai trò của cảm
giác, coi cảm giác là tồn tại duy nhất, “tiên thiên”, sản sinh ra thế giới vật chất.
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình: Các nhà DVSH đã xuất phát từ thế
giới hiện thực để lý giải nguồn gốc của ý thức. Song họ lại bị Phương pháp tư duy siêu
hình chi phối. CNDV tầm thường cho rằng, óc tiết ra ý thức như gan tiết ra mật.
⇒ Cả chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy tâm khi quan niệm về nguồn gốc của ý thức đều sai lầm.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức có hai nguồn gốc:
Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. Nguồn gốc tự nhiên
- Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là não bộ con
người, là chức năng của bộ óc , là một quá trình phản ánh lâu dài của một dạng vật chất sống.
- Phản ánh: Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật
chất khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng.
- Có những hình thức phản ánh:
+ Phản ánh vật lý, hóa học: đặc trưng cho giới tự nhiên vô sinh, thể hiện qua những
biến đổi về cơ, lý, hóa. Là trình thấp nhất.
+ Phản ánh sinh học: các dạng vật chất hữu sinh được coi là phổ biến nhất, được
thể hiện thông qua 3 trình độ cơ bản: tính kích thích, tính cảm ứng và phản ánh tâm lý.
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 12 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
+ Phản ánh bộ óc con người: Là hình thức phản ánh chỉ có ở con người, là tính
phản ánh có sự chủ động và là hình thức cao nhất.
=> Nguồn gốc tự nhiên của ý thức là sự xuất hiện của con người và hình thành bộ óc của
con người có năng lực phản ánh hiện thực khách quan, cùng với sự tác động của thế giới
bên ngoài tác động lên bộ óc con người. Nguồn gốc xã hội
Gồm 2 yếu tố là lao động và ngôn ngữ.
- Bộ não con người dần hoàn thiện khả năng phản ánh, cũng dần phát triển là kết
quả của quá trình lao động.
+ Lao động giúp hoàn thiện con người, đặc biệt là bộ óc và các giác quan, làm cho
năng lượng tư duy trừu tượng, bộ óc ngày càng phát triển.
+ Thông qua các quá trình lao động, ngôn ngữ được hình thành.
- Ngôn ngữ là phương thức để truyền tải thông tin, lưu giữ thông tin. Đặc biệt,
ngôn ngữ có khả năng khái quát hóa các tri thức của con người.
+ Nhờ ngôn ngữ con người suy nghĩ độc lập cách khỏi sự vật cảm tính và có thể
giao tiếp, trao đổi, lưu giữ, kế thừa những tri thức
+ Nếu không có ngôn ngữ thì sẽ không có ý thức.
=> Vì vậy, nguồn gốc trực tiếp quyết định sự hình thành của ý thức là quá trình lao động,
sản xuất và hoạt động thực tiễn của con người. Nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần,
nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ để ý thức tồn tại và phát triển.
2.3. Bản chất của ý thức + Quan điểm trước Mác
- Chủ nghĩa duy tâm: Không hiểu được nguồn gốc ra đời của ý thức, thoát ly ý
thức khỏi đời sống hiện thực
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình: Tầm thường hóa vai trò của ý thức, coi ý thức cũng
là một dạng vật chất, tách rời thực tiễn xã hội
+ Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Ý thức là phản ánh tính chất có năng động, sáng tạo của bộ óc con người về thế
giới khách quan. Là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 13 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
- Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức: ý thức có khả năng tạo ra
tri thức mới, tưởng tượng ra cái thực không có trong thực tế, tiên đoán và dự báo tương
lai. Thể hiện khả năng tâm sinh lý của con người trong việc tiếp nhận, chọn lọc, xử lý, lưu giữ thông tin.
- Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan: là hình ảnh về thế giới khách
quan quyết định về cả hình thức lẫn nội dung.
- Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội: Hoạt động thực tiễn
gắn liền với sự ra đời và tồn tại của ý thức, chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên và xã hội.
3. Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Vật chất và ý thức là hai phạm trù triết học, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau,
trong đó vai trò quyết định thuộc về vật chất, mặt khác ý thức tác động trở lại vật chất
thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
+ Vật chất có vai trò quyết định ý thức
- Thứ nhất, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định sự hình thành ý
thức, quyết định nguồn gốc của ý thức. Ý thức ra đời gắn liền với con người mà con
người do thế giới vật chất sinh ra, vì vậy, ý thức cũng do giới tự nhiên, vật chất sinh ra.
Cụ thể hơn, ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên
phải có bộ óc người phát triển ở trình độ cao, hoàn thiện thì ý thức mới xuất hiện. Ý thức
tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới
khách quan. Từ nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội cấu thành nên ý thức (bộ óc con
người, hiện tượng phản ánh thế giới khách quan, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật
chất chính là nguồn gốc của ý thức.
VD: Trong học tập cần xác định đúng nội quy, thời khoá biểu, những yếu tố thực
từ đó có ý thức chấp hành nội quy, tham gia tiết học đầy đủ và hoàn thành nhiệm vụ giảng viên đề ra
Tuy ý thức không thể quyết định vật chất, nhưng nó có tác động trở lại vật chất.
- Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức: Bởi vì ý thức của chúng ta là sự
phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc của con người, nó là hình thành chủ quan của
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 14 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
thế giới khách quan. Một trong những bản chất của ý thức là sự phản ánh thế giới khách
quan một cách chủ động và sáng tạo. Nhưng sự phản ánh của ý thức không phải là "soi
gương", mà đây là sự phản ánh đặc biệt, gắn liền với thực tiễn sinh động cải tạo thế giới
khách quan theo nhu cầu của con người, là phản ánh tích cực, tự giác, sáng tạo thông qua
hoạt động thực tiễn. Sự vận động và phát triển, tính phong phú và độ sâu sắc của ý thức,
hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự tác động
của môi trường sống quyết định. Những thông tin này có thể đúng hay sai, đầy đủ hay
thiếu sót… đều do đối tượng vật chất tác động ở mức độ nào đó lên bộ óc con người. Vì
vậy, khi nhận xét, đánh giá những vấn đề của cuộc sống, những người sống trong hoàn
cảnh xã hội khác nhau có cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
- Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức. Phản ánh và sáng tạo là hai
thuộc tính không tách rời trong bản chất của ý thức. Nhưng sự phản ánh của con người
không phải là "soi gương", "chụp ảnh" hoặc là "phản ánh tâm lý" như con vật mà là phản
ánh tích cực, tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn. Khác với chủ nghĩa duy vật cũ, xem
xét thế giới vật chất như là những sự vật, hiện tượng cảm tính, chủ nghĩa duy vật biện
chứng xem xét thế giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn. Chính thực
tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người - là cơ sở để hình thành,
phát triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để
sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh.
- Thứ tư, Vật chất quyết định sự biến đổi, sự phát triển của ý thức: Mọi sự tồn tại,
phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất; vật chất thay đổi thì
sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổi theo. Con người một sinh vật có tính xã hội
ngày càng phát triển cả thể chất và tinh thần, thì dĩ nhiên ý thức một hình thức phản ánh
của óc người cũng phát triển cả về nội dung và hình thức phản ánh của nó. Đời sống xã
hội ngày càng văn minh và khoa học ngày càng phát triển đã chứng minh điều đó.
- Cuối cùng, vật chất là điều kiện để hiện thực hóa ý thức: Mỗi cá nhân, mỗi tổ
chức đều có những ý niệm và mục đích riêng, do đó phải có vật chất thì những ý nguyện
đó mới thành hiện thực.
+ Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 15 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
- Thứ nhất, Ý thức được vật chất sinh ra nhưng ý thức có quy luật vận động riêng.
Tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất
vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh ra, nhưng khi đã ra đời thì ý thức có “đời
sống” riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng, không lệ thuộc một cách máy móc vào
vật chất. Ý thức một khi ra đời thì có tính độc lập tương đối, tác động trở lại thế giới vật
chất. Ý thức có thể thay đổi nhanh, chậm, đi song hành so với hiện thực, nhưng nhìn
chung nó thường thay đổi chậm so với sự biến đổi của thế giới vật chất.
- Thứ hai, Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực
tiễn của con người. Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức có thể làm biến đổi những điều kiện,
hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn tạo ra “thiên nhiên thứ hai” phục vụ cho cuộc sống của
con người. Còn tự bản thân ý thức thì không thể biến đổi được hiện thực. Con người dựa
trên những tri thức về thế giới khách quan, hiểu biết những quy luật khách quan, từ đó đề
ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp và ý chí quyết tâm để thực hiện thắng lợi mục tiêu
đã xác định. Đặc biệt là ý thức tiến bộ, cách mạng một khi thâm nhập vào quần chúng
nhân dân – lực lượng vật chất xã hội, thì có vai trò rất to lớn. "Vũ khí của sự phê phán cố
nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị
đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một
khi nó thâm nhập vào quần chúng".
- Thứ ba, vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động, hành động của
con người ( tích cực và tiêu cực), nó có thể quyết định làm cho hoạt động của con người
đúng hay sai, thành công hay thất bại. Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo,
tiên đoán một cách chính xác cho hiện thực, có thể hình thành nên những lý luận định
hướng đúng đắn và những lý luận này được đưa vào quần chúng sẽ góp phần động viên,
cổ vũ, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo, từ đó sức mạnh vật chất được nhân lên gấp bội.
Ngược lại, ý thức có thể tác động tiêu cực khi nó phản ánh sai lạc, xuyên tạc hiện thực.
(Có thể thêm tích cực và tiêu cực).
- Thứ tư, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là
trong thời đại ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 16 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
trực tiếp. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vai trò của tri thức khoa học, của tư tưởng chính
trị, tư tưởng nhân văn là hết sức quan trọng.
II. Yêu cầu của nguyên tắc phương pháp luận “phát huy tính năng động chủ quan”
trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
- Phát huy tính năng động chủ quan trước hết là phát huy tính tích cực sáng tạo của
ý thức trong quá trình phản ánh sự vật, hiện tượng để tìm ra bản chất quy luật của nó và
đề ra đường lối, biện pháp cải biến nó phục vụ lợi ích con người. Phát huy tính năng động
chủ quan còn có nghĩa là tự giác, chủ động tìm cho mình những cơ hội, điều kiện thích
hợp, làm cho điều kiện này tác động vào điều kiện khác để nảy sinh ra điều kiện cần thiết
cho hoạt động của con người.
- Mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, vì vậy vai trò của ý thức
không phải là trực tiếp tạo ra hay làm thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con
người những hiểu biết về hiện thực khách quan, trên cơ sở đó con người xác định mục
tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, các biện pháp, công
cụ, phương tiện … để thực hiện mục tiêu của mình.
- Ý thức của con người không tách rời điều kiện vật chất, con người phải biết dựa
vào những điều kiện vật chất đã có và phản ánh đúng quy luật khách quan một cách chủ
động sáng tạo với ý chí và nhận định cao, một mặt phải chống chủ quan duy ý chí, mặt
khác phải chống bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ thụ động, trông chờ, ỷ lại.
III. Ý nghĩa của phương pháp luận
- Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong triết học Mác - Lênin, rút ra nguyên
tắc phương pháp luận là tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính năng động chủ
quan tránh bệnh chủ quan, duy ý chí. Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, mọi chủ
trương, đường lối, kế hoạch, mục tiêu, chúng ta đều phải xuất phát từ thực tế khách quan,
từ những điều kiện, tiền đề vật chất hiện có. Phải tôn trọng và hành động theo quy luật
khách quan, nếu không làm như vậy, chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậu quả tai hại
khôn lường. Nhận thức sự vật hiện tượng phải chân thực, đúng đắn, trách tô hồng hoặc
bôi đen đối tượng, không được gán cho đối tượng cái mà nó không có. Văn kiện Đại hội
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 17 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
XII chủ trương phải nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật, đánh giá đúng sự thật,
nói rõ sự thật. Nhận thức, cải tạo sự vật hiện tượng, nhìn chung, phải xuất từ chính bản
thân sự vật hiện tượng đó với những thuộc tính, mối liên hệ bên trong vốn có của nó. Cần
phải tránh chủ nghĩa chủ quan, bệnh chủ quan duy ý chí; chủ nghĩa duy vật tầm thường,
chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa khách quan.
- Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con
người, chống tư tưởng, thái độ thụ động, ỷ lại, ngồi chờ, bảo thủ, trì trệ, thiếu tính sáng
tạo; phải coi trọng vai trò của ý thức, coi trọng công tác tư tưởng và giáo dục tư tưởng, coi
trọng giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, phải
giáo dục và nâng cao trình độ tri thức khoa học, củng cố, bồi dưỡng nhiệt tình, ý chí cách
mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nói chung, nhất là trong điều kiện nền văn minh
trí tuệ, kinh tế tri thức, toàn cầu hoá hiện nay; coi trọng việc giữ gìn, rèn luyện phẩm chất
đạo đức cho cán bộ, đảng viên, đảm bảo sự thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng và tri
thức khoa học. Để thực hiện nguyên tắc tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính
năng động chủ quan, chúng ta còn phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các quan hệ lợi
ích, phải biết kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội; phải có động
cơ trong sáng, thái độ thật sự khách quan, khoa học, không vụ lợi trong nhận thức và hành động của mình.
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CHỦ QUAN
TRONG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
I. Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên hiện nay
Tự học được xem như một nhu hướng quan trọng trong xu thế học tập ngày nay, là
phương thức nâng cao tính chủ động, sáng tạo của con người. Kiến thức là vô hạn, những
giờ học trên lớp không thể đáp ứng được nhu cầu ham học hỏi, tìm tòi của con người,
chính vì vậy tự học là quá trình đi lĩnh hội và chiếm lĩnh tri thức. Và thực trạng tự học
đang được quan tâm nhất lúc này:
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 18 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC
- Phần lớn học sinh, sinh viên tự học chủ yếu dựa vào cách học truyền thống, tự
dựa vào chính mình, tự tìm hiểu và tự giải đáp, không có sự giúp đỡ từ bạn bè hay thầy
cô. Đây được học sinh xem là cách để tập trung cao độ.
- Phần ít thì học tập theo nhóm, nhưng bên cạnh đó lại có hại bởi vì dành thời gian
với bạn bè nên họ thường nói chuyện, tâm sự với nhau.
- Mặc dù xác định được tầm quan trọng của việc tự học nhưng học sinh, sinh viên
lại chưa có kỷ luật mạnh với bản thân, chưa lập một kế hoạch, phân chia thời gian rõ ràng.
Không lựa chọn phương pháp tự học phù hợp với bản thân mà dựa trên kế hoạch của
người khác khiến việc học chưa thực sự hiệu quả.
- Không có sự say mê, yêu thích tự học, tìm tòi, khám phá.
- Thế giới ngày nay là thế giới công nghệ bên cạnh việc hỗ trợ rất tốt việc học như
các website, các trang tài liệu tốt với lượng kiến thức khổng lồ thì việc sử dụng công nghệ
làm học sinh, sinh viên dễ sa vào các yếu tố khác khi học như: Facebook, Tik Tok, mua sắm,..
- Đa số học sinh, sinh viên chưa có ý thức chủ động được thời gian, chưa chủ động
tìm tòi những kiến thức mới, mở rộng hơn, sâu sắc hơn.
Sau khi khảo sát việc tự học của sinh viên Trường Đại học Thương Mại chúng em
thống kê được kết quả: Hình 1:
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 19 GVHD: HỒ CÔNG ĐỨC II. Nguyên nhân
1. Nguyên nhân chủ quan a. Thiếu sự kiên nhẫn:
Một số sinh viên không có đủ kiên nhẫn để tiếp tục tự học trong một khoảng thời
gian dài. Họ dễ bỏ cuộc khi gặp khó khăn hoặc không thấy kết quả ngay lập tức. b. Thiếu sự quyết tâm:
Những sinh viên thiếu quyết tâm không có đủ động lực để tự học. Họ dễ bị lạc
hướng và mất đi sự tập trung khiến việc tiếp thu kiến thức trở nên khó khăn. c. Sự thiếu tự tin:
Sinh viên thiếu tự tin thường e ngại khi phải đối mặt với việc tự học. Họ có thể sợ
hãi không đạt được kết quả cao hay không thể nắm vững kiến thức một cách đầy đủ.
d. Thiếu sự quản lý và tổ chức:
Sinh viên thiếu kỹ năng quản lý và tổ chức thường không biết cách xác định mục
tiêu học tập cụ thể và xây dựng kế hoạch để đạt được mục tiêu đó. Điều này dẫn đến việc
họ mất phương hướng và không biết nên bắt đầu từ đâu.
e. Thiếu lòng yêu thích và quan tâm:
Khi một sinh viên không yêu thích hoặc không quan tâm đến môn học, việc tự học
trở nên khó khăn và không hứng thú. Sự thiếu lòng yêu thích và quan tâm dễ làm giảm
khả năng tiếp thu kiến thức.
f. Sự sỉ nhục và so sánh:
Một số sinh viên có thể cảm thấy tự ti và bị áp lực khi so sánh bản thân với những
người khác. Sự sỉ nhục và so sánh không lành mạnh có thể làm giảm lòng tin vào khả năng tự học của họ.
2. Nguyên nhân khách quan a. Sự mất động lực:
Nhiều sinh viên mất động lực khi không có sự động viên từ bên ngoài hoặc không
nhận được khen ngợi khi đạt được thành tựu. Điều này dễ làm giảm sự tư duy tích cực và
khả năng tự học của họ.
b. Sự phụ thuộc vào công nghệ:
Triết học Mác – Lênin: Nhóm 4 20