Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
----------------
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN Đề tài:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC PHÁT HUY TÍNH NĂNG
ĐỘNG CHỦ QUAN. VẬN DỤNG BÀI HỌC NÀY VÀO VIỆC
PHÁT HUY NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY Nhóm: 3
Lớp học phần: 232_MLNP0221_29
Người hướng dẫn: Hồ Công Đức

Hà Nội, tháng 3 năm 2024 MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................................4
PHẦN NỘI DUNG.....................................................................................................................5
Chương 1:QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ Ý THỨC VÀ VAI TRÒ
CỦA Ý THỨC ĐỐI VỚI VẬT CHẤT
.....................................................................................5
I. CÁC KHÁI NIỆM.................................................................................................................5
1. Quan niệm về nguồn gốc, bản chất của ý thức.....................................................................5
1.1. Quan điểm trước Mác về nguồn gốc, bản chất của ý thức.............................................5
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất của ý thức........6
2. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vai trò của ý thức đối với vật chất..........9
2.1. Khái niệm vật chất, ý thức..............................................................................................9
2.2. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức..............................................................................9
Chương 2: VẬN DỤNG VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG HOẠT
ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY..................................................................11
1. Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên hiện nay..........................................................11
2. Nguyên nhân của nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học của sinh viên hiện nay:........12
3. Một số giải pháp nhằm phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự.............................13
học của sinh viên hiện nay......................................................................................................13
3.1 Nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học.....................................................................14
3.2 Một số giải pháp phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học...........................14
PHẦN KẾT LUẬN..................................................................................................................16
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................17 3 PH Ầ N M Ở Đ Ầ U
Nhân loại đều hướng đến một mục đích chung nhất đó là phát triển con người
một cách toàn diện. Làn sóng văn minh thứ ba đang đưa loài người tới một kỉ nguyên
mới, mở ra nhiều con đường tươi sáng dẫn tới tương lai. Trong bối cảnh đó sự tan rã
của hệ thống xã hội chủ nghĩa càng làm cho các tư tưởng tự do tìm kiếm con đường
khả quan nhất cho sự nghiệp phát triển con người Việt Nam càng dễ đi đến phủ nhận
vai trò và khả năng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Thực tế, có nhiều những cá nhân đã đi theo con đường chủ nghĩa tư bản với
niềm tin phát triển mạnh mẽ. Nhiều người tìm sự hoàn thiện con người trong các tôn
giáo và hệ tư tưởng truyền thống, con người lại “sáng tạo” ra những tư tưởng, tôn
giáo mới cho “phù hợp” hơn với con người Việt Nam hiện nay. Song nếu đánh giá
một cách khách quan và khoa học sự tồn tại của chủ nghĩa Mác-Lênin trong xã hội ta,
có lẽ không ai có thể phủ nhận được vai trò ưu trội và triển vọng của nó trong sự phát triển con người.
Thông qua việc vận dụng khoa học và chủ nghĩa Mác – Lênin về con người,
nhóm đã thảo luận về tính năng động chủ quan trong việc đưa con người lên một tầm
phát triển mới giữa thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Từ đó vận dụng bài học
rút ra áp dụng vào hoạt động tự học của sinh viên hiện nay – thế hệ trẻ đang nắm giữ
tiềm năng của đất nước. Thấm nhuần được sự cấp thiết của vấn đề con người, đặc
biệt khi sinh viên hiện nay chưa thực sự có khả năng tự nghiên cứu sáng tạo, nhóm đã
quyết định chọn đề tài: “ Cơ sở lý luận của bài học phát huy tính năng động chủ quan
và vận dụng bài học này vào việc phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học
của sinh viên hiện nay”. 4 PH Ầ N N Ộ I DUNG Ch n ươ g 1: QUAN ĐI Ể M C Ủ A TR IẾ T H Ọ C MÁC-LÊNIN V Ề Ý TH Ứ C VÀ VAI TRÒ C Ủ A Ý TH Ứ C Đ Ố I V Ớ I V Ậ T CH Ấ T I. CÁC KHÁI NI M 1. Quan ni ệ m v ề ngu ồ n g ố c, b ả n ch ấ t c ủ a ý th ứ c 1.1. Quan đi ể m tr ướ c Mác v ề ngu ồ n g ố c, b ả n ch ấ t c ủ a ý th ứ c
- Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm: khi lý giải nguồn gốc của ý thức, cho rằng ý
thức là nguyên thể đầu tiên, tồn tại và vĩnh viễn, là nguyên nhân sinh thành, chi phối
sự tồn tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất.
+) Chủ nghĩa duy tâm phương Đông
Một số truyền thống Ấn Độ giáo và tông phái Phật giáo có thể được coi là
theo chủ nghĩa duy tâm. Một số tông phái Phật giáo được gọi là các phái duy
thức vì họ chú trọng vào ý thức mà không có một Thượng đế hay linh hồn.
+) Chủ nghĩa duy vật phương Tây. ●George Berkeley.
Giám mục Berkeley đã quyết định rằng tri thức của ta phải được dựa trên các
nhận thức của ta. Điều đó dẫn ông tới kết luận rằng đằng sau nhận thức của ta
thật sự không có đối tượng thực "khả tri" nào, rằng cái "có thực" là chính nhận
thức. Tư tưởng đó được đặc tả trong khẩu hiệu của Berkeley: "Tồn tại nghĩa là
nhận thức hay được nhận thức", có nghĩa là một thứ gì đó chỉ tồn tại, theo cách
cụ thể mà nó được xem là tồn tại, khi nó đang được nhận thức (nhìn thấy, sờ
thấy,...) bởi một chủ thể. ●Plato
Plato đề xuất một thuyết duy tâm như là một lời giải cho bài toán về các phạm
trù. Một phạm trù là mọi thứ cùng có một tính chất cụ thể nào đó. Ví dụ, bức
tường, mặt trăng và một tờ giấy trắng đều có màu trắng; "trắng" là phạm trù mà
tất cả những thứ gì màu trắng cùng chia sẻ. Plato lập luận rằng chính các phạm
trù, các Hình thức hay các ý niệm Plato là có thật, chứ không phải từng vật cụ
thể. Do quan niệm này khẳng định rằng các thực thể tinh thần đó là "có thực",
nên nó được gọi là "chủ nghĩa hiện thực Plato (điều này rất dễ gây nhầm lẫn);
theo nghĩa này, "chủ nghĩa hiện thực" đối lập với thuyết duy danh
(nominalism) - quan niệm rằng các trừu tượng hóa trong trí óc chỉ là những các
tên không có sự tồn tại độc lập. Tuy nhiên, nó là một hình thức của chủ nghĩa
duy tâm vì nó đặt vị thế của ý niệm về các phạm trù lên cao hơn so với những sự vật vật lý. 5
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình: đồng nhất ý thức với vật chất, coi ý
thức cũng chỉ là một dạng vật chất đặc biệt.
●Rudolf Peierls - một nhà vật lý đóng vai trò chính trong Dự án Manhattan, đã
bác bỏ chủ nghĩa duy vật, nói: "Tiền đề mà bạn có thể mô tả về mặt vật lý toàn
bộ chức năng của con người [...] bao gồm cả kiến thức và ý thức, là không thể
đo lường được. Vẫn còn thiếu một cái gì đó
".
●Erwin Schrödinger nói: "Ý thức không thể được tính theo nghĩa vật lý. Đối với
ý thức là hoàn toàn cơ bản. Nó không thể được tính theo bất cứ điều gì khác ".
●Werner Heisenberg, người đã đưa ra nguyên lý bất định, đã viết, "Bản thể luận
của chủ nghĩa duy vật dựa trên ảo tưởng rằng loại tồn tại," thực tế "trực tiếp
của thế giới xung quanh chúng ta, có thể được ngoại suy trong phạm vi nguyên
tử. Phép ngoại suy này, tuy nhiên, là không thể... Nguyên tử không phải là vật.
" 1.2. Quan đi ể m c ủ a ch ủ nghĩa duy v ậ t bi ệ n ch ứ ng v ề ngu ồ n g ố c, b ả n ch ấ t c ủ a ý th ứ c.
a) Nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
- Nguồn gốc tự nhiên: + Bộ não người.
Ý thức thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ não người.
Bộ não người là khí quan vật chất của ý thức. Ý thức là chức năng của bộ não
người. Hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý
thần kinh của bộ não người. Ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ não người,
do đó, khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ không bình thường hoặc
bị rối loạn. Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não.
Bộ não người có cấu trúc đặc biệt phát triển rất tinh vi và phức tạp, bao gồm
khoảng 14-15 tỷ tế bào thần kinh chuyên thu nhận và xử lý thông tin từ thế giới
khách quan vào bộ não, hình thành phản xạ có điều kiện và không điều kiện,
điều kiện các hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài. + Thế giới khách quan.
Thế giới khách quan là thế giới vật chất, tồn tại bên ngoài ý thức của con
người. Sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não người thông qua quá
trình phản ánh sinh ra ý thức. Đó chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Quá trình phản ánh thế giới khách quan bởi bộ não người để hình thành ý thức.
Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ
thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng. Kết quả của sự
phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật – vật tác động và vật nhận tác động, trong
đó vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động.
Các hình thức phản ánh của vật chất: 6
●Phản ánh vật lý, hóa học là hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự nhiên vô sinh.
●Phản ánh sinh học, đặc trưng cho giới tự nhiên sống. Phản ánh sinh học được
thể hiện ở các mức độ từ thấp lên cao, đó là phản ánh mang tính kích thích ( có
sự chọn lọc ) diễn ra ở thực vật và động vật bậc thấp. Phản ánh mang tính cảm
ứng ( năng lực có cảm giác ) diễn ra ở động vật đã có hệ thần kinh. Phản ánh
tâm lý ( lưu giữ hình ảnh ) diễn ra ở động vật có bộ óc, hệ thần kinh trung
ương. Phản ánh tâm lý đã lưu hình ảnh trong bộ não động vật, chưa hình thành
ý thức vì còn mang tính bản năng của động vật, chưa có sự sáng tạo.
●Phản ánh ý thức ( có tính sáng tạo ) là hình thức phản ánh cao nhất trong các
hình thức phản anh, diễn ra chỉ duy nhất trong bộ não của con người. Phản ánh
ý thức có tính sáng tạo. Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới hiện khách bởi bộ não của con người. - Nguồn gốc xã hội.
+ Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra những
sản phẩm, phục vụ các nhu cầu của mình, là quá trình trong đó bản thân con người
đóng vai trò môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa người với tự nhiên.
Lao động là yếu tố quyết định đến sự hình thành ý thức của con người vì:
●Thứ nhất, quá trình lao động đưa lại cho con người dáng đi thẳng bằng đôi
chân, giải phóng đôi tay, các giác quan của con người ngày càng biến đổi,
con người dần tách khỏi giới động vật, bộ não của con vật dần chuyển sang
bộ não người và ngày càng hoàn thiện hơn.
●Thứ hai, trong lao động con người sử dụng công cụ lao động tác động vào
các đối tượng, làm chúng phải bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, quy
luật tồn tại và thông qua các giác quan tác đọng vào bộ não người hình
thành tri thức nói riêng và ý thức con người nói chung.
●Thứ ba, trong quá trình lao động, con người liên kết với nhau thành xã hội,
làm nảy sinh nhu cầu giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên
trong xã hội dẫn đến việc hình thành ngôn ngữ. ● + Ngôn ngữ.
●Ngôn ngữ là tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. 7
●Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của ý thức, là
phương thức để ý thức tồn tại với tư cách là sản phẩm xã hội – lịch sử.
●Ngôn ngữ vừa là công cụ giao tiếp, vừa là công cụ của tư duy. Nhờ có ngôn
ngữ con người có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, suy nghĩ độc lập, trao
đổi tư tưởng, truyền đạt thông tin, giữ gìn và kế thừa những tri thức giữa
các thế hệ người trong lịch sử.
Như vậy, lao động và ngôn ngữ là yếu tố là chuyển biến dần bộ óc vượn thành bộ óc người.
⇨Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức được hình thành
bởi hai nguồn gốc: tự nhiên và xã hội. Nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần,
nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ. Vì vậy, nếu chỉ nhấn mạnh một mặt nào
đó của nguồn gốc ý thức thì đều dẫn đến sai lầm. Nghiên cứu nguồn gốc
của ý thức là cách tiếp cận để hiểu rõ bản chất của ý thức, khẳng định bản
chất xã hội của ý thức.
b) Bản chất của ý thức.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách
năng động, sáng tạo, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
+ Nội dung ý thức phản ánh là khách quan, còn hình thức phản ánh là chủ
quan. Hình ảnh chủ quan thuộc về tinh thần, chỉ tồn tại trong não người, mang tính phi vật chất.
+ Kết quả phản ánh của ý thức phụ thuộc nhiều yếu tố: đối tượng phản ánh,
điều kiện lịch sử - xã hội, phẩm chất, năng lực. Kinh nghiệm sống của chủ thể
phản ánh, Cùng một số đối tượng phản ánh, nhưng với các chủ thể khác nhau
có thể cho ra kết quả phản ánh khác nhau.
- Ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo, gắn bó chặt chẽ với thức tiễn xã hội
+ Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo
●Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật. Ý
thức có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền
thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học.
Ví dụ: Con người sáng tạo ra nhiều kiểu nhà khác nhau: thô sở đến hiện đại trong quá trình lịch sử
●Ý thức không phải là bản sao đơn, thụ động, máy móc mà là sự phản ánh
tích cực, sáng tạo thể hiện ở quá trình phản ánh có định hướng, có mục đích. 8
●Sản phẩm của sự phản ánh sáng tạo qua hoạt động thực tiễn: thông qua hoạt
động thực tiễn, con người biến những ý tưởng, giả thuyết thành cái hiện thực.
+ Sự phản ánh sáng tạo của ý thức là quá trình thống nhất của ba mặt:
●Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh: có định hướng và
chọn lọc những thông tin cần thiết.
●Mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần, mã hóa
các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất, là quá trình
“sáng tạo lại” hiện thực.
●Chuyển hóa mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình
hiện thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm
thành cái hiện thực, biến cái ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các
dạng vật chất ngoài hiện thực.
Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực
khách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội _ lịch sử.
+ Sự phản ánh sáng tạo của ý thức gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội.
Ý thức là hiện tượng xã hội, chịu sự tác động của các quy luật xã hội, gắn liền
với hoạt động thực tiễn xã hội đa dạng, phong phú mà qua đó con người làm
biến đổi thế giới theo nhu cầu của con người.
Ví dụ: Làm ngôi nhà ở 3 địa hình khác nhau, con người phải định hình và đưa
ra 3 kiểu nhà khác nhau cho phù hợp với từng địa hình.
2. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vai trò của ý thức đối với vật chất
2.1. Khái niệm vật chất, ý thức
a, Khái niệm vật chất:
Vật chất được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan tồn
tại bên ngoài không phụ thuộc vào cảm giác, ý thức của con người. Là thứ có thể
nhìn thấy, sờ thấy được, là những hiện hữu trong cuộc sống xung quanh chúng ta, có
thể được chụp ảnh, phản chiếu, mang lại cho chúng ta cảm giác.
b, Khái niệm ý thức:
Ý thức biết phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người bằng hoạt động
thực tiễn làm cơ sở. Ý thức còn là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức
là cảm giác và tư duy, suy nghĩ của bộ não con người sau khi nhìn thấy thực tế hoặc
một hiện tượng nào đó. Có người quan niệm đúng hay sai, trừu tượng hay thực tế, đó
là vấn đề nhận thức của mỗi người.
2.2. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 9
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng. Trong mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức thì vật chất có trước còn ý thức có sau, vật chất là nguồn
gốc của ý thức, ý thức tác động lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
- Vật chất quyết định ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: Vật chất là cái có trước, ý thức
là cái có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức.
+ Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau: Ý thức là ý thức của con
người, không tách rời con người, nhưng sự ra đời của con người cũng có giới
hạn còn thế giới vật chất thì tồn tại vĩnh viễn, vô hạn. Do đó có thể khẳng
định rằng thế giới vật chất là cái có trước con người, vì vậy thế giới vật chất phải có trước ý thức.
+Vật chất là nguồn gốc của ý thức: Nguồn gốc của ý thức bao gồm cả nguồn
gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. Trong đó nguồn gốc tự nhiên của ý thức
gồm có bộ não người và thế giới khách quan cùng với quá trình phản ánh
năng động, sáng tạo, tác động qua lại giữa chúng. Nguồn gốc xã hội của ý
thức đó chính là lao động và ngôn ngữ.
- Ý thức tác động lại vật chất:
Ý thức có tính độc lập tương đối và có thể tác động ngược trở lại vật chất thông
quan hoạt động thực tiễn của con người. Ý thức tác động vào vật chất theo hai hướng:
+ Tích cực: khi con người có tri thức đúng đắn, có nghị lực, ý chí và tình cảm
tích cực thì con người có khả năng hành động hợp quy luật khách quan.
+ Tiêu cực: khi con người không có tri thức đúng đắn, thiếu tình cảm, ý chí
cách mạng sẽ nhận thức sai lầm và hành động trái quy luật. 10 Ch n ươ g 2: V Ậ N D Ụ NG VI Ệ
C PHÁT HUY NHÂN T Ố CH Ủ QUAN TRONG HO Ạ T Đ Ộ NG T Ự
H Ọ C C Ủ A SINH VIÊN HI Ệ N NAY 1. Th ự c tr ạ ng ho ạ t đ ộ ng t ự
h ọ c c ủ a sinh viên hi ệ n nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời đã dạy: “Học hỏi là công việc phải tiếp tục suốt
đời”, trong đó phải “Lấy tự học làm cốt”. Đúng vậy, đó là một hành trang quan trọng
trên hành trình chinh phục tri thức của nhân loại. Tự học là quá trình tự mình động
não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,...) và có khi
cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình
cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ,
không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi
đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của
nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
Đặc biệt với sinh viên, khi xa gia đình là lúc chúng ta được bước ra khỏi vòng
tay bao bọc của bố mẹ, tự bước trên chính đôi chân của mình. Có lẽ chính điều đó
khiến chúng ta phải học cách tự lập mà không có sự quản thúc của gia đình. Việc tự
học cũng trở thành một thách thức lớn. Và để làm rõ và tìm hiểu về thực trạng tự học
của sinh viên hiện nay, chúng mình đã tiến hành khảo sát 93 sinh viên khoa Tài chính
- Ngân hàng, Trường Đại học Thương Mại bằng cách điền trả lời câu hỏi trắc nghiệm
trên Google form và kết quả nhận được là: STT Các kĩ năng
Mức độ thực hiện (%) Rất Thường Thỉnh Ít khi Không thường xuyên thoảng bao giờ xuyên 1
Lập kế hoạch tự học 6,22 7,90 34,54 26,53 24,81 2
Chọn lựa hình thức tự 17,41 26,35 35,10 15,18 5,96 11
học phù hợp cho từng
môn học, từng nội dung kiến thức 3
Chọn lựa, khai thác 30,12 30,78 28,64 6,53 3,93
tài liệu tự học phù hợp 4
Ghi chép, tóm tắt các 26,44 28,94 32,46 2,03 10,13 tài liệu đã học 5
Đọc sách, tài liệu bổ 7,78 10,01 38,91 26,82 16,48 sung 6 Khái quát hóa, hệ 9,84 16,34 25,56 43,98 4,58
thống hóa các kiến thức đã học 7
Tự kiếm ta kết quả tự 3,14 5,02 18,62 39.80 33,42 học của bản thân 8
Dành ít nhất 2 tiếng 37,58 35,23 23,47 3,54 0,18
để tự học mỗi ngày 9
Chủ động hoàn thành 34,54 30,41 24,34 8,74 1,97
bài tập theo yêu cầu của giảng viên
Bảng khảo sát đã phản ánh thực tế học tập hiện nay.
Tín hiệu tích cực và là động lực cho các giảng viên khi có không ít sinh đã viên
luôn nhận thức được tầm quan trọng của việc học và có ý thức chủ động học tập, tìm
tòi và có phương pháp học đúng đắn.
Nhưng điều đáng lo ngại và đáng kể đến là vẫn tồn tại những sinh viên có các kế
hoạch tự học vẫn chưa được khoa học, các kĩ năng tự học cơ bản vẫn còn thấp.
Với sự phát triển của khoa học công nghệ, chúng ta được tiếp cận nhiều với các
nền tảng xã hội với nguồn tham khảo phong phú, nhiều sinh viên đã tự tìm tài liệu
tham khảo trên các web nhưng vô tình việc làm đó lại khiến ta phụ thuộc quá nhiều
vào tài liệu, học môt cách rập khuôn, máy móc mà không có sự động não, sáng tạo.
Và nhiều khi, với khối lượng thông tin lớn, đa dạng như vâ ‚y, nếu sinh viên không
biết cách xử lý thông tin mô ‚t cách khoa học thì kiến thức thu về sẽ không hê ‚ thống và
không có hiê ‚u quả. Thực trạng chúng ta thấy rất rõ đó là sinh viên hiê ‚n nay rất lười
đọc sách. Mă ‚c dù mỗi môn học, sinh viên luôn được giảng viên cung cấp tài liê ‚u sát với
nô ‚i dung, với chương trình. Tuy nhiên, thực tế có nhiều sinh viên đã không trang
bị cho mình mô ‚t cuốn sách chuyên ngành, chưa nói đến viê ‚c đọc sách tham khảo.
Thâ ‚m chí có nhiều sinh viên trong suốt thời gian học đại học, chưa mô ‚t lần đă ‚t chân
lên thư viê ‚n để tìm kiếm tài liê ‚u phục vụ viê ‚c học
Sinh viên chưa có sự chủ động trong việc lên kế hoạch và đề ra mục tiêu học
tập. Dù chỉ dành ra 2 tiếng để học mỗi ngày nhưng nhiều sinh viên không có khả
năng làm được. Đa phần, sinh viên đang học theo kiểu đối phó. Đối phó với giảng 12
viên, đối phó với thi cử. Thông thường khi đến kƒ thi thì mới vô ‚i vàng học. Học
những nô ‚i dung liên quan đến thi mà không tìm tòi để mở rộng kiến thức.
Nhiều sinh viên cảm thấy khó chịu và e ngại khi giảng viên giao nhiệm vụ học
tập. Nhiều sinh viên không chủ động làm bài mà phải cần đến sự nhắc nhở của bạn
bè. Nếu có làm thì chỉ qua loa, đối phó cho xong. Điều đó thấy rõ ý thức tự học của
sinh viên hiê ‚n nay là rất k…m.
2. Nguyên nhân của nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học của sinh viên hiện nay:
Có thể căn cứ vào các tiêu chí sau đây để đánh giá phát huy nhân tố chủ quan
trong hoạt động tự học của sinh viên.
Một là, sinh viên có nhận thức đúng đắn về mục tiêu, yêu cầu đào tạo, về vai trò
của tự học trong quá trình học tập, về vai trò của mình trong hoạt động nhận thức nói
chung và hoạt động tự học nói riêng, từ đó để xác định trách nhiệm, động cơ trong tự học của mình.
Hai là, sự thể hiện năng động, chủ quan, tích cực trong mọi hoạt động tự học,
biểu hiện ở chỗ: sự tận dụng thời gian cho tự học, sự chủ động trong xây dựng kế
hoạch và tiến hành thực hiện kế hoạch tự học của mình một cách khoa học, có hiệu quả.
Ba là, khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và khả năng vận dụng lý thuyết
vào thực hành rèn luyện kỹ năng kỹ xảo. Có phương pháp tự học phù hợp với khả
năng nhận thức của mình, nhằm mục đích tiếp nhận tri thức được trang bị một cách
nhanh nhất, có hiệu quả nhất.
Bốn là, kết quả học tập, kết quả tiếp thu tri thức, rèn luyện thuần thục các động
tác của người học là tiêu chí cao nhất đánh giá mức độ phát huy nhân tố chủ quan của sinh viên.
Kết quả học tập là thước đo đánh giá sự vươn lên của mỗi người trong học tập.
Biểu hiện ở sự tăng lên liên tục của kết quả học tập trong quá trình học tập, môn sau,
kƒ sau, giai đoạn sau cao hơn môn trước, kƒ trước, giai đoạn trước. Trong học tập
thực hành đó là sự thực hiện chính xác, thuần thục các thao tác theo yêu cầu của giảng viên.
Trên cơ sở tác động của các nhân tố của quá trình đào tạo, phát huy nhân tố chủ
quan trong tự học sẽ tạo ra sự đồng điệu, sự cộng hưởng tác động giữa “ngoại lực” và
“nội lực” trong tự học để thực hiện tốt hơn mục tiêu, yêu cầu phát triển và hoàn thiện nhân cách người học.
Phát huy nhân tố chủ quan trong tự học của sinh viên là nền tảng để phát triển
tài năng, mà trước hết là rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy độc lập, năng lực
nhận biết và giải quyết các vấn đề cùng với các kỹ năng cần thiết.
Phát huy nhân tố chủ quan trong tự học của sinh viên là động lực bên trong giúp
người học không ngừng vươn lên nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và các phẩm chất cần thiết. 13
Như vậy, phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong tự học của sinh viên là nguồn
lực bên trong thúc đẩy quá trình tự chuyển hóa, phát triển tài năng và sự rèn luyện kỹ
năng kỹ xảo, sự hoàn thiện các phẩm chất ở người học, nâng cao sự tiếp thu, lĩnh hội
tri thức khoa học và phát triển tri thức mới, tạo ra một sự tác động trở lại đến các lực
lượng tham gia đào tạo nhận thức, cải biến phương pháp, nội dung, phương tiện để
thực hiện quá trình đào tạo có hiệu quả hơn. Nhờ vậy tạo điều kiện thúc đẩy quá trình
chuyển hóa từ đào tạo thành tự đào tạo ở người sinh viên hiện nay.
Bản thân mỗi người đều có nhu cầu học tập khác nhau, từ nhu cầu này mỗi
người sẽ xây dựng cho mình một mục tiêu để vươn đến. Hoạt động tự học của sinh
viên cao sẽ giúp sinh viên chủ động trong quá trình học tập, ngoài ra những kiến
thức, kỹ năng và thái độ thu nhận từ việc tự học sẽ giúp cho sinh viên hành trang tự
tin bước vào công việc của mình.
3. Một số giải pháp nhằm phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự
học của sinh viên hiện nay 3.1 Nhân t ố
ch ủ quan trong ho ạ t đ ộ ng t ự h ọ c
a. Nhu cầu học tâp:
Đây là những đòi hỏi tất yếu, khách quan, biểu hiện sự cần thiết về một cái gì
đó cần được thỏa mãn của người học trong cuộc sống và hoạt động.
b. Hứng thú học tập:
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý
nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại hứng thú cho cá nhân trong quá
trình học tập. Tính tích cực học tập của học viên nếu không dựa trên hứng thú thì
dễ không bền vững, dễ bị suy giảm trước các tác động tiêu cực
c. Động cơ học tâp
Hoạt động tự học của sinh viên là hoạt động có mục đích tự giác. Động cơ học
tập chính là sự thể hiện cụ thể của nhu cầu học tập, là lực thúc đẩy hoạt động học
tập của học viên đạt kết quả cao đáp ứng yêu cầu đào tạo của nhà trường. Nhờ có
động cơ học tập đúng đắn mà tính tích cực học tập của sinh viên được nâng lên. 3.2 M ộ t s ố gi
ả i pháp phát huy nhân t ố ch ủ quan trong ho ạ t đ ộ ng t h c ọ;
* Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới:
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Sự phản ánh sáng tạo của ý thức biểu hiện ở
sự cải biến cái vật chất di chuyển vào trong bộ não con người thành cái tinh thần,
thành những hình ảnh tinh thần. Sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, dựa
trên cơ sở của phản ánh, trong khuôn khổ và theo tính chất, quy luật của phản ánh.
Áp dụng tính sáng tạo của ý thức vào việc tự học của sinh viên, hình ảnh chủ quan
(kiến thức tích lũy được) của thế giới khách quan (tri thức nhân loại) sẽ được biến đổi
sao cho phù hợp để não bộ có thể phản ánh toàn vẹn và sâu sắc nhất.
Từ ý nghĩa của ý thức với bản chất năng động, sáng tạo, sinh viên có thể áp
dụng vào việc tự học của mình một cách trực tiếp và điều chỉnh sao cho phù hợp 14
với bản thân qua một vài gợi ý dưới đây:
a. Xét về nhu cầu học tập:
- Sinh viên muốn tích cực học tập, trước hết phải có nhu cầu học. Sinh viên có
nhu cầu hiểu biết về nghề nghiệp cao sẽ luôn khát khao và say mê nỗ lực trí
tuệ để tìm kiếm tri thức nghề nghiệp. Do vậy, khi đã tự khơi dậy được nhu
cầu nhận thức nghề nghiệp, sinh viên chủ động tìm tòi, khám phá và vận dụng
tri thức nghề nghiệp vào việc thực hành nghề nghiệp. Sinh viên càng tích cực
tìm hiểu về nghề nghiệp, thì sự thỏa mãn nhu cầu nhận thức nghề nghiệp càng
cao, vì vậy mà sinh ra niềm vui say sưa và nỗ lực trong học tập cũng như tự học.
- Sinh viên phải nhận thức được vai trò của mình của mình đối với sự phát
triển phồn thịnh của đất nước trong tương lai. Chính vì vậy sinh viên sẽ có
nhu cầu muốn cống hiến và biết bản thân cần phải tích lũy tri thức, nâng cao trình độ từ
đó làm chủ được tri thức vận dụng sáng tạo vào quá trình học tập
cũng như đời sống sau này.
b. Xét về hứng thú học tập
- Bên cạnh việc xác định mục tiêu học tập, tạo ra môi trường học tập phù hợp
cũng tăng tính hiểu quả của việc tự học cũng như sự hứng thú với quá trình tự học. Ví dụ như:
+ Sinh viên tổ chức học nhóm để giúp đỡ nhau trong học tập.
+ Sinh viên tự tạo ra góc học tập riêng tại nhà
- Sinh viên có thể tự học thông qua tự tìm tòi những câu chuyện hay, những
sự kiện cụ thể gắn với những bài học để việc tự học không còn nhàm chán,
một màu. Đồng thời kết hợp với với hình ảnh minh họa sống động. Những
phương tiện và phương pháp này giúp cho sinh viên có thêm hứng thú để khám phá tri thức.
c. Xét về động cơ học tập
- Sinh viên cần xác định được mục đích học tập. Sau khi xác định được quá
trình miệt mài đèn sách, bản thân sẽ được những cái gì thì sinh viên mới có
động cơ để cố gắng để nỗ lực học tập.
- Sinh viên có thể vận dụng những kiến thức học được để giúp những người
xung quanh. Việc trao đi giá trị, giúp đỡ người khác cũng tạo động lực cho
sinh viên cố gắng tìm tòi học tập, rèn luyện bản thân.
- Sinh viên nên tham gia những cuộc thi và hội nhóm để mở rộng mối quan
hệ, hiểu biết, tri thức từ đó tạo động lực phát triển hoàn thiện bản thân.
- Để phát huy tính năng động chủ quan, sinh viên phải chống lại các thái độ
thụ động ỷ lại vào người khác. Nếu không con người ta sẽ rơi vào chủ nghĩa
siêu hình, hay chủ nghĩa duy vật tầm thường. Và ở đó ta sẽ nhận thức sai trái
và thất bại khi phản ánh sai vai trò của thế giới khách quan. 15 PH Ầ N K Ế T LU Ậ N
Tóm lại, ý thức thuộc một trong hai phạm trù cơ bản của triết học. Nó là hình
thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới
có. Tác động của ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn. Sự thành công
hay thất bại của thực tiển, tác động tích cực hay tiêu cực của ý thức đối với sự phát
triển của tự nhiên xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức đặc biệt là
phát huy tính năng động chủ quan. Như vậy có nghĩa ta cần có thái độ tích cực, chủ
động, luôn vận động suy nghĩ sáng tạo, phải coi trọng vai trò của ý thức, coi trọng
công tác tư tưởng và giáo dục tư tưởng, coi trọng giáo dục lý luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời ta cần có tri thức vì tri thức là khoa
học; luôn cập nhật, nâng cao trình độ tri thức khoa học nhất là trong điều kiện nền
văn minh trí tuệ, kinh tế tri thức, toàn cầu hoá hiện nay. Biểu hiện đó là liên hệ, vận
dụng tính sáng tạo của sinh viên góp phần không nhỏ vào phát triển tư duy, khả năng
nhận thức và giảm nguy cơ tụt hậu so với các nước trên thế giới.
Sự phát triển của khoa học hiện đại không những đem lại cho con người
những hiểu biết sâu sắc về thế giới, mà còn đem lại cho con người những hiểu biết về
phương pháp nhận thức thế giới. Vận dụng thúc đẩy việc học và hành của sinh viên
hiện nay mang một ý nghĩa vô cùng to lớn có ý nghĩa thực tiễn cao.
Đất nước Việt Nam đã có những chiến thắng vẻ vang, vậy tại sao chúng ta
không thể chiến thắng trong việc xây dựng và phát triển đất nước? Nhất định chúng
ta sẽ làm được và làm tốt bởi mang trong mình sức mạnh đoàn kết dân tộc và bản tính
thông minh lao động sáng tạo của con người Việt Nam.
Đặc biệt là sinh viên – người chủ tương lai nước nhà, phải phát huy tính năng
động sáng tạo không ngừng, có phương pháp để tiếp thu tri thức thời đại, rồi vận
dụng thật tốt những tri thức đó vào thực tế góp phần xây dựng một xã hội ngày càng phồn vinh, tươi đẹp. 16 TÀI LI Ệ U T ẢHAM KH O
[1]https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_duy_v
%E1%BA%ADt#T%E1%BB%AB_c%C3%A1c_nh%C3%A0_khoa_h%E1%BB %8Dc
[2] Thực trạng và biện pháp phát triển kĩ năng tự học ( Phạm Thị Kim Cúc-Đinh Thị Thuý Hiển )
https://tcgd.tapchigiaoduc.edu.vn/index.php/tapchi/article/download/532/300/344
[3] Nâng cao năng lực tự học cho sinh viên ( Ths. Trần Thị Lợi )
https://www.vhu.edu.vn/Resources/Docs/SubDomain/gddc/Nang%20cao%20nang
%20luc%20tu%20hoc%20cho%20sinh%20vien%20-%20ThS.%20Tran%20Thi %20Loi.pdf
[4] https://www.studocu.com/en-us/document/truong-dai-hoc-thuong-mai/triet-
hoc-mac-lenin/quan-diem-cua-chu-nghia-duy-vat-bien-chung-ve-moi-quan-he-
giua-vat-chat-va-y-thuc-y-nghia-phuong-phap-luan-duoc-rut-ra-tu-van-de-nay-va-
van-dung-vao-xay-dung-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam/80890910? shared=n&sid=01707819199 17 DANH SÁCH NHÓM STT Họ và tên Công việc được giao Mức độ hoàn thành 1 Nguyễn Trà Giang
Nhóm trưởng: Đề xuất, kiến nghị, A
quản lí nhóm, tổng hợp và chỉnh sửa word, thuyết trình. 2 Nguyễn Đình Hiệp
Làm phần mở đầu, phần kết luận, A
tổng hợp và chỉnh sửa word. 3 Nguyễn Minh Đức Thuyết trình A 4 Trương Thuý Hiền
Nhóm phó, Làm nội dung Chương 1 A – Phần 1 5 Nguyễn Tiến Dũng
Làm nội dung Chương 1 – Phần 2 A (HH3) 6 Lê Thị Hà
Làm nội dung Chương 2 – Phần 1 A 7 Trần Trọng Đức
Làm nội dung Chương 2 – Phần 2 A 8Nguyễn Tiến Dũng
Làm nội dung Chương 3 – Phần 3 A 18 (HH2) 9 Ngô Thuý Hằng Thư kí, Làm powerpoint A 10 Nguyễn Hải Hà Thư kí, Làm powerpoint A
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 3 Lần 1 Địa điểm: Google Meet
Thời gian: Từ 20h-22h, ngày 20/1/2024 Thành viên có mặt: 1 Nguyễn Trà Giang Nhóm trưởng 2 Nguyễn Đình Hiệp Thành viên 3 Trương Thuý Hiền Nhóm phó 4 Nguyễn Minh Đức Thành viên 5 Nguyễn Tiến Dũng Thành viên (HH3) 6 Lê Thị Hà Thành viên 7 Trần Trọng Đức Thành viên 8 Nguyễn Tiến Dũng Thành viên (HH2) 9 Ngô Thuý Hằng Thư kí 10 Nguyễn Trịnh Hải Hà Thư kí
Phân công việc và thời gian hoàn thành: nội dung công việc: 19
1. Nhóm trưởng Nguyễn Trà Giang đọc lại nội dung, yêu cầu của bài thảo luận cho cả
nhóm thảo luận chọn đề tài nghiên cứu.
2. Các thành viên trong nhóm thảo luận chi tiết về nội dung chương 1+2 cùng nhau
phân chia công việc cụ thể
Đánh giá chung: các thành viên trong nhóm thảo luận sôi nổi và tích cực tham gia đóng góp ý kiến. Nhóm trưởng Thư ký nhóm Giang Hằng Nguyễn Trà Giang Ngô Thuý Hằng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 3 Lần 2 Địa điểm: Google Meet
Thời gian: từ 20h-21h, ngày 1/2/2024 Thành viên có mặt: 1 Nguyễn Trà Giang Nhóm trưởng 2 Nguyễn Đình Hiệp Thành viên 3 Trương Thuý Hiền Nhóm phó 4 Nguyễn Minh Đức Thành viên 5 Nguyễn Tiến Dũng Thành viên (HH3) 6 Lê Thị Hà Thành viên 7 Trần Trọng Đức Thành viên 8 Nguyễn Tiến Dũng Thành viên (HH2) 9 Ngô Thuý Hằng Thư kí 10 Nguyễn Trịnh Hải Hà Thư kí 20
Mục tiêu buổi thảo luận: hoàn thiện nội dung buổi thảo luận, giải quyết vấn đề
phát sinh và các thành viên nộp bài tập nhóm.
Nội dung buổi thảo luận:
- Thành viên báo cáo tiến độ làm việc, đóng góp về những vấn đề khó khăn
gặp phải và cả nhóm thảo luận đưa ra cách giải quyết.
- Nhóm trưởng tổng hợp và chỉnh sửa lỗi trong bài của các bạn.
Đánh giá: Các thành viên trong nhóm đều tham gia đầy đủ, tích cực đưa ra ý
kiến nhận x…t cho bài làm của các bạn trong nhóm. Nhóm trưởng Thư ký nhóm Giang Hà Nguyễn Trà Giang Nguyễn Trịnh Hải Hà
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 3 Lần 3 Địa điểm: Google Meet
Thời gian: từ 20h30-21h, ngày 2/3/2024 Thành viên có mặt: 1 Nguyễn Trà Giang Nhóm trưởng 2 Nguyễn Đình Hiệp Thành viên 3 Trương Thuý Hiền Nhóm phó 4 Nguyễn Minh Đức Thành viên 5 Nguyễn Tiến Dũng Thành viên (HH3) 6 Lê Thị Hà Thành viên 7 Trần Trọng Đức Thành viên 8 Nguyễn Tiến Dũng Thành viên (HH2) 9 Ngô Thuý Hằng Thư kí 10 Nguyễn Trịnh Hải Hà Thư kí 21