Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI
Cơ sở lý luận của bài học tôn trọng hiện thực khách quan. Đảng ta đã vận dụng
bài học này trong thực tiễn đối mới như thế nào? NHÓM: 6 LỚP HP: 2273MLNP0221
CHUYÊN NGÀNH: Quản Trị Kinh Doanh
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ TT Họ và tên Nhiệm vụ Nhóm tự Đánh giá của xếp loại giảng viên 1Nguyễn Duy Quang Vỹ Nhóm trưởng+Tổng hợp word 2Trần Linh Trang Làm nội dung 1.1- 1.2 3Hoàng Thị Yến Làm nội dung 1.3- 1.4 4Đỗ Hoàng Trung Viết mở đầu-kết luận. 5Nguyễn Đăng Trung Phản Biện 6Mai Quang Nhật Thuyết Trình Trường 7Hà Quang Tuấn Thuyết Trình 8Nguyễn Đình Tuệ Làm nội dung 2.1- 2.3 9Đinh Thanh Tùng Làm nội dung 2.4- 2.5 10 Phạm Tường V y Làm powerpoint 1 1 Nguyễn Khánh Linh Làm powerpoint MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………….. 1
NỘI DUNG……………………………………………………………………2
I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH
QUAN………………………………………………………………………
1.1, Hoàn cảnh ra đời định nghĩa vật chất 1.2, Khái niệm vật chất
1.3 Nội dung phạm trù vật chất
1.4. Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin
II : ĐẢNG TA ĐÃ VẬN DÙNG BÀI HỌC NÀY TRONG THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NHƯ THẾ NÀO?
2.1: Vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan phát huy tính năng động chủ quan
ở việt nam giai đoạn trước năm 1986
2.2 Vận dụng nguyên tắc tôn trong khách quan,phát huy tính năng động chủ quan ở việt nam hiện nay
2.2.1 Quan điểm của Đảng về vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan
2.2.2. Vận dung nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năg động chủ quan
trên lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay
2.2.3. Vận dung nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ
quan trên lĩnh vực chính trị ở Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN………………………………………………………………………
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………… MỞ ĐẦU
Ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác Lênin làm nền
tảng tư tưởng và vận dụng tư tưởng lý luận đó vào thực tế cách mạng nước ta để đề
ra đường lối, chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ. Một trong những vận dụng
cơ sở lý luận của triết học Mác Lênin vào công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng đã
khởi xướng bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ IV là nguyên tắc khách quan, một
nguyên tắc được rút ra từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Vănkiện
Đại hội Đảng lần IX đã viết : “Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và
hành động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy
luật khách quan là điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng”. Việc tìm
hiểu quy luật khách quan trên cơ sở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức để vận
dụng đúng đắn quy luật này vào thực tiễn là vấn đề hết sức cần thiết đối với Đảng
viên. Vậy ở bài tiểu luận này tôi xin được phân tích đề tài SỰ VẬN DỤNG BÀI
HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN CỦA ĐẢNG TA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI NỘI DUNG
I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN
1.1: Hoàn cảnh ra đời định nghĩa vật chất
- Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX với những phát minh mới trong khoa học tự
nhiên, con người có những hiểu biết sâu sắc hơn về nguyên tử: + 1895: Roentgen phát hiện ra tia X
+ 1896: Becquerel phát hiện ra hiện tượng phóng xạ.
+ 1897: Thomson phát hiện ra điện tử và cấu tạo của nguyên tử
+ 1901: Kaufman chứng minh khối lượng của nguyên tử không ổn định.
+ 1905: Thuyết tương đối hẹp và 1916 thuyết tương đối tổng quát của Einstein
=> Cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong lĩnh vực nghiên cứu Vật Lý học.
- Theo các nhà duy tâm: vật chất là sản phẩm của tinh thần.
- Theo các nhà duy vật cổ đại, họ đồng nhất vật chất với 1 dạng cụ thể của nó , VD: nước, lửa,...
- Theo các nhà duy vật cận đại ( siêu hình ), họ có quan điểm giống các nhà
duy vật cổ đại nhưng đồng nhất vật chất với kim loại.
=> Các quan điểm của vật chất đi trước Mác đều có hạn chế, sai lầm dẫn đến cuộc
khủng hoảng thế giới quan
-> Triết học duy vật lúc này cần phải đưa ra được một quan niệm đúng đắn, khoa
học về phạm trù vật chất. 1.2: Khái niệm vật chất
- "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản
ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác."
1.3: Nội dung phạm trù vật chất
"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được
đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp
lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác."
+ “Phạm trù triết học” : là những phạm trù chung nhất dùng trong mọi lĩnh vực.
-> "Vật chất là một phạm trù triết học": Vật chất không tồn tại cảm tính, nó
không đồng nhất với các dạng tồn tại cụ thể được gọi là vật thể (nước, lửa, không
khí,...). Vật thể là cái có hạn, có sinh, có diệt còn vật chất là cái vô hạn,
không sinh ra, không mất đi. + "Thực tại khách quan":
- Là thuộc tính chung nhất của vật chất, nó tồn tại bên ngoài không phụ thuộc vào cảm giác.
+ "Đem lại cho con người trong cảm giác":
- Khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất không phụ thuộc vào ý thức,
- Vật chất là cái mà con người có thể cảm nhận được khi nó tác động lên các giác quan của con người
+ "Được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác":
- Con người có khả năng nhận thức được thế giới, vật chất bao gồm những
đối tượng con người đã biết và những đối tượng mà con người chưa biết.
1.4: Ý nghĩa định nghĩa vật chất của Lênin
- Giải quyết một cách đúng đắn và triệt để cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học.
- Cung cấp nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận khoa học đấu tranh
chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vật siêu hình
và mọi biểu hiện của chúng.
- Là cơ sở khoa học cho việc xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội, góp phần
tạo nên nền tảnh lý luận khoa học cho việc phân tích các vấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Là cơ sở để xây dựng nền tảng vững chắc cho sự liên minh ngày càng chặt chẽ
giữa triết học duy vật biện chứng với khoa học.
II: ĐẢNG TA ĐÃ VẬN DỤNG BÀI HỌC NÀY VÀO TRONG THỰC TIỄN NHƯ THẾ NÀO?
2.1: Vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan phát huy tính năng động chủ quan
ở việt nam giai đoạn trước năm 1986:
Mô hình kinh tế của nước ta trong giai đoạn này là mô hình kế hoạch hóa tập trung,
quan liêu, bao cấp mà biểu hiện của nó là :
- Nền kinh tế phi thị trường, tuyệt đối hóa vai trò của thành phần kinh tế XHCN
dưới hai hình thức kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ( hai chủ lực )
- Công nghiệp hóa theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội và thiên về phát triển công nghiệp nặng.
- Chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên đất đai và nguồn viện trợ của các
nước xã hội chủ nghĩa, việc phân bổ nguồn lực để sản xuất chủ yếu bằng cơ chế kế
hoạch hóa tập trung quan liêu trong nền kinh tế thị trường.
- Áp đặt nóng vội, giản đơn các chính sách, biện pháp hành chính để đẩy nhanh tiến độ cải
tạo XHCN đối với các thành phần kinh tế còn lại với mục tiêu không phải để huy động,
phát triển, mà hạn chế, thu hẹp, thậm chí xóa bỏ các thành phần kinh tế “phi XHCN”
- Chủ quan duy ý chí, ham làm nhanh, làm lớn, không quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội.
2.2 Vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan,phát huy tính năng động chủ quan ở việt nam hiện nay :
-Định hướng những giải pháp đồng
bộ, khả thi theo nguyên tắc tôn trọng
khách quan phát huy tính năng động chủ quan
-Chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang mô
hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
-Vận dụng bài học tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan, để
thực hiện được tư duy đổi mới đó, cần phải tổ chức lực lượng vật chất để thực hiện nó.
-Tôn trọng khách quan luôn gắn liền với việc phát huy tính năng động chủ quan.
-Chuyển đổi kinh tế sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thực tế khách quan.
-Đảng ta thực hiện chủ trương khuyến khích phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, đa dạng về sở hữu.
-Thay vì nền kinh tế chỉ có hai thành phần như trước năm 1986 thì hiện
nay nền kinh tế bao gồm năm thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã,
kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ.
-Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, tạo điều kiện
cho mọi thành phần kinh tế có cơ hội phát triển và bình đẳng trước pháp luật.
-Nhà nước đã ban hành, sửa đổi nhiều văn bản pháp luật.
-Bước đột phá quan trọng là việc nhà nước mở rộng quyền kinh doanh xuất
nhập khẩu cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế kể cả các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
-Về cơ chế vận hành, chúng ta đã xóa bỏ cơ chế hành chính, tập trung, quan liêu,
bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
2.2.1 Quan điểm của Đảng về vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy
tính năng động chủ quan :
-Chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta tồn tại
trong một thời gian tương đối dài
-Chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất
với tính chất và trình độ sản xuất
-Có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả tiền lương, tiền tệ
-Cố trí cơ cấu kinh tế trước hết là sản xuất và đầu tư thường chỉ xuất phát từ lòng
mong muốn đi nhanh, không tính đến điều kiện khả năng thực tế
-Việc bỏ qua không thừa nhận và vận dụng những quy
luật khách quan của phương thức sản xuất, của nền kinh tế hàng hóa vào việc chế
định các chủ trương chính sách kinh tế làm cho nền kinh tế nước ta bị trì trệ khủng hoảng trầm trọng.
-Muốn đảm bảo thành công thì phải vận dụng đúng nguyên tắc khách quan “Đảng
phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật là điều kiện
đảm bảo sự dẫn đầu của Đảng”
-Xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa là một công việc to lớn, không
thể làm xong trong một thời gian ngắn, không thể nóng vội làm trái quy luật.
-Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm
cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn
có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất
-Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp
quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có
những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
-Nền kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ
-Không bố trí xây dựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thực tế
-Tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện ba chương trình mục tiêu: sản
xuất lương thực - thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu
-Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
-Chúng ta phấn đấu thi hành chính sách một giá, đó là giá kinh doanh
thương nghiệp và xây dựng hệ thống ngân hàng chuyên nghiệp kinh doanh tín
dụng và dịch vụ ngân hàng, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế.
-Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngày trong từng
bước và trong suốt quá trình phát triển.
-Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Đảng ta đã rút ra một số kinh nghiệm sau:
+ Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, “phải kiên trì thực hiện đường lối và mục
tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”
+ Phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững”,
nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời duy trì tốc độ tăng
trưởng hợp lý, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Tăng cường huy động các nguồn
lực trong và ngoài nước.
+ Phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội.
+ Đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
+ Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải rất nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo, bám
sát thực tiễn đất nước, chú trọng công tác dự báo, kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp với tình hình mời.
-Tăng cường huy động phải gắn với sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và
ngoài nước. Phát triển lực lượng sản xuất phải đồng thời với xây dựng, hoàn thiện
quan hệ sản xuất, củng cố và tăng cường định hướng xã hội chủ nghĩa
-Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân
chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững
- Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng khách quan.
2.2.2: Vận dung nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năg động chủ quan
trên lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay
- Vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan phát duy tính năng động chủ quan
trên lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay : Nhà nước đóng được vai trò chủ đạo;
làm thế nào để thực hiện được công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế còn thấp
kém; vấn đề bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong điều kiện phát triển kinh
tế nhiều thành phần; các giải pháp tăng cường sức mạnh và hiệu lực của Nhà nước
xã hội chủ nghĩa, chống quan liêu, tham nhũng,… Hy vọng rằng từng bước, thực
tiễn sẽ làm sáng tỏ được các vấn đề nêu trên, góp phần làm phong phú thêm lý luận
về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện
Việt Nam trong thời đại ngày nay.
2.2.3 Vận dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan phát duy tính năng động chủ quan
trên lĩnh vực chính trị ở Việt Nam hiện nay:
“Chính trị là một lĩnh vực hoạt động rộng lớn và hết sức quan trọng, nó quyết định
vận mệnh của đất nước và sự phát triển của xã hội và con người. Bản chất chính
trị, lý tưởng chính trị, trình độ hoạt động chính trị hướng tới một xã hội nhân đạo,
nhân văn, tất cả vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội và con người, nói lên văn hóa
chính trị của một nền chính trị” Xác định “xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt”.
Chính vì thế, Đảng luôn tiến hành đổi mới và chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch đội
ngũ cán bộ, đảng viên, giữ vững sự đoàn kết và uy tín của Đảng trong nhân dân.
Phát huy những thành tựu đã đạt được, vượt qua những khó khăn, thách thức trong
quá trình hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng. KẾT LUẬN
Trong thời kì đổi mới của nước ta, khi chuyển từ nền kinh tế tập chung, quan liêu
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, tôn
trọng và hành động theo quy luật khách quan. Nhờ vận dụng đúng đắn các quy luật
thông qua chủ trương chính sách của đảng và nhà nước ta, đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân ta dần dần ổn định và nâng cao, chế độ xã hội chủ nghĩa ngày
càng củng cố, đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội và đang có những bước
chuyển biến tích cực trong tất cả lĩnh vực đời sống xã hội.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1: V.I Lênin: Toàn tập, sđd, t.18,tr.318,388,379
2: V.I Lênin: Toàn tập, sđd,t.20, tr.751,737
3: V.I Lênin: Toàn tập, sđd, t.18,tr.171,151
4: Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nhà xuất bản chính
trị - Hành chính, năm 2010.
5: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội