Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
Bìa chưa đúng form, cop hẳn mẫu cô làm BÀI THẢO LUẬN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
CHỦ ĐỀ 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN
THỰC KHÁCH QUAN. ĐẢNG TA ĐÃ VẬN DỤNG BÀI HỌC NÀY
TRONG THỰC TIỄN NHƯ THẾ NÀO Nhóm thực hiện : 7
Lớp học phần : 22110MLNP0221
Giáo viên hướng dẫn : Phạm Thị Hương 1
MỤC LỤC (làm mục lục tự động)
MỤC LỤC………………………………………………………………………2
PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………….3
PHẦN NỘI DUNG……………………………………………………………..4
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC
KHÁCH QUAN…………………………………………………………………4
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN
………………………………………………………………………..4
1. Cơ sở lý luận………………………………………………………………..4
2. Hiện thực khách quan……………………………………………………....4
3. Cơ sở lí luận của bài học tôn trọng hiện thực khách quan…………………. 4
II. MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC………………………..5
1. Phạm trì vật chất, ý thức……………………………………………………..5
a. Phạm trù vật chất…………………………………………………………….5
b. Phạm trù ý thức……………………………………………………………....6
2. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức………………………………………….9
a. Vật chất quyết định ý thức…………………………………………………9
b. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất……………...10
3. Bài học tôn trọng hiện thực khách quan……………………………………11
CHƯƠNG II. VẬN DỤNG BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN
CỦA ĐẢNG TA TRONG THỰC TIỄN……………………………12
I. NỘI DUNG CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN CỦA
ĐẢNG TA TRONG THỰC TIỄN………………………………………12
1. Thực trạng về vấn đề tôn trọng hiện thực khách quan ở Việt Nam…………12
2. Những ưu điểm……………………………………………………………15
3. Những hạn chế………………………………………………………………16
4. Nguyên nhân của những hạn chế……………………………………………16
II. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẠN CHẾ VÀ TIẾP TỤC VẬN
DỤNG BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN TRONG THỰC
TIỄN TRONG THỜI GIAN TỚI ……………………………………18
1. Những phương hướng để khắc phục hạn chế và tiếp tục phát triển bài học tôn trọng
hiện thực khách quan trong thời gian tới………………………………18
2. Những giải pháp để phát triển bài học tôn trọng hiện thực khách quan trong thời
gian tới…………………………………………………………………..21
PHẦN KẾT LUẬN……………………………………………………………25 2
(chưa định dạng đúng quy cách của một văn bản khoa học: Phần văn bản Chưa canh lề hai bên Sai chính tả
Tên đề mục phải canh giữa
Giãn dòng chưa đúng yêu cầu của cô (chuột trái, paragraph,…) dãn dòng 1.1
Sau các dấu câu phải có phím cách, không viết liền
Chỉnh lại dấu -> thành (insert, symbol, dấu )
Cuối câu, cuối đoạn luôn phải dùng dấu câu để kết thúc PHẦN MỞ ĐẦU
Trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhận diện đầy đủ mức độ
suy thoái, “ tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình là
công việc rất quan trọng. Bởi đây chính là cơ sở để từng tổ chức đảng xác định quyết
tâm và đề ra các biện pháp đủ mạnh nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém. Đề
làm tốt công việc ấy đòi hỏi cấp ủy,tổ chức đảng, các cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất
là người đứng đầu phải quán triệt, thực hiện nghiêm nguyên tắc khách quan, toàn
diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Với mong muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này, nhóm chúng em đã chọn đề tài “Cơ sở
lý luận của bài học tôn trọng hiện thực khách quan.Đảng ta vận dụng bài học trong
thực tiễn đổi mới như thế nào?” Phạm vi nghiên cứu là tư tưởng chính trị của Đảng
Cộng Sản Việt Nam và đối tượng nghên cứu chính là việc Đảng ta đã vận dụng các
quan điểm của chủ nghĩa triết học Mác-LêNin trong thực tiễn đổi mới. Mục đích
nghiên cứu chính là đánh giá việc Đảng ta đã vận dụng các điều này như thế nào
trong các bài học thực tiễn rồi sau đó đưa ra kết luận cuối cùng về vấn đề này. Để có
thể làm rõ vấn đề này chúng em có những phương pháp nghiên cứu như sau: thu thập
thông tin trên các trang báo mạng, trao đổi cùng với các thàng viên trong nhóm sau
khi xem các tin tức trên các nền tảng kĩ thuật số. 3 PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN 1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận chung của nguyên tắc “tôn trọng khách quan, phát huy tính năng
động chủ quan” là quan điểm của chủ nghĩa duy vật khoa học về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. 2. Hiện thực khách quan
Hiện thực khách quan cũng có nghĩa là sẽ xuất phát từ tính khách quan của vật
chất, chúng ta cần phải xuất phát từ bản thân của sự vật và cũng không thể tùy tiện
mà gán cho sự vật cái mà các sự vật đó không có hoặc là sự vật đó vẫn chưa có.
Trong tất cả các hoạt động thì chúng ta cũng cần phải luôn luôn xuất phát từ hiện
thực khách quan, mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, mục tiêu, phương
hướng được tạo lập thì đều phải xuất phát từ thực tế khách quan. Bên cạnh đó thì
chúng ta cũng sẽ cần phải tôn trọng vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với
đời sống tinh thần của con người. 3.
Cơ sở lý luận của bài học tôn trọng hiện thực khách quan
Tôn trọng hiện thực khách quan trong triết học sẽ được xây dựng dựa trên nội
dung của nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của tôn trọng
hiện thực khách quan quan trong triết học này được tóm tắt như sau: khi chúng ta 4
nhận thức khách thể, sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực thì các chủ thể tư duy
sẽ cần phải nắm bắt, tái hiện khách thể, sự vật, hiện tượng trong chính nó mà bất cứ
ai trong chúng ta đều không được thêm hay bớt đi một cách tùy tiện.
Ta nhận thấy rằng, vật chất sẽ là cái có trước. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai
đoạn phát triển nhất định nào đó của chính bản thân mình vật chất mới sản sinh ra tư
duy. Bởi vì tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng
tất cả chúng ta cũng sẽ không được xuất phát từ tư duy, hay xuất phát từ ý kiến chủ
quan của chúng ta về đối tượng mà chúng ta sẽ cần phải xuất phát từ chính bản thân
đối tượng, từ bản chất của đối tượng đó, chúng ta cũng không được bắt buộc các đối
tượng phải tuân theo tư duy mà ngược lại cần phải bắt tư duy tuân theo đối tượng.
Chúng ta cũng sẽ không được ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan mà sẽ cần
phải rút ra những sơ đồ được tạo ra từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng,
tư tưởng phát triển của chính các đối tượng đó.
II MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 1.
Phạm trù vật chất, ý thức a. Phạm trù vật chất
Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước Mác.
- Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm: Bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của
mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần, còn vật chất chỉ là sản phẩm của bản nguyên tinh thần ấy.
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật: + Thời kỳ cổ đại:
Trung Quốc: Các nhà triết học thời kỳ này cho rằng bản nguyên của thế giới là
các yếu tố ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là những yếu tố đầu tiên của vũ trụ.
Ấn Độ: Phái Sàmkhya lại quan niệm vật chất là Pràkriti hay Pradhana.
Hy Lạp: Các nhà triết học thời kỳ này đồng nhất vật chất với các dạng tồn tại
cụ thể của vật chất như: đất, nước, lủa, không khí, nguyên tử,… xem đó là điểm khởi
đầu của vũ trụ. Đó là những vật thể hữu hình cảm tính tồn tại ở thé giới bên ngoài. -
-> Ưu điểm: hình thành chủ nghĩa duy vật chất phác và phép biện chứng sơ khai. 5
+Thời kỳ cận đại: Các nhà triết học thời kỳ này tiếp tục đi theo khuynh hướng
hiểu về vật chất như các nhà triết học duy vật thời cổ đại, coi nguyên tử là phân tử
nhỏ bé nhất. Một số nhà triết học đã đồng nhất vật chất với khối lượng
- Cuối TK XIX – đầu TK XX: các nhà khoa học đã chứng minh được nguyên
tử là một trong những thành phần cấu tạo nên điện tử và quan điểm đồng nhất vật
chất với nguyên tử sụp đổ trước khoa học. Quan điểm của Lênin:
- “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem
lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của con người chép lại, chụp lại,
phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”
VD:xe máy,bàn ghế,điều hoà,máy tính - Nội dung định nghĩa:
+ Vật chất là một phạm trù triết học: dùng để chỉ vật chất nói chung, vô cùng,
vô tận, không sinh ra và cũng không mất đi mà chỉ chuyển hoá từ dạng này sang dạng
khác. Đây chính là cơ sở để phân biệt với khái niệm vật chất sử dụng trong các khoa
học tự nhiên có giới hạn, sinh ra và mất đi.
+ Dùng để chỉ thực tại khách quan: thuộc tính tồn tại khách quan, tồn tại ngoài
ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người.
+ Được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác con người chép
lại, chụp lại, phản ánh…: Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp
hoặc trực tiếp gây tác động lên giác quan con người; cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là
sự phản ánh của vật chất.
- Ý nghĩa phạm trù vật chất của Lênin:
+ Giải quyết triệt để hai mặt trong vấn đề cơ bản của triết học.
+ Bác bỏ thuyết bất khả tri, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, khắc phục
được tính chất máy móc, siêu hình của chủ nghĩa duy vật trước Mác.
+ Khắc phục sự khủng hoảng của vật lý học và triết học trong quan niệm về vật
chất, định hướng, mở đường cho khoa học - kỹ thuật phát triển.
+ Bảo vệ và phát triển triết học Mác, cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội. 6
+ Đưa ra một phương pháp định nghĩa mới về vật chất. b. Phạm trù ý thức Nguồn gốc ý thức
* Nguồn gốc tự nhiên (thuộc tính phản ánh vật chất và sự ra đời của ý thức)
– Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất. Đó là năng lực giữa lại,
tái hiện của hệ thống vật chất này, những đặc điểm của hộ thống vật chất khác trong
quá trình tác động qua lại.
– Cùng với sự tiến hoá của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng
phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Trong đó ý thức là hình thức
phản ánh cao nhất của thế giới vật chất.
– Ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao của bộ não
con người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người
VD:khi ta nhắc đến “cô giáo Hương “ta sẽ hình dung ra đươc hình ảnh của cô
giáo theo ý thức của chủ thể.
*Nguồn gốc xã hội (vai trò của lao động và ngôn ngữ trong sự hình thành và phát triển của ý thức)
- Lao động là hoạt động đặc thù của con người,làm cho con người khác với tất cả các động vật khác
+ Trong lao động, con người biết chế tạo các công cụ và sử dụng các công cụ
để tạo ra của cải vật chất
VD:con người hiện nay đã biết chế taọ ra máy gặt lúa,máy sát gạo để tạo ra những hạt gạo.
+ Lao động của con người là hành động có mục đích – tác động vào thế giới
vật chất khách quan làm biến đổi thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu của con người. +
Trong quá trình lao động, bộ não người phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho
khả năng tư duy trừu tượng của con người cùng ngày càng phát triển.
VD:Hiện nay con người đã phát minh ra márobot giúp con người dọn dẹp nhà
- Lao động sản xuất còn là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ. +
Trong lao động, con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhu cầu cần trao
đổi kinh nghiệm. Từ đó nảy sinh sự “cần thiết phải nói với nhau một cái gì đấy” 7
+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái “vỏ vật chất” của tư duy, là
phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội, phản ánh một cách khái quát sự vật,
tổng kết kinh nghiêm thực tiễn và trao đổi chung giữa các thế hệ. Chính vì vậy,
Ăngghen coi: lao động và ngôn ngữ là “hai sức kích thích chủ yếu” biến bộ não của
con vật thành bộ não con người, phản ánh tâm lý động vật thành phản ánh ý thức.
Lao động và ngôn ngữ, đó chính là nguồn gốc xã hội quyết định sự hình thành và phát triển ý thức. Bản chất ý thức
*Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản
ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người
-Xét về mặt bản thể luận: ý thức chỉ là “hình ảnh” về hiện thực khách quan
trong óc người. Như vậy ý thức là hiện thực chủ quan (khác với vật chất là hiện thực
khách quan), ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, là “hình ảnh” của sự vật
trong óc người, ý thức không phải là sự vật – ý thức là tính thứ hai
* Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
- Nội dung mà ý thức phản ánh là khách quan, còn hình thức phản ánh là chủ quan.
- Ý thức là cái vật chất ở bên ngoài “di chuyển” vào trong đầu óc con người và
được cải biến đi ở trong đó.
- Kết quả phản ánh của ý thức phụ thuôc nhiều yếu tố: đối tượng phản ánh,
điều kiện lịch sử - xã hội, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm sống của chủ thể phản ánh.
* Ý thức là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn xã hội
- Ý thức là kết quả của quá trình phản ánh có định hướng, có mục đích rõ rệt.
- Là hiện tượng xã hội, ý thức hình thành, phát triển gắn liền với hoạt động
thực tiễn xã hội đa dạng, phong phú mà qua đó con người làm biến đổi thế giới.
- Sự phản ánh ý thức là quá trình thống nhất của ba mặt:
+ Một là: Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh: có định
hướng và chọn lọc những thông tin cần thiết. 8
+ Hai là: Mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần: mã
hóa các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất, là quá trình “sáng tạo lại” hiện thực
+ Ba là: Chuyển hoá mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá
trình hiện thực hoá tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành
cái hiện thực, biến cái ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực.
→ Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực khách
quan trên cơ sở thực tiễn xã hội – lịch sử. Kết luận:
- Ý thức chỉ là thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất cao nhất là bộ óc con người.
- Cấu trúc hoàn thiện của bộ óc người là nền tảng vật chất đê ý thức hoạt động.
- Hoạt động thực tiễn và đời sống xã hội phong phú tạo động lực mạnh mẽ thúc
đẩy ý thức hình thành, phát triển.
- Thuộc tính đặc trưng bản chất nhất của ý thức là sáng tạo 2.
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
a. Vật chất quyết định ý thức
VD:Khi chúng ta nhìn vào một cái cây, cái cây sẽ là vật chất, hình ảnh cái cây
phản ánh vào bộ não của chúng ta, ý thức của chúng ta xuất hiện cái cây đó. Vì ý thức
là sự phản ánh của vật chất nên ý thức là cái có sau .
+Quyết định nguồn gốc ý thức:
Nguồn gốc tự nhiên: ý thức không chỉ là thuộc tính của 1 dạng vật chất có tổ
chức cao là bộ óc con người mà còn là , là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào đầu óc
con người. CNDVBC cho rằng, bộ óc con người cùng với sự tác động của thế giới
vật chất lên bộ óc con người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Nguồn gốc xã hội: Ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo thế giới khách
quan vào trong bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và diễn ra trong các
quan hệ xã hội. Thông qua hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giới khách quan mà
con người có thể phản ánh được thế giới khách quan và hình thành nên ý thức. Ngôn 9
ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ thì ý
thức không thể tồn tại được.
+ Quyết định nội dung ý thức:
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Thế giới vật chất như
thế nào thì về cơ bản thế giới tinh thần như thế đó. Điều đó có nghĩa là nội dung của
ý thức là do thế giới vật chất qui định. ( phân tích thêm: con người trong xã hội khác
nhau, sống trong điều kiện tự nhiên, thuộc giai cấp, tầng lớp khác nhau, có điều kiện
sinh hoạt vật chất khác nhau sẽ có ý thức khác nhau, vì nội dung ý thức do điều kiện
vật chất cụ thể quyết định)
+ Vật chất quyết định bản chất của ý thức:
Ý thức phản ánh thế giới vật chất, nhưng sự phản ánh đó không phải“soi
gương”, “chụp ảnh” hoặc là “phản ánh tâm lý” như con vật mà là phản ánh tích cực,
tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn. Chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thế giới
vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn. Chính thực tiễn là hoạt động
vật chất có tính cải biến thế giới của con người - là cơ sở để hình thành, phát triển ý
thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để sáng tạo
và sáng tạo trong phản ánh.
+Vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức:
Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật
chất; vật chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổi theo. Con người -
một sinh vật có tính xã hội ngày càng phát triển cả thể chất và tinh thần, thì dĩ nhiên ý
thức - một hình thức phản ánh của óc người cũng phát triển cả về nội dung và hình
thức phản ánh của nó. Đời sống xã hội ngày càng văn minh và khoa học ngày càng
phát triển đã chứng minh điều đó.
b. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
VD:Giờ tôi đang học kém, suy nghĩ mong muốn tôi là người học giỏi nhưng vì
học giỏi là vật chất, là sự đánh giá mang tính khách quan nên không thể dùng ý thức
để khẳng định. Vậy nếu ý thức về việc mình sẽ học giỏi, coi nó là mục đích,là ý kiến
của mình thì tôi sẽ quyết tâm muốn đạt nó thì ý thức sẽ tác động lại và khiến tôi chăm
chỉ học hành, tôi có thể đạt được mục tiêu là tôi học giỏi. 10
Tính độc lập tương đối của ý thức được thể hiện trên những khía cạnh sau:
- Ý thức có “đời sống” riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng, không lệ
thuộc một cách máy móc vào vật chất.Ý thức có thể thay đổi nhanh, chậm, đi song
hành so với hiện thực, nhưng nhìn chung nó thường thay đổi chậm so với sự biến đổi
của thế giới vật chất.
-Thông qua họat đông thực tiễn, ý thức có thể làm biến đổi những điều kiện,
hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn tạo ra “thiên nhiên thứ hai” phục vụ cho cuộc sống
của con người. Con người dựa trên những tri thức về thế giới khách quan, hiểu biết
những quy luật khách quan, từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp và ý chí
quyết tâm để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã xác định.
-Ý thức chỉ đạo hoạt động, hành động của con người; nó có thể quyết định làm
cho hoạt động của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại..
+Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đoán, định hướng
một cách chính xác cho hiện thực; động viên, cổ vũ, khai thác mọi tiềm năng sáng tạo.
+ Khi phản ánh sai lạc, xuyên tạc hiện thực, ý thức có tác động tiêu cực.
-Xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, đặc biệt là vai
trò của tri thức khoa học, của tư tưởng chính trị, nhân văn trong bối cảnh toàn cầu hóa. 3.
Bài học tôn trọng hiện thực khách quan
– Tất cả chúng ta đều sẽ cần phải xem xét sự vật, hiện tượng giống như chính
sự tồn tại của sự vật, hiện tượng đó, chúng ta sẽ không bị những yếu tố chủ quan chi
phối để từ đó có những nhận thức sai lệch, tô hồng hay bôi đen cho sự vật hay các
hiện tượng, bên cạnh đó thì chúng ta cũng cần phải có phương pháp nhận thức thức
khoa học và cũng cần phải tuân thủ theo các nguyên tắc phương pháp luận trong triết
học để có thể luôn tôn trọng điều kiện khách quan.
+ Trong mọi hoạt động, khi chúng ta đã đề ra phương hướng hoạt động thì bất
cứ ai cũng đều cần phải căn cứ vào điều kiện khách quan, quy luật khách quan để
nhằm mục đích có thể đảm bảo được hoạt động đạt hiệu quả và hoạt động đó sẽ
không bị các yếu tố khách quan cản trở. 11
+ Khi chúng ta xác định phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động sẽ cần phải
căn cứ cụ thể vào các quy luật khách quan để nhằm mục đích có thể lựa chọn được
đúng phương pháp, cách thức phù hợp với từng điều kiện khách quan để có thể từ đó
đảm bảo cho sự phát triển của đối tượng tác động và hoạt động đó theo đúng như ý thức của mỗi người.
+ Chúng ta cũng sẽ cần phai có kế hoạch điều chỉnh mục tiêu của bản thân sao
cho kế hoạch đó có thể phù hợp nhất khi điều kiện khách quan có sự biến đổi để
nhằm mục đích phát huy ý thức của bản thân luôn năng động và sáng tạo trong mọi điều kiện khách quan.
CHƯƠNG II. VẬN DỤNG BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC
KHÁCH QUAN CỦA ĐẢNG TA TRONG THỰC TIỄN
I. NỘI DUNG CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH
QUAN CỦA ĐẢNG TA TRONG THỰC TIỄN:
1. Thực trạng về vấn đề tôn trọng hiện thực khách quan ở Việt Nam
-Thời kỳ 1945-1954: Đẩy mạnh sản xuất, xây dựng và phát
triển kinh tế kháng chiến.Thời kỳ đầu tiên xây dựng chế độ kinh tế
mới ở Việt Nam và là giai đoạn khó khăn nhất, gian khổ nhất vì vừa
phải kháng chiến chống giặc, vừa phát triển kinh tế trong điều kiện
nghèo nàn, thiếu thốn. Đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ
này là nền kinh tế nông thôn, quy mô kinh tế rất thấp, tiềm lực yếu
kém. GDP bình quân đầu người năm 1945 chỉ đạt 60 đồng, tương đương 35 USD.
+Kinh tế nông thôn và sản xuất nông nghiệp có vị trí đặc biệt
quan trọng trong giai đoạn này. Cùng với việc động viên nông dân
tích cực tăng gia sản xuất, Chính phủ đã từng bước thực hiện các
chính sách về ruộng đất như giảm tô, giảm tức. Với chính sách toàn
dân tăng gia sản xuất, lại được sự giúp đỡ tận tình của Chính phủ,
các cơ quan, các đơn vị bộ đội nên nông nghiệp trong suốt thời kỳ 12
kháng chiến được bảo đảm ổn định và cung cấp đủ lương thực cho kháng chiến.
+Cùng với nỗ lực đẩy mạnh sản xuất, sự nghiệp giáo dục –
chống giặc dốt được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, đi
đôi với chống giặc ngoại xâm. Từ 1946 đến 1954 có 10,5 triệu người
thoát nạn mù chữ. Bên cạnh đó, nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe nhân
dân được Đảng và Chính phủ luôn đề cao hàng đầu. Thời kỳ này số
cơ sở khám chữa bệnh còn thưa thớt trên cả nước, chủ yếu là loại
hình bệnh xá – năm 1943 cả nước có 771 cơ sở chữa bệnh, trong đó
có 421 bệnh xá, 212 nhà hộ sinh, và 39 bệnh viện.
-Thời kỳ 1955-1975: Khôi phục và phát triển kinh tế sau
chiến tranh, thực hiện các chỉ tiêu trong Kế hoạch phát triển kinh tế
– xã hội 5 năm lần thứ nhất.Trong thời kỳ này, Chính phủ đã phê
duyệt Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ nhất
(1961-1965) nhằm phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hoá
xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của các
ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành công nghiệp và nông nghiệp.
+Sản xuất công nghiệp từng bước được khôi phục và phát triển
với đường lối công nghiệp hóa, nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp
được phục hồi và xây dựng
Thương nghiệp quốc doanh được nhà nước quan tâm và có sự phát
triển nhanh chóng, làm nhiệm vụ hậu cần cho sản xuất và chiến
đấu.Cùng với phát triển kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân cũng nâng lên.
-Thời kỳ 1976-1985: Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao
cấp.Thực hiện hai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là Kế hoạch 5
năm lần thứ hai (1976-1980) và Kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981- 13
1985), nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng:
Khắc phục từng bước những hậu quả nặng nề của chiến tranh; Khôi
phục phần lớn những cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, giao thông ở
miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam bị chiến tranh tàn phá.
+Thương nghiệp quốc doanh phát triển nhanh chóng, hợp tác
xã tuy ở thời kỳ đầu xây dựng, nhưng đã có những bước vươn lên
chiếm lĩnh thị trường, nhờ đó hạn chế được nạn đầu cơ, tích trữ và
tình trạng hỗn loạn về giá cả.Chính phủ chủ trương nhanh chóng
xóa nạn mù chữ và đẩy mạnh bổ túc văn hóa, xem đó là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu.
->Kết luận trước giai đoạn 1986: Đảng ta đã nhận thức quy
luật :giữa kinh tế và chính trị chúng ta đề cao thái quá yếu tố chính
trị ,đề cao thái quá yếu tố kinh tế cho nên dẫn tới những sai lầm
-Thời kỳ 1986-2000: Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh
tế.Nhận ra những bất cập của cơ chế kinh tế hiện hành, Nhà nước
bắt đầu có một số thay đổi trong chính sách quản lý kinh tế. Trong
thời kỳ này, nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi từ
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản
lý của Nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa.
+Đường lối đổi mới của Đảng nhanh chóng được sự hưởng ứng
rộng rãi của quần chúng nhân dân, khơi dậy tiềm năng và sức sáng
tạo của các loại hình kinh tế để phát triển sản xuất, tạo thêm nhiều
việc làm cho người lao động, tăng sản phẩm cho xã hội
+Một trong những thành tựu kinh tế to lớn của thời kỳ đổi mới
là phát triển sản xuất nông nghiệp, mà nội dung cơ bản là khoán
gọn đến hộ nông dân, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự 14
chủ ở nông thôn, đánh dấu sự mở đầu của thời kỳ đổi mới trong
nông nghiệp và nông thôn nước ta.
+Sản xuất công nghiệp đi dần vào thế phát triển ổn định với
tốc độ tăng bình quân mỗi năm. Do sản xuất, kinh doanh hồi phục
và có bước phát triển nên siêu lạm phát bước đầu đã được kiềm chế và đẩy lùi.
+Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế và các lĩnh vực xã hội khác
được củng cố và tăng cường.
->Kết luận từ giai đoạn năm 1986: Đảng ta thực hiện công cuộc
đổi mới toàn diện đất nước ,có đổi mới kinh tế đổi mới chính
trị,nhưng đổi mới kinh tế được đảng ta xác định là trọng tâm hoặc
trung tâm,đồng thời từng bước. Đổi mới về chính trị một cách thậm trọng,vững chắc
-Hiện nay: Trong thời kỳ này, đất nước ta thực hiện hai chiến
lược phát triển kinh tế – xã hội là Chiến lược 2001-2010 và Chiến
lược 2011-2020 nhằm xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” theo phương châm
“Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước
trong cộng đồng quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng cùng có lợi, không can thiệp
công việc nội bộ, cùng phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.
+Hiện nay, thực trạng trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta
còn thấy cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội chưa đầy
đủ, vững chắc, đời sống của nhân dân chưa cao, trong khi chúng ta
có nhiều tiềm năng cả về tài nguyên thiên nhiên, con người cũng
như các quan hệ trong và ngoài nước mà chúng ta chưa khai thác
được một cách tốt nhất thì việc Đảng và nhà nước chủ trương thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ trương thực hiện nhất
quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh thế thị trường định 15
hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm phát huy tối ưu tài lực, trí lực, nhân
lực còn tiềm tàng ấy, nhằm tạo ra sự chuyển hóa về chất trong
toàn bộ đời sống xã hội để đáp ứng nhu cầu mà thực tiễn cách
mạng Việt Nam đang đặt ra. 2. Những ưu điểm
-Với việc hiểu rõ nguyên tắc, cơ sở của bài học tôn trọng hiện
thực khách quan, Đảng đã vận dụng vào thực tiễn đổi mới của Việt
Nam, và vào trong sự nghiệp Cách mạng của Việt Nam. Việc vận
dụng như thế đã đem lại nhiều ưu điểm, trước hết phải kể đến
-Giúp Đảng nhận ra sai lầm của mình là chủ quan, nóng vội
dẫn đến đốt cháy giai đoạn, khủng hoảng nặng nề, từ đó dễ dàng
xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật
và cải tạo xã hội chủ nghĩa; về bố trí cơ cấu kinh tế; về việc sử dụng
các thành phần kinh tế từ đó thấy được "Mọi đường lối, chủ trương
của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng qui luật khách quan”
-Như kim chỉ nam giúp nghiên cứu, nhận thức đầy đủ hơn và
vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh hội nhập quốc tế ngày nay
- Đã giúp Đảng phân tích, đánh giá những sai lầm, khuyết điểm
nghiêm trọng, kéo dài nhiều năm trong công cuộc xây dựng CNXH ở
nước ta, những mâu thuẫn cơ bản của thời đại ngày nay từ đó thực
hiện đường lối đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN, đưa ra những phương án chủ động hội nhập quốc tế
- Từ chỗ Đảng làm thay chuyển sang Đảng lãnh đạo thông qua
quản lí của Pháp luật, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân lao
động, quyền tự chủ của các doanh nghiệp
-Đánh giá đúng, nhận diện đầy đủ về mức độ suy thoái, “tự
diễn biến”, “tự chuyển hoá” tại địa phương, cơ quan, đơn vị là cơ sở
để xác định quyết tâm và đề ra biện pháp đủ mạnh nhằm tạo chuyển biến tình hình. 16
-Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng
đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng XHCN
-Tiến hành đổi mới và chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch đội ngũ
cán bộ, đảng viên, giữ vững sự đoàn kết và uy tín của Đảng trong nhân dân
-Phát huy những thành tựu đã đạt được, vượt qua những khó
khăn, thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế,
thực hiện tốt an sinh xã hội, giải quyết những tồn đọng, những vấn
đề gây bức xúc trong dân hiện nay
- Đảng và nhà nước nhận ra vai trò quan trọng khách quan của
giáo dục trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Đổi mới giáo dục đạt
một số kết quả bước đầu. Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào
tạo đạt trên 20% tổng chi ngân sách; việc huy động các nguồn lực
xã hội cho giáo dục, đào tạo, phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng
sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm
- Giúp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn
hóa dân tộc, nâng cao trình độ khoa học công nghệ của cán bộ
Đảng viên giúp đáp ứng nhu cầu của CNH-HĐH 3. Những hạn chế
-Một số cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý,
người đứng đầu tại địa phương, cơ quan, đơn vị vẫn chưa quán triệt
và thực hiện tốt nguyên tắc khách quan, toàn diện trong đánh giá,
nhận diện về mức độ suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” diễn ra khá phổ biến
-Chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan: nóng vội
trong cải tạo XHCN, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, có 17
lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng, duy trì quá
lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp ..."
-Cường điệu hóa vai trò của nhân tố chủ quan, của yếu tố
chính trị trong việc hoạch định đường lối, chính sách và trong hoạt động thực tiễn.
-Một mặt, trong hiện thực lịch sử luôn "ẩn dấu” những mầm
mống, khả năng, khuynh hướng khác nhau, mặt khác, lịch sử lại
được thực hiện thông qua hoạt động của con người, mà hoạt động
này lại có giới hạn nhất định và do đó con người không thể hiểu
thấu và bao quát được tất cả các khả năng, khuynh hướng của quá trình phát triển.
4. Nguyên nhân của những hạn chế
-Một là,do cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính
chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa
nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý
tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với
làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật.Cơ chế kiểm soát
quyền lực và chế tài xử lý vi phạm ở nhiều lĩnh vực chưa có hoặc có
nhưng chưa cụ thể, hiệu quả thực thi thấp. Hoạt động giám sát của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân
dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên
chưa hiệu quả; chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ
thống chính trị trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch...”
-Hai là, khuyết điểm trên là do một số cấp ủy, tổ chức đảng,
cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu chưa nhận diện
đầy đủ mức độ suy thoái, chưa quyết tâm và có biện pháp chỉ đạo
đủ mạnh, còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của
cấp trên; không thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, 18
chưa gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, chưa thẳng thắn đấu tranh
với những biểu hiện suy thoái,thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm, bị
cám dỗ bởi lợi ích vật chất, thờ ơ, vô cảm trước khó khăn, bức xúc
của nhân dân thực tiễn cho thấy rất rõ tình trạng cấp ủy, tổ chức
đảng, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu tại địa
phương, cơ quan, đơn vị quán triệt và thực hiện chưa tốt nguyên tắc
khách quan, toàn diện trong đánh giá, nhận diện về mức độ suy
thoái.Những cán bộ, đảng viên mắc căn bệnh này thường nhìn
nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng theo cảm tính chủ quan, coi ý
kiến của mình luôn đúng, thiếu tôn trọng ý kiến tập thể. , tình trạng
vi phạm nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận thức và hoạt
động thực tiễn khi phân tích, nhận diện về mức độ suy thoái.Từ chỗ
đánh giá chưa đúng, nhận diện chưa đầy đủ nên chưa xác định rõ
quyết tâm và thiếu các biện pháp đủ mạnh để khắc phục những hạn chế, yếu kém.
-Ba là, Khi dân chủ trong sinh hoạt đảng không được tôn trọng
và phát huy, đánh giá, nhận định chỉ dựa vào ý kiến của một người
hoặc một nhóm người có quyền quyết định mà không nghiên cứu kỹ
lưỡng, không mổ xẻ, phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn
diện, thấu đáo tình hình thực tế thì thường dẫn đến tình trạng ảo
tưởng, chủ quan trong thực hiện nhiệm vụ mà không tính hết những
khó khăn, trở ngại phát sinh do cả yếu tố khách quan và chủ quan ,
chắc chắn những chủ trương, quyết sách ban hành sẽ không phù hợp, kém hiệu quả.
-Nguyên tắc khách quan đặt ra yêu cầu khi đánh giá, phân tích
sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta phải phản ánh trung thực với tất
cả những bản chất vốn có của nó. Chúng ta tuyệt đối không được
lấy ý muốn chủ quan để áp đặt, gán ghép cho sự vật, hiện tượng cái 19
mà nó không có. Mọi biểu hiện tô hồng hoặc bôi đen sự vật, hiện
tượng đều là vi phạm nguyên tắc khách quan.
II. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẠN CHẾ VÀ
TIẾP TỤC VẬN DỤNG BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH
QUAN TRONG THỰC TIỄN TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Những phương hướng để khắc phục hạn chế và tiếp tục
phát triển bài học tôn trọng hiện thực khách quan trong thời gian tới
-Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy viên, cán bộ
lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các địa phương, cơ quan, đơn vị
phải không ngừng học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Một trong những phẩm chất quan
trọng của người cán bộ cách mạng là phải có phương pháp, tác
phong làm việc khoa học, thiết thực, hiệu quả”. Người cán bộ, đảng
viên muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ thì cần phải có phương pháp,
tác phong làm việc khoa học, thiết thực. Muốn có phương pháp, tác
phong làm việc khoa học thì cán bộ, đảng viên phải có lý luận cách
mạng và tri thức khoa học. Trình độ lý luận cách mạng và tri thức
khoa học chính là nền tảng cho phương pháp, phong cách tư duy
khoa học. Sự non kém về lý luận là một trong những nguyên nhân
cơ bản khiến cho cán bộ, đảng viên thiếu tư duy biện chứng, vi
phạm nguyên tắc khách quan, toàn diện trong nhận diện mức độ
suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Khi không nhận diện đầy
đủ về tình hình và mức độ thì khó mà có quyết tâm, hành động
đúng đắn. Do vậy, trong thực hiện Kết luận số 21-KL/TW về đẩy
mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, yêu cầu đầu
tiên đối với đội ngũ cấp ủy, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh
đạo, quản lý, người đứng đầu phải thường xuyên học tập, rèn luyện,
đặc biệt là nâng cao trình độ lý luận, tri thức khoa học để không 20