Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ VẤN ĐỀ
ĐẶT RA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Mã lớp học phần : 231_MLNP0221_25
Bộ môn : Triết học Mác – Lê-nin
Giảng viên : Đặng Minh Tiến
Nhóm thực hiện : Nhóm 9 Hà Nội, 2023 TT Họ và tên Nhiệm vụ Nhóm tự xếp Đánh giá của loại giảng viên Nhóm trưởng 1Trần Đức Trung I.1.1 II.2.1 2Nguyễn Anh Hưng Vũ Powerpoint 3Trịnh Thị Vinh Powerpoint 4Vũ Thành Trung Word 5Nguyễn Thị Tuyết Word 6Phan Thị Tú V y Thuyết trình 7Nguyễn Duy Hoàng V ũ Thuyết trình 8Nguyễn Đức Việt I.1.1 I.1.3 9Bùi Huệ Trúc II.2.2 10 Trần Thị Hải Yến II.2.3
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................1
NỘI DUNG.........................................................................................3
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN...................3
1.1. Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến...............................3
1.2. Các tính chất của mối liên hệ.......................................................4
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận..........................................................5
II. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN ĐỂ PHÂN TÍCH .......6
NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐỐI
VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Những ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đối với đời sống.........6
xã hội ở Việt Nam hiện nay
2.1.1. Những ảnh hưởng tích cực.......................................................6
2.1.2. Những ảnh hưởng tiêu cực.......................................................7
2.2. Nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19............8
đối với đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay
2.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm ..........10
toàn diện nhằm khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của đại
dịch Covid-19 đối với đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN........................................................................................14
DANH MỤC THAM KHẢO.............................................................15 MỞ ĐẦU
Chủ nghĩa Mác-Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học của
C.Mác, Ph.Ăngghen và sự phát triển của V.I.Lênin; là sự kế thừa và phát triển
những giá trị của lịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở thực tiễn của thời đại; là
khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động
và giải phóng con người; là thế giới quan và phương pháp luận phổ biến của nhận
thức khoa học và thực tiễn cách mạng. Học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác -Lênin
giúp chúng ta từng bước xây dựng và hình thành thế giới quan khoa học, có
phương pháp tiếp thu một cách hiệu quả lý luận mới, những thành tựu khoa học -
công nghệ của nhân loại, có niềm tin vào sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân,
có cơ sở khoa học chống lại tư tưởng lạc hậu, phản động.
Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải xem xét sự vật trên nhiều
mặt, nhiều mối quan hệ của nó. Thực hiện điều này sẽ giúp cho chúng ta tránh
được hoặc hạn chế được sự phiến diện, siêu hình, máy móc, một chiều trong nhận
thức cũng như trong việc giải quyết các tình huống thực tiễn. Với tư cách là
những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, là một cách tiếp cận
hoặc phương pháp xem xét một vấn đề, tình huống hoặc sự việc từ nhiều góc độ
khác nhau và tính đến tất cả các yếu tố liên quan. Nó bao gồm việc xem xét các
khía cạnh kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường để có cái nhìn tổng thể
và chi tiết về vấn đề được nghiên cứu. Quan điểm toàn diện giúp ta hiểu rõ hơn về
sự phức tạp của một vấn đề và tránh việc thiếu sót thông tin quan trọng. Nó cho
phép ta suy nghĩ rộng hơn và có cái nhìn tổng thể để ra quyết định hay giải quyết
các tranh chấp hiệu quả. Khi áp dụng quan điểm toàn diện, ta không chỉ dựa vào
một góc nhìn duy nhất hay lập luận theo ý kiến cá nhân. Thay vào đó, ta khám phá
các yếu tố liên quan từ nhiều nguồn thông tin khác nhau để có cái nhìn tổng thể và
công bằng hơn. Từ đó, ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương
tiện khác nhau để tác động vào sự vật nhằm đem lại hiểu quả cao nhất.
Sau khi tìm hiểu và phân tích cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, chúng
em đã vận dụng vào để phân tích những ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến đời
sống xã hội ở Việt Nam hiện nay. Quan điểm này đã cung cấp cho chúng em tri
thức, cái nhìn đúng đắn, khách quan về thực trạng của đại dịch, những ảnh hưởng
của nó lên các lĩnh vực xã hội cùng với đó là những giá trị mà vấn đề mang lại.
Từ đó, chỉ ra được những nguyên nhân dẫn đến vận dụng sai, vận dụng không
hiệu quả quan điểm trên đồng thời đưa ra những giải pháp, phương hướng khắc 1
phục những hạn chế và tiếp tục thúc đẩy thực tiễn phát triển theo hướng mang lại
giá trị tích cực cho con người.
Bài tiểu luận này được viết nhằm phân tích cơ sở lý luận của quan điểm toàn
diện và vận dụng quan điểm này đề phân tích những ảnh hưởng của đại dịch
Covid-19 đến các vấn đề của đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay. Trong quá
trình thực hiện, do trình độ, kiến thức và thời gian có hạn nên bài tiểu luận này
còn nhiều sai sót. Nhóm em rất mong nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ, tạo điều kiện
của thầy giáo để phần tìm hiểu của chúng em được hoàn thiện hơn và đạt kết quả cao.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! 2 NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
1.1. Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
Trong đời sống xã hội, xung quanh ta luôn tồn tại và hiện hữu những liên kết
những quan hệ mà chúng ta gọi chung là liên hệ. Liên hệ là quan hệ giữa hai đối
tượng nếu sự thay đổi của một trong số chúng nhất định làm đối tượng kia thay đổi.
Mối liên hệ là khái niệm dùng để chỉ sự tác động qua lại, quy định, chuyển hoá lẫn
nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận của một
sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Ví dụ: Mối liên hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người hay
con người với xã hội, doanh nghiệp với người tiêu dùng,...
Trong phép biện chứng, khái niệm “mối liên hệ” dùng để chỉ: sự quy định, sự tác
động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu
tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới. Trong khi cùng tồn tại, các đối tượng
luôn tương tác với nhau, qua đó thể hiện các thuộc tính và bộc lộ bản chất bên
trong, khẳng định mình là những đối tượng thực tồn. Sự thay đổi của các tương tác
thất yếu làm đối tượng, các thuộc tính của nó thay đổi, và trong một số trường hợp
có thể còn làm nó biến mất, chuyển hóa thành đối tượng khác.Trong triết học, mối
liên hệ: là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy định
và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau.
“Mối liên hệ phổ biến” là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối liên hệ
tồn tại ở nhiều sự vật và hiện tượng của thế giới. Mối liên hê ”
phổ biến nhất tồn tại ở mọi sự vâ ” t, mọi hiê ”
n tượng của thế giới. Mối liên hê ” phổ biến nhất là đối tượng
nghiên cứu của phép biê ”
n chứng.Khái niệm mối liên hệ phổ biến được sử dụng với hai hàm nghĩa: 3
+ Dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ (ví dụ như: khi khẳng định rằng
mối liên hệ là cái vốn có của tất thảy mọi sự vật hiện tượng trong thế giới, không
loại trừ sự vật, hiện tượng nào, lĩnh vực nào).
+ Đồng thời, khái niệm này cũng dùng để chỉ: những liên hệ tồn tại (được thể hiện)
ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới (tức là dùng để phân biệt với khái niệm các
mối liên hệ đặc thù chỉ biểu hiện ở một hay một số các sự vật, hiện tượng, hay lĩnh vực nhất định).
Ví dụ, mối liên hệ giữa cung và cầu là mối liên hệ phổ biến, tức cũng là mối
liên hệ chung, nhưng mối liên hệ đó được thể hiện cụ thể khác nhau, có tính chất
đặc thù tuỳ theo từng loại thị trường hàng hoá, tuỳ theo thời điểm thực hiện...
Mối liên hệ phổ biến có nguyên lý làm điều kiện, tiền đề để các sự vật tác
động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau. Có thể nói tất cả mọi sự vật hiện tượng cũng
như thế giới, bao giờ cũng tồn tại trong mối liên hệ phổ biến quy định ràng buộc lẫn
nhau, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại cô lập, riêng lẻ, không liên hệ. Như
vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù,
vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở những phạm vi nhất định. Đồng thời, cũng
tồn tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó những mối liên hệ đặc thù là sự
thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định. Toàn bộ
những mối liên hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa của
các mối liên hệ trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
1.2. Các tính chất của mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến.
- Tính chất của mối liên hệ phổ biến Phép biện chứng duy vật khẳng định tính
khách quan của các mối liên hệ, tác động trong thế giới. Có mối liên hệ, tác động
giữa các sự vật, hiện tượng vật chất với nhau. Có các mối liên hệ như:
+Sự vật, hiện tượng vật chất với hiện tượng tinh thần
+Giữa những hiện tượng tinh thần với nhau
Các mối liên hệ này đều là sự quy định, tác động qua lại, chuyển hóa và phụ thuộc
lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng.
Tính phổ biến của các mối liên hệ thể hiện ở chỗ, bất kì ở đâu, trong tự nhiên, xã
hội và tư duy đều có vô vàn các mối liên hệ đa dạng, chúng giữ vai trò và vị trí 4
khác nhau trong sự vận động, chuyển hóa của các sự vật, hiện tượng. Các mối liên
hệ qua lại không những diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy,
mà còn diễn ra giữa các mặt, các yêu của của mỗi sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ
phổ biến có tính đa dạng, phong phú. Có các mối liên hệ về:
+ Không gian, thời gian giữa các sự vật, hiện tượng
+ Mối liên hệ chung tác động lên toàn bộ hay những lĩnh vực rộng lớn của thế giới
+ Mối liên hệ riêng tác động từng lĩnh vực cụ thể
+ Mối liên hệ trực tiếp giữa nhiều sự vật, hiện tượng
+ Mối liên hệ gián tiếp
+ Mối liên hệ tất nhiên, ngẫu nhiên
Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhau.
1.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Ý nghĩa phương pháp luận theo quan điểm toàn diện:
Khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể cần đặt nó trong chỉnh thể thống nhất của
tất cả các mặt, các bộ phận, yếu tố, các thuộc tính và mối liên hệ của chỉnh thể
đó.Chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của đối tượng đó và
nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại.Cần xem xét đối tượng này
trong mối liên hệ với đối tượng khác và với môi trường xung quanh, kể cả các mặt
của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp. Cần tránh quan điển phiến diện, siêu hình
và chiết trung, ngụy biện
 Có thể nói “phương pháp luận” có ý nghĩa như cách để xác định hướng đi
cho tiến trình nghiên cứu và tìm ra cấu trúc logic để giải quyết các vấn đề xung
quanh ta, được ví như một “kim chỉ nam”.Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
phải luôn đề cao luôn đề cao vai trò của phương pháp luận. Tuy nhiên chúng ta
không được xem thường hoặc tuyệt đối hóa phương pháp luận. Nếu không đề cao
vai trò của phương pháp luận sẽ rơi vào tình trạng mò mẫm, dễ mất phương hướng,
thiếu chủ động và sáng tạo trong quá trình nghiên cứu và hoạt động thực tiễn.
Ngược lại nếu tuyệt đối hóa vai trò của phương pháp luận sẽ sa vào chủ nghĩa giáo
điều và dễ bị vấp váp, thất bại. 5
II. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN ĐỂ PHÂN TÍCH
NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐỐI
VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Những ảnh hưởng của đại dịch Covid - 19 đối với đời sống xã
hội ở Việt Nam hiện nay.

- Hiện nay, đại dịch Covid-19 đã có những ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội ở
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Dưới đây là một số ảnh hưởng chính:
2.1.1. Những ảnh hưởng tiêu cực
+ Kinh tế: Đại dịch Covid-19 đã gây ra sự suy giảm mạnh mẽ của nền kinh tế Việt
Nam. Nhiều doanh nghiệp đã phải đóng cửa hoặc giảm quy mô sản xuất bởi vì dịch
bệnh làm suy giảm sản xuất và xuất khẩu của nhiều ngành công nghiệp(du lịch, dệt
may, điện tử, ô tô,…), dẫn đến việc giảm đầu tư nước ngoài nên người lao động
cũng sẽ phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp và giảm thu nhập.
Liên hệ thực tế: các mắt xích trung tâm chuỗi là các quốc gia lớn có nền kinh tế
mang tầm ảnh hưởng thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…(thị
trưởng xuất khẩu khá tiềm năng của Việt Nam) bị ảnh hưởng bởi đại dịch dẫn đến
việc gần như các hoạt động đầu tư, thương mại ở Việt Nam bị suy giảm đáng kể.
70% trong hơn 21000 doanh nghiệp đã phải đóng cửa, gần 15000 doanh nghiệp
phải tạm dừng sản xuất và kinh doanh do dịch(69%), 16% cố gắng duy trì sản xuất.(Theo báo VNexpress)
+ Giáo dục: Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến hoạt động giảng dạy và học tập
tại các trường học. Nhiều trường học đã phải tạm dừng hoạt động hoặc chuyển sang
học trực tuyến, gây khó khăn cho sinh viên và học sinh.
VD: học sinh tại các vùng thiểu số, vùng sâu vùng xa không có đủ điều kiện để
mua các phương tiện hỗ trợ việc học(máy tính, điện thoại) hoặc nằm trong các khu
vực không có internet phủ sóng nên không thể tiếp tục việc học.
+ Du lịch: Ngành du lịch là một trong những ngành bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi
đại dịch Covid-19. Việc giới hạn đi lại và đóng cửa biên giới đã làm giảm đáng kể 6
số lượng khách du lịch đến Việt Nam cũng như ảnh hưởng đến doanh thu của ngành du lịch lữ hành.
Liên hệ: lượng khách quốc tế cả năm 2020 chỉ đạt 3,8 triệu lượt, giảm 78,7% so
với năm 2019, trong đó, hơn 96% là khách quốc tế đến trong quý I/2020; khách
du lịch trong nước cũng giảm gần 50%; tổng thu du lịch cả nước thiệt hại lên đến
530 nghìn tỷ đồng(số liệu từ tổng cục thống kê)
+ Y tế: Đại dịch Covid-19 đã đặt áp lực lớn lên hệ thống y tế của Việt Nam. Nhiều
bệnh viện đã phải tăng cường cơ sở vật chất và nhân lực để đối phó với đại dịch.
VD: 60% nhân viên y tế đã phải cáng đáng khối lượng công việc và thời gian làm
việc tăng lên đáng kể trong thời gian diễn ra đại dịch COVID-19. Khoảng 40%
trong số họ cho biết họ gặp phải những khó chịu và suy giảm về sức khỏe thể chất
và 70% bị lo lắng và trầm cảm.
2.1.2. Những ảnh hưởng tích cực
- Tăng cường nhận thức về vệ sinh: Đại dịch đã làm tăng nhận thức của người
dân về vệ sinh cá nhân và môi trường xung quanh. Việc đeo khẩu trang, rửa tay
thường xuyên và giữ khoảng cách xã hội đã trở thành thói quen phổ biến, giúp ngăn
chặn sự lây lan của nhiều loại bệnh không chỉ COVID-19.
- Phát triển công nghệ thông tin: Để giảm tiếp xúc trực tiếp, người dân đã tìm
cách để làm việc, học tập từ xa thông qua các ứng dụng công nghệ thông tin như
học trực tuyến, làm việc từ xa. Điều này đã thúc đẩy sự phát triển của công nghệ
thông tin và đẩy nhanh quá trình số hóa trong nhiều lĩnh vực.
VD: Những ứng dụng như Zoom, Google Meet, Microsoft Teams đã được tạo ra và
phổ biến toàn thế giới, phục vụ nhu cầu học tập và làm việc cho con người.
-Tăng cường hợp tác và đoàn kết: Đối mặt với đại dịch, nhiều người dân đã thể
hiện sự đoàn kết và tinh thần xã hội cao. Cộng đồng hiến máu, xây dựng các quỹ hỗ
trợ cộng đồng và cùng nhau vượt qua khó khăn. Điều này đã góp phần tạo ra một
môi trường đoàn kết và đáng sống hơn trong xã hội.
Liên hệ: Những cây “ATM gạo” được tạo ra và các nhà hảo tâm nấu hàng ngàn
suất cơm tặng người nghèo mỗi ngày. Đây chính là tinh thần “lá lành đùm lá rách”
rất đáng trân quý của người dân Việt Nam.
-Tăng cường quản lý và cơ sở hạ tầng y tế: Đại dịch đã tạo đà để nâng cấp cơ sở 7
hạ tầng y tế, tăng cường quản lý và đầu tư vào các viện dưỡng lão, bệnh viện và
phòng chống dịch bệnh. Điều này giúp cải thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe và sẽ
mang lại lợi ích cho cộng đồng trong tương lai.
VD: Bệnh viện dã chiến(Yên Sở, Hoàng Mai, Hà Nội) được xây dựng nhanh chóng
với hơn 500 giường bệnh và nhiều máy móc hiện đại đã cứu giúp được hàng ngàn
con người khỏi bệnh dịch.
2.2. Nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với
đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay

Sau khi đại dịch covid diễn ra đời sống xã hội ở Việt Nam ảnh hưởng nặng nề,
tuy nhiên hiện nay mọi hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa đã và đang khôi
phục một cách mạnh mẽ, sau đây là những nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực của đại
dịch covid-19 đến với đời sống xã hội nước ta hiện nay:
- Kinh tế: Nhờ có nền tảng vững chắc, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện sức
chống chịu đáng kể trong những giai đoạn khủng hoảng. Tăng trưởng GDP dự kiến
sẽ giảm xuống còn 6,3% vào năm 2023, từ mức 8% vào năm 2022, do nhu cầu
trong nước và xuất khẩu chững lại. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dự kiến sẽ
phục hồi lên mức 6,5% vào năm 2024 do lạm phát trong nước có thể giảm dần từ
năm 2024 trở đi. Điều này sẽ được hỗ trợ thêm bởi sự phục hồi nhanh chóng của
các thị trường xuất khẩu chính (Mỹ, Khu vực Đồng tiền chung Châu Âu và Trung
Quốc). Mà những nguyên nhân chủ yếu khiến nền kinh tế nước ta từng rơi vào khủng hoảng:
+ Do dịch bệnh tập trung tại Trung Quốc và một số quốc gia có mối liên hệ
chặt chẽ với kinh tế, xuất nhập khẩu nên trong giay đoạn đó gần như mọi hoạt động
đã bị đông cứng rất nhiều, tình trạng XNK bị đình trệ khiến thu thuế XNK - một
nguồn thu ngân sách quan trọng, cũng bị tác động rõ rệt. Do ảnh hưởng của dịch
Covid-19, hầu hết kim ngạch XNK các mặt hàng có số thu lớn (máy móc, thiết bị,
sắt thép, xăng dầu,...) đều giảm. Trong đó, ô tô nguyên chiếc các loại ghi nhận
lượng sụt giảm kỷ lục nhất khi tháng 2-2021 chỉ có 6.000 xe được nhập về, giảm
60% so với cùng kỳ năm 2020. Các mặt hàng thực phẩm mất giá trầm trọng, các
mặt hàng nông sản rơi vào tình trạng khó khăn như vải, thanh long,..
+ Dãn cách xã hội làm mọi hoạt động du lịch trong và ngoài nước dừng lại
hoàn toàn, các dịch vụ đi kèm cũng đông cứng. Du lịch Việt Nam đã thiệt hại trong
“khoảng từ 6 - 7 tỷ USD” trong 2 quý cuối năm 2021, bởi riêng du khách Trung 8
Quốc đã giảm từ 90 - 100%. Ngoài khách du lịch Trung Quốc, theo ước tính của
các cơ quan chức năng, số lượng khách từ các quốc gia khác nhập cảnh vào Việt
Nam cũng giảm mạnh, khoảng 50 - 60% trong giai đoạn có dịch. Dịch COVID-19
diễn biến phức tạp đã "tàn phá"’ ngành du lịch suốt hơn 2 năm qua.
+ Do trong quá trình dãn cách xã hội người dân chủ yếu ở nhà nên các ngành
dịch vụ vui chơi giải trí, ăn uống, mua sắm ảnh hưởng nặng nề, nhiều cửa hàng và
doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ đóng cửa, nhu cầu về các mặt hàng nhu yếu
phẩm đồng loạt tăng cao. Cả người mua và người bán đều trong tình trạng hoang
mang do sự khủng hoảng từ đại dịch. - Xã hội:
+ Y tế: Do vừa phải đảm bảo công tác khám bệnh, chữa bệnh thường xuyên,
vừa đảm nhiệm công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 (giám sát dịch, hỗ trợ
các tuyến, cách ly người nhiễm và nghi nhiễm, điều trị người nhiễm, hỗ trợ các
tuyến trong phòng, chống dịch…) nên một số cơ sở y tế xuất hiện tình trạng quá tải
kéo dài và tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhất là nguy cơ lây nhiễm chéo vi rút SARS-
Cov2. Nhiều cơ sở y tế đã tăng ca làm việc để phục vụ công tác khám bệnh, chữa
bệnh, sàng lọc, tổ chức cách ly, giám sát và điều trị bệnh nhân nhiễm và nghi nhiễm
COVID-19. Tuy nhiên, nếu dịch kéo dài, sẽ gây ra áp lực lớn, khó khăn trong việc
bảo đảm tính liên tục các hoạt động của hệ thống y tế dự phòng, thiếu nhân lực điều
tra dịch tễ, lấy mẫu xét nghiệm, việc tổ chức cách ly và xử lý môi trường với số
lượng lớn, thời gian ngắn.
+ Giáo dục: Khi dịch bệnh vừa bùng phát đã khiến các trường học trên toàn
quốc đóng cửa, và thay vào đó là học sinh, sinh viên sẽ tiếp tục học online tuy
nhiên việc đóng cửa trường học có tác động tiêu cực đáng kể đến các gia đình có
thu nhập thấp, những người thiếu tiếp cận với công nghệ, internet, không phải nơi
nào cũng có đủ điều kiện để tham gia đặc biệt là các vùng khó khăn tỉ lệ trẻ em bỏ
học, thất học tăng. Dịch bệnh không thể cản trở được nền giáo dục tuy nhiên lại
mang đến ảnh hưởng nặng nề.
- Văn hóa: Dịch Covid-19 đã và đang tác động đến nhiều mặt của đời sống
kinh tế, xã hội, trong đó đã tác động mạnh mẽ đến các hoạt động của ngành Văn
hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) từ những tháng đầu năm 2020 đến nay. Các
địa phương trong tỉnh đều dừng hoặc giảm các hoạt động lễ hội, đặc biệt là các lễ
hội có số lượng lớn người dân và du khách tham gia; dừng tổ chức các hoạt động 9
văn hóa, văn nghệ, lễ kỷ niệm, ngày truyền thống, các chương trình vui chơi, giải
trí tập trung đông người để tập trung cho công tác phòng, chống dịch.
- Chính trị: Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến các mối liên hệ quốc tế và
ảnh hưởng đến hệ thống chính trị của nhiều quốc gia, gây ra việc đình chỉ các hoạt
động lập pháp, cô lập hoặc cái chết của nhiều chính trị gia, dời lại các cuộc bầu cử do lo virus lây lan.
2.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm
toàn diện nhằm khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của đại
dịch Covid-19 đối với đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay
Giải pháp kinh tế
*Về lĩnh hỗ trợ liên quan đến gia hạn, miễn giảm thuế
Các tổ chức tín dụng cân đối, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn phục vụ
sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét
duyệt hồ sơ vay vốn, nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng; kịp thời
áp dụng các biện pháp hỗ trợ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xem xét miễn giảm lãi
vay, giữ nguyên nhóm nợ, giảm phí... đối với khách hàng gặp khó khăn do ảnh
hưởng của dịch Covid-19 (trước hết là gói hỗ trợ tín dụng khoảng 250 nghìn tỷ đồng).
Ban hành chính sách về gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất cho đối tượng chịu ảnh
hưởng bởi dịch Covid-19; miễn, giảm thuế, phí, lệ phí để tháo gỡ khó khăn cho
các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; chi ngân sách nhà nước, trước hết
là gói hỗ trợ khoảng 30 nghìn tỷ đồng để góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất
kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19.
*Về lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu
Các cơ quan liên quan rà soát báo cáo thực trạng về nhu cầu nguyên vật liệu
đầu vào, đảm bảo nguồn cung cho hoạt động trong nước, đưa ra những đề án dự
báo nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế, những phương án tổ chức sản
xuất, phân phối, lưu thông, cung ứng hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hỗ trợ
tháo gỡ khó khăn cho hoạt động tiêu dùng.
Bộ Công thương cũng sẽ tập trung triển khai hàng loạt giải pháp khác như tổ chức
khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do ( FTA) để mở rộng và đa dạng 10
hoá thị trường xuất khẩu, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng hiệu quả cơ hội
mang lại; đẩy mạnh công tác đơn giản hóa thủ tục hành chính; phối hợp các Bộ,
ngành liên quan hoàn thiện hệ thống hạ tầng thương mại, tăng khả năng kết nối
phục vụ lưu thông hàng hóa cho sản xuất, xuất khẩu, giảm chi phí logistics; phối
hợp chặt chẽ với các tỉnh biên giới trong việc triển khai các phương án nâng cao
hiệu quả và điều tiết tốt tốc độ thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu tại khu vực
cửa khẩu giữa Việt Nam-Trung Quốc, nhất là với các mặt hàng nông sản, thủy sản có tính chất thời vụ.
Đồng thời, tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp buôn lậu, gian lậu
thương mại, đầu cơ tích trữ gây han khiếm, làm hàng giả, hàng nhái trên thị
trường nhất là các mặt hàng thiết yếu trong phòng chống dịch như khẩu trang,
nước rửa tay khô, các vật tư y tế. Giải quyết các khó khăn, trở ngại trong hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hóa; phối hợp, hỗ trợ tinh thần biên giới để hoạt động
thông quan hàng hóa được thuận lợi.
Giải pháp quản lý xã hội
Một trong những nhân tố góp phần thành công trong phòng, chống dịch là
chính quyền cơ sở đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, sát sao, gần gũi với nhân dân
nên huy động được sự tham gia vào cuộc của đông đảo người dân trong phát hiện,
truy vết, khoanh vùng dịch, giám sát cách ly. Tuy nhiên, bên cạnh thành công từ
sự năng động, sáng tạo thu phục lòng dân, chúng ta cũng thấy hành động của
chính quyền cơ sở bộc lộ những hạn chế bất cập trong ứng phó phòng, chống dịch
một cách máy móc, xơ cứng, sợ trách nhiệm.
Chính vì vậy cần tăng cường phân cấp, phân quyền, cá thể hóa trách nhiệm
triệt để, sát thực tế hơn nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng cấp, từng
ngành. Bên cạnh đó, ứng dụng các thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 và
chuyển đổi số quốc gia đã giúp chúng ta thích ứng nhanh với những điều buộc
phải thay đổi do đại dịch và chính đại dịch cũng là nhân tố thúc đẩy nhanh hơn
quá trình chuyển đổi số. Chuyển đổi số trong giải quyết các thủ tục hành chính sẽ
xóa bỏ tệ nhũng nhiễu, hạch sách, cửa quyền của bộ máy quản lý vì tất cả thông
tin phải công khai, minh bạch, phải chuẩn hóa theo các quy định, người quản lý
không thể cố tình che đậy thông tin, hướng dẫn mập mờ, tìm cách hạch sách gây
khó người dân và doanh nghiệp như khi tiếp xúc trực tiếp.
Giải pháp về Y tế
Cần đặt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe của nhân dân lên hàng đầu, công tác dân
số, phát triển theo hướng công bằng và giảm sự chênh lệch về tiếp cận chính sách 11
chăm sóc sức khỏe nhân dân giữa các địa bàn, các nhóm đối tượng. Hỗ trợ cho
người dân thông qua bảo hiểm y tế và thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, bảo đảm
để mọi người có điều kiện và sử dụng các dịch vụ y tế chất lượng, bình đẳng giữa
y tế nhà nước và y tế tư nhân,có chính sách hỗ trợ cần thiết về chăm sóc sức khỏe
đối với trẻ em, người nghèo, dân tộc thiểu số,…
Bên cạnh đó, thực hiện nâng cao nâng cao năng lực giám sát dịch tễ,tăng
cường xét nghiệm theo địa bàn, nhóm nguy cơ và tại ổ dịch. Tăng cường đầu
tư,củng cố hệ thống y tế cơ sở; tăng đầu tư trang thiết bị, cơ sở y tế, điều chỉnh
chế độ phụ cấp ưu đãi nghề cho cán bộ y tế dự phòng, y tế cơ sở ;tạo mọi điều
kiện thúc đẩy nhanh nhất việc sản xuất thuốc điều trị COVID-19 trong nước,nâng
cao năng lực cho các lực lượng tham gia phòng, chống dịch, ưu tiên vùng sâu,
vùng xa, biên giới, hải đảo.
Giải pháp về giáo dục
Để khắc phục những khó khăn trong quá trình học trực tuyến, nhà trường cần
có những chính sách hoặc hoạt động tư vấn, hỗ trợ sinh viên kịp thời nhằm đảm
bảo việc học của học sinh, sinh viên không bị gián đoạn, đặc biệt là những học
sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn sống ở khu vực vùng sâu vùng xa khó tiếp
cận và kết nối với mạng internet.
Nâng cao hiệu quả của giáo dục trực tuyến bằng cách thay đổi trong phương
thức giảng dạy, khả năng tiếp cận công nghệ của giảng viên và năng lực quản lý,
lãnh đạo của nhà trường. Từ những bất cập trong quá trình tương tác giữa giáo
viên, giảng viên và học sinh, sinh viên; các cơ sở giáo dục cần quan tâm và tổ
chức các đợt tập huấn đổi mới phương thức giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng
dạy học trong tương lai. Nhà trường cần quan tâm đến việc trang bị cho gia đình,
học sinh, sinh viên kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, kỹ năng an toàn thông
tin, kỹ năng khai thác và sử dụng hiệu quả các ứng dụng phục vụ hoạt động học
tập. Giáo viên, giảng viên cần tăng cường tương tác và trao đổi với học sinh, sinh
viên để tạo tâm lý thoải mái và cảm giác thích thú cho người học. Nghĩa là, giáo
viên, giảng viên cần đa dạng hóa các hình thức giảng dạy và lồng ghép nhiều hoạt
động trong chương trình giảng dạy để tạo hứng thú học tập của học sinh, sinh
viên; tạo môi trường cho học sinh, sinh viên trình bày và chia sẻ quan điểm của bản thân.
Giải pháp về văn hóa
Do tình hình dịch bệnh, hầu hết các hoạt động ngoại giao văn hóa trực tiếp ở
ngoài nước phải hoãn, huỷ, nhưng Việt Nam đã linh hoạt thích ứng, thay đổi quy
mô, cách thức tổ chức, nghiên cứu và triển khai các phương thức quảng bá văn
hóa mới gắn với ứng dụng công nghệ thông tin. Chính phủ Việt Nam đã tổ chức
34 cuộc điện đàm, trao đổi song phương ở cấp cao, nhiều hoạt động kỷ niệm, họp 12
liên chính phủ và ký thỏa thuận quốc tế. Các cơ quan, ban ngành và doanh nghiệp
trong lĩnh vực văn hóa tại Việt Nam đã nhanh chóng tăng cường số hóa các di sản,
nhằm giúp đông đảo mọi người có thể tiếp cận với kho dữ liệu đồ sộ này một cách
thuận tiện và nhanh chóng nhất. Du khách có thể thăm quan bảo tàng 3D online
và xem thông tin toàn bộ các hiện vật, đồng thời nhập từ khoá để tìm kiếm dữ liệu
về di sản. Sự kết hợp giữa nghe – xem – đọc trong một ứng dụng đa ngôn ngữ
cũng giúp công chúng thêm phần thoải mái, hòa mình vào không gian nghệ thuật.
Hơn nữa, thông qua số hoá, mọi người cũng có thể tham quan di sản từ xa đúng
như thông điệp ở bất cứ đâu, ở bất cứ thời điểm nào. Công chúng quan tâm đến di
sản Việt Nam sẽ dễ dàng mở rộng không chỉ trong nước mà còn ra cả thế giới. Trong
kỷ nguyên COVID-19, Việt Nam có cơ hội xác định lại bản sắc đi đầu trong ứng
phó với đại dịch và tích cực đưa “ngoại giao kỹ thuật số”, “ngoại giao chăm sóc
sức khỏe” vào chiến lược phát triển ngoại giao văn hóa. Bởi những phương thức
đối ngoại này không chỉ giới hạn trong các nguồn lực vật thể như khẩu trang, thiết
bị y tế, máy tính, công nghệ mà còn là các nguồn lực phi vật thể như ý tưởng,
thông tin, phương pháp tối ưu, chính sách và kiến thức – những yếu tố không kém
phần quan trọng của ngoại giao văn hóa.
Từ những giải pháp đã nêu trên ta có thể thấy, quá trình hình thành quan điểm
toàn diện đúng đắn với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự
vật và sự vận dụng, quán triệt nguyên tắc trên của Đảng, Nhà nước để đưa ra
những giải pháp nhằm khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid -
19 đã góp phần đưa đất nước về đúng quỹ đạo phát triển bền vững với mục tiêu ‘
Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’. 13 KẾT LUẬN
Cơ sở lý luận về quan điểm toàn diện đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn đúng đắn,
khách quan về sự vật, hiện tượng để rút ra bản chất. Quan điểm toàn diện cho
phép ta nhìn nhận một vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, giúp ta có cái nhìn tổng
quát và sâu sắc hơn về tình huống. Điều này giúp ta hiểu rõ hơn các yếu tố ảnh
hưởng và tương quan giữa chúng. Với việc xem xét từ nhiều góc độ, ta có khả
năng suy nghĩ linh hoạt và tìm ra các phương án giải quyết phù hợp cho mỗi tình
huống cụ thể. Quan điểm toàn diện khuyến khích sự sáng tạo và tính linh hoạt
trong việc suy nghĩ. Bằng cách xem xét các yếu tố liên quan, ta có thể hiểu được
nguyên nhân gốc rễ của một vấn đề và áp dụng các biện pháp giải quyết hiệu quả.
Quan điểm toàn diện giúp ta đánh giá các lựa chọn và tác động của chúng, từ đó
tìm ra phương án tốt nhất. Để vận dụng quan điểm toàn diện vào đời sống yêu cầu
chúng ta cần phải có kiến thức, biện pháp, tư duy đa chiều để xác định được đâu
là cái cơ bản hay đâu là cái quan trọng của một vấn đề. Nắm bắt được yêu cầu đó,
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã và đang đưa ra được những chính sách, những
quyết định sáng suốt trong công cuộc phòng chống và đẩy lùi dịch bệnh Covid-19,
khôi phục lại nền kinh tế bị thiệt hại nặng nề. Tóm lại, áp dụng quan điểm toàn
diện vào thực tiễn của nhà nước ta có thể giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của
chính phủ và mang lại lợi ích cho người dân từ nhiều khía cạnh khác nhau. Trong
điều kiện mới, dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh,
mạnh của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã
chỉ rõ những nội dung mới: "Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa
học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyên đổi số. Phải đổi mới tư duy và hành
động, chủ động nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội của Cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với quá trình hội nhập quốc tế để cơ cấu lại nền
kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, coi đây là nhân tố quyết định để nâng cao
năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh ”. Bằng việc áp dụng
quan điểm toàn diện Đảng và Nhà nước đã đưa ra những nội dung mới mang tính
đột phá và hiệu quả trong quá trình xây dựng nền kinh tế của đất nước Việt Nam sau này. 14 15 DANH MỤC THAM KHẢO
1. Giáo trình Triết học Mác – Lênin trường Đại học Thương Mại
2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập - Wikipedia
https://vi.wikipedia.org/wiki/Quy_lu%E1%BA%ADt_th%E1%BB
%91ng_nh%E1%BA%A5t_v%C3%A0_%C4%91%E1%BA%A5u_tranh_gi
%E1%BB%AFa_c%C3%A1c_m%E1%BA%B7t_%C4%91%E1%BB %91i_l%E1%BA%ADp
3. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thâ ” t,
Hà Nội, năm 1994, tập 20, trang 173-174, trang 201, trang 227
4. C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyển tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật,
Hà Nội, năm 1980, tập 1, trang 148
5. Sửa đổi lối làm việc, XYZ, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1971, trang 83-84
6. V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tâ ”
p 29, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva, tr.240
7. V.I.Lênin (1981), Sđd., tâ ” p 29, trang 378, 379
8. Website: https://www.studocu.com/vn/home 9. Luâ ” t Hoàng Phi :
https://luathoangphi.vn/quy-luat-thong-nhat-va-dau-tranh-giua-cac-mat-
doilap/#:~:text=C%C3%A1c%20m%E1%BA%B7t%20%C4%91%E1%BB
%91i%20l%E1%BA%ADp%20t%E1%BB%93n,s%E1%BB%B1%20tri
%E1%BB%83n%20khai%20c%E1%BB%A7a%20ch%C3%BAng.
10. V. I. Lenin (1981). Bút kí triết học. Moskva: Nhà xuất bản tiến bộ
11. Đề xuất giải pháp cân đối việc học và làm thêm của sinh viên trường đại
học TDTT Đà Nẵng” - Tạp chí khoa học và đào tạo thể thao (Số 13 – 9/2020). 16