Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN NHÓM: 3 LỚP HP: 2287MLNP0221
CHUYÊN NGÀNH: Tài chính- Ngân hàng HÀ NỘI, 2022 MỤC LỤC
Mở đầu...............................................................................................................1
Nội dung............................................................................................................2
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN.......2
1 Hoàn cảnh ra đời..............................................................................................2
2. Khái niệm phạm trù vật chất.........................................................................3
3. Phân tích nội dung của định nghĩa vật chất..................................................4
4. Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm vật chất....................................5 II.
VẬN DỤNG “TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN” CỦA
ĐẢNG CSVN TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI........................................................5
1. Quan điểm của Đảng về nguyên tắc tôn trọng hiện thực khách quan.......6
2. Liên hệ..............................................................................................................8
Kết bài:............................................................................................................10
Danh mục tài liệu tham khảo:..........................................................................11 Mở đầu
Nguyên tắc khách quan trong triết học sẽ được xây dựng dựa trên nội dung của
nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của nguyên tắc
khách quan trong triết học này được tóm tắt như sau: khi chúng ta nhận thức sự
vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực thì các chủ thể tư duy sẽ cần phải nắm
bắt, tái hiện sự vật, hiện tượng trong chính nó mà bất cứ ai trong chúng ta đều
không được thêm hay bớt đi một cách tùy tiện.
Ta nhận thấy được rằng, từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, triết học
Mác – Lenin cũng đã từ đó rút ra nguyên tắc phương pháp luận là sẽ cần phải
xuất phát từ thực tế khách quan. Ta hiểu nguyên tắc phương pháp luận là sẽ cần
phải xuất phát từ thực tế khách quan cũng có nghĩa là phương pháp luận sẽ xuất
phát từ tính khách quan của vật chất, chúng ta cần phải xuất phát từ bản thân của
sự vật và cũng không thể tùy tiện mà gán cho sự vật cái mà các sự vật đó không
có hoặc là sự vật đó vẫn chưa có. Trong tất cả các hoạt động thì chúng ta cũng
cần phải luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, mọi chủ trương, đường lối,
chính sách, pháp luật, mục tiêu, phương hướng được tạo lập thì đều phải xuất
phát từ thực tế khách quan. Bên cạnh đó thì chúng ta cũng sẽ cần phải tôn trọng
vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con người.
Sau khi nghiên cứu môn triết học Mác – Leenin, tôi tâm huyết với đề tài bài
học tôn trọng hiện thực khách quan, vì vậy tôi lựa chọn nội dung: “Cơ sở lý luận
của bài học tôn trọng hiện thực khách quan. Đảng ta đã vận dụng bài học này
trong thực tiễn đối mới như thế nào?’’
PAGE \* MERGEFORMAT 12 Nội dung
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN
1.1. Hoàn cảnh ra đời
+ Ở thời kỳ cổ đại các nhà triết học duy vật đi tìm một nguyên thể vật chất
đầu tiên, coi đó là cơ sở của thế giới, của mọi sự tồn tại và họ thường đồng nhất
vật chất nói chung với một dạng cụ thể của nó. Đến thời kỳ cận đại (thế kỷ XVII
- XVIII) các nhà triết học duy vật một mặt tiếp tục thừa nhận quan điểm đồng
nhất vật chất với nguyên tử - là dạng vật chất nhỏ bé nhất, không thể phân chia được nữa.
+ Trong giai đoạn của C.Mác và Ph.Ăngghen, các ông chưa đưa ra định
nghĩa vật chất, nhưng cũng đã đưa ra quan điểm như: về sự đối lập giữa vật chất
và ý thức, về bản chất và tính thống nhất vật chất của thế giới, về vận động, về
không gian, thời gian... Chính những quan điểm đó đã đặt cơ sở làm nền móng
để sau này V.I.Lênin kế thừa và phát triển nâng nội dung phạm trù vật chất
thành một định nghĩa hoàn chỉnh.
+ Cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX
nổ ra với nhiều phát kiến mang tính chất vạch thời đại đặc biệt là những phát
minh như: Rơnghen phát hiện ra tia X, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng
xạ, Tômxơn phát hiện ra điện tử, Kaufman đã phát hiện ra rằng trong quá trình
vận động, khối lượng của điện tử thay đổi khi vận tốc của nó thay đổi và thuyết
tương đối của Anhxtanh.. Những phát minh khoa học quan trọng này đã có ảnh
hưởng thay đổi to lớn đến nhiều phương diện sau:
Một là, các phát minh khoa học đã đưa lại những biến đổi sâu sắc và
một bước tiến của loài người trong việc nhận thức giới tự nhiên, đã
chứng minh rằng: nguyên tử không phải là phần tử nhỏ bé nhất, do vậy
không thể quy vật chất về nguyên tử.
Hai là, những phát minh khoa học đó đồng thời cũng đối lập gay gắt với
những quan niệm máy móc, siêu hình đang thống trị trong khoa học thời
kỳ bấy giờ như: đồng nhất vật chất với khối lượng, năng lượng, trọng lượng... PAGE \* MERGEFORMAT 12
Ba là, với những thành tựu trên đã gây ra một cuộc khủng hoảng về thế
giới quan trong các nhà triết học và khoa học tự nhiên.
Bốn là, lợi dụng cơ hội này các nhà triết học duy tâm đã biện hộ, công
kích và giải thích xuyên tạc để phủ định chủ nghĩa duy vật. Họ cho rằng:
nếu nguyên tử bị phá vỡ tức là “vật chất tiêu tan” và chủ nghĩa duy vật sụp đổ.
+ V.I.Lênin đưa ra một phương pháp mới của lôgic biện chứng để định nghĩa
vật chất chứ không sử dụng phương pháp thông thường. Định nghĩa vật chất của
ông đã kế thừa, bảo vệ, phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vật
chất; khắc phục được tính trực quan, siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật
chất của các thời kỳ trước; giải quyết được sự khủng hoảng về mặt nhận thức
luận trong khoa học tự nhiên ở đầu thế kỷ XX tạo nền tảng vững chắc cho chủ
nghĩa duy vật phát triển.
+ Các ví dụ rõ rệt: Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX với những phát minh mới
trong khoa học tự nhiên, con người có những hiểu biết sâu sắc hơn về nguyên tử:
 1895: Roentgen phát hiện ra tia X
 1896: Becquerel phát hiện ra hiện tượng phóng xạ.
 1897: Thomson phát hiện ra điện tử và cấu tạo của nguyên tử.
 1901: Kaufman chứng minh khối lượng của nguyên tử không ổn định.
-> Cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong lĩnh vực nghiên cứu Vật Lý học.
-> Chủ nghĩa duy tâm xuyên tạc rằng vật chất bị tiêu tan chỉ còn ý thức,
duy vật mất đi chỉ còn duy tâm.
-> Triết học duy vật lúc này cần phải đưa ra được một quan niệm đúng
đắn, khoa học về phạm trù vật chất.
1.2. Khái niệm của phạm trù vật chất
- Thời cổ đại: Các nhà triết học duy vật thời kì này đưa ra nhiều quan niệm
khác nhau về vật chất nhưng chúng đều có đặc điểm chung là đồng nhất vật chất
nói chung với các dạng vật chất cụ thể và các sự vật cụ thể.
+ Phương Đông : vật chất là “ngũ hành”(kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), Thuyết Âm-Dương. PAGE \* MERGEFORMAT 12
+ Phương Tây: vật chất là “nước”(Talet), vật chất là “lửa”(Heraclit), vật chất
là “nguyên tử”(Đemocrit)- Nguyên tử là các hạt nhỏ bé, không phân chia được
và nó chỉ được nhận biết bằng tư duy...
+ Thời cận đại: Vật chất là các vật thể, phải có khối lượng. Nguyên tử vẫn tiếp
tục được coi là phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia...,vận động của
vật chất chỉ được coi là vận động cơ học, nguồn gốc của vận động nằm ngoài sự
vật, thừa nhận cú hích của Thượng Đế.
- Định nghĩa vật chất của Lênin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng
để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được
cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Ví dụ về vật chất:
- Các vật dụng trong gia đình như: Bàn ghế, điều hòa, giường tủ…
- Các vật phục vụ cho công việc của con người như: máy tính, điện thoại, máy in…
1.3. Phân tích nội dung của định nghĩa vật chất
+ Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan – cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý
thức và không lệ thuộc vào ý thức. Nói đến vật chất là nói đến tất cả những gì đã
và đang hiện hữu thực sự bên ngoài ý thức của con người. Vật chất là hiện thực
chứ không phải hư vô và hiện thực này mang tính khách quan chứ không phải hiện thực chủ quan.
+ Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem
lại cho con người cảm giác. Trái với quan niệm “Khách quan” mang tính chất
duy tâm về sự tồn tại của vật chất, V.I. Lênin khẳng định rằng, vật chất luôn
biểu hiện đặc tính hiện thực khách quan của mình thông qua sự tồn tại không lệ
thuộc vào ý thức của các sự vật, hiện tượng cụ thể, tức là luôn biểu hiện sự tồn
tại hiện thực của mình dưới dạng các thực thể.
+ Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó. Chỉ có
một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Trong thế giới ấy, theo quy luật vốn có
của nó mà đến một thời điểm nhất định sẽ cùng một lúc tồn tại hai hiện tượng –
hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần. Các hiện tượng vật chất luôn tồn tại PAGE \* MERGEFORMAT 12
khách quan, không lệ thuộc vào các hiện tượng tinh thần. Còn các hiện tượng
tinh thần (cảm giác, tư duy, ý thức, …), lại luôn luôn có nguồn gốc từ các hiện
tượng vật chất và những gì có được trong các hiện tượng tinh thần ấy (nội dung
của chúng) chẳng qua cũng chỉ là chép lại, chụp lại, là bản sao của các sự vật,
hiện tượng đang tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan.
1.4. Ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm vật chất triết học Mác- Lênin
- Giải quyết hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ
nghĩa duy vật biện chứng.
- Cung cấp nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận khoa học để đấu
tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết không thể biết, chủ nghĩa duy vật siêu hình…
- Trong nhận thức và thực tiễn đòi hỏi con người phải quán triệt nguyên tắc
khách quan, xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng khách quan, nhận
thức và vận dụng đúng quy luật khách quan…
- Cho phép xác định vật chất trong lĩnh vực xã hội. Trong việc nhận thức
các hiện tượng thuộc đời sống xã hội định nghĩa vật chất của Lênin đã giúp
chúng ta xác định được cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội. Đây là điều mà
các nhà duy vật trước Mác chưa đạt tới. Ta có thể tìm thấy vật chất trong lĩnh
vực xã hội ở ở các hoạt động thực tiễn của con người, tiêu biểu là hoạt động
sản xuất vật chất để nuôi sống con người và phát triển xã hội. Định nghĩa vật
chất của Lênin giúp các nhà khoa học có cơ sở lý luận để giải thích những
nguyên nhân cuối cùng của các biến cố xã hội, những nguyên nhân thuộc về
sự vận động của phương thức sản xuất, trên cơ sở đó, con người có thể tìm ra
các phương tán tối ưu để thúc đẩy xã hội phát triển.
- Tạo sự liên kết giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử thành một hệ thống lý luận thống nhất. PAGE \* MERGEFORMAT 12
2. VẬN DỤNG “TÔN TRỌNG HIỆN THỰC KHÁCH QUAN” CỦA
ĐẢNG CSVN TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI
2.1. Quan điểm của Đảng về nguyên tắc tôn trọng hiện thực khách quan
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã trải qua hơn 30 năm ,vẫn đang tiếp tục
và đi vào chiều sâu trong bối cảnh nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển, quá
trình toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ. Hơn 30 năm đổi mới đã đánh dấu sự
trưởng thành mọi mặt của Đảng, nhà nước và nhân dân, là sáng tạo có tính tất
yếu, toàn diện để tháo gỡ những vướng mắc, giải phóng năng lực sản xuất, tạo
động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước. Ở Việt Nam, trong khoảng 10
năm sau khi thống nhất đất nước, bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta
nôn nóng, tách rời hiện thực, vi phạm nhiều quy luật khách quan trong đó quan
trọng nhất là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất, nên đã vi phạm những sai lầm trong việc xác định mục
tiêu, xác định các bước xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ
nghĩa và quản lý kinh tế. Tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội ngày càng trầm
trọng xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, bắt nguồn từ những sai lầm nghiêm
trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chủ đạo chiến lược và
tổ chức thực hiện. Đánh giá về mức độ sai lầm do chủ quan duy ý chí của Đảng
trong thời kì này, Đại hội thứ VI đã chỉ rõ Đảng đã “ nóng vội chạy theo nguyện
vọng chủ quan”, “giản đơn hóa, muốn thực hiện nhiều mục tiêu của CNXH
trong điều kiện nước ta mới có chặng đường đầu tiên”. Do chủ quan duy ý chí,
trong nhận thức và hành động của Đảng trong giai đoạn nay vi phạm các quy
luật . Các quy luật khách quan, biểu hiện qua một số lĩnh vực cụ thể được Văn
kiện Đại hội Đảng lần VI đánh giá như sau: “chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần ở nước ta tồn tại trong một thời gian tương đối dài” nên “đã
có những biểu hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã
hội chủ nghĩa”, “chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa
quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ sản xuất nên “có lúc đẩy mạnh quá
mức việc xây dựng công nghiệp nặng mà không chú ý phát triển công nghiệp
nhẹ”. Ngoài ra, cũng do chủ quan duy ý chí trong việc dùng kế hoạch pháp lệnh
để chỉ huy nền kinh tế đất nước, “duy trì quá lâu cơ chế quản lí kinh tế tập trung
quan liêu bao cấp”- một cơ chế “gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan PAGE \* MERGEFORMAT 12
điểm đơn giản về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan duy ý chí”,
“có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả tiền lương, tiền tệ” cùng với
việc “bố trí cơ cấu kinh tế trước hết là sản xuất và đầu tư thường chỉ xuất phát từ
lòng mong muốn đi nhanh, không tính đến điều kiện khả năng thực tế” nên dẫn
đến việc sản xuất chậm phát triển, mâu thuẫn giữa cung và cầu ngày càng gay
gắt do việc áp dụng những chính sách, chủ trương trên đã vi phạm những quy
luật khách quan của nền kinh tế sản xuất hàng hóa ( quy luật cung cầu quy luật
giá trị, quy luật cạnh tranh, phá sản,... ). Việc bỏ qua không thừa nhận và vận
dụng những quy luật khách quan của phương thức sản xuất, của nền kinh tế
hàng hóa vào việc chế định các chủ trương chính sách kinh tế làm cho nền kinh
tế nước ta bị trì trệ khủng hoảng trầm trọng. Trên cơ sở quán triệt mối quan hệ
biện chứng giữa vật chất và ý thức, rút kinh nghiệm từ những sai lầm do chủ
quan duy ý chí, từ Đại hội VI của Đảng (1986) Đảng đã chỉ rõ bài học kinh
nghiệm trong thực tiễn cách mạng ở nước ta là muốn đảm bảo thành công thì
phải vận dụng đúng nguyên tắc khách quan “Đảng phải luôn xuất phát từ thực
tế, tôn trọng và hành động theo quy luật và điều kiện đảm bảo sữ dẫn đầu của
Đảng”(Văn kiện Đại hội Đảng lần V ). Đây là sự thừa nhận vai trò quyết định
của vật chất và các quy định khách quan vốn có của nó trong việc đề ra các chế
định ,chủ trương,chính sách vào thực tế của công cuộc xây dựng đất nước
ta.Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong
từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Đồng thời với các đổi mới trong
lĩnh vực kinh tế, việc đổi mới bắt đầu từ việc Đảng phải đổi mới tư duy lý
luận,nâng cao năng lực,trình độ lý luận của Đảng để nhận thức đúng và hành
động đúng phù hợp với hệ thống các quy luật khách quan. Đồng thời với việc
đổi mới tư duy lý luận, việc tăng cường tư duy dân chủ, phát huy tiềm năng cán
bộ khoa học kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý và tăng cường công tác tổng kết
thực tiễn, tổng kết cái mới, không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh lý luận
về mô hình, mục tiêu, bước đi, đổi mới và kiện toàn tổ chức và phương thức
hoạt động của hệ thống chính trị...là những biện pháp nhằm từng bước sửa chữa
sai lầm và khắc phục bệnh của chủ quan duy ý chí . PAGE \* MERGEFORMAT 12 2.2. Liên hệ
Áp dụng nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy năng động chủ quan
trên lĩnh vực chính trị ở Việt Nam hiện nay: ”Chính trị là một lĩnh vực hoạt
động rộng lớn và hết sức quan trọng, nó quyết định vận mệnh của đất nước và
sự phát triển của xã hội và con người. Trình độ xử lí các tình huống quan trọng
khách quan, phát huy tính năng động chủ quan trên lĩnh vực văn hóa- xã hội ở
Việt Nam hiện nay. Phát triển lĩnh vực văn hóa- xã hội là một trong những yêu
cầu căn bản và quan trọng của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
nói chung. Nguyên tắc phát triển lĩnh vực văn hóa – xã hội nước ta là dựa trên
nguyên tắc tôn trọng khách quan và phát huy tính năng động chủ quan.Việc vận
dụng được sự chuyển hóa về chất trong toàn bộ đời sống xã hội để đáp ứng nhu
cầu mà thực tiễn cách mạng mà Việt Nam đang đặt ra. Đẩy mạnh công nghiệp
hóa hiện đại hóa với những mục tiêu cao hơn, sớm đưa Việt Nam trở thành nước
công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Việc vận dụng quan điểm về sự phát triển
vào công cuộc đổi mới giúp chúng ta thấy được sự phát triển là quá trình khó
khăn, phức tạp.Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì
trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển.
Để thực hiện sự nghiệp đổi mới, một nguyên tắc hết sức quan trọng -
nguyên tắc nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật và rút ra
bài học kinh nghiệm bổ ích "xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo
quy luật khách quan". Trên nguyên tắc đó, Đại hội VI của Đảng đã phân tích,
đánh giá những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, kéo dài nhiều năm trong
công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Những sai lầm, khuyết điểm ấy bắt
nguồn từ những sai lầm trong quan điểm và lý luận cơ bản về CNXH, về thời kì
quá độ của chúng ta. " Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy,
đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối
suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ".
Tại Đại hội VII và trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên
CNXH", Đảng ta đã chỉ rõ: " Trong cách mạng XHCN, Đảng ta đã có nhiều cố
gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng:
- Thứ nhất, lợi ích của giai cấp thống trị có phù hợp với quy luật khách quan
của sự phát triển xã hội không?
- Thứ hai đường lối, chính sách có phản ánh một cách đúng đắn và kịp thời
quy luật khách quan và lợi ích của đông đảo quản chúng lao động không?
- Thứ ba, các biện pháp và phương tiện thực hiện đường lối, chính sách đó
trong thực tiễn có đem lại hiệu quả không? PAGE \* MERGEFORMAT 12
Rõ ràng là, trong bất cứ đường lối, chính sách nào ngoài cơ sở khách quan
còn có mặt chủ quan. Mặt khách quan của đường lối, chính sách là hoàn cảnh
kinh tế, chính trị - xã hội, mối quan hệ giữa các giai cấp và lợi ích của chủ thể
đường lối, chính sách. Mặt chủ quan của đường lối, chính sách thể hiện trong ý
chí, nguyện vọng của chủ thể, trong việc lựa chọn các biện pháp, phương tiện
thực hiện nó trong thực tiễn. Bởi vậy, ngay trong những điều kiện hết sức thuận
lợi (lợi ích và ý muốn của chủ thể phù hợp với quy luật khách quan của sự phát
triển xã hội) thì trong bất cứ đường lối, chính sách nào và việc thực hiện nó
trong thực tiễn vẫn cứ tồn tại nguy cơ của chủ nghĩa chủ quan, của ý chí luận.
Nguy cơ đó là ở chỗ coi thường quy luật khách quan và lợi ích của quần chúng
lao động, xuyên tạc tư tưởng và mục đích của công cuộc cải tạo xã hội, xem nhẹ
kinh nghiệm lịch sử. Nó biểu hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, vi phạm nguyên tắc phân tích và đánh giá một cách khách quan
khoa học các hiện tượng xã hội, hiểu không đúng mối liên hệ giữa quy luật phát
triển của xã hội và lợi ích, nhu cầu của quần chúng.
Thứ hai, áp dụng biện pháp hành chính mệnh lệnh (thậm chí cả biện pháp
bạo lực) trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội, bất chấp quy luật khách quan
của sự phát triển xã hội. Thứ ,
ba từ bỏ nguyên tắc dân chủ, say mê quyền lực, sùng bái cá nhân và coi
thường quần chúng lao động. Trong lịch sử, chủ nghĩa chủ quan và duy ý chí
thường gắn liền với "lý luận bạo lực". Cơ sở của lý luận này là tuyệt đối hóa
"phương pháp chiến tranh", sùng bái bạo lực và vai trò của cá nhân trong lịch
sử. C. Mác và F. Engen đã chứng minh tính vô căn cứ của lý luận này và khẳng
định sự phá sản tất yếu của nó. Khi vạch ra phép biện chứng của nhân tố chủ
quan và nhân tố khách quan, khắc phục chủ nghĩa ... trong lịch sử, các ông đã
đưa ra luận cứ về khả năng và giới hạn của bạo lực trong đời sống xã hội. Và,
khi phê phán quan niệm duy ý chí về những tiền đề của cách mạng xã hội, các
ông đã chỉ rõ bạo lực không thể tạo ra một chế độ xã hội mới, sức mạnh và vai
trò của nó thể hiện ở chỗ, "bà đỡ cho mọi xã hội cũ đang thai nghén một xã hội
mới". Bạo lực là "bà đỡ” chứ không phải là "người mẹ", là "điều kiện" chứ
không phải là "nguyên nhân" sinh ra "đứa trẻ” - xã hội mới. Bởi vậy, việc sử
dụng bạo lực đòi hỏi phải có điều kiện nhất định, phải có nghệ thuật mẹ", là
"điều kiện" chứ không phải là "nguyên nhân" sinh ra "đứa trẻ” - xã hội mới.
Để không làm chết "đứa trẻ” mới sinh ra, để xã hội mới ra đời một cách khỏe
mạnh và phát triển một cách bình thường. Khi vận dụng và phát triển lý luận bạo
lực XHCN, Lênin cũng đã chỉ rõ bạo lực cần để đập tan Nhà nước tư sản và trấn
áp bọn phản động, ăn bám, bóc lột, nhưng "thật là ngu xuẩn nếu tưởng tượng
rằng chỉ dùng bạo lực cũng có thể giải quyết được vấn đề tổ chức khoa học và
kỹ thuật mới trong công cuộc xây dựng xã hội cộng sản". PAGE \* MERGEFORMAT 12
Trong cuộc đấu tranh kiên quyết chống lại mưu toan "chỉ huy" nền kinh tế
bằng mệnh lệnh, "kìm kẹp" đời sống chính trị - xã hội, sử dụng biện pháp quân
sự trong quản lý tác động đến quần chúng bằng phương tiện cưỡng bức, Lênin
đã vạch rõ sự phát triển của lực lượng sản xuất - đó là một quá trình mang tính
khách quan. Bởi vậy, theo ông, trong lĩnh vực kinh tế chúng ta "không thể đi
bằng những cơn ốc và bằng những bước nhảy vọt". Đường lối kinh tế không thể
xây dựng trên sự coi thường quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, không
thể tách ra khỏi thực trạng của nền kinh tế. Một đường lối như vậy chỉ có thể
dẫn đến một kết quả duy nhất - sự phá sản hoàn toàn công cuộc xây dựng kinh
tế. Thực tiễn của công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta thời gian qua cũng đã
khẳng định điều đó. Trong quá trình xây dựng CNXH, chúng ta đã phạm phải
sai lầm giáo điều, cứng nhắc và chủ quan duy ý chí khi áp đặt một mô hình
CNXH được thiết kế không xuất phát từ thực tiễn nước ta. Đó là mô hình
CNXH thuần khiết với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chỉ hai hình thức sở
hữu toàn dân và tập thể được phép tồn tại với sự thống nhất tuyệt đối về chính
trị và tinh thần. Do nhận thức mang tính chủ quan duy ý chí, xa rời thực tiễn,
không tôn trọng quy luật khách quan nên đường lối, chính sách nhằm xây dựng
mô hình đó và các biện pháp, phương tiện để thực hiện đường lối, chính sách
này không có tác dụng cài tạo thực tiễn, làm cho thực tiễn kinh tế - xã hội của
nước ta phát triển theo chiều hướng tiến lên mà ngược lại còn kìm hãm sự phát triển đó. Kết luận:
Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, triết học Mác – Lenin đã rút ra
nguyên tắc phương pháp luận là phải xuất phát trừ thực tế khách quan. Xuất
phát từ thực tế khách quan tức là xuất phát từ tính khách quan của vật chất,
chúng ta phải xuất phát từ bản thân sự vật, không thể tùy tiện gán cho sự vật
cái mà nó không có hoặc là nó chưa có. Trong hoạt động thì chúng ta phải luôn
luôn xuất phát từ thực tế khách quan, mọi chủ trương, đường lối, chính sách,
pháp luật, mục tiêu, phương hướng thì đều phải xuất phát từ thực tế khách
quan. Tôn trọng vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh
thần của con người. Như vậy, xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách
quan có ý nghĩa rất lớn cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Có thể
khái quát được rằng bản chất của nguyên tắc khách quan đó là khi đánh giá,
phân tích sự vật hiện tượng nào đó thì chúng ta phải đánh giá đúng như sự vật
thể hiện như vậy. Chúng ta không được gán cho sự vật cái mà nó không có. PAGE \* MERGEFORMAT 12
Khi chúng ta bôi hồng hoặc to đen sự vật là chúng ta vi phạm nguyên tắc khách quan trong đánh giá.
Danh mục tài liệu tham khảo:
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Cao cấp lý
luận chính trị, Triết học Mác – Lênin, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, tr. 50-74.
2. Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII;
https://moha.gov.vn/nghi-quyet-tw4/van-ban-chi-dao/toan-van-nghi-quyet-
trung-uong-4-khoa-xii-38020.html
3. Nghị quyết Trung ương 7 Khóa XII;
https://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/toan-van-nghi-quyet-trung-uong-7-
khoa-xii-ve-cai-cach-chinh-sach-tien-luong-484684.html
4. V.I. Lênin, Toàn tập, tập 18: Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm
phê phán. Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va, 1980, tr.VII- XXIV; 36- 52; 141- 153; 311- 327.
5. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các môn khoa
học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình triết học Mác - Lênin.
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.166 - 211.
6. Học viện chính trị- hành chính khu vực I, Khoa Triết học, Giáo trình Triết
học Mác- Lênin, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.102 - 144. PAGE \* MERGEFORMAT 12 PAGE \* MERGEFORMAT 12