Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BỘ MÔN TRIẾT HỌC ĐỀ TÀI
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC PHÁT HUY TÍNH NĂNG ĐỘNG, SÁNG TẠO CHỦ QUAN NHÓM: 2 LỚP HP: 2273MLNP0221
CHUYÊN NGÀNH: KHỞI NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH HÀ NỘI, 2022 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
NỘI DUNG...........................................................................................................2 I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC PHÁT HUY TÍNH NĂNG ĐỘNG
CHỦ QUAN.........................................................................................................2 1.1.
Ý thức....................................................................................................2 1.1.1.
Khái niệm về ý thức........................................................................2 1.1.2.
Nguồn gốc ý thức............................................................................4 1.1.3.
Kết cấu của ý thức..........................................................................7 1.1.4.
Ý nghĩa phương pháp luận..........................................................12 1.2.
Bản chất của ý thức là sự phản ánh tính năng động sáng tạo của
bộ óc con người về thế giới khách quan......................................................13 1.3.
Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất.......15
II. VẬN DỤNG VÀO PHÁT HUY NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY...............................19 2.1.
Thực trạng về phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học
của sinh viên hiện nay...................................................................................19 2.1.1.
Khái niệm tự học..........................................................................20 2.1.2.
Tính năng động chủ quan trong phạm trù ý thức......................20 2.1.3.
Thực trạng việc tự học của sinh viên hiện nay...........................21 2.2.
Vận dụng bài học phát huy tính năng động chủ quan trong hoạt
động tự học của sinh viên hiện nay..............................................................23
KẾT LUẬN........................................................................................................27
DANH MỤC TÀI LIỆU VÀ TRANG WEB THAM KHẢO.........................28 MỞ ĐẦU
Những thành tựu trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã và đang
tạo ra những bước tiến mới để ta vươn lên trong thị trường quốc tế. Cách mạng
khoa học và công nghệ ngày càng được phát triển với trình độ nâng cao, thúc
đẩy quá trình dịch chuyển kinh tế và đời sống xã hội.
Song, nền kinh tế của nước ta từ một điểm xuất phát thấp, tiềm lực kinh tế
- kỹ thuật còn yếu trong điều kiện khoa học - công nghệ trên thế giới lại diễn ra
rất nhanh. Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao. Trước tình hình đó, Đảng và nhà
nước ta cần tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện. Ngoài đổi mới kinh
tế xã hội, chúng ta phải không ngừng nâng cao khả năng nhận thức cho mỗi
người. Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng đến vật chất và tri thức mà bỏ qua công tác
văn hoá - tư tưởng thì sẽ không phát huy được thế mạnh đời sống tinh thần - xã
hội, xây dựng đời sống tinh thần và tạo ra được những điều kiện đảm bảo sự
phát triển của con người.
Như vậy, phát huy tính năng động chủ quan mà biểu hiện trong đời sống
xã hội là các vấn đề khoa học - văn hoá - tư tưởng có vai trò vô cùng quan trọng.
Tìm hiểu về ý thức để có những biện pháp đúng đắn tạo điều kiện cho sự phát
triển toàn diện xã hội. Đồng thời biết vận dụng để xác định mục tiêu, lập kế
hoạch và lựa chọn phương pháp tổ chức hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu đề ra một cách tốt nhất.
Việc hiểu rõ nguồn gốc, bản chất, kết cấu ý thức là vô cùng cần thiết để từ
đó có thể vận dụng vào chính bản thân mình. Để hiểu hơn về vấn đề này chúng
tôi đã chọn đề tài: “Cơ sở lý luận của bài học tính năng động chủ quan. Vận
dụng bài học này vào việc phát huy nhân tố chủ quan trong hoạt động tự học
của sinh viên hiện nay.” 1 NỘI DUNG I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÀI HỌC PHÁT HUY TÍNH NĂNG ĐỘNG CHỦ QUAN I.1. Ý thức
I.1.1. Khái niệm về ý thức
Để đưa ra được định nghĩa về ý thức,con người đã trải qua một thời kỳ
lịch sử lâu dài,nó trải qua những tư tưởng từ thô sơ,sai lệch cho tới những định nghĩa có tính khoa học.
Ngay từ thời cổ xưa,từ khi con người còn rất mơ hồ về cấu tạo của bản
thân vì chưa lý giải được các sự vật hiện tượng xung quanh mình. Do chưa giải
thích được giấc mơ là gì họ đã cho rằng: có một linh hồn nào đó cư trú trong cơ
thể và có thể rời bỏ cơ thể, linh hồn này không những điều khiển được suy nghĩ
tình cảm của con người mà còn điều khiển toàn bộ hoạt động của con người.
Nếu linh hồn rời bỏ cơ thể thì cơ thể sẽ trở thành cơ thể chết.
Tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm đã phát triển quan niệm linh hồn của con
người nguyên thủy thành quan niệm về vai trò sáng tạo của linh hồn đối với thế
giới, quan niệm về hồi tưởng của linh hồn bất tử và quan niệm về một linh hồn
phổ biến không chỉ ở trong con người mà cả trong các sự vật, hiện tượng, trong
thế giới cõi người và cõi thần, quan niệm về ý thức tuyệt đối, về lý tính thế giới.
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì đồng nhất ý thức với cảm giác và cho
rằng cảm giác của con người chi phối thế giới...Như vậy, cả tôn giáo lẫn chủ
nghĩa duy tâm đều cho rằng ý thức tồn tại độc lập với thế giới bên ngoài và là
tính thứ nhất, sáng tạo ra thế giới vật chất.
Chủ nghĩa duy vật cổ đại thì cho rằng linh hồn không thể tách rời cơ thể
và cũng chết theo cơ thể, linh hồn do những hạt vật chất nhỏ tạo thành.
Khi khoa học tự nhiên phát triển, con người đã chứng minh được sự phụ
thuộc của các hiện tượng tinh thần, ý thức vào bộ óc con người thì một bộ phận 2
nhà duy vật theo chủ nghĩa duy vật máy móc cho rằng óc trực tiếp tiết ra ý thức như gan tiết ra mật.
Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII quan niệm ý thức bao gồm cả tâm
lý, tình cảm tri thức trí tuệ, tự ý thức và định nghĩa ý thức là sự phản ánh của thế
giới khách quan. Định nghĩa này chưa chỉ rõ được vai trò của xã hội, của ý thức.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định ý thức là đặc tính và sản phẩm của vật
chất, ý thức là sự phản ánh khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động
và ngôn ngữ. Theo triết học Mac-Lênin "ý thức là sự phản ánh sáng tạo của thế
giới khách quan vào bộ não của người thông qua lao động ngôn ngữ'' Nói vấn đề
này Mác nhấn mạnh: tinh thần, ý thức chẳng qua nó chỉ là cái vật chất di chuyển
vào bộ óc con người và được cải biến đi trong đó.
Ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm tự ý
thức, tri thức, tình cảm, ý chí trong đó tri tức là quan trọng nhất, là phương thức tồn tại của ý thức.
Tự ý thức là một yếu tố quan trọng của ý thức. Chủ nghĩa duy vật coi tự ý
thức là một thực thể độc lập, tự nó có sẵn trong các cá nhân, biểu hiện hướng về
bản thân mình, tự khẳng định "cái tôi" riêng biệt tách rời những quan hệ xã hội.
Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứng tự ý thức là ý thức hướng về bản thân
mình thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài. Khi phản ánh thế giới khách
quan, con người tự phân biệt được mình, đối lập mình với thế giới đó và tự nhận
thức mình như là một thực thể hoạt động có cảm giác, có tư duy, có các hành vi
đạo đức và có vị trí trong xã hội, đặc biệt trong giao tiếp xã hội và hoạt động
thực tiễn đòi hỏi con người phải nhận thức rõ bản thân mình, tự điều chỉnh mình
tuân theo các tiêu chuẩn, quy tắc mà xã hội đặt ra. Con người có thể đặt ra và trả
lời các câu hỏi: Mình là ai? Mình phải làm gì? Mình được làm gì? Làm như thế
nào? Ngoài ra văn hóa cũng đóng vai trò là "gương soi" giúp con người tự ý thức được bản thân. 3
Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể có từ trước nhưng gần như đã trở
thành bản năng, kỹ năng nằm sâu trong ý thức của chủ thể.
Tình cảm là những xúc động của con người trước thế giới xung quanh đối
với bản thân mình. Cảm gíac yêu ghét một cái gì đó, một người nào đó hay một
sự vật, hiện tượng xung quanh.
Tri thức là hiểu biết, kiến thức của con người về thế giới. Nói đến tri thức
là nói đến học vấn, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức. Sự hình thành và
phát triển của ý thức có liên quan mật thiết với quá trình con người nhận biết và
cải tạo thế giới tự nhiên. Con người tích lũy được càng nhiều tri thức thì ý thức
thật cao, càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo thế giới có hiệu quả hơn.
Tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng lên. Nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ
bản, quan trọng nhất của ý thức có nghĩa là chống lại quan điểm giản đơn coi ý
thức chỉ là tình cảm, niềm tin và ý chí. Quan điểm đó là biểu hiện chủ quan, duy
ý chí của sự tưởng tượng chủ quan. Tuy nhiên cũng không thể coi nhẹ nhân tố
tình cảm, ý chí. Ngược lại nếu tri thức biến thành tình cảm, niềm tin, ý chí của
con người hoạt động thì tự nó không có vai trò gì đối với đời sống hiện thực.
Tóm lại, ý thức bao gồm những yếu tố tri thức và những yếu tố tình cảm,
ý chí trong sự liên hệ tác đọng qua lại nhưng về căn bản ý thức có nội dung tri
thức và luôn hướng tới tri thức.
Ví dụ: Khi con người tham gia vào quá trình lao động sản xuất thì thay
như giai đoạn trước con người sử dụng cày cuốc để cày ruộng, đào
mương, xây cầu, làm đường,… thì ngày nay, con người đã ý thức được
việc tăng năng suất lao động bằng việt đưa máy móc vào hoạt động để tạo
ra năng suất công việc như mình mong muốn.
I.1.2. Nguồn gốc ý thức
- Nguồn gốc tự nhiên 4
Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh được thực hiện bởi sự
tác động qua lại của hệ thống vật chất. Đó là những năng lực tái hiện, ghi lại của
hệ thống vật chất những đặc điểm (dưới dạng đã thay đổi) của hệ thống vật chất
khác. Phản ánh có nhiều hình thức, trình độ phản ánh. Các hình thức phản ánh:
Phản ánh vật lý, hóa học: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng
cho giới tự nhiên vô sinh. Có tính chất thụ động, chưa có định hướng, lựa chọn.
Phản ánh sinh học: Đặc trưng cho giới tự nhiên sống.Có: tính kích thích
(thực vật và động vật bậc thấp),tính cảm ứng (các động vật chưa có hệ
thần kinh), các phản xạ (các động vật có hệ thống thần kinh).
Tâm lý động vật: Là trình độ cao nhất của sự phản ánh ở động vật. Là sự
phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và do
quy luật sinh học chi phối.Phản ánh năng động, sáng tạo (ý
thức): Cùng với sự tiến hóa của thế giới, vật chất có tính phân hóa cũng
phát triển từ thấp đến cao. Trong đó ý thức là hình thức phản ánh cao
nhất, ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên
cho tới khi xuất hiện con người và bộ óc con người. Khoa học đã chứng
minh rằng thế giới vật chất nói chung và trái đất nói chung đã tồn tại rất
lâu trước khi xuất hiện con người, rằng hoạt động tâm lý của con người
diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của não bộ con người.Bộ
não bao gồm khoảng từ 15- 17 tỷ tế bào thần kinh, các tế bào này nhận vô
số các mối quan hệ thu nhận, xử lý, truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các
hoạt động của cơ thể trong quan hệ đối với thế giới bên ngoài qua cơ chế
phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện.
-Nguồn gốc xã hội
Ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ óc con người là sự khác biệt về chất so
với động vật. Do sự phản ánh đó mang tính xã hội, sự ra đời của ý thức gắn liền 5
với quá trình hình thành và phát triển của bộ óc người dưới ảnh hưởng của lao
động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội.
Lao động là hoạt động vật chất có tính chất xã hội nhằm cải tạo tự nhiên,thỏa
mãn nhu cầu phục vụ mục đích cho bản thân con người. Chính nhờ lao động mà
con người và xã hội loài người mới hình thành, phát triển.
Khoa học đã chứng minh rằng tổ tiên của loài người là vượn, người nguyên
thủy sống thành bầy đàn, hình thức lao động ban đầu là hái lượm, săn bắt và ăn
thức ăn sống. Họ chỉ sử dụng các dụng cụ có sẵn trong tự nhiên, vượn người đã
sáng tạo ra các công cụ lao động mới cùng với sự phát triển bàn tay dần dần tiến
hóa thành con người. Lúc này thức ăn có nhiều hơn và quan trọng là tìm ra lửa
để sinh hoạt và nướng chín thức ăn đã làm cho bộ óc đặc biệt phát triển, bán cầu
não phát triển làm tăng khả năng nhận biết, phản ứng trước các tình huống
khách quan. Mặt khác, lao động là hoạt động có tính toán, có phương pháp mục
đích do đó mang tính chủ động. Thêm vào đó, lao động là sự tác động chủ động
của con người vào thế giới khách quan để phản ánh thế giới đó, lao động buộc
thế giới xung quanh phải bộc lộ các thuộc tính, đặc điểm của nó. từ đó làm cho
con người hiểu biết thêm về thế giới xung quanh, thấy sự vật hiện tượng xung
quanh nhiều đặc tính mới mà lâu nay chưa có. Từ đó sáng tạo ra các sự vật khác
chưa từng có trong tự nhiên có thể mang thuộc tính, đặc điểm của sự vật trước
đó, điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một tự nhiên mới.
Thêm vào đó lao động là quá trình tác động lặp đi, lặp lại hàng nghìn, hàng
triệu lần phương pháp giống nhau nhờ vậy mà làm tăng năng lực tư duy trừu tượng của con người.
Tóm lại, lao động có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ý
thức. Con người thoát ra khỏi động vật là có lao động. Vì vậy mà người ta nói
"Một kiến trúc sư tồi còn hơn một con ong giỏi", bởi.vì trước khi xây một ngôi
nhà người kiến trúc sư đã phác thảo trong đầu anh ta hình ảnh ngôi nhà còn con
ong chỉ là xây tổ theo bản năng. Qua lao động bộ óc con người hình thành và 6
hoàn thiện. Ăng ghen nói" Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ,
nó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc con vượn, làm cho bộ
óc đó dần dần chuyển biến thành bộ óc người.
''Sau đây ta xét đến vai trò của ngôn ngữ trong việc hình thành nên ý thức.
Ngôn ngữ được coi là 'cái vỏ vật chất" của tư duy, khi mà con người có biểu
hiện liên kết với nhau để trao đổi kinh nghiệm, tổ chức lao động tất yếu dẫn đến
nhu cầu " cần nói với nhau một cái gì" đó chính là ngôn ngữ.Với sự xuất hiện
của ngôn ngữ, tư tưởng con người có khả năng biểu hiện thành "hiện thực trực
tiếp", trở thành tín hiệu vật chất tác động vào giác quan của con người, gây ra
cảm giác. Do vậy, qua ngôn ngữ con người có thể giao tiếp, trao đổi kinh
nghiệm, tư tưởng tình cảm cho nhau, từ đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức
xã hội và ngược lại ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá nhân. Nhờ ngôn ngữ
mà phản ánh ý thức mới có thể thực hiện như là sự phản ánh gián tiếp, khái quát
và sáng tạo. Vì vậy ngôn ngữ trở thành một phương tiện vật chất không thể thiếu
được của sự trừu tượng hóa, khái quát hóa hay nói cách khác là của quá trình
hình thành, thực hiện ý thức. Nhờ khả năng trừu tượng hóa, khái quát hóa mà
con người có thể đi sâu vào hơn vào thế giới vật chất, sự vật hiện tượng? đồng
thời tổng kết đúc rút kinh nghiệm trong toàn bộ hoạt động của mình. Vậy ngôn
ngữ là một yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý tư duy và văn hóa con người và xã hội loài người.
I.1.3. Kết cấu của ý thức
Để nhận thức sâu sắc về ý thức, cần xem xét nắm vững tổ chức kết cấu của
nó, tiếp cận từ các góc độ khác nhau sẽ đem lại những tri thức nhiều mặt về cấu
trúc hoặc cấp độ ý thức.
-Các lớp cấu trúc của ý thức
Muốn cải tạo được sự vật, trước hết con người phải có sự hiểu biết sâu sắc về
sự vật đó. Do đó, nội dung và phương thức tồn tại cơ bản của ý thức phải là tri
thức. Ý thức mà không bao hàm tri thức, không dựa vào tri thức thì ý thức đó là 7
1 sự trừu tượng trống rỗng, không giúp ích gì cho con người trong hoạt động thực tiễn.
Theo C.Mác, “Phương thức tồn tại của ý thức và của một cái gì đó đối với ý
thức là tri thức…Cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức, chừng nào ý
thức biết cái đó. Tri thức có nhiều lĩnh vực khác nhau như: tri thức về tự nhiên,
xã hội, con người, và có nhiều cấp độ khác nhau như: tri thức cảm tính và tri
thức lí tính; tri học và tri thức khoa học,… Tích cực tìm hiểu tích lũy tri thức và
thế giới xung quanh là yêu cầu thường xuyên của con người trên bước đường cải
tạo thế giới. Tuy nhiên không thể đồng nhất ý thức với sự hiểu biết tri thức về sự vật.
Cùng với quá trình nhận thức sự vật, trong ý thức còn nảy sinh thái độ của
con người đối với đối tượng phản ánh. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự
phản ánh tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa người với người và quan hệ giữa
người với người và quan hệ giữa người với thế giới khách quan. Tình cảm tham
gia và và trở thành một trong những động lực quan trọng của hoạt động con
người. Sự hòa quyện giữa tri thức với tình cảm và trải nghiệm thức tiễn đã tạo
nên tính bền vững của niềm tin thôi thúc con người hoạt động vươn lên trong mọi hoàn cảnh.
Nhận thức không phải một hoạt động dễ dàng, phẳng lặng mà là một quá
trình phản ánh những khó khăn, gian khổ thường gặp phải trên mỗi bước đường
đi tới chân lí. Muốn vượt qua khó khăn để đạt tới mục đích, chủ thể nhận thức
phải có ý chí, quyết tâm cao. Ý chí chính là những cố gắng, nỗ lực, khả năng
huy động tiềm năng trong mỗi con người vào hoạt động để có thể vượt qua mọi
trở ngại, đạt mục đích đề ra. Nhận rõ vị trí, vai trò của các nhân tố cấu thành ý
thức và mối quan hệ giữa các yếu tố đó, đòi hỏi mỗi chủ thể phải luôn tích cực
học tập, rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao ý thức, tình cảm niềm tin, ý chí trong
nhận thức và cải tạo thế giới.
-Các cấp độ của ý thức 8
Khi xem xét ý thức theo chiều sâu của thế giới nội tâm con người, cần nhận
thức được các yếu tố: tự ý thức, tiềm thức, vô thức… Tất cả những yếu tố đó
cùng với những yếu tố khác hợp thành ý thức, quy định tính phong phú, nhiều
vẻ của đời sống tinh thần con người.
Tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình trong mối quan hệ với
ý thức về thế giới bên ngoài. Đây là một thành tố rất quan trọng của ý thức, đánh
dấu trình độ phát triển của ý thức. Trong quá trình phản ánh thế giới khách quan,
con người cũng tự phân biệt, tách mình, đối lập mình với thế giới đó để đánh giá
thông qua các mối quan hệ. Nhờ vậy con người tự ý thức về bản thân mình như
một thể hoạt động có cảm giác, đang tư duy tự đánh giá năng lực và trình độ
hiểu biết của bản thân về thế giới, cũng như các quan điểm, tư tưởng,tình cảm,
nguyện vọng, hành vi lợi ích và đạo đức của mình. Qua đó xác định đúng vị trí,
điểm mạnh, điểm yếu của mình luôn làm chủ bản thân chủ động điều chỉnh hành
vi của mình trong tác động qua lại với thế giới khách quan.
Tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cá nhân, mà còn là tự ý thức của các
nhóm xã hội khác nhau như một tập thể, một giai cấp, một dân tộc thậm chí cả
xã hội về địa vị của họ trong hệ thống quan hệ sản xuất, về lợi ích và lí tưởng
của mình. Chủ nghĩa duy tâm phản động coi tự ý thức là một thể độc lập, tự nó,
sẵn có trong cá nhân là sự tự hướng về bản thân mình khẳng định cái tôi tách rời
khỏi những quan hệ xã hội, trở thành cái tôi thuần túy trừu tượng trống rỗng.
Thực chất của những quan điểm đó là nhằm phủ định bản chất xã hội của ý thức
biện hộ cho chủ nghĩa cá nhân vị kỉ cực đoan của các thế lực phản động hiện nay.
Tiềm thức là những hoạt động tâm lý diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của ý
thức. Về thực chất tiềm thức là những tri thức mà chủ thể có từ trước gần như đã
thành bản năng, kĩ năng nằm trong tầng sâu ý thức của chủ thể là ý thức dưới
dạng tiềm tàng. Do đó, tiềm thức có thể tự động gây ra các hoạt động tâm lí và
nhận thức mà mà chủ thể không cần kiểm soát chúng một cách trực tiếp. Tiềm
thức có vai trò quan trọng trong đời sống và tư duy khoa học. 9
Vô thức là những hiện tượng tâm lí không phải do lí trí điều khiển nằm ngoài
phạm vị của lí trí mà ý thức không kiểm soát được trong một lúc nào đó. Chúng
điều khiển những hành vi thuộc về bản năng, thói quen … trong con người
thông qua phản xạ không điều kiện. Con người là một thực thể xã hội có ý thức
nhưng không phải mọi hành vi lí trí của con người đều do lí trí chỉ đạo. Trong
đời sống của con người có những hanh vi do bản năng chi phối hoặc do những
động tác được lặp đi lặp lại nhiều lần trở thành thói quen đến mức chúng tự
động xảy ra ngay ca khi không có sự điều khiển của lí trí. Vô thức là những
trạng thái tâm lí ở tầng sâu điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi, thái độ ứng xử của
con người mà chưa có sự can thiệp của lí trí.
Vô thức biểu hiện thành nhiều hiện tượng khác nhau như bản năng ham
muốn, giấc mơ bị thôi miên lỡ lời, nói nhịu,... Mỗi hiện tượng vô thức có vùng
hoạt động riêng song tất cả đều có chức năng chung là giải tỏa những ức chế
trong hoạt động thần kinh vượt ngưỡng,nhất là những ham muốn bản năng
không được phép bộc lộ ra và hiện thực trong quy tắc của đời sống cộng đồng.
Nó góp phần quan trọng trong việc lập lại thế cân bằng trong hoạt động tinh thần
của con người mà không dẫn tới trạng thái ức chế quá mức như ấm ức, dày vò
mặc cảm, “libiđô”,... Nghiên cứu những hiện thực vô thức giúp con người luôn
làm chủ đời sống nội tâm có phương pháp kiềm chế đúng quy luật những trạng
thái ức chế của tinh thần.
Vô thức là hoạt động tầm sâu của tâm lí - ý thức, có vai trò to lớn trong đời
sống và hoạt động của con người. Trong một số hoàn cảnh, vô thức giúp con
người giảm bớt sự căng thẳng không cần thiết của ý thức do tinh thần làm việc
quá tải. Nhờ vô thức mà những chuẩn mực con người đặt ra được thực hiện một
cách tự nhiên không có sự kiên cưỡng. Vô thức có ý nghĩa quan trọng trong giáo
dục thế hệ trẻ trong hoạt động khoa học và nghệ thuật. Tuy nhiên, không nên
cường điệu hóa, tuyệt đối hóa và thần bí hóa vô thức. Vô thức là vô thức trong
con người xã hội ý thức, nên vô thức không thể hiện là hiện tượng cô lập, tách
rời với ý thức và thế giới bên ngoài, càng không thể là cái quyết định ý thức 10
cũng như hành vi của con người. Trong hoạt động của con người, ý thức vẫn giữ
vai trò chủ đạo, quyết định hành vi của cá nhân. Nhờ có ý thức điều khiển các
hiện tượng vô thức được điều chỉnh, hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ. Vô
thức chỉ là một mắt khâu trong cuộc sống có ý thức của con người.
Vấn đề “ trí tuệ nhân tạo”
Ngày nay, khoa học và công nghệ hiện đại đã có những bước phát triển mạnh
mẽ sản xuất ra nhiều loại máy móc không những có thể thay thế lao động cơ bắp
mà còn thay thế cho một phần lao động trí óc của con người. Chẳng hạn máy
tính điện tử,”người máy thông minh “,” trí tuệ nhân tao “. Song điều đó không
có nghĩa là máy móc cũng có ý thức như con người. Ý thức và máy tính điện tử
là hai quá trình khác nhau về bản chất. “ Người máy thông minh “ thực ra chỉ là
một quá trình vật lí. Hệ thống thao tác của nó đã được con người lập trình phỏng
theo một số thao tác của tư duy con người. Máy móc chỉ là những kết cấu kĩ
thuật do con người sáng tạo ra. Còn con người là một thực thể xã hội năng động
được hình thành trong tiến trình lịch sử tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên và thực
tiễn xã hội. Máy không thể sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần trong bản
thân nó. Năng lực đó chỉ có con người có ý thức mới hiện thực được và qua đó
lập trình cho máy móc thực hiện. Sự phản ánh sáng tạo tái hiện lại hiện thực chỉ
có ở ý thức của con người với tư cách là một thực thể xã hội, hoạt động cải tạo
thế giới khách quan. Ý thức mang bản chất xã hội. Do vậy, dù máy móc có hiện
đại đến đâu chăng nữa cũng không thể hoàn thiện bộ óc như con người.
Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất chỉ có ở óc người về hiện thực khách
quan trên cơ sở thực tiễn xã hội - lịch sử. Sự hoàn thiện trong cấu trúc vật chất
của bộ óc người và hoạt động thực tiễn xã hội phong phú đã tạo ra những tiền đề
vật chất đầy đủ cho đặc tính phản ánh -ý thức người phát triển, ngày càng xâm
nhập vào tầng sâu của thế giới hiện thực, gắn với cải tạo thế giới. Thực tiễn xã
hội là động lực trực tiếp to lớn thúc đẩy ý thức hình thành và phát triển, đáp ứng
nhu cầu của xã hội ngày càng phong phú, đa dạng. Ý thức nhân đôi trong thế
giới tinh thần nhờ đó con người sáng tạo ra “giới tự nhiên thứ hai “ in đậm dấu 11
ấn của con người. Con người ngày càng tạo ra các thế hệ “ người máy thông
minh “ cao cấp hơn giúp cho con người khắc phục được nhiều mặt hạn chế của mình.
Con người là một thực thể tự nhiên - xã hội có ý thức chủ thể sáng tạo ra mọi
giá trị vật chất và tinh thần quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Khẳng
định vai trò to lớn của ý thức trong đời sống hiện thực của con người về thực
chất và khẳng định vai trò của con người - chủ thể mang ý thức đó. Cần thái độ
đúng đối với con người, quan tâm chăm lo phát triển con người toàn diện cả về
thể chất và tinh thần. Đặc biệt quan tâm bồi dưỡng thế hệ trẻ có kiến thức, nắm
vững khoa học công nghệ hiện đại, có tình cảm cách mạng trong sáng, ý chí
vươn lên xây dựng đất nước giàu mạnh.
Cần nắm vững nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin “ Ý thức [...]
không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại của ý thức [...] và tồn tại của
con người là quá trình đời sống hiện thực của con người để vận dụng vào thực
tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay. Muốn ý thức xã hội chủ nghĩa thực sự giữ
vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần nhân dân, phát huy được tính tích cực xã
hội của mỗi người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
hiện nay cần quán triệt tốt đường lối đổi mới của đảng, lấy đổi mới kinh tế làm
trung tâm. Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra
nền tảng vật chất vững chắc để xây dựng đời sống văn hóa tinh thần phong phú
cho nhân dân có giác ngộ xã hội chủ nghĩa có văn hóa khoa học kĩ thuật tri thức
phát triển. Xây dựng nhân tố con người thực sự là nguồn lực phát triển đất nước
bền vững. Chăm lo bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao phẩm
chất nhân cách phát triển toàn diện, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ đức đủ tài để
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Để làm được điều đó, cần gắn với quá trình xây
dựng mọi mặt, tạo môi trường thuận lợi cho xây dựng con người, phát huy cao
nhất tính tích cực xã hội rèn luyện bản lĩnh, nâng cao trình độ khoa học, trình độ
chuyên môn cho mỗi người.
I.1.4. Ý nghĩa phương pháp luận 12
Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng động,
sáng tạo của ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, chủ
nghĩa duy vật biện chứng xây dựng nên nguyên tắc phương pháp luận cơ bản,
chung nhất đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người.
Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng động,
sáng tạo của ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, chủ
nghĩa duy vật biện chứng xây dựng nên nguyên tắc phương pháp luận cơ bản,
chung nhất đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người. Nguyên tắc
đó là: Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách
quan, tôn trọng khách quan, đồng thời phát huy tính năng động chủ quan. Theo
nguyên tắc phương pháp luận này, mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của con
người chỉ có thể đúng đắn, thành công và có hiệu quả tối ưu khi và chỉ khi thực
hiện đồng thời việc xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan với
phát huy tính năng động chủ quan.
Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan là xuất phát từ tính
khách quan của vật chất, có thái độ tôn trọng đối với hiện thực khách quan, mà
căn bản là tôn trọng quy luật, nhận thức và hành động theo quy luật; tôn trọng
vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần của con
người, của xã hội. Điều đó đòi hỏi trong nhận thức và hành động, con người
phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục đích, đề ra đường lối, chủ
trương, chính sách, kế hoạch, biện pháp; phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở,
phương tiện; phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành
lực lượng vật chất để hành động.
Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động,
sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa
tính tích cực, năng động, sáng tạo ấy. Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng
tri thức khoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học và
truyền bá vào quần chúng đề nó trở thành tri thức, niềm tin của quần chúng,
hướng dẫn quần chúng hành động. Mặt khác, phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện để 13
hình thành, củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm, nghị lực cách mạng để
có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng hành động.
I.2. Bản chất của ý thức là sự phản ánh tính năng động sáng tạo của
bộ óc con người về thế giới khách quan
Do không hiểu được nguồn gốc của ý thức mà chủ nghĩa duy tâm đã có
những quan niệm sai lầm về bản chất của ý thức. Chủ nghĩa duy tâm đã cường
điệu vai trò của ý thức một cách thái quá, trừu tượng tới mức thoát li khỏi thế
giới thực tại, biến nó thành một thực thể tồn tại duy nhất và nguồn gốc sinh ra
thế giới vật chất. Ngược lại với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật siêu hình
đã tầm thường hoá vai trò của ý thức. Họ coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật
chất hoặc coi ý thức chỉ là sự phản ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất, tách
rời khỏi thực tiễn xã hội đa dạng, phong phú. Nhưng khi các nhà duy vật biện
chứng xem xét nguồn gốc của ý thức, có thể thấy rõ ý thức có bản tính phản ánh,
sáng tạo và bản chất xã hội.
Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài, là biểu thị nội
dung được lấy từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh.
Bản tính của nó quy định mặt khách quan của ý thức, tức là phải lấy khách quan
để làm tiền đề, bị nó quy định nội dung phản ánh là thế giới khách quan.
Ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động, trong hoạt động sáng tạo cải
biến và thống trị tự nhiên của con người và đã trở thành mặt không thể thiếu của
hoạt động đó. Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện qua:
Ý thức không chụp lại một cách thụ động nguyên xi mà nó gắn liền
với sự cải tiến, quá trình thu thập thông tin gắn liền với quá trình xử lí thông tin.
Ngoài ra ý thức còn thể hiện qua khả năng gián tiếp khái quát thế giứi
khách quan ở quá trình chủ động, tác động vào thế giới. 14
Ngoài ra vì phản ánh đó bao giờ cũng dựa trên hoạt động thực tiễn và
là sản phẩm của các quan hệ xã hội. Là sản phẩm của các quan hệ xã
hội, bản chất ý thức có tính xã hội.
Vậy ý thức chỉ được nảy sinh trong quá trình lao động, hoạt động cải tiến thế
giới của con người. Hoạt động đó không thể là đơn lẻ mà phải là hoạt động xã
hội. Ý thức trước hết là ý thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những
gì đang diễn ra ở thế giới khách quan về mối liên hệ giữa người và người trong
quan hệ xã hội. Do đó ý thức bị chi phối bởi xã hội và các quy luật tồn tại của xã
hội đó. Ý thức của mỗi cá nhân mang trong mình ý thức xã hội, bản tính xã hội
của ý thức cũng thống nhất với bản tính phản ánh trong sáng tạo. Sự thống nhất
đó thể hiện ở tính năng động chủ quan của ý thức, ở quan hệ giữa nhân tố vật
chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thế giới quan của con người.
I.3. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng mà trong đó
vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định
ý thức nhưng không thụ động mà có thể tác động trở lại vật chất qua hoạt động của con người.
Theo Lê-nin thì vật chất là một phạm trù triết học để chỉ thực tại khách quan,
đem đến cho con người trong cảm giác, được cảm giác của con người chép lại,
chụp lại, phản ánh lại và không tồn tại lệ thuộc vào cảm giác.
Đặc điểm của vật chất:
Vật chất tồn tại bằng vận động và thể hiện sự tồn tại thông qua vận động.
Không có vận động ngoài vật chất và không có vật chất không có vận động.
Vật chất vận động trong không gian và thời gian.
Không gian và thời gian là thuộc tính chung vốn có của các dạng vật
chất cụ thể và là hình thức tồn tại của vật chất. 15
Vật chất và ý thức có quan hệ 2 chiều và tác động qua lại lẫn nhau. Mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức được thể hiện qua nhận thức và thực tiễn như sau:
-Thứ nhất: Vật chất có vai trò quyết định ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau,
vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:
Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên
chỉ khi có con người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người với thế
giới vật chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật
chất, là sản phẩm của thế giới vật chất. Kết luận này đã được chứng minh bởi sự
phát triển hết sức lâu dài của khoa học về giới tự nhiên; nó là một bằng chứng
khoa học chứng minh quan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau.
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc
người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh,
lao động, ngôn ngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách
quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản
ảnh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức.
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật
chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất. Sự vận động và phát
triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy
luật xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định. Những yếu tố này
thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết
định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức.
-Thứ hai: Ý thức tác động trở lại vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông
qua hoạt động thực tiễn của con người.
Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến
vai trò của con người. Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì 16
trong hiện thực. Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt
động vật chất. Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai
trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó
trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người
xác định mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương
pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện,… để thực hiện mục tiêu của mình. Ở
đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với vật chất thông qua hoạt
động thực tiễn của con người.
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích
cực hoặc tiêu cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình
cảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với
các quy luật khách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức
trong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo – đó là sự tác
động tích cực của ý thức. Còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng
hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì ngay từ đầu, hướng
hành động của con người đã đi ngược lại các quy luật khách quan, hành động ấy
sẽ có tác dụng tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan.
Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thế
quyết định hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng
hay sai, thành công hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả.Tìm hiểu về vật
chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất, của ý thức có thể
thấy: vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo
ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả năng tác
động trở lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông qua hoạt
động thực tiễn (hoạt động vật chất) của con người. Sức mạnh của ý thức trong sự
tác động này phụ thuộc vào trình độ phản ánh của ý thức, mức độ thâm nhập của
ý thức vào những người hành động, trình độ tổ chức của con người và những 17
điều kiện vật chất, hoàn cảnh vật chất, trong đó con người hành động theo định hướng của ý thức.
Ví dụ: Ý thức có tính độc lập tương đối, tính năng động sáng tạo có thể
tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người, vì vậy
cùng với việc xuất phát từ hiện thực khách quan, cần phát huy tính
năng động chủ quan, tức là phát huy mặt tích cực của ý thức, hạn chế
mặt tiêu cực của ý thức.
Trước khi thực hiện một trận đánh chung ta làm quyết tâm thư; thực
hiện tự phê bình và phê bình; rút ra các nhược điểm để tiến bộ, khắc
phục những mặt tiêu cực. Thực hiện giáo dục nhận thức thông qua các
phong trào, thực tiễn tư tưởng cục bộ địa phương và đạo đức giả. Hay,
giữa vật chất và ý thức chỉ có những mặt đối lập tuyệt đối trong phạm
vi nhận thức luận. Bên ngoài lĩnh vực đó, sự phân biệt là tương đối. Vì
vậy một chính sách đúng đắn là cơ sở để kết hợp hai điều này.
-Thứ ba: Xã hỗi càng phát triển thì vai trò của ý thức càng phát triển
Trong thời đại ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, vai trò của tri thức khoa
học, tư tưởng chính trị, tư tưởng nhân văn là hết sức quan trọng.
Tính năng động, sáng tạo của ý thức mặc dù rất to lớn, nhưng không thể vượt
qua tính quy định của những tiền đề vật chất xác định, phải dựa vào các điều
kiện khách quan và năng lực chủ quan của các chủ thể hoạt động. Nếu quên điều
đó chúng ta sẽ lại rơi vào “ vũng bùn” của chủ nghĩa chủ quan, duy tâm, duy ý
chí, phiêu lưu và khó tránh khỏi thất bại trong thực tiễn.
Ví dụ: Trong thư gửi cho C.Sơmít ngày 27 tháng mười năm 1890 khi
bàn về quan hệ giữa “sự vận động kinh tế” với nhà nước, với pháp
luật, với tư tưởng, Ph.Ăngghen cho rằng sản xuất, xét đến cùng là nhân
tố quyết định. Tuy nhiên, trong những giới hạn nhất định, “quan điểm 18