



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-----🙦 🙦 🕮🙤 🙤---- BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
Chủ đề 3: Cơ sở lý thuyết về bảo hiểm thương mại? Thu thập thông tin, dữ liệu
để phân tích, đánh giá về thực trạng cung cầu tiền tệ và lạm phát ở Việt Nam từ 2020 đến nay?
Giảng viên hướng dẫn : Vũ Xuân Dũng Nguyễn Minh Hiền Nhóm : 12 Lớp học phần : 251_EFIN2811_07 Hà Nội, 2025 1
DANH SÁCH THÀNH VIÊN STT HỌ VÀ TÊN MÃ SINH NHIỆM VỤ ĐÁNH GIÁ CHỮ KÝ VIÊN 1 Ngô Thị Ngọc 23D180159 Nội
dung Hoàn thành nhiệm vụ Huyền chương 1 2 Võ Hương Chi 23D270007
Tổng hợp và lọc Hoàn thành nhiệm vụ, (Nhóm trưởng) nội dung, word đóng góp ý cho nhóm 3 Đinh Thị Sơn 23D270080
Nội dung phần Hoàn thành nhiệm vụ 2.1 4 Nguyễn Thảo Nhi 23D140099 Powerpoint Hoàn thành nhiệm vụ (Thư kí) Thuyết trình 5 Nguyễn Minh 23D2001135
Nội dung phần Hoàn thành nhiệm vụ, Thảo 2.2.5 đóng góp ý cho nhóm 6 Hoàng Minh Quý 23D200031 Nội dung phần Hoàn thành nhiệm vụ 2.2.3 7 Nguyễn Thùy 23D200008 Nội dung phần Hoàn thành nhiệm vụ Linh Chi 2.2.4 8 Nguyễn Linh Chi 21D107005
Nội dung phần Hoàn thành nhiệm vụ 2.2.1 9 Triệu Thị Oanh 24D120083
Nội dung phần Hoàn thành tốt nhiệm 2.2.2 vụ 10 Hoàng Dương 22D121061 Powerpoint Hoàn thành nhiệm vụ Thùy Linh Thuyết trình 11 Trần Phương 22D160230 Nội
dung Hoàn thành nhiệm vụ Thảo chương 1 2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
Lớp học phần: 251_EFIN2811_07
Tên học phần: Nhập môn tài chính - tiền tệ
Thời gian: 22h ngày 11 tháng 10 năm 2025 Tại: Phòng Zoom.
Diễn ra cuộc họp nhằm nghiên cứu, phân chia nhiệm vụ cho chủ đề thảo luận số 3: “Cơ sở
lý thuyết về bảo hiểm thương mại? Thu thập thông tin, dữ liệu để phân tích, đánh giá về
thực trạng cung cầu tiền tệ và lạm phát ở Việt Nam từ
2020 đến nay.”
I. Thành phần tham dự:
Số thành viên tham dự: 11/11
II. Nội dung cuộc họp:
1. Nhóm trưởng thông báo đề tài và đề cương bài thảo luận
2. Các thành viên đóng góp ý kiến và trao đổi liên quan đến bài thảo luận.
3. Nhóm trưởng đưa ra hướng dẫn và lưu ý trong quá trình làm bài.
4. Nhóm trưởng phân chia công việc cho từng thành viên và giao hạn hoàn thành báo cáo.
5. Thư kí ghi nhận lại biên bản cuộc họp. 6. Kết thúc thảo luận
Hà Nội, ngày 11 tháng 10 năm 2025 Nhóm trưởng Thư ký Võ Hương Chi Nguyễn Thảo Nhi 3
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG........................................................................................................... 5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ...................................................................................................... 6
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................................7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT.................................................................................. 8
1.1 Bảo hiểm..................................................................................................................... 8
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm...................................................................... 8
1.1.2 Phân loại bảo hiểm .................................................................................................. 9
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế. ..................................................................10
1.2 Bảo hiểm thương mại................................................................................................. 12
1.2.1 Khái niệm của bảo hiểm thương mại...................................................................... 12
1.2.2 Phân loại các bảo hiểm thương mại........................................................................ 12
1.3 Các yếu tố cơ bản của hợp đồng bảo hiểm thương mại......................................... 14
1.4 Một số nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại........................................ 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI Ở
VIỆT NAM TỪ 2020 ĐẾN NAY........................................................................................17
2.1. Giới thiệu về thị trường BHTM VN........................................................................... 17
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển........................................................................... 17
2.1.2 Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại Việt Nam........................ 18
2.2. Thực trạng phát triển của bảo hiểm thương mại ở Việt Nam................................ 19
2.2.1. Giai đoạn 2020-2021............................................................................................. 19
2.2.1.1 Tổng quan thị trường bảo hiểm năm 2020........................................................ 19
2.2.1.2 Tổng quan thị trường bảo hiểm 2021................................................................ 22
2.2.2. Thực trạng phát triển bảo hiểm thương mại Việt Nam giai đoạn 2022-2023....... 28
2.2.2.1 Tổng quan thị trường bảo hiểm năm 2022......................................................... 28
2.2.2.2 Tổng quan thị trường bảo hiểm năm 2023......................................................... 32
2.2.3. Giai đoạn 2024-nay................................................................................................ 37
2.2.3.1 Tổng quan thị trường bảo hiểm năm 2024......................................................... 37
2.2.3.2 Tổng quan thị trường bảo hiểm những tháng đầu năm 2025............................. 39
2.3. Đánh giá thực trạng phát triển qua các giai đoạn của bảo hiểm Việt Nam........... 43
2.4. Đề xuất một số kiến nghị cho sự phát triển ở Việt Nam........................................... 45
KẾT LUẬN.......................................................................................................................... 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................. 49 4 DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Số lượng các công ty bảo hiểm theo loại hình doanh nghiệp năm 2021.
Bảng 2. Doanh thu phí bảo hiểm và thị phần theo lĩnh vực giai đoạn 2020 – 2021.
Bảng 3. Tình hình khai thác mới của hợp đồng bảo hiểm năm 2020 – 2021.
Bảng 4. Số lượng các công ty bảo hiểm theo loại hình doanh nghiệp năm 2022.
Bảng 5. Doanh thu phí bảo hiểm và thị phần theo lĩnh vực giai đoạn 2021 – 2022.
Bảng 6. Tình hình khai thác mới của hợp đồng bảo hiểm năm 2021 – 2022.
Bảng 7. Số lượng các công ty bảo hiểm theo loại hình doanh nghiệp năm 2023.
Bảng 8. Doanh thu phí bảo hiểm và thị phần theo lĩnh vực giai đoạn 2022 – 2023.
Bảng 9. Tình hình khai thác mới của hợp đồng bảo hiểm năm 2022 – 2023. 5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 1. Thị phần doanh thu phí bảo hiểm năm 2021.
Biểu 2. Doanh thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ giai đoạn 2020 – 2021.
Biểu 3. Cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ năm 2021.
Biểu 4. Phí bảo hiểm khai thác mới của các hợp đồng bảo hiểm theo nghiệp vụ năm 2021.
Biểu 5. Thị phần doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ năm 2021.
Biểu 6. Phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới năm 2020-2021.
Biểu 7. Tỷ trọng phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới năm 2021.
Biểu 8. Thị phần doanh thu phí bảo hiểm năm 2022.
Biểu 9. Doanh thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ giai đoạn 2021 – 2022.
Biểu 10. Cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ năm 2022 .
Biểu 11. Phí bảo hiểm khai thác mới của các hợp đồng bảo hiểm theo nghiệp vụ năm 2022.
Biểu 12. Thị phần doanh thu phí bảo hiểm năm 2023.
Biểu 13. Cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ năm 2023.
Biểu 14. Doanh thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ giai đoạn 2022-2023.
Biểu 15. Thị phần doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới của các doanh nghiệp
bảo hiểm nhân thọ năm 2023.
Biểu 16. Thị phần doanh thu phí bảo hiểm gốc của Qúy I/2024.
Biểu đồ doanh thu phí bảo hiểm gốc của thị trường phi nhân thọ 06 tháng năm 2025.
Biểu đồ thị phần theo doanh thu phí bảo hiểm gốc 06 tháng năm 2025.
Biểu đồ tỷ trọng doanh thu theo nghiệp vụ bảo hiểm 06 tháng năm 2025.
Biểu đồ doanh thu khai thác mới 06 tháng đầu năm 2025.
Biểu đồ tỷ trọng hợp đồng khai thác mới theo nghiệp vụ 06 tháng đầu năm 2025. 6 LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, bảo
hiểm thương mại đã trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống tài chính – tiền tệ,
góp phần đảm bảo an toàn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và ổn định đời sống
xã hội. Sự phát triển của bảo hiểm không chỉ giúp các cá nhân, tổ chức chủ động ứng
phó với rủi ro mà còn tạo nguồn vốn lớn phục vụ đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trường bảo
hiểm thương mại Việt Nam đang chứng kiến sự mở rộng mạnh mẽ cả về quy mô lẫn
chất lượng dịch vụ. Các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và quốc tế tham gia ngày
càng nhiều, tạo nên môi trường cạnh tranh năng động, thúc đẩy sự sáng tạo trong thiết
kế sản phẩm và đổi mới phương thức kinh doanh. Đồng thời, nhu cầu bảo vệ tài chính
của người dân và doanh nghiệp cũng ngày càng đa dạng, mở ra tiềm năng phát triển lớn cho ngành bảo hiểm.
Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đạt được, thị trường bảo hiểm thương mại Việt
Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức như: nhận thức của người dân về bảo hiểm
còn hạn chế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chưa đồng đều, cơ chế quản lý –
giám sát cần tiếp tục hoàn thiện.
Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu về thực trạng hoạt động bảo hiểm thương
mại tại Việt Nam là cần thiết nhằm nhìn nhận toàn diện hơn về quá trình phát triển của
ngành, đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra các tồn tại, hạn chế, và đề xuất giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường bảo hiểm trong thời gian tới. 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT. 1.1. Bảo hiểm
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm. * Khái niệm:
Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá
trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ, bảo hiểm nhằm đảm bảo cho quá trình tái
sản xuất và đời sống của con người trong xã hội được ổn định và phát triển bình thường
trong điều kiện có những biến cố bất lợi xảy ra.
* Đặc điểm của bảo hiểm:
- Bảo hiểm là một hình thức dự trữ tài chính nhằm bù đắp và khắc phục những tổn
thất thiệt hại đối với sản xuất kinh doanh và đời sống con người khi những biến cố bất lợi xảy ra.
Cũng như các quỹ tiền tệ khác, quỹ bảo hiểm được tạo lập thông qua quá trình phân
phối của cải xã hội dưới hình thái giá trị, việc tạo lập quý có thể dưới nhiều hình thức
khác nhau như bắt buộc hay tự nguyện, tự bảo hiểm hay bảo hiểm thông qua một tổ chức
bảo hiểm,... nhưng tất cả đều xuất phát từ nhu cầu cần được đảm bảo an toàn trong quá
trình sản xuất kinh doanh và đời sống của con người trước những tác động của rủi ro.
Sản phẩm bảo hiểm là sự đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo
hiểm. Để bảo vệ mình, người tham gia bảo hiểm nộp phí cho người bảo hiểm để đổi lấy
lời hứa hay cam kết của người bảo hiểm là sẽ trả tiền bảo hiểm khi rủi ro xảy ra. Trong
hoạt động bảo hiểm, các tổ chức bảo hiểm nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo
hiểm đóng góp và sau đó mới thực hiện nghĩa vụ với bên được bảo hiểm khi sự cố bảo
hiểm xảy ra. Như vậy, với dịch vụ là sản phẩm được bán ra trước, sau đó mới phát sinh
chi phí bồi thường, chi trả bảo hiểm.
- Bảo hiểm vừa mang tính chất bồi hoàn vừa mang tính chất không bồi hoàn.
Trong thời gian được bảo hiểm, nếu rủi ro không xảy ra hoặc có xảy nhưng không
gây thiệt hại ảnh hưởng đến đối tượng bảo hiểm thì người bảo hiểm không phải bồi
thường hay trả tiền cho bên mua bảo hiểm. Ngược lại, nếu xảy ra sự cố, đối tượng bảo
hiểm bị thiệt hại hoặc bị ảnh hưởng thì bên mua bảo hiểm sẽ được chi trả, bồi thường.
Như vậy, quan hệ giữa tổ chức bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm trên thị trường vừa
mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi hoàn. Đặc điểm này đã tạo ra 8
tính nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm, nguồn tài chính này thường được các công ty bảo hiểm
sử dụng để đầu tư nhằm bảo toàn và phát triển quỹ bảo hiểm. Tính bồi hoàn của bảo
hiểm có tính chất bất ngờ cả về không gian, thời gian và quy mô. Chính vì vậy, trong
quá trình hoạt động, các tổ chức bảo hiểm phải xây dựng các quỹ dự phòng đề đảm bảo
trong mọi tình huống đều có thể thực hiện được các cam kết của mình trước những người
tham gia bảo hiểm khi các sự cố bảo hiểm xảy ra.
1.1.2. Phân loại bảo hiểm.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động bảo hiểm ngày càng đa dạng, phong
phú. Dựa trên các tiêu thức phân loại khác nhau, có nhiều hình thức bảo hiểm khác nhau.
* Căn cứ vào phương thức xử lý rủi ro:
Theo tiêu thức này, hoạt động bảo hiểm được chia thành các hoạt động tự bảo hiểm
và bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm
- Tự bảo hiểm: Là hình thức bảo hiểm mà các tổ chức, cá nhân thành lập các quỹ
riêng để bù đắp các tổn thất có thể xảy ra đối với quá trình sản xuất và đời sống của
mình. Việc tự bảo hiểm cho mình thường được thực hiện khi họ có đủ khả năng tài chính.
Trong thực tế, hình thức tự bảo hiểm được biểu hiện thông qua việc tạo lập và sử dụng
quỹ dự trữ tập trung của nhà nước, quỹ dự phòng của các doanh nghiệp, quỹ dự trữ của các hộ gia đình...
- Bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm: Là hình thức bảo hiểm mà người tham
gia bảo hiểm sẽ chuyển giao, phân tán rủi ro cho các tổ chức bảo hiểm mà bản thân họ
không muốn hoặc không đủ khả năng để gánh chịu rủi ro đó thông qua việc trích nộp
một phần thu nhập của mình cho các tổ chức bảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm. Các tổ
chức bảo hiểm hoạt động chuyên nghiệp trong phân tích rủi ro, ước lượng mức độ rủi
ro và phân tán rủi ro, đồng thời họ còn có trách nhiệm trong việc bảo toàn và tăng trưởng
quỹ để sử dụng chúng cho các mục tiêu dự phòng tài chính và khắc phục hậu quả của
rủi ro, cho nên hình thức bảo hiểm này được xem là hình thức bảo hiểm hoạt động có
hiệu quả trên mọi phương diện của nền kinh tế. Trong thực tế, hình thức bảo hiểm này
được biểu hiện thông qua các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp như các công ty bảo
hiểm, tập đoàn bảo hiểm và tổ chức bảo hiểm xã hội. 9
* Căn cứ vào mục đích hoạt động:
Theo tiêu thức này, hoạt động bảo hiểm được chia thành bảo hiểm có mục đích kinh
doanh và bảo hiểm không có mục đích kinh doanh.
- Bảo hiểm có mục đích kinh doanh: Là hình thức bảo hiểm do các chủ thể tiến hành
nhằm mục tiêu lợi nhuận. Chính vì mục đích hoạt động của loại hình bảo hiểm này mà
nó có các tên gọi khác nhau như: bảo hiểm kinh doanh, bảo hiểm thương mại hay bảo
hiểm rủi ro. Người bảo hiểm tìm kiếm lợi ích kinh tế trên cơ sở thu phí bảo hiểm và cam
kết thực hiện bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự
kiện bảo hiểm thông qua một hợp đồng bảo hiểm.
- Bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh: Là hình thức bảo hiểm do các chủ thể tiến
hành không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Mục đích chủ yêu của loại hình bảo hiểm này là
nhằm tương hỗ giữa các thành viên tham gia. Với tư cách là tổ chức quản lý quỹ xã hội,
quỹ tài chính tập trung, bảo hiểm xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mà phục
vụ cho chính sách xã hội, vì mục đích và quyền lợi của người lao động có tham gia bảo
hiểm xã hội. Cũng dựa trên nguyên tắc đó, việc hình thành và sử dụng quỹ dự trữ tập
trung của Nhà nước, các quỹ tương hỗ, quỹ dự trữ trong các doa tri nghiệp, các gia đình
phục vụ cho mục tiêu an toàn, ổn định sự phát triển của nền kinh tê, của từng doanh
nghiệp, từng hộ gia đình hay cá nhân cũng là những hình thức bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh.
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế.
- Bảo hiểm góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống con người.
Trong bảo hiểm kinh doanh, khi các tổ chức bảo hiểm gặp phải những rủi ro, trách
nhiệm chi trả, bồi thường cho người được bảo hiểm là yêu cầu bắt buộc đối với người
bảo hiểm. Nhờ vào những khoản chi trả, bồi thường này mà các cơ sở sản xuất kinh
doanh có thể xây dựng lại cơ sở vật chất, mua lại các máy móc thiết bị đã bị hư hỏng,
mất mát,... để có thể tiếp tục hoạt động. Trong bảo hiểm xã hội, nhờ vào các khoản trợ
cấp, bồi thường trong trường hợp ốm đau, tai nạn, không còn khả năng lao động hay mất
việc làm... mà người lao động có thể khắc phục khó khăn, ổn định đời sống, đồng thời
góp phần giảm bớt gánh nặng về mặt tài chính cho tổ chức sử dụng lao động. Trong
trường hợp người lao động bị chết, thân nhân của họ sẽ nhận được một khoản tiền hỗ
trợ từ tổ chức bảo hiểm xã hội. Khi về hưu tổ chức bảo hiểm xã hội sẽ chi trả lương hưu 10
và hỗ trợ các chi phí y tê, chăm sóc sức khỏe,... Trong mọi hoạt động bảo hiểm người
tham gia bảo hiểm có thể khắc phục kịp thời những tổn thất vật chất do rủi ro tai nạn
ngày ra một cách nhanh chóng nhất, sớm hồi phục sức khỏe, ổn định đời sông để tiếp
tục quá trình học tập, lao động, sinh hoạt bình thường. Do vậy, bảo hiểm đã góp phần
ổn định sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống của người tham gia bảo hiểm.
- Bảo hiểm góp phần phòng tránh, hạn chế rủi ro tổn thất.
Đứng trên góc độ lợi ích của các tổ chức bảo hiểm, việc tổ chức tốt các biện pháp đề
phòng, hạn chế tổn thất có hiệu quả sẽ giảm được khoản chi phí bồi thường, trả tiền bảo
hiểm, đảm bảo an toàn cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đứng trên góc độ
người tham gia bảo hiểm, ngoài trách nhiệm phải đóng góp đầy đủ phí bảo hiểm, họ còn
phải thực hiện tốt trách nhiệm đề phòng hạn chế tổn thất, thông báo tình hình và diễn
biến tai nạn, tổn thất đề có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Đối với bảo hiểm xã hội và
bảo hiểm y tế, các tổ chức quản lý phải thường xuyên kiểm tra an toàn trong các doanh
nghiệp nhằm phòng tránh tai nạn xảy ra. Tổ chức bảo hiểm xã hội còn hỗ trợ các đơn vị
sử dụng lao động thực hiện các biện pháp an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp, xây
dựng các trại điều dưỡng nghỉ ngơi để cải thiện, nâng cao sức khỏe cho người lao động.
Về phía Nhà nước, đảm bảo ổn định phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân
dân là nhiệm vụ của bất cứ Nhà nước nào, vì vậy, việc hình thành và phát triển các hình
thức bảo hiểm là những giải pháp tích cực giúp cho Nhà nước giảm được nguồn kinh
phí dành để đầu tư cho các mục tiêu khác, đồng thời vẫn đảm bảo được mục tiêu về phát
triển kinh tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân.
- Bảo hiểm góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế - xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm không chỉ là tấm lá chắn kinh tế cho quá trình
sản xuất kinh doanh và đời sống của con người trước những rủi ro, mà nó còn hoạt động
với tư cách là các tổ chức tài chính trung gian để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Các
tổ chức bảo hiểm thường sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hình thành từ thu phí
bảo hiểm của mình để đầu tư, chính vì vậy mà các tô chức bảo hiểm được coi là một
định chế tài chính trung gian, bên cạnh các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính,
... Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cũng góp phần tạo ra một nguồn vốn quan trọng
thông qua việc thu phí bảo hiểm từ người lao động và người sử dụng lao động. Khi chưa
sử dụng đến, phần quỹ này sẽ được đầu tư trên thị trường tài chính, nhằm bảo toàn và 11
phát triển quỹ. Quỹ bảo hiểm xã hội còn là một nguồn tiết kiệm quan trọng, tiết kiệm từ
bảo hiểm xã hội là chênh lệch giữa thu và chi bảo hiểm xã hội, góp phần quan trọng vào
tiết kiệm của mỗi quốc gia.
1.2. Bảo hiểm thương mại
1.2.1. Khái niệm của bảo hiểm thương mại.
Bảo hiểm thương mại (hay còn gọi là bảo hiểm kinh doanh hoặc bảo hiểm rủi ro),
thường đo các tổ chức hình thành, quản lý và sử dụng quỹ, về thực chất đây là một biện
pháp kinh tế nhằm tạo lập nguồn tài chính cho mục đích bù đắp những tổn thất vật chất
và trả tiền bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro bất ngờ.
Bảo hiểm thương mại có thể hiểu là hình thức bảo hiểm do các tổ chức kinh doanh
bảo hiểm tiến hành trên cơ sở huy động sự đóng góp của các chủ thể để tạo lập quỹ bảo
hiểm, phân phối và sử dụng chúng để trả tiền bảo hiểm, bồi thường tổn thất cho các đối
tượng được bảo hiểm khi khác rủi ro được bảo hiểm xảy ra.
1.2.2. Phân loại các bảo hiểm thương mại.
* Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm:
- Bảo hiểm tài sản: Là hình thức bảo hiểm có lịch sử phát triển lâu đời. Đây là loại
hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là giá trị của cải vật chất thuộc mọi hình thức sở
hữu. Mục đích của loại bảo hiểm này là nhằm thỏa mãn nhu cầu bồi thường, chi trả vật
chất cho người tham gia bảo hiểm khi xảy ra các sự cố bất ngờ như: thiên tai, hỏa hoạn,
trộm cắp làm cho tài sản của họ bị hư hỏng, mất mát hoặc bị tiêu hủy toàn bộ. Mức tiền
bồi thường cho người tham gia bảo hiểm cao hay thấp tùy thuộc vào tính chất của từng
loại tài sản được bảo hiểm, phương thức bảo hiểm và mức độ thiệt hại thực tế. Bảo hiểm
tài sản thường được triển khai thành các nghiệp vụ: Bảo hiểm ô tô, xe máy (thân xe),
bảo hiểm máy bay (thân và tài sản trên máy bay), bảo hiểm tàu thuỷ (thân và tài sản trên
tàu), bảo hiểm vận chuyển hàng hóa nội địa và xuất nhập khẩu, bảo hiểm tài sản cá nhân và doanh nghiệp, …
- Bảo hiểm con người (còn gọi là bảo hiểm thân thể): Đây là hình thức bảo hiểm có
đối tượng bảo hiểm là sức khỏe, khả năng lao động và tính mạng của con người. Mục
đích của loại hình bảo hiểm này là nhằm thỏa mãn nhu cầu chi trả về vật chất cho người
tham gia bảo hiểm khi gặp phải những sự cố bất ngờ làm mất khả năng lao động, thiệt
hại về mặt sức khỏe, hay bị chết,... Bảo hiểm con người không chỉ có tác dụng phòng 12
ngừa, hạn chế và khắc phục kịp thời hậu quả nặng nề do hiểm họa bất ngờ gây ra cho
bản thân con người, đảm bảo cho đời sống con người ổn định, mà còn thể hiện tinh thần
nhân đạo, tính cộng đồng trong phòng ngừa khắc phục rủi ro. Bảo hiểm con người có
thể được triển khai dưới các hình thức: bảo hiểm tai nạn học sinh, sinh viên, bảo hiểm
tai nạn hành khách, bảo hiểm tai nạn lao động,...
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Là hình thức bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là
phần nghĩa vụ hay trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm. Mục đích của bảo
hiểm trách nhiệm dân sự là nhằm giải phóng người tham gia bảo hiểm thoát khỏi yêu
cầu phải bồi thường tổn thất cho người khác do hành vi hoạt động của người tham gia
bảo hiểm gây ra. Hiện nay loại hình bảo hiểm này được triển khai đưới các hình thức:
bảo hiểm trách nhiệm dân sự của lái xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ
hãng hàng không, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ doanh nghiệp.
* Căn cứ vào tính chất hoạt động:
- Bảo hiểm bắt buộc: Là hình thức bảo hiểm được pháp luật Nhà nước qui định bắt
buộc đối với cả người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Mục đích của bảo hiểm
bắt buộc là nhằm hạn chế, phòng ngừa những rủi ro làm tổn hại đến tài sản và đời sống
của người tham gia bảo hiểm và của cả cộng đồng. Hình thức bảo hiểm này được tiến
hành theo quy định của pháp luật, các sản phẩm bảo hiểm thuộc hình thức này đều có
trong quy định bắt buộc phải bảo hiểm. Thông thường các sản phẩm bảo hiểm này được
thiết lập trên nguyên tắc trách nhiệm tự động như khi hành khách mua vé tàu, vé xe, vé
máy bay thì trong giá vé đã có cả phí bảo hiểm. Hành khách không được quyền lựa chọn
có tham gia bảo hiểm hay không. Ngoài ra, loại hình bảo hiểm này còn gắn với vai trò
quản lý Nhà nước vì nó liên quan đến lợi ích và an toàn chung của cả xã hội.
- Bảo hiểm tự nguyện: Là loại hình bảo hiểm dựa trên nguyên tắc thỏa thuận giữa
người tham gia bảo hiểm và người bảo hiểm. Khác với hình thức bảo hiểm bắt buộc,
hình thức bảo hiểm tự nguyện do người tham gia bảo hiểm và người bảo hiểm tự lựa
chọn và đi đến ký kết hợp đồng bảo hiểm. Người tham gia bảo hiểm có tham gia bảo
hiểm hay không phụ thuộc vào nhu cầu và khả năng tài chính của mình. Tổ chức bảo
hiểm có nhận bảo hiểm hay không tùy thuộc vào khả năng bảo hiểm có hiệu quả hay
không. Hình thức bảo hiểm này chỉ có hiệu lực khi hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết
và người tham gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm. 13
1.3 Các yếu tố cơ bản của hợp đồng bảo hiểm thương mại.
a) Các bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm:
- Người bảo hiểm: Là tổ chức hay pháp nhân đứng ra tạo lập hay điều khiển quá trình
huy động và sử dụng quỹ bảo hiểm được pháp luật công nhận. Thông thường, người bảo
hiểm chính là công ty bảo hiểm.
- Người tham gia bảo hiểm: Là tổ chức hay pháp nhân tham gia đóng phí bảo hiểm.
- Người được bảo hiểm: Là người mà vì sức khỏe, khả năng lao động, tính mạng của
người đó khiến người tham gia bảo hiểm ký kết hợp.
- Người được chỉ định hưởng bồi thường bảo hiểm: Là người được tham gia bảo hiểm
chỉ định bằng văn bản sẽ được hưởng bồi thường bảo hiểm khi xảy ra rủi ro hoặc được
bồi thường bảo hiểm khi người tham gia bảo hiểm bị chết theo quy định của pháp luật.
b) Đối tượng bảo hiểm: Là những đối tượng mà người tham gia bảo hiểm yêu cầu
bảo hiểm hoặc do pháp luật quy định bắt buộc phải bảo hiểm. Đối tượng bảo hiểm có
thể là sức khỏe, tính mạng con người, giá trị tài sản và trách nhiệm dân sự.
c) Rủi ro bảo hiểm và tai nạn bảo hiểm:
- Rủi ro bảo hiểm: Là mức độ hay khả năng xảy ra sự cố bảo hiểm, tức là một hoặc
nhiều sự cố dự tính trong các điều kiện bảo hiểm mà khi những sự cố này xảy ra thì
người bảo hiểm bắt buộc phải trả tiền bồi thường tổn thất cho người tham gia bảo hiểm.
- Tai nạn bảo hiểm: Là sự cố bảo hiểm đã xảy ra kéo theo trách nhiệm của người bảo
hiểm phải bồi thường tổn thất cho người tham gia bảo hiểm.
d) Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm:
- Giá trị bảo hiểm: Là giá trị tài sản được bảo hiểm tại thời điểm kí hợp đồng bảo hiểm.
- Số tiền bảo hiểm: Là số tiền tính cho từng đối tượng bảo hiểm mà trong giới hạn đó
người bảo hiểm phải tiến hành trả tiền bồi thường tổn thất khi tai nạn bảo hiểm xảy ra
đối với người tham gia bảo hiểm (Số tiền bảo hiểm là số tiền tối đa người tham gia bảo
hiểm được nhận khi xảy ra sự cố bảo hiểm. Tùy vào mức độ tổn thất thực tế mà người
ta bồi thường theo một tỷ lệ phù hợp trong số tiền bảo hiểm tối đa). Mức độ tổn thất bảo
hiểm sẽ được xác định theo giá trị bảo hiểm.
e) Phí bảo hiểm: Là số tiền mà người tham gia bảo hiểm phải đóng góp cho người
bảo hiểm về các đối tượng được bảo hiểm. 14
1.4. Một số nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại.
Hoạt động của bảo hiểm thương mại do các tổ chức tiến hành nhằm mục tiêu lợi
nhuận. Tuy nhiên, đây là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt nên ngoài những nguyên tắc
chung áp dụng cho doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh bảo hiểm cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc sàng lọc rủi ro:
Đối với tổ chức bảo hiểm không phải bất cứ rủi ro nào cũng có thế chấp nhận bảo
hiểm, bởi vì những rủi ro này sẽ liên quan đến số tiền mà tổ chức bảo hiểm có thể phải
chi trả trong tương lai. Do đó, tổ chức bảo hiểm cố gắng sàng lọc những rủi ro nghiêm
trọng, từ đó có những phương thức tập hợp thông tin có hiệu quả có tác dụng rất quan
trọng đối với người bảo hiểm.
Thông thường, các tổ chức bảo hiểm tiến hành xác định những rủi ro nào cần phải
loại trừ ra khỏi phạm vi bảo hiểm, những rủi ro nào có thể chấp nhận bảo hiểm. Trong
các trường hợp chấp nhận đó cũng phải có sự phân nhóm để thực hiện các hình thức bảo
hiểm phù hợp, trên cơ sở đó mới có thể xác định phí bảo hiểm và trả tiền bảo hiểm một cách hợp lý.
- Nguyên tắc định phí bảo hiểm phải trên cơ sở "giá" của các rủi ro:
Các rủi ro rất đa dạng, những tác hại của nó đối với quá trình sản xuất kinh doanh và
đời sống con người cũng rất khác nhau. Vì vậy, các tổ chức bảo hiểm phải trên cơ sở giá
các rủi ro để định phí mới đảm bảo sự công bằng đối với người tham gia bảo hiểm. Trên
cơ sở của khoa học thống kê số lớn, nếu một rủi ro có xác suất xảy ra lớn, thiệt hại nhiều
thì người nào muốn tham gia bảo hiểm cho những rủi ro đó sẽ phải trả phí cao và ngược
lại những rủi ro có xác suất xảy ra thấp, thiệt hại ít thì người tham gia bảo hiểm sẽ phải nộp phí thấp.
- Nguyên tắc đảm bảo an toàn:
Trong hoạt động bảo hiểm thương mại, tổ chức bảo hiểm luôn là con nợ đổi với những
người tham gia bảo hiểm, cho nên vấn đề an toàn tài chính của tổ chức bảo hiểm luôn
được đặt lên hàng đầu. Do đó, trong quản lý bảo hiểm người bảo hiểm phải thận trọng
ngay từ khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, như đánh giá rủi ro bảo hiểm, các điều kiện chấp
nhận bảo hiểm... để tránh các trường hợp gian lận, cũng như bất cẩn của người tham gia bảo hiểm. 15
Mặt khác, trong hoạt động đầu tư, nguyên tắc đảm bảo an toàn cũng được các tổ chức
bảo hiểm quan tâm thực hiện nhằm bảo toàn và phát triển quỹ bảo hiểm đảm bảo khả
năng chi trả trong tương lai.
- Nguyên tắc lấy số đông bù số ít:
Đây cũng là một nguyên tắc rất quan trọng, vì nếu chỉ có số ít người tham gia bảo
hiểm thì không thể tổ chức hoạt động bảo hiểm được. Phải huy động sự tham gia của
nhiều người, họ cùng đóng phí, với những mức đóng góp có thể chấp nhận được để bù
đắp tổn thất của một số ít người gặp rủi ro. Những người này sẽ nhận được những khoản
tiền bồi thường khá lớn so với khoản phí bảo hiểm đã đóng. Đây cũng là sự hấp dẫn đối
với người tham gia bảo hiểm, bên cạnh lý do về sự đe dọa của những rủi ro đối với cuộc
sống của họ khiến họ đến với tổ chức bảo hiểm. Vì rằng với số phí thấp nộp cho tổ chức
bảo hiểm, họ sẽ là chủ nợ đối với tổ chức bảo hiểm với cam kết sẽ hoàn trả một số tiền
bồi thường rất lớn khi rủi ro tổn thất xảy ra. 16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI Ở
VIỆT NAM TỪ 2020 ĐẾN NAY.
2.1. Giới thiệu về thị trường BHTM VN.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển.
Bảo hiểm thương mại ở Việt Nam ra đời khá muộn so với sự phát triển chung của
ngành bảo hiểm thế giới. Tuy nhiên, hiện nay, ngành bảo hiểm ở Việt Nam đang dần bắt
kịp xu thế phát triển chung của bảo hiểm trong khu vực và quốc tế và ngày càng chứng
tỏ vai trò không thể thiếu được của mình đối với nền kinh tế.
Ở Việt Nam, hoạt động bảo hiểm thương mại chỉ thực sự bắt đầu khi có sự ra đời của
Bảo Việt, để đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt động ngoại thương, ngày
17/12/1964, thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập công ty Bảo hiểm Việt Nam,
gọi tắt là Bảo Việt. Đến ngày 15/01/1965, Bảo Việt chính thức đi vào hoạt động, đây
cũng là công ty bảo hiểm nhà nước duy nhất đại diện cho ngành bảo hiểm Việt Nam.
Bảo Việt độc quyền kinh doanh bảo hiểm nên các sản phẩm của Bảo Việt chưa đa dạng,
chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ với khoảng 20 sản phẩm bảo
hiểm. Có thể nói, thời gian này, hoạt động bảo hiểm của nước ta vẫn chưa phát triển.
Ngày 18/12/1993, nghị định 100/1993/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động kinh
doanh bảo hiểm đã được Chính phủ ban hành, mở ra bước phát triển mới cho ngành bảo
hiểm Việt Nam. Mặc dù vậy, phải từ sau năm 1995, một loạt các công ty kinh doanh bảo
hiểm mới ra đời: Bảo Mình, VINARE, PVI, PJICO…. và các công ty liên doanh bảo
hiểm như: UJC, VIA, … Tính đến cuối năm 2010, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có
trên 30 công ty bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ trong nước và nước ngoài
hoạt động. Việc mở cửa thị trường bảo hiểm cũng như sự xuất hiện của các công ty mới
đã tạo điều kiện cho bảo hiểm thương mại của Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong một
môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Các công ty liên tục hoàn thiện những sản
phẩm, đồng thời nghiên cứu và giới thiệu những loại hình nghiệp vụ bảo hiểm mới đa
dạng và hấp dẫn. Trong tương lai, nhu cầu bảo hiểm sẽ ngày càng đa dạng hơn về số
lượng, chủng loại sản phẩm. Bảo hiểm Việt Nam được đánh giá là một thị trường vẫn
đang rất giàu tiềm năng phát triển. 17
2.1.2. Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại Việt Nam.
Các hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm thương mại bao gồm các nghiệp vụ cốt
lõi và các hoạt động bổ trợ để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh. Những hoạt
động này chịu sự điều chỉnh của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia và
sự an toàn của hệ thống tài chính.
a. Các hoạt động nghiệp vụ chính:
- Kinh doanh bảo hiểm: Đây là hoạt động cốt lõi, nơi doanh nghiệp bảo hiểm nhận
phí từ khách hàng (bên mua bảo hiểm) để đổi lại việc cam kết bồi thường hoặc trả tiền
bảo hiểm khi xảy ra sự kiện được bảo hiểm. Các nghiệp vụ này bao gồm bảo hiểm nhân
thọ (như bảo hiểm trọn đời, tử kỳ, hưu trí...) và bảo hiểm phi nhân thọ (như bảo hiểm xe
cơ giới, bảo hiểm cháy, nổ, bảo hiểm tài sản...).
- Kinh doanh tái bảo hiểm: Khi một rủi ro có giá trị quá lớn, doanh nghiệp bảo hiểm
ban đầu sẽ nhượng lại một phần rủi ro đó cho một doanh nghiệp bảo hiểm khác (công
ty tái bảo hiểm) để phân tán rủi ro và giảm bớt gánh nặng tài chính nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra.
b. Đề phòng và hạn chế rủi ro:
Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện các hoạt động nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra
rủi ro và hạn chế thiệt hại khi rủi ro đã xảy ra.
Ví dụ: Đầu tư vào các chương trình nâng cao ý thức an toàn, cung cấp tài liệu hướng
dẫn về phòng cháy chữa cháy, hoặc yêu cầu lắp đặt các thiết bị an toàn cần thiết trước khi ký hợp đồng.
c. Giám định tổn thất và bồi thường:
Khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tiến hành giám định để
xác định mức độ và nguyên nhân của tổn thất.
Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ chi trả tiền bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho
người thụ hưởng theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng. Hoạt động này phải
tuân thủ các quy định của pháp luật và hợp đồng một cách minh bạch.
d. Quản lý quỹ và đầu tư vốn:
Doanh nghiệp bảo hiểm thu phí từ hàng triệu khách hàng, tạo nên một quỹ tài chính lớn. 18
Để sinh lời và đảm bảo khả năng thanh toán, doanh nghiệp sẽ đầu tư số vốn này vào
các kênh an toàn và hiệu quả như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu, bất động sản hoặc gửi tiết kiệm.
Hoạt động đầu tư vốn giúp tăng cường nguồn lực tài chính, đồng thời tạo thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
e. Các hoạt động bổ trợ khác:
Marketing và bán hàng: Doanh nghiệp bảo hiểm tiếp cận khách hàng thông qua đội
ngũ đại lý, kênh phân phối trực tuyến hoặc các đối tác liên kết để giới thiệu và bán các sản phẩm bảo hiểm.
Dịch vụ hỗ trợ khách hàng: Hỗ trợ khách hàng trong suốt quá trình tham gia bảo hiểm,
từ tư vấn sản phẩm, giải đáp thắc mắc, cho đến việc giải quyết các khiếu nại.
Quản trị doanh nghiệp: Bao gồm các hoạt động quản lý nhân sự, kế toán, tài chính và
tuân thủ pháp luật để đảm bảo doanh nghiệp vận hành trơn tru và hiệu quả.
2.2. Thực trạng phát triển của bảo hiểm thương mại ở Việt Nam.
2.2.1. Giai đoạn 2020-2021.
Giai đoạn 2020 - 2021 là khoảng thời gian ngành bảo hiểm Việt Nam phải ứng phó
với cú sốc lớn do đại dịch COVID-19, đồng thời tận dụng các cơ hội từ hồi phục kinh
tế và chuyển đổi số trong phân phối sản phẩm. Mục tiêu phần này là mô tả quy mô, cơ
cấu, diễn biến và những nhân tố chính ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm thương mại trong hai năm này.
2.2.1.1 Tổng quan thị trường bảo hiểm năm 2020.
Năm 2020 là một năm của những khó khăn và thách thức lớn về kinh tế, thương mại
của tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam do sự bùng phát và lan rộng
toàn cầu của dịch Covid-19. Trong bối cảnh đó, cơ chế, chính sách trong lĩnh vực bảo
hiểm tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh
doanh bảo hiểm, tăng cường công tác quản lý tài chính, quản trị doanh nghiệp và đơn
giản hoá thủ tục hành chính,… đã giúp cho các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đứng vững trước những khó khăn do ảnh
hưởng của đại dịch Covid-19. 19
Tính đến 31/12/2020, thị trường bảo hiểm có 69 doanh nghiệp KDBH (trong đó có
31 DNBH phi nhân thọ, 18 DNBH nhân thọ, 02 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 18
DNMGBH) và 01 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài.
- Tổng tài sản năm 2020 ước đạt 556.669 tỷ đồng (tăng 20,4% so với năm 2019),
trong đó, các DNBH phi nhân thọ ước đạt 100.215 tỷ đồng, các DNBH nhân thọ ước đạt 456.454 tỷ đồng.
- Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của các DNBH năm 2020 ước đạt 457.982 tỷ
đồng (tăng 21,1% so với năm 2019), trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 48.833
tỷ đồng; các DNBH nhân thọ ước đạt 409.149 tỷ đồng.
- Tổng dự phòng nghiệp vụ của các DNBH năm 2020 ước đạt 352.318 tỷ đồng (tăng
20,7% so với năm 2019), trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 24.203 tỷ đồng, các
DNBH nhân thọ ước đạt 328.115 tỷ đồng.
- Tổng doanh thu phí năm 2020 ước đạt 182.654 tỷ đồng (tăng 14,1% so với cùng kỳ
năm trước), trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 55.094 tỷ đồng (tăng 3,2% so với
năm 2019), các DNBH nhân thọ ước đạt 127.560 tỷ đồng (tăng 19,6% so với năm 2019).
- Tổng nguồn vốn chủ sở hữu năm 2020 ước đạt 115.945 tỷ đồng (tăng 21,5% so với
năm 2019), trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 33.457 tỷ đồng, các DNBH nhân
thọ ước đạt 82.488 tỷ đồng.
- Tổng số tiền bồi thường và trả tiền bảo hiểm năm 2020 ước là 45.675 tỷ đồng (tăng
4,1% so với năm 2019), trong đó các DNBH phi nhân thọ ước đạt 20.560 tỷ đồng, các
DNBH nhân thọ ước đạt 25.115 tỷ đồng.
- Tổng phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới năm 2020 ước đạt 9.679 tỷ đồng (tăng 16%
so với năm 2019). Tổng hoa hồng môi giới bảo hiểm năm 2020 ước đạt 880 tỷ đồng
(tăng 17,8% so với năm 2019).
a. Bảo hiểm phi nhân thọ.
Tính đến ngày 31/12/2020, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ có 31 DNBH, 02 doanh
nghiệp tái bảo hiểm và 01 chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài.
Năm 2020, tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc của thị trường phi nhân thọ ước đạt
55.094 tỷ đồng, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2019. Dẫn đầu thị trường về doanh thu
phí bảo hiểm gốc là Bảo Việt với doanh thu ước đạt 9.301 tỷ đồng, giảm 9,7% so với
cùng kỳ năm 2019, chiếm 16,9% thị phần. Tiếp đến là PVI với doanh thu ước đạt 7.547 20