Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN *************
ĐỀ TÀI: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
LIÊN HỆ VỚI HOẠT ĐỘNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRONG THỜI KỲ 2019 – 2021
Giảng viên: Vũ Xuân Dũng
Lớp học phần: 2166EFIN2811 Nhóm: 03 Hà Nội, 2021 1
BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN NHÓM 03 STT Họ và tên Đánh giá Ký tên 19
Phạm Thị Hà 20
Phan Thị Thu Hà 21
Nguyễn Thị Hằng 22
Phạm Thu Hằng 23
Nguyễn Thị Hạnh 24
Hà Thanh Hiền 25
Trần Thị Ngọc Hiệp 26
Nguyễn Thị Hoài 27
Phạm Thu Hoài 2 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................................................... 4
PHẦN I: Cơ sở lý thuyết .............................................................................................................................. 5
I. Một số khái niệm, đặc điểm thu NSNN .......................................................................................... 5
II. Phân loại thu NSNN ..................................................................................................................... 5
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN ...................................................................................... 7
IV. Các nguyên tắc thiết lập thu NSNN ............................................................................................ 8
Phần II: LIÊN HỆ VỚI HOẠT ĐỘNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG THỜI KỲ 2019 –
2021 ..............................................................................................................................................................10
1. Năm 2019 .........................................................................................................................................10
2. Năm 2020 .........................................................................................................................................12
3. Năm 2021 .........................................................................................................................................13
III. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO THU NSNN ........................................................................................16
LỜI CẢM ƠN ..............................................................................................................................................18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................................19 3
LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua hơn hai năm dịch Covid-19 hoành hành, và hiện tại đất nước ta vẫn đang căng
mình chống dịch. Nhiều hoạt động kinh tế bị ảnh hưởng từ đó ảnh hưởng tới việc điều
hành và thực thi hoạt động thu ngân sách nhà nước (NSNN). Chính phủ đã có những bước
đi kiên quyết và đúng đắn để kiềm chế sự lây lan của COVID-19 đồng thời đưa ra những
giải pháp toàn diện để đưa người dân trở lại với cuộc sống bình thường mới, tiếp tục phát
triển kinh tế. Trong tình hình dịch bệnh COVID-19, việc thu NSNN trở nên khó khăn
hơn, Bộ Tài chính đã đưa ra những giải pháp phù hợp để tháo gỡ những khó khăn cho các
doanh nghiệp. Điển hình là các chính sách về thu thuế, phí; giảm thuế cho doanh nghiệp,
giảm lãi suất vay,…. Chính những chính sách đã góp phần giúp đất nước ta phần nào
phục hồi lại nền kinh tế sau đại dịch. Tuy nhiên, những chính sách đó đã ít nhiều ảnh
hưởng tới việc thu NSNN.
Để hiểu rõ hơn về tình hình thu NSNN của nước ta trong trước cũng như trong thời kỳ
dịch bệnh, nhóm chúng em quyết định thực hiện đề tài “Cơ sở lý thuyết về thu NSNN.
Liên hệ với hoạt động thu NSNN tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua”.
Bài thảo luận của chúng em gồm có 2 phần chính:
Phần 1: Cơ sở lý thuyết về thu NSNN
Phần 2: Liên hệ thực tiễn về thu NSNN giai đoạn 2019-2021. 4
PHẦN I: Cơ sở lý thuyết
I. Một số khái niệm, đặc điểm thu NSNN 1. Khái niệm
Qua sự hình thành các nguồn thu NSNN, có thể hiểu thu NSNN là việc nhà nước sử
dụng quyền lực của mình để huy động, tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia để
hình thành quỹ tiền tệ cần thiết nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Thu ngân sách là một trong hai mặt hoạt động cơ bản của NSNN. Về mặt bản chất kinh
tế, thu NSNN là hệ thống các quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị này xinh trong
quá trình nhà nước dùng quyền lực chính trị của mình để tập trung một phần nguồn tài
chính trong xã hội hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
2. Đặc điểm
Thu NSNN là một hình thức phân phối nguồn tài chính quốc gia giữa nhà nước với
các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực của nhà nước nhằm giải quyết hài hòa
các mối quan hệ về lợi ích kinh tế. Sự phân phối này là một tất yếu khách quan xuất
phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước cũng như yêu cầu thực
hiện chức năng của nhà nước.
Thứ hai, thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù
giá trị khác như giá cả, thu nhập, lãi suất,… trong đó, chỉ tiêu quan trọng biểu hiện
thực trạng của nền kinh tế có ảnh hưởng đến quy mô và mức độ động viên của thu
NSNN là tổng sản phẩm quốc nội. Sự vận động của các phạm trù giá trị này vừa tác
động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết của các công cụ thu NSNN.
II. Phân loại thu NSNN
Phân loại thu NSNN được hiểu là việc sắp xếp các nguồn thu. Khoản thu thành những
nhóm, loại nhất định theo những tiêu thức phù hợp nhằm đáp ứng các yêu cầu về nghiên
cứu và quản lý. Có thể phân loại thu NSNN theo các tiêu thức cơ bản sau:
Căn cứ vào nội dung kinh tế của các khoản thu
Thu thuế: là một hình thức đóng góp của các tổ chức và cá nhân cho Nhà nước
mang nghĩa vụ theo luật định nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Thu phí, lệ phí: là khoản thu của NSNN vừa mang tính chất bù đắp chi phí cho
việc thực hiện một số thủ tục hành chính của Nhà nước, vừa mang tính chất động viên đóng cho NSNN. 5
Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước: trong quá trình thực hiện các chức
năng của mình, Nhà nước cũng tiến hành các hoạt động kinh tế dưới các hình
thức khác nhau như đầu tư vốn thành lập doanh nghiệp Nhà nước để kinh doanh,
góp vốn vào các doanh nghiệp, mua cổ phần, cho vay,… Chính vì vậy sẽ phát
sinh các khoản thu Ngân sách từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước.
Thu từ hoạt động sự nghiệp: Các khoản thu có lãi và chênh lệch từ các hoạt
động của các cơ sở sự nghiệp có thu của nhà nước.
Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước: Khoản thu này
mang tính chất thu hồi vốn và có một phần mang tính chất phân phối lại, vừa có
tính chất phân phối lại, vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản quốc
gia vừa tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Các nguồn thu từ bán hoặc cho
thuê tài sản, tài nguyên, thiên nhiên; thu về bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước.
Thu từ vay nợ và viện trợ không hoàn lại: Để bù đắp thiếu hụt NSNN và đáp
ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển, Nhà nước tiến hành huy động các nguồn
tiền trong xã hội dưới các hình thức khác nhau trong đó phải kể đến các khoản
vay nợ trong nước và nước ngoài.
Thu khác: thu NSNN còn bao gồm các khoản tiền khác mà Nhà nước thu được
như các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
như đóng góp cho quỹ an ninh, quỹ phòng chống thiên tai, ủng hộ quỹ vì người
nghèo; thu từ hợp tác với nước ngoài; thu tiền phạt, tịch thu, tịch biên tài sản, kết dư Ngân sách…
Căn cứ vào tính chất phát sinh các khoản thu
Thu thường xuyên: Là những khoản thu của NSNN phát sinh có tính chất thường
xuyên trong đó chủ yếu nhất là các khoản thu thuế và lệ phí. Ngoài ra, thu thường
xuyên của NSNN còn bao gồm các khoản thu từ hoạt động sự nghiệp, một số
khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước như tiền cho thuê tài sản, thu lãi
cho vay, thu tiền phạt, tịch biên…
Thu không thường xuyên: Là những khoản thu phát sinh có tính chất không
thường xuyên hay bất thường như tiền bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước, bán cổ
phần thuộc sở hữu Nhà nước, thu viện trợ, vay nợ… 6
Căn cứ vào tính chất cân đối NSNN
Thu trong cân đối ngân sách nhà nước: Là các khoản thu được xác định và
thực hiện trong mối quan hệ cân đối với chi NSNN. Thuộc khoản thu này bao
gồm các khoản thu thường xuyên và thu không thường xuyên.
Thu ngoài cân đối ngân sách nhà nước (thu bù đắp thiếu hụt NSNN): khi lập
dự toán NSNN, nếu số thu NSNN không đủ đáp ứng nhu cầu chi NSNN trong
một năm nào đó thì Nhà nước phải huy động thêm các nguồn khác mà chủ yếu là đi vay
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN
1. Thu nhập GDP bình quân đầu người:
Tổng GDP phản ánh quy mô của nền kinh tế, từ đó quyết định đến tổng thu NSNN.
GDP bình quân đầu người là một yếu tố khách quan quyết định mức động viên của Ngân sách nhà nước.
Do đó, khi xác định mức độ động viên thu nhập vào NSNN mà thoát ly chỉ tiêu này
thì sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dung, và đầu tư của nền kinh tế.
2. Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế:
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung và hiệu
quả của các doanh nghiệp nói riêng.
Tỷ suất lợi nhuận bình quân càng lớn sẽ phản ánh khả năng tái tạo và mở rộng của
các nguồn thu nhập trong nền kinh tế càng lớn. Từ đó, đưa tới khả năng nâng cao
khả năng huy động cho NSNN. Đây là yếu tố quyết định đến việc nâng cao tỷ suất thu cho NSNN.
Do vậy, khi xác định tỷ suất thu Ngân sách cần căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình
quân trong nền kinh tế để đảm bảo việc huy động của NSNN không gây khó khan
về mặt tài cính cho các hoạt động kinh tế.
3. Khả năng xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên ( dầu mỏ và khoáng sản ):
Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì việc khai
thác và xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu to lớn cho NSNN.
Nếu tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng sản chiếm trên 20% tổng kim gạch xuất
khẩu thì tỷ suất thu ngân Ngân sách sẽ cao và có khả năng tăng nhanh. Với cùng một 7
điều kiện phát triển kinh tế, quốc gia nào có tỷ trọng xuất khẩu dầu mỏ và khoáng
sản lớn thì tỷ lệ động viên vào NSNN cũng lớn hơn.
4. Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước:
Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước phu thuộc vào nhiều yếu tố như
quy mô tổ chức của bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những
nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận đảm nhận trong từng giai đoạn
lịch sử, chính sách sử dụng kinh phí của Nhà nước.
Khi các nguồn tài trợ khác cho chi phí hoạt động cả Nhà nước không có khả năng
tang lên, việc tang mức độ chi phí của Nhà nước sẽ đòi hỏi tỷ suất thu của Ngân sách cũng tăng lên.
5. Tổ chức bộ máy thu nộp:
Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả hoạt động của bộ máy này.
Nếu tổ chức hệ thống cơ quan thuế, hải quan, kho bạc Nhà nước gọn nhẹ, đạt hiệu
quả cao, chống được thất thu do trốn, lậu thuế thì đây sẽ là yếu tố tích cực làm giảm
tỷ suất thu NSNN mà vẫn thỏa mãn được các nhu cầu chi tiêu của NSNN.
6. Các nhân tố khác:
Vay nợ trong và ngoài nước: việc vay nợ sẽ làm tăng nguồn thu NSNN nhưng vay
quá nhiều sẽ làm giảm bội chi NSNN.
Tăng các khoản thu: đặc biệt là thuế sẽ làm tăng khoản thu NSNN.
IV. Các nguyên tắc thiết lập thu NSNN
Việc thiết lập một hệ Thống thu Ngân sách Nhà nước phải dựa trên những nguyên tắc
định hướng nhất định. Tuỳ theo những điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước, trong
những giai đoạn lịch sử nhất định mà có những nguyên tắc thiết lập hệ thống thu phù hợp.
Ở Việt Nam, trong quá trình cải cách và hoàn thiện hệ thống thu Ngân sách Nhà nước,
đặc biệt là đối với hệ thống thuế, cẩn tôn trọng và chấp hành các nguyên tắc căn bản như sau: 8
1. Nguyên tắc ổn định và lâu dài:
Nguyên tắc này vừa tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hoá Ngân sách,
vừa kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nguyên tắc này đòi hỏi trong những điều kiện hoạt động kinh tế bình thường thì phải
ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế, không được gây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế.
Đồng thời tỷ lệ động viên của Ngân sách Nhà nước phải thích hợp, đảm bảo kích
thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu.
Để thực hiện nguyên tắc này cần phải lựa chọn đối tượng tính thuế sao cho đối tượng
đó ít có sự biến động. Kinh nghiệm Cho thấy thuế đánh trên hàng bản (thuế đánh
trên chi phí) có khuynh hướng ổn định hơn thuế đánh trên thu nhập.
2. Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng:
Nguyên tắc này đòi hỏi việc thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng
đối với mọi người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế.
Việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế.
Để đảm bảo được nguyên tắc cống bằng trong xây dựng hệ thống thuế thì cần phải
kết hợp giữa các sắc thuế trực thu với các sắc thuế gián thu.
3. Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết lập hệ thống thuế, các điều khoản quy định của
các sắc thuế phải rõ ràng, cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đảnh thuế,… để tránh tình
trạng lách luật, trốn thuế.
Hơn nữa, việc sửa đổi bổ sung các điều khoản trong các sắc thuế không phải lúc nào
cũng thực hiện được, cho nên các điều khoản trong luật phải bao quát và phù hợp
với hoạt động của nền kinh tế - xã hội.
4. Nguyên tắc đơn giản:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong mỗi sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định
rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế.
Như vậy, mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tạo
thuận lợi cho cả người nộp thuế và cơ quan thu thuế, tránh được những hiện tượng
tiêu cực như trốn, lậu thuế, hối lộ,… 9
Phần II: LIÊN HỆ VỚI HOẠT ĐỘNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG
THỜI KỲ 2019 – 2021 1. Năm 2019
Quyết toán thu NSNN đạt 1.553.612 tỷ đồng, tăng 142.312 tỷ đồng (+10,1%) so dự
toán, chủ yếu do tăng thu từ các khoản thu về nhà, đất, thu khác ngân sách, thuế xuất
nhập khẩu và thu từ dầu thô. Bao gồm: Thu NSNN của Hà Nội là 268.244 tỷ đồng, đạt
gần 102% so với dự toán được giao; Thu NSNN trên toàn địa bàn TP. Hồ Chí Minh đạt
409.923,4 tỷ đồng, vượt 2,71% dự toán và tăng 8,29% so với năm 2018. Các khoản thu
bao gồm, thu nội địa và dầu thô được 290.360,4 tỷ đồng, đạt 100,01% dự toán; thu từ
hoạt động XNK được 118.664 tỷ đồng, đạt 109,07% dự toán.
Thu nội địa: quyết toán đạt 1.277.988 tỷ đồng, tăng 104.488 tỷ đồng (+8,9%) so dự
toán, chủ yếu nhờ tăng thu về nhà, đất (78.181 tỷ đồng), tăng thu từ thu hồi vốn, thu
cổ tức, lợi nhuận, lợi nhuận sau thuế, chênh lệch thu, chi của Ngân hàng nhà nước
(24.835 tỷ đồng). Cơ cấu thu nội địa năm 2019 tiếp tục có chuyển biến, bền vững
hơn, tỷ trọng thu nội địa tăng so với các năm trước. Tuy nhiên, số thu ở 3 khu vực
kinh tế không đạt dự toán được giao (thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt
92,9%; thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 99,3%; thu từ khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 98,6% dự toán).
Trong thu nội địa, thu từ khu vực kinh tế được 157.054 tỷ đồng, đạt 89,51% dự toán
và tăng 9,04%. Các khoản thu gồm: Thu từ DNNN được 25.600,3 tỷ đồng, đạt
85,62% dự toán và tăng 2,08%; thu từ các DN có vốn đầu tư nước ngoài 65.062,4 tỷ
đồng, đạt 85,1% dự toán và tăng 8,15%; thu từ khu vực DN tư nhân 66.392,4 tỷ
đồng, đạt 96,06% dự toán và tăng 12,93%.
Cơ quan thuế đã triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp quản lý thu, tăng cường chống thất thu:
Tăng cường công tác quản lý kê khai, kế toán thuế; thực hiện quản lý, kiểm
soát chặt chẽ số chi hoàn thuế giá trị gia tăng, đảm bảo việc hoàn thuế đúng
đối tượng, theo đúng chính sách pháp luật của Nhà nước.
Tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra,
đôn đốc thu nợ thuế, tích cực thu hồi nợ đọng và tăng thêm nguồn thu cho
ngân sách nhà nước gắn với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận
lợi cho doanh nghiệp, người nộp thuế.
Tăng cường tuyên truyền, đối thoại, giải đáp vướng mắc, hỗ trợ người nộp
thuế; đồng thời đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác
quản lý thuế nhằm đáp ứng yêu cầu mới của cải cách chính sách, sửa đổi, bổ 10
sung quy trình, nghiệp vụ quản lý thuế và đặc biệt là đáp ứng yêu cầu cấp
bách về cải cách thủ tục hành chính thuế.
Trong năm 2019, cơ quan Thuế đã thực hiện 96.243 cuộc thanh tra, kiểm tra, đạt
109,72% kế hoạch, tăng thu nộp NSNN 18.876 tỷ đồng; kiểm tra được 517.554 hồ
sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế.
Thu từ dầu thô: quyết toán 56.251 tỷ đồng, tăng 26,1% (11.651 tỷ đồng) so với dự
toán; chủ yếu do giá dầu thanh toán bình quân đạt 67,5 USD/thùng, tăng 2,5
USD/thùng so với giá xây dựng dự toán (65 USD/thùng); sản lượng thanh toán đạt
11,04 triệu tấn, cao hơn dự toán 0,61 triệu tấn .
Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu: quyết toán 214.239 tỷ đồng,
tăng 13,2% (25.039 tỷ đồng) so với dự toán. Trong năm 2019 một số mặt hàng có
thuế suất cao, số thu lớn tăng mạnh so với dự toán như than đá, ôtô nguyên chiếc,
máy móc, thiết bị, phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, linh kiện
phụ tùng ôtô. ., nên giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng 7,7% so với năm 2018
và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, tăng thu nợ đọng thuế, nợ thuế đã
giảm so với năm trước, góp phần tăng thu NSNN. Số hoàn thuế giá trị gia tăng theo
thực tế phát sinh là 133.043 tỷ đồng, tăng 21.743 tỷ đồng so với dự toán, được thực
hiện theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng.
Thu viện trợ không hoàn lại: quyết toán đạt 5.133 tỷ đồng, tăng 1.133 tỷ đồng (+28,3%) so với dự toán
Hầu hết các địa phương hoàn thành vượt dự toán thu nội địa, với 30 địa phương vượt trên
20% dự toán, 14 địa phương vượt từ 10% đến 20% dự toán và 17 địa phương vượt dưới
10% dự toán. Những địa phương có kết quả thu đạt cao như Ninh Bình, Bắc Giang, Bình Định, Phú Yên...
Năm 2019, số thu ở 3 khu vực kinh tế (doanh nghiệp (DN) nhà nước, DN FDI, DN
tư nhân) không đạt dự toán được giao. Nguyên nhân là một số ngành có đóng góp
số thu lớn cho NSNN như nhóm ngành khai thác dầu thô, sản xuất lắp ráp ô tô trong
nước, sản xuất linh kiện điện thoại… tăng trưởng thấp hơn dự kiến, giảm so với năm trước.
Ở góc độ khác, phân tích quan hệ giữa thu NSNN với cơ cấu doanh nghiệp và phân
bố doanh nghiệp theo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho thấy nhiều
vấn đề lý thú. Năm 2019 [6], ở Việt Nam có 1.000 doanh nghiệp tiêu biểu nộp
NSNN nhiều nhất và đóng góp tới 60,3% tổng thu ngân sách nhà nước. Riêng
doanh nghiệp ở Tp. Hồ Chí Minh đóng góp 34,1%; ở Tp. Hà Nội đóng góp 34,7%; 11
ở Bình Dương đóng góp 3,9%; ở Đồng Nai đóng góp 4,9%. Các doanh nghiệp
thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đóng góp 33,3%. 2. Năm 2020
Tổng thu NSNN cả năm 2020 đạt 1.507,8 nghìn tỷ đồng, tăng 158 nghìn tỷ đồng so với
báo cáo Quốc hội, bằng 98% so dự toán, giảm 2,79% so với thực hiện năm 2019; tỷ lệ
động viên thu NSNN đạt 24%GDP, riêng động viên từ thuế và phí đạt 19,1%GDP. Bao gồm:
- Thu ngân sách nhà nước do Cục Thuế Hà Nội quản lý đạt khoảng 265.890 tỷ đồng,
bằng 102,1% dự toán pháp lệnh, tăng 5,9% so với thực hiện năm 2019. Đặc biệt,
riêng thu nội địa của Hà Nội chiếm 21% tổng thu nội địa của cả nước.
- Số thu ngân sách trên địa bàn TPHCM gần 371.385 tỉ đồng, đạt 91,51% dự toán và
giảm 9,4% so với năm 2019 (gần 410.000 tỉ đồng), cụ thể, thu nội địa là 265.358 tỉ
đồng (đạt 91,24% dự toán) và giảm 8,61% so với cùng kỳ (290.360 tỉ đồng). Trong
đó, thu từ các doanh nghiệp Nhà nước là 24.086 tỉ đồng; thu từ doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài là 63.291 tỉ đồng,…Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu của TPHCM
trong năm 2020 là gần 105.953 tỉ đồng, đạt hơn 92% dự toán.
Thu nội địa: dự toán thu là 1.290,77 nghìn tỷ đồng, thực hiện đạt 1.290,9 nghìn tỷ
đồng, vượt 117 tỷ đồng so dự toán, tăng 1,3% so thực hiện năm 2019. Do ảnh hưởng
quá lớn của đại dịch Covid-19 đến nền kinh tế, đặc biệt là đối với các lĩnh vực xuất
nhập khẩu, vận tải hàng không, sản xuất ô tô, điện tử, dệt may, da giày, kinh doanh
dịch vụ du lịch, ăn uống, lưu trú,... làm giảm nguồn thu NSNN. Đồng thời, trong
năm đã thực hiện nhiều giải pháp miễn, giảm, giãn thuế và các khoản thu NSNN
nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, người dân chịu ảnh hưởng của đại
dịch Covid-19. Vì vậy, không kể số thu tiền sử dụng đất, thu hồi vốn NSNN đầu tư
tại các tổ chức kinh tế, các khoản thu nội địa còn lại chỉ có 40% đạt và vượt dự toán,
60% còn lại không đạt dự toán.
Thu từ dầu thô: dự toán thu là 35,2 nghìn tỷ đồng, thực hiện đạt 34,6 nghìn tỷ đồng,
giảm 602 tỷ đồng (-1,7%) so dự toán. Giá dầu thô bình quân đạt 45,7 USD/thùng,
giảm 14,3 USD/thùng so giá dự toán; sản lượng thanh toán đạt 9,56 triệu tấn, tăng
540 nghìn tấn so kế hoạch. 12
Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: dự toán thu là 208 nghìn tỷ đồng; thực
hiện đạt 177,5 nghìn tỷ đồng, giảm 30,5 nghìn tỷ đồng (-14,6%) so dự toán, trên cơ
sở: tổng số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 314,57 nghìn tỷ đồng, hoàn thuế giá
trị gia tăng theo thực tế phát sinh là 137 nghìn tỷ đồng.
Công tác hoàn thuế giá trị gia tăng năm 2020 được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo đúng
quy định của pháp luật, đối tượng và thực tế phát sinh, không gây khó khăn, phiền
hà cho doanh nghiệp. Các cơ quan quản lý đã thực hiện tốt công tác giám sát hoàn
thuế tập trung, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoàn thuế, kết
hợp với tăng cường thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế, phát hiện và xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm.
Thu viện trợ: Dự toán thu là 5 nghìn tỷ đồng, thực hiện đạt 4,8 nghìn tỷ đồng, giảm
251 tỷ đồng (-5%) so dự toán.
Trong năm 2020, Nhà Nước đã có những chính sách kiểm soát dịch bệnh đúng đắn
và quyết liệt, nhờ vậy đã góp phần thúc đẩy đà phục hồi của nền kinh tế. Ngoài ra,
Nhà Nước cũng đã có những chính sách để giúp đỡ các Doanh Nghiệp gặp khó khăn
trong thời kỳ dịch bệnh như:
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất, kinh doanh; rà soát, sửa
đổi các điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính theo hướng tinh giản, gọn
nhẹ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân.
- Rà soát, nghiên cứu các giải pháp chính sách về miễn, giảm, giãn thuế, phí
và thu ngân sách để hỗ trợ các doanh nghiệp, hộ kinh doanh gặp khó do tác động của đại dịch.
Tóm lại, nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh và triển khai quyết liệt, hiệu quả các giải pháp
chính sách góp phần thúc đẩy đà phục hồi của nền kinh tế, thu NSNN năm 2020 mặc
dù không đạt dự toán đề ra (giảm 31,2 nghìn tỷ đồng so dự toán), nhưng cao hơn
nhiều so với đánh giá báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 10 (tăng 158 nghìn tỷ đồng). 3. Năm 2021
Tổng thu NSNN 8 tháng năm 2021 ước đạt 1.004,2 nghìn tỷ đồng, bằng 74,8% dự toán,
tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2020 (ngân sách trung ương ước đạt 71,4% dự toán;
ngân sách địa phương ước đạt 78,9% dự toán). 13
Thu nội địa: ước đạt 63,2 nghìn tỷ đồng, giảm 14,2 nghìn tỷ đồng so với tháng
7/2021 (không kể thuế thu nhập doanh nghiệp nộp theo quý). Lũy kế thu 8 tháng
năm 2021 đạt 820,4 nghìn tỷ đồng, bằng 72,4% dự toán, tăng 12% so cùng kỳ năm 2020.
Theo Bộ Tài chính, do ảnh hưởng của đợt dịch tái bùng phát từ tháng 4/2021, diễn
biến thu nội địa giảm dần qua các tháng như sau: tháng 4/2021 thu được 115,6 nghìn
tỷ đồng; tháng 5/2021 thu được 85 nghìn tỷ đồng; tháng 6/2021 thu được 80,5 nghìn
tỷ đồng; tháng 7/2021 thu được 114,4 nghìn tỷ đồng, nếu không kể 37 nghìn tỷ đồng
tăng thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp kê khai và nộp theo quý, thì chỉ thu được
77,4 nghìn tỷ đồng; tháng 8/2021 thu được 63,2 nghìn tỷ đồng.
Thu từ dầu thô: ước đạt 3,3 nghìn tỷ đồng giảm 224 tỷ đồng so tháng 7/2021. Lũy
kế thu 8 tháng năm 2021 đạt 25,7 nghìn tỷ đồng, bằng 111% dự toán, tăng 0,9% so cùng kỳ.
Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu: ước đạt 24 nghìn tỷ đồng, giảm 11 nghìn tỷ
đồng so tháng 7/2021, giảm 9 nghìn tỷ đồng so bình quân 7 tháng năm 2021. Lũy kế
thu 8 tháng năm 2021 đạt 157,5 nghìn tỷ đồng, bằng 88,2% dự toán, tăng 31,2% so với cùng kỳ năm 2020.
Tuy nhiên, có một tín hiệu bất ổn là từ tháng 4, thu nội địa có xu hướng giảm dần
khi thu được 115,6 nghìn tỷ đồng, đạt 10,2% dự toán. Tháng 5 thu được 85 nghìn tỷ
đồng, đạt 7,5% dự toán. Tháng 6, thu được 80,5 nghìn tỷ đồng, đạt 7,1% dự toán.
Tuy tháng 7 số thu NSNN tăng lên mức 126,7 nghìn tỷ đồng nhưng tháng 8 lại giảm
xuống chỉ còn 78,6 nghìn tỷ đồng. Đặc biệt, trong tháng 8/2021, số thu từ các khoản
thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt) giảm mạnh, chỉ bằng
khoảng từ 57% đến 60% số thu tháng 7/2021.
Tại thành phố Hồ Chí Minh, dù bị ảnh hưởng của dịch COVID-19, tổng thu ngân
sách nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục đạt kết quả khả quan
trong 8 tháng qua. Trong khi đó, tiến độ chi ngân sách đang diễn biến chậm lại do
các khoản chi đầu tư khó giải ngân do dịch COVID-19 kéo dài. Theo Cục Thống kê
Thành phố Hồ Chí Minh, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước trên địa thành phố
lũy kế 8 tháng năm 2021 ước thực hiện 255.687 tỷ đồng, đạt hơn 70% dự toán được
giao và tăng 15,8% so với cùng kỳ năm 2020. Cụ thể, thu nội địa ước thực hiện
165.682 tỷ đồng, đạt 66,7% dự toán và tăng 12,6% so với cùng kỳ; trong đó, thu từ
doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 18.480 tỷ đồng, đạt 68,4% dự toán và tăng
15,4%.Ngoài ra, thu từ khu vực ngoài nhà nước ước thực hiện 46.726 tỷ đồng, đạt
69% dự toán và tăng 30,5% so với cùng kỳ; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
ước thực hiện 42.806 tỷ đồng, đạt 69% dự toán và tăng 11,5%.Trong 8 tháng năm 14
2021, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu mang về cho Thành phố Hồ Chí Minh khoảng
80.740 tỷ đồng, đạt 74,8% dự toán và tăng 22,5% so với cùng kỳ. Thu dầu thô ước
thực hiện 9.245 tỷ đồng, vượt 8,1% so dự toán, chiếm 3,6% tổng thu cân đối và tăng 18%
Tại thành phố Hà Nội, Mặc dù bị ảnh hưởng do tác động bởi đại dịch COVID-19
nhưng kinh tế Hà Nội vẫn duy trì tăng trưởng, tính chung 6 tháng đầu năm 2021,
GDP của Hà Nội ước tăng 5,91%, cao hơn 6 tháng đầu năm 2020 (3,39%) nhưng
thấp hơn 6 tháng đầu năm 2019 (7,21%). Kết quả thực hiện các chỉ tiêu cân đối
lớn về kinh tế cho thấy, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 6 tháng đầu
năm ước đạt trên 124.850 tỷ đồng, đạt 53% dự toán Trung ương giao (đạt 49,7%
dự toán Thành phố giao). Trong đó, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu trên 10.250
tỷ đồng, đạt 55,1% dự toán; từ dầu thô là 835 tỷ đồng, đạt 66,9% dự toán; thu nội
địa 113.768 tỷ đồng, đạt 52,8% dự toán Trung ương giao, đạt 49,2% dự toán
Thành phố giao, bằng 107,5% so với cùng kỳ. Chi ngân sách địa phương 6 tháng
đầu năm ước đạt 31.619 tỷ đồng, đạt 29,1% dự toán năm và bằng 99,2% so với
cùng kỳ. Trong các khoản thu ngân sách, ông Mai Sơn cho rằng khoản thu từ sản
xuất, kinh doanh là khoản thu quan trọng, bền vững và là khoản thu chiếm tỉ
trọng lớn. Trong 6 tháng đầu năm 2021, ước đạt 65.200 tỷ, đạt 54,2% so với dự
toán, tăng 26% so với cùng kỳ. Đây là số thu lớn so với bình quân chung của toàn
quốc. Tuy nhiên, một số lĩnh vực gặp khó về thu ngân sách, như thu về nhà đất
đạt 45,8% dự toán Trung ương giao, đạt 42,5% dự toán Thành phố giao và chỉ,
bằng 85% so với cùng kỳ, thu từ đất gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng bởi dịch
bệnh. Trong 6 tháng đầu năm nay, số doanh nghiệp đang hoạt động tăng 7% so
với cùng kỳ năm 2020. Cùng với đó, số thu tăng đều ở cả doanh nghiệp nhà nước,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Các
sắc thuế chính phản ánh tình trạng hoạt động của doanh nghiệp cũng đều có mức
tăng tốt. Còn theo Cục Hải quan, địa bàn Hà Nội có số thu ngân sách đạt 10.433 tỷ
đồng, bằng 56,1% dự toán năm và 127,1% so với cùng kỳ năm 2020.
Đứng trước bối cảnh kinh tế khó khăn, kết quả thu NSNN trong 8 tháng đầu năm
2021 là rất đáng khích lệ, thể hiện nỗ lực vô cùng lớn để vượt khó của các cơ quan
quản lý thu NSNN. Một mặt, ngành Tài chính thực hiện tốt các chính sách miễn,
giảm, gia hạn nộp thuế của Quốc hội và Chính phủ để hỗ trợ các doanh nghiệp vượt
qua khó khăn, phát triển sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, cơ quan thuế và cơ quan
hải quan các cấp đã đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng
dịch vụ thuế và hải quan điện tử để tạo thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện nghĩa
vụ thuế với Nhà nước; thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp chống thất thu NSNN… 15
III. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO THU NSNN
Hiện nay, tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, khó lường và chưa
dự báo được thời điểm kết thúc. Đã ảnh hưởng đến nhiều ngành, lĩnh vực của nền
kinh tế nước ta như: du lịch, vận tải,hàng không, khai thác cảng, xuất nhập khẩu, sản
xuất nông, lâm, thủy hải sản, sản xuất chế biến,. . Một số ngành thiếu hụt lao động
tạm thời, gián đoạn chuỗi cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, nhiều doanh nghiệp
nhỏ, vừa đã thu hẹp sản xuất kinh doanh, theo đó, ảnh hưởng trực tiếp đến thu thuế
giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đặc biệt, phí, lệ phí. . tại
nhiều địa phương trong cả nước. Vì vậy, Chính phủ, Bộ tài chính đã có nhiều giải
pháp ứng phó với dịch bệnh, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong sản
xuất, kinh doanh gắn với thực hiện chính sách giảm thuế cho doanh nghiệp, hộ kinh
doanh. Do đó, nguồn thu ngân sách sẽ có sự tác động mạnh, các nguồn từ sản xuất
kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng dẫn tới hụt thu ngân sách.
Trong tình hình dịch bệnh khó khăn, kết quả thu ngân sách là đáng khích lệ, tuy
nhiên chính phủ vẫn cần có các biện pháp để tăng thu ngân sách nhà nước trong tình hình hiện nay:
Cục thuế cần chủ động đánh giá tác động đến ngân sách nhà nước do dịch Covid-
19 gây ra và khả năng hụt thi ngân sách trên địa bàn. Thực hiện rà soát toàn bộ
người nộp thuế trên địa bàn bị ảnh hưởng giảm thu. Theo dõi chặt chẽ diễn biến
tình hình sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế thuộc phạm vi ảnh hưởng của
dịch bệnh, tổ chức đánh giá, xác định cụ thể mức độ ảnh hưởng của dịch Covid-
19 gây ra từng ngành, từng lĩnh vực, từng người nộp thuế, tổng hợp mức độ cụ
thể ảnh hưởng đến thu ngân sách.
Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố: đánh giá khả năng thu hụt ngân sách trên
địa bàn, xây dựng nhiều phương án thu từ đất và các khoản thu ngân sách để bổ
sung nguồn thu bị thiếu hụt từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chủ động cân đối, đảm bảo đầy đủ nguồn lực NSNN, huy động tài trợ đóng góp
tự nguyện từ cộng đồng, doanh nghiệp, người dân trong và ngoài nước mua vắc-
xin và cho các hoạt động phòng chống Covid-19. Tăng cường nguồn lực dữ trữ
quốc gia để ứng phó kịp thời các tình huống đột xuất, cấp bách.
Thực hiện tốt công tác quản lý thu. Tiếp tục thực hiện miễn, giảm một số khoản
thu cho các đối tương gặp khó khăn do đại dịch, tăng cường thanh tra, kiểm tra
thuế, chống chuyển gia, trốn lậu thuế. Đôn đốc thu hồi các khoản nợ đọng thuế,
phấn đấu giảm tỷ lệ nợ đọng thuế xuống 5% tổng thu NSNN năm 2021. 16
Đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh tạo nguồn thu tăng trưởng, bền vững
từ khu vực sản xuất kinh doanh để góp phần tăng thu ngân sách nhà nước.
Cần tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính trong quản lý thu
NSNN mà trước mắt là nâng cao hơn nữa sự tiện lợi và hiệu quả trong giải quyết
các thủ tục hành chính về thuế và hải quan để góp phần tạo thuận lợi sản xuất,
kinh doanh phát triển; thực hiện tốt chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính
cũng giúp giảm chi phí tuán thủ cho người nộp thuế và tạo thuận lợi để người
nộp thuế và tạo thuận lợi để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước.
Tăng cường công tác quản lý thu, đôn đốc xử lý, thu hồi nợ đọng, phấn đấu tăng
thu ở những lĩnh vực, địa bàn có điều kiện, để bù đắp số giảm thu do ảnh hưởng
của dịch bệnh, có thêm nguồn lực chi cho phòng, chống dịch và hỗ trợ người
dân, đảm bảo an sinh xã hội, đảm bảo NSNN năm 2021.
Trước tình hình hiện tại, tình hình dịch bệnh đã có chuyển biến tích cực, tuy
nhiên dự báo dịch vẫn còn diễn biến phức tạp trong thời gian tới, tác động làm
giảm thu và tăng chí NSNN cho phòng, chống dịch. Bộ tài chính đang phối hợp
chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp, tập trung
kiểm soát dịch bệnh, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh giải
ngân vốn đầu tư công, tạo động lực thúc đẩy và phục hồi tăng trưởng kinh tế
trong những tháng cuối năm, qua đó tạo thêm nguồn thu NSNN. 17 LỜI CẢM ƠN
Thu NSNN vẫn luôn là một vấn đề quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của nước ta.
Nhà nước luôn có những chính sách thu NSNN hợp lý để thêm vào nguồn NSNN và phục
vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong thời kỳ dịch bệnh COVID – 19, thu NSNN càng trở thành một vấn đề cần được quan
tâm của Nhà nước, Chính phủ do dịch bệnh đã tác động, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền
kinh tế của đất nước.
Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề thu NSNN, nhóm chúng em đã thực hiện đề tài về
thu NSNN trong giai đoạn từ 2019 đến 8 tháng đầu năm 2021, qua việc tìm hiểu, chúng em
đã có thêm hiểu biết về thu NSNN trong giai đoạn này cũng như giai đoạn dịch bệnh
COVID đang diễn biến phức tạp.
Bài thảo luận của nhóm chúng em còn nhiều thiếu sót do lượng kiến thức lý thuyết cũng
như thực tế còn chưa đầy đủ. Số liệu trong bài thảo luận được tham khảo từ nhiều nguồn
nên khó tránh khỏi việc sai số liệu. Mong thầy và các bạn có thể góp ý để bài thảo luận của
nhóm trở nên tốt hơn ở những lần sau.
Cuối cùng, chúng em xin gửi lời cảm ơn tới thầy Vũ Xuân Dũng – giảng viên bộ môn Nhập
môn tài chính tiền tệ đã cung cấp cho chúng em những kiến thức cần thiết cho bài thảo luận.
Chúng em xin chân thành cảm ơn! 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Nhập Môn Tài Chính Tiền Tệ - Đại Học Thương Mại, 2016
2. Các bài báo của Bộ Tài Chính về công khai thu NSNN năm 2019 và 2020
https://ckns.mof.gov.vn/Lists/News/DispForm.aspx?ID=23&InitialTabId=Ribbon.Read
https://ckns.mof.gov.vn/Lists/News/DispForm.aspx?ID=25&InitialTabId=Ribbon.Read
3. Các bài báo có thông tin liên quan:
https://quochoi.vn/tintuc/Pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=56492
http://sotaichinh.hoabinh.gov.vn/stc/1280/30476/53000/271829/Tin-trong-tinh/Ap-luc-
dat-chi-tieu-thu-ngan-sach-nam-2021.aspx
http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Tai-chinh/1010944/8-thang-nam-2021-thu-ngan-
sach-nha-nuoc-uoc-dat-10042-nghin-ty-dong
https://www.qdnd.vn/kinh-te/tin-tuc/thu-ngan-sach-nha-nuoc-thang-8-uoc-dat-78-6- nghin-ty-dong-670706
http://baochinhphu.vn/Kinh-te/Kinh-te-Ha-Noi-duy-tri-tang-truong-trong-6-thang-dau- nam/435915.vgp
https://www.vietnamplus.vn/thu-ngan-sach-tp-hcm-van-vuot-chi-du-bi-anh-huong-dich- covid19/737469.vnp
4. Ngoài ra nhóm còn tham khảo các bài thảo luận liên quan đến đề tài. 19