-
Thông tin
-
Quiz
Cuộc xung đột giữa Afghanistan – Pakistan dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực và những tác động của nó đến tình hình thế giới giai đoạn từ năm 2021đến nay | Tiểu luận Lý luận quan hệ quốc tế
Trong giai đoạn hiện nay, thế giới đang chứng kiến những diễn biến phức tạp và khó lường của các cuộc xung đột và chiến tranh diễn ra ở nhiều khu vực khác nhau, đe dọa đến sự hòa bình, ổn định và phát triển của các quốc gia. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Lý luận quan hệ quốc tế 2 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Cuộc xung đột giữa Afghanistan – Pakistan dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực và những tác động của nó đến tình hình thế giới giai đoạn từ năm 2021đến nay | Tiểu luận Lý luận quan hệ quốc tế
Trong giai đoạn hiện nay, thế giới đang chứng kiến những diễn biến phức tạp và khó lường của các cuộc xung đột và chiến tranh diễn ra ở nhiều khu vực khác nhau, đe dọa đến sự hòa bình, ổn định và phát triển của các quốc gia. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Lý luận quan hệ quốc tế 2 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ ----- -----
CUỘC XUNG ĐỘT GIỮA AFGHANISTAN - PAKISTAN
DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN TÌNH HÌNH THẾ GIỚI
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2021 ĐẾN NAY
TIỂU LUẬN MÔN LÝ LUẬN QUAN HỆ QUỐC TẾ
Sinh viên: Nguyễn Thị Bích Quyên
Lớp hành chính: Thông tin đối ngoại K41 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS. Ngô Thị Thúy Hiền, TS. Lưu Thúy Hồng Hà Nội, tháng 12 – 2023 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................................
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.........................................................
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn...............................................................................
6. Kết cấu của tiểu luận..........................................................................................
NỘI DUNG...............................................................................................................
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CUỘC XUNG ĐỘT
GIỮA AFGHANISTAN – PAKISTAN DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ
NGHĨA HIỆN THỰC..............................................................................................
1.1. Cơ sở lý luận...............................................................................................
1.2. Cơ sở thực tiễn..........................................................................................15
Chương 2. CUỘC XUNG ĐỘT GIỮA AFGHANISTAN VÀ PAKISTAN
DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC.......................................20
2.1. Các thành phần tham gia xung đột............................................................20
2.2. Nguyên nhân của xung đột........................................................................22
2.2. Phương tiện và phương pháp xung đột.....................................................27
Chương 3. NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC XUNG ĐỘT GIỮA
AFGHANISTAN VÀ PAKISTAN ĐẾN TÌNH HÌNH THẾ GIỚI GIAI
ĐOẠN TỪ NĂM 2021 ĐẾN NAY VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM
GIẢI QUYẾT CUỘC XUNG ĐỘT......................................................................32
3.1. Tác động đến tình hình thế giới và khu vực..............................................32
3.2. Một số khuyến nghị để giải quyết cuộc xung đột giữa Afghanistan và
Pakistan trong thời gian tới..............................................................................34
KẾT LUẬN.............................................................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................38
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt NATO North Atlantic Treaty
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Organization Tây Dương TTP Tehreek-e-Taliban Pakistan
Tổ chức Taliban ở Pakistan OIC The Organization of Islamic
Tổ chức Hợp tác Hồi giáo Cooperation. SAARC South Asian Association for
Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp Regional Cooperation tác Khu vực GDP
Tổng sản phẩm nội địa Gross domestic product USD United States dollar Đồng đô la Mỹ USIP United States Institute of Viện Hòa bình Hoa Kỳ Peace UNHCR United Nations High
Cao uỷ Liên hợp quốc về Commissioner for Refugees Người tị nạn MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, thế giới đang chứng kiến những diễn biến phức
tạp và khó lường của các cuộc xung đột và chiến tranh diễn ra ở nhiều khu vực
khác nhau, đe dọa đến sự hòa bình, ổn định và phát triển của các quốc gia.
Những cuộc xung đột, chiến tranh ấy không chỉ gây ra những tổn thất nặng nề về
người và của cho các quốc gia, khu vực mà còn tác động sâu sắc đến tình hình
thế giới. Cụ thể, chúng làm gia tăng nguy cơ khủng bố, bất ổn và bạo lực ở nhiều
nơi trên thế giới, đe dọa trực tiếp đến an ninh và ổn định của các quốc gia, khu
vực và toàn cầu, gây ra những tác động tiêu cực đến kinh tế, xã hội, môi trường
và văn hóa của các quốc gia, khu vực.
Tại khu vực Nam Á, cuộc xung đột giữa Afghanistan và Pakistan là một
trong những cuộc xung đột kéo dài và phức tạp nhất. Cuộc xung đột này có
nguồn gốc từ lịch sử, văn hóa, tôn giáo và địa chính trị, và đã gây ra những tổn
thất to lớn về người và của cho hai quốc gia, cũng như tác động tiêu cực đến tình
hình khu vực và thế giới. Cuộc xung đột giữa Afghanistan và Pakistan có thể
được truy nguyên từ thời kỳ thuộc địa của Anh. Khi đó, Afghanistan là một quốc
gia độc lập, trong khi Pakistan là một phần của Ấn Độ, khi đó đang là thuộc địa
của Anh. Liên đoàn Hồi giáo do Muhammad Ali Jinnah đứng đầu, đấu tranh
mạnh mẽ để tách ra thành quốc gia riêng Pakistan, vì lo ngại quyền lực sẽ về tay
người Hindu. Ngày 14-15/8/1947, Pakistan và Ấn Độ lần lượt tuyên bố độc lập
mặc dù chưa rõ ranh giới lãnh thổ. Sau khi Ấn Độ và Pakistan tuyên bố độc lập
vào năm 1947, Afghanistan là quốc gia duy nhất bỏ phiếu phản đối việc Pakistan
gia nhập Liên Hợp Quốc, dẫn đến căng thẳng và xung đột giữa hai quốc gia.
Trong những năm 1970, xung đột Afghanistan - Pakistan đã leo thang
nghiêm trọng do sự can thiệp của Liên Xô vào Afghanistan vào năm 1979, khi
nước này cung cấp vũ khí và viện trợ cho chính phủ Afghanistan, trong khi
Pakistan đã hỗ trợ các lực lượng nổi dậy chống lại chính phủ này. Cuộc xung đột 1
Afghanistan - Pakistan đã tạm lắng dịu trong những năm 1990, khi Liên Xô rút
quân khỏi Afghanistan và chính phủ do Liên Xô hậu thuẫn sụp đổ. Tuy nhiên,
cuộc xung đột này đã bùng phát trở lại vào năm 2001, sau khi Hoa Kỳ xâm lược
Afghanistan để lật đổ chính quyền Taliban. Trong giai đoạn từ năm 2021 đến
nay, cuộc xung đột Afghanistan - Pakistan có những diễn biến mới do sự sụp đổ
của chính quyền Afghanistan do Hoa Kỳ hậu thuẫn vào tháng 8 năm 2021.
Cuộc xung đột giữa Afghanistan và Pakistan có tác động không chỉ đến khu
vực mà còn đến tình hình thế giới, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng di cư, nguy
cơ bùng nổ khủng bố, và ảnh hưởng đến các quốc gia lân cận, tạo ra một bối
cảnh phức tạp và đầy thách thức trong cộng đồng quốc tế.
Chủ nghĩa hiện thực là một trong những trường phái lý thuyết quan trọng
nhất trong quan hệ quốc tế. Thuyết hiện thực được nhiều học giả trên thế giới
vận dụng để phân tích xung đột, cạnh tranh giữa các quốc gia. Thông qua những
luận điểm đã được lịch sử kiểm chứng, chủ nghĩa hiện thực sẽ góp phần làm rõ
nhiều khía cạnh thuộc bản chất của cuộc xung đột giữa Afghanistan và Pakistan
và những tác động của nó đến tình hình thế giới giai đoạn từ năm 2021 đến nay.
Chính vì vậy, việc vận dụng lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực để phân tích,
làm rõ về cuộc xung đột giữa Afghanistan và Pakistan cũng như những ảnh
hưởng của nó đến tình hình thế giới giai đoạn từ năm 2021 đến nay là cần thiết,
có ý nghĩa khoa học, thực tiễn. Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết
của vấn đề, em đã chọn đề tài: “Cuộc xung đột giữa Afghanistan – Pakistan
dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực và những tác động của nó đến tình
hình thế giới giai đoạn từ năm 2021 đến nay” làm đề tài để nghiên cứu trong
tiểu luận kết thúc học phần môn Lý luận Quan hệ quốc tế của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cuộc xung đột giữa
Afghanistan - Pakistan từ năm 2021 đến nay dưới góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện 2
thực, tiểu luận đưa ra những tác động của cuộc xung đột này đến tình hình thế
giới giai đoạn từ năm 2021 đến nay và đề xuất một vài khuyến nghị nhằm giải
quyết cuộc xung đột giữa hai quốc gia Nam Á này trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nêu trên, tiểu luận tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
Một là, lý giải, làm rõ những khái niệm cơ bản về quan hệ quốc tế có liên
quan đến đề tài cũng như lý giải nội dung cơ sở, luận điểm về quốc gia, quyền
lực và xung đột trong quốc tế từ cách tiếp cận của Chủ nghĩa Hiện thực.
Hai là, phân tích, làm rõ nguyên nhân, phương tiện và phương pháp xung
đột của cuộc xung đột giữa Afghanistan và Pakistan dưới góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực.
Ba là, đánh giá những ảnh hưởng, tác động của cuộc xung đột giữa
Afghanistan và Pakistan đến tình hình thế giới và khu vực giai đoạn từ năm 2021
đến nay để có cái nhìn đúng đắn, khách quan về tầm ảnh hưởng của xung đột
giữa hai quốc gia ở Nam Á này đến thế giới và khu vực, từ đó đưa ra một vài
khuyến nghị nhằm giải quyết cuộc xung đột này trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận là Cuộc xung đột giữa Afghanistan
và Pakistan dưới góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực và những tác động của nó
đến tình hình thế giới giai đoạn từ năm 2021 đến nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 đến ngày 20 tháng 12
năm 2023. Giai đoạn này, cuộc xung đột giữa Afghanistan và Pakistan đã diễn ra
với những diễn biến mới, có những tác động sâu sắc đến tình hình thế giới. Cụ
thể, tháng 8 năm 2021 là thời điểm đánh dấu sự kết thúc của cuộc chiến tranh
kéo dài 20 năm của Mỹ và NATO ở Afghanistan. Sự kiện này đã tạo ra một 3
bước ngoặt quan trọng trong tình hình khu vực và thế giới. Taliban, lực lượng
Hồi giáo cực đoan từng bị Mỹ đánh bại, đã nhanh chóng chiếm lại quyền lực ở
Afghanistan, khiến tình hình an ninh khu vực trở nên bất ổn.
Phạm vi không gian: Cuộc xung đột giữa Afghanistan và Pakistan, với
trọng tâm là khu vực biên giới hai nước.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Tiểu luận được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
Chủ nghĩa Hiện thực làm trọng tâm. Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu và xử
lý tài liệu tham khảo, tiểu luận quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng và dựa
trên các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ quốc tế.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế cơ bản
để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài ra tiểu luận còn sử dụng
tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác, bao gồm: phương pháp logic –
lịch sử, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh, phương thu
thập, phân tích và tổng hợp tài liệu, đọc, tham khảo, nghiên cứu các tài liệu có
liên quan đến đối tượng nghiên cứu để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Bài tiểu luận giúp làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn
về cuộc xung đột giữa Afghanistan và Pakistan dưới góc nhìn của Chủ nghĩa
Hiện thực. Đồng thời, thông qua những cơ sở và lý luận của Chủ nghĩa Hiện
thực về quốc gia, quyền lực và xung đột quốc tế, đề tài đánh giá những ảnh
hưởng, tác động của cuộc xung đột đến tình hình thế giới trong giai đoạn từ năm 2021 đến nay.
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài cung cấp thêm tài liệu tham khảo cho sinh viên
cùng những người hoạt động trong lĩnh vực quan hệ quốc tế và thông tin đối 4
ngoại. Đồng thời, bài tiểu luận có đề xuất một vài khuyến nghị nhằm đề xuất
những giải pháp có thể áp dụng nhằm làm dịu, giải quyết cuộc xung đột giữa
Afghanistan và Pakistan trong tương lai.
6. Kết cấu của tiểu luận
Bài tiểu luận gồm có ba phần chính: Mở đầu, Nội dung, Kết luận, ngoài ra
còn có phần Tài liệu tham khảo và Mục lục. Trong đó, phần Nội dung gồm có 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cuộc xung đột giữa Afghanistan -
Pakistan dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực và những tác động của nó đến
tình hình thế giới giai đoạn từ năm 2021 đến nay.
Chương 2: Cuộc xung đột giữa Afghanistan và Pakistan dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực.
Chương 3: Những tác động của cuộc xung đột giữa Afghanistan và Pakistan
đến tình hình thế giới giai đoạn từ năm 2021 đến nay và một số khuyến nghị
nhằm giải quyết cuộc xung đột. 5 NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CUỘC XUNG ĐỘT
GIỮA AFGHANISTAN – PAKISTAN DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1.1. Khái niệm quan hệ quốc tế
Quan hệ quốc tế là sản phẩm của sự phát triển xã hội loài người. Trong xã
hội nguyên thủy chưa có nhà nước do đó quan hệ quốc tế không tồn tại. Khi có
nhà nước, giai cấp thống trị thông qua chức năng đối nội và đối ngoại của nhà
nước để củng cố, mở rộng sự thống trị của mình. Chức năng đối ngoại của nhà
nước là tiền đề hình thành quan hệ quốc tế. Quan hệ quốc tế là một bộ phận tạo
thành của tiến trình lịch sử nhân loại, chịu sự chi phối của những biến đổi lịch sử.
Xét về mặt ngữ nghĩa của từ quan hệ quốc tế (International Relations), quan
hệ (Relations) là những hành vi tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến người khác.
Phải có hai chủ thể quan hệ trở lên thì mới có quan hệ, tức là phải có chủ thể gây
tác động và chủ thể bị tác động thì tác động đó mới trở thành quan hệ. Khi hai
chỉ thể này thuộc hai quốc gia khác nhau thì tác động giữa chúng có tính quốc tế
(International) và quan hệ giữa các chủ thể đó được coi là quan hệ quốc tế.
Như vậy, có thể đưa ra kết luận như sau: Quan hệ quốc tế là sự tương tác
qua biên giới của các chủ thể quan hệ quốc tế1. Theo đó, quan hệ quốc tế chính
là sự tương tác giữa các chủ thể quan hệ quốc tế. Tương tác là tác động qua lại
có tính hai chiều, tức là gồm cả tác động từ chủ thể này và phản ứng của chủ thể
kia. Các tác động này có thể là hành động quan hệ trực tiếp, ví dụ như khi hai
quốc gia có quan hệ ngoại giao hoặc thương mại với nhau, hoặc là hành động
1 Hoàng Khắc Nam (2018), Giáo trình nhập môn Quan hệ quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 6
ảnh hưởng gián tiếp giữa các chủ thể, ví dụ là khi sự thay đổi trong tình hình đối
nội của nước này khiến nước kia cảm thấy quan hệ song phương cũng sẽ thay
đổi nên có phản ứng điều chỉnh. Khi các tác động này diễn ra qua biên giới quốc
gia thì trở thành có tính quốc tế.
1.1.1.2. Khái niệm chủ thể quan hệ quốc tế
Chủ thể nói chung là người tạo ra quan hệ và có khả năng làm thay đổi quan
hệ. Xét về mặt xã hội, chủ thể có thể là con người và các tập hợp hay tổ chức của
con người như gia đình, nhóm xã hội, giai tầng, quốc gia… Quan hệ quốc tế là
một dạng quan hệ xã hội với thực chất là quan hệ giữa người và người nên chủ
thể quan hệ quốc tế cũng không phải là ngoại lệ. Chủ thể quan hệ quốc tế là
những thực thể đóng một vai trò có thể nhận thấy được trong quan hệ quốc tế.2
Chủ thể quan hệ quốc tế là những thực thể, những cá nhân có hoạt động xuyên
quốc gia, hoặc có các hoạt động có tác động, ảnh hưởng xuyên quốc gia, làm nảy
sinh và phát triển các mối quan hệ quốc tế.
Lấy quốc gia làm căn cứ trung tâm, có thể phân chủ thể quan hệ quốc tế làm
hai loại, chủ thể Quốc gia và chủ thể phi Quốc gia, trong đó:
Chủ thể Quốc gia: bao gồm quốc gia hay quốc gia – dân tộc và các phong
trào giải phóng dân tộc. Quốc gia là chủ thể cơ bản và có vai trò lớn nhất trong
quan hệ quốc tế. Quốc gia đương nhiên là chủ thể của luật pháp quốc tế. Quốc
gia có sức mạnh tổng hợp, có quyền lực lớn mạnh hơn vì thế khả năng thực hiện
QHQT của nó có sự lớn mạnh hơn các chủ thể khác.
Chủ thể phi Quốc gia: là những chủ thể quan hệ quốc tế không phải là nhà
nước/quốc gia. Đây là loại chủ thể có sự độc lập tương đối với nhà nước/quốc
gia và có quy mô hoạt động vượt khỏi biên giới quốc gia.
2 Hoàng Khắc Nam (2018), Giáo trình nhập môn Quan hệ quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 7
1.1.1.3. Khái niệm quốc gia
Nhìn nhận dưới góc độ lịch sử và chính trị, có thể đưa ra định nghĩa như
sau: “Quốc gia là một phạm vi lãnh thổ có tính độc lập về phương diện đối
ngoại, trong đó hình thành các cơ cấu không thể tách rời là chính quyền, một
cộng đồng người với yếu tố tập quán, thói quen, tính ngưỡng và các đoàn thể”3.
Quốc gia là một hình thức tổ chức chính trị của con người phổ biến trên
khắp thế giới. Công ước Montevideo về Quyền và Nghĩa vụ Quốc gia (1933)4 đã
đưa khái niệm: Quốc gia là một thực thể pháp lý quốc tế và phải có các đặc tính
sau: Một dân cư thường xuyên, một lãnh thổ xác định và một chính phủ có khả
năng duy trì sự kiểm soát hiệu quả trên lãnh thổ của nó và tiến hành quan hệ
quốc tế với các quốc gia khác. Như vậy, theo khái niệm trên, quốc gia thường
phải hội đủ các dấu hiệu hình thức, bản chất và pháp lý quốc tế. Tuy nhiên, trên
thực tế, các dấu hiệu nói trên đôi khi chỉ mang ý nghĩa tương đối. Vẫn có những
trường hợp thiếu một trong các dấu hiệu nêu trên nhưng vẫn được xem là quốc
gia, phụ thuộc vào quan niệm hay lợi ích của nước công nhận. Ví dụ,
Afghanistan sau khi Mỹ đưa quân vào năm 2001 thì bị phụ thuộc nặng nề vào
Mỹ và không có đầy đủ chủ quyền quốc gia nhưng vẫn được xem là quốc gia.
Chủ quyền quốc gia là một trong các đặc tính của quốc gia. Chủ quyền
quốc gia là quyền tự chủ của một nhà nước độc lập thực hiện các chức năng đối
nội và đối ngoại của mình. Theo khái niệm này, chủ quyền quốc gia gồm hai nội
dung cụ thể: Về mặt đối nội, chủ quyền quốc gia là quyền tối cao hoạch định và
thực thi chính sách đối với cư dân và trên lãnh thổ của mình.
1.1.1.4. Khái niệm xung đột quốc tế
Nhà nghiên cứu Ted Robert Gur đã định nghĩa về xung đột quốc tế như sau:
“hiện tượng xung đột – đó là sự tương tác có tính cưỡng bức, được thể hiện rõ
giữa các cộng đồng đối kháng với nhau”. Đây là một định nghĩa tương đối rộng,
3 Học viện Hành chính Quốc gia (1998), Quan hệ chính trị quốc tế, NXB Giáo dục, Hà Nội.
4 Công ước do 19 nước Châu Mỹ ký kết ngày 26 tháng 12 năm 1933 8
có tính bao quát tất cả các mối đe dọa lớn bế giữa các quốc gia và các cộng đồng
trên thế giới. Ngoài ra, nhà nghiên cứu này còn đưa ra bốn đặc trưng cơ bản của
xung đột quốc tế bao gồm: 1. Có hai hoặc nhiều bên tham gia; 2. Họ bị lôi cuốn
vào các hoạt động đối kháng; 3. Họ có những hành động cưỡng bức nhằm làm
tổn hại, gián đoạn, tiêu diệt hoặc điều khiển đối thủ theo cách khác; 4. Sự tương
tác (hay mối quan hệ đó) của họ được biểu lộ tương đối rõ ràng do vậy những
người ngoài dễ nhận thấy sự xuất hiện của nó.
Những hiện tượng xung đột bao gồm bạo động chính trị, khởi nghĩa, cách
mạng và chiến tranh giữa các dân tộc, xung đột còn có thể xuất hiện khi có các
mối đe dọa, cấm vận, và các hình thức đối đầu khác có thể dẫn đến cuộc chiến
tranh trực tiếp. Nguyên nhân dẫn đến xung đột quốc tế hết sức đa dạng, nó có thể
là nguyên nhân bên trong hoặc bên ngoài, thuộc nhiều lĩnh vực.
1.1.2. Cơ sở của Chủ nghĩa Hiện thực và những luận điểm của Chủ
nghĩa Hiện thực về xung đột quốc tế
1.1.2.1. Cơ sở của Chủ nghĩa Hiện thực
Lịch sử quan hệ quốc tế thế kỉ XX phải kể đến sự gia tăng phức tạp, đa
chiều trong mối quan hệ giữa các quốc gia, đòi hỏi sự linh hoạt trong việc hoạch
định chính sách cũng như chiến lược đối ngoại phù hợp với những biến chuyển
của tình hình thế giới; do đó, đã xuất hiện hàng loạt các lý thuyết khác nhau về
quan hệ quốc tế ở các nước Phương Tây và Mỹ nhằm lý giải động thái giữa các
quốc gia. Một trong những lý thuyết đó là Chủ nghĩa hiện thực về quan hệ quốc
tế (Realism for International Relations).
Chủ nghĩa hiện thực được khẳng định như một trường phái lý luận về quan
hệ quốc tế kể từ sau chiến tranh thế giới thứ. Nhà triết học và thần học R.
Niebuhr được coi là cha tinh thần trực tiếp của Chủ nghĩa hiện thực. Ông cho
rằng, xung đột, chiến tranh giữa các quốc gia chính là biểu hiện bản chất bất
biến, cái ác cố hữu trong cá nhân con người. Chính luận điểm này là cơ sở cho
luận thuyết Hiện thực (Realism) về quan hệ quốc tế. 9
Chủ nghĩa Hiện thực là lý thuyết Quan hệ quốc tế có lịch sử lâu đời nhất
với những tư tưởng đầu tiên có từ trước Công nguyên. Chủ nghĩa Hiện thực quan
tâm chủ yếu tới các nhân tố quy định hành vi và quan hệ giữa các quốc gia trong
quan hệ quốc tế hơn là việc các quốc gia hành động như thế nào. Các lý luận và
luận điểm của nó được xây dựng dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn nhất
định. Cơ sở này bao gồm quan niệm về môi trường vô chính phủ bất biến, vai trò
chủ thể cơ bản của quốc gia, bản chất của con người, chủ nghĩa duy vật, thực
tiễn lịch sử chiến tranh và xung đột, hệ thống quốc tế. Cụ thể như sau:
Môi trường vô chính phủ bất biến: Theo Chủ nghĩa Hiện thực, thế giới mà
bên trong các quốc gia đang tồn tại có đặc tính là vô chính phủ, tức là không có
một quyền hành nào ở trên các quốc gia. Bởi thế, môi trường của quan hệ quốc
tế là môi trường vô chính phủ, và môi trường này sẽ là bất biến. Đơn giản bởi vì
không quốc gia nào muốn bị chi phối, bị áp chế, bị can thiệp bởi một thế lực
khác. Luận điểm này còn được chứng giải thêm bằng quan niệm về chủ quyền
quốc gia. Đối với mọi quốc gia, chủ quyền quốc gia chính là sự tự do cao nhất
tựa như lẽ sống của quốc gia. Vì vậy, mọi quốc gia đều tìm cách đấu tranh để
bảo vệ chủ quyền quốc gia của mình. Khi tất cả quốc gia đều muốn giữ vững chủ
quyền quốc gia thì tình trạng vô chính phủ sẽ được duy trì. Trong chừng mực đó,
đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia chính là góp phần duy trì tình trạng vô chính phủ.
Vai trò chủ thể cơ bản của quốc gia: Quốc gia-dân tộc chính là chủ thể quan
hệ quốc tế cơ bản và quan trọng nhất. Điều đó có nghĩa chỉ có quốc gia-dân tộc
mới có khả năng làm ra quan hệ quốc tế và quyết định sự vận động của quan hệ
quốc tế, chỉ có quan hệ giữa các quốc gia mới là quan hệ quốc tế. Các chủ thể
phi quốc gia khác nếu có cũng chỉ là công cụ củ quốc gia và đóng vai trò thứ
yếu. Quan hệ quốc tế của các chủ thể này nếu có cũng chịu chi phối của quan hệ
giữa các quốc gia và nhằm thực hiện lợi ích của quốc gia trong quan hệ quốc tế. 10
Bản chất của con người: Chủ nghĩa Hiện thực có cái nhìn tương đối bi quan
về bản chất của con người khi cho rằng co người cơ bản là ích kỷ (Egoism) và
thực lợi. Mặc dù không hoàn toàn bác bỏ những tích cách và đặc điểm khác
nhưng Chủ nghĩa Hiện thực coi ích kỷ và tư lợi là đặc tính nổi trổi của con
người. Chính đặc tính này đã ảnh hưởng đến cách xác định lợi ích trong chính
sách đối ngoại của các quốc gia, đến các ứng xử trong quan hệ với các chủ thể
khác và trong cách nhìn nhận về bản chất quan hệ quốc tế. Chính đặc tính sinh
học này đã dẫn đến xu hướng tuyệt đối hóa lợi ích quốc gia, đặt lợi ích lên trên
lợi ích của người khác và từ đó góp phần quy định nên sự tranh giành lợi ích và
quyền lợi trong quan hệ quốc tế. Chủ nghĩa Hiện thực tập trung đề cao ý chí
vươn tới quyền lực như đặc tính xác định của con người.
Nhận thức luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa Hiện thực được xây
dựng dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật, với quan điểm thực tại xã hội
quyết định ý thức xã hội. Chủ nghĩa Hiện thực cũng dựa đáng kể vào chủ nghĩa
hành vi (Behavioralism) như cơ sở nhận thức và phương pháp luận của mình.
Chủ nghĩa Hiện thực coi trọng thực tế diễn ra hơn trải nghiệm nhận thức khi coi
thực tế là cơ sở duy nhất để xây dựng lý thuyết và lý thuyết chỉ có giá trị khi có
khả năng kiểm chứng trong thực tế. Chủ nghĩa hiện thực dựa nhiều vào thực tễ
lịch sử được đúc kết qua hàng nghìn năm để tạo nên sức thuyết phục. Đây là cơ
sở quan trọng mà Chủ nghĩa Hiện thực dựa vào trong cuộc tranh luận với các lý
thuyết quan hệ quốc tế khác để chứng minh tính đúng đắn của mình.
Hệ thống quốc tế: Là sự bổ sung quan trọng nhất của Chủ nghĩa Hiện thực
Mới về yếu tố tác động từ bên ngoài đối với quan hệ quốc tế. Theo Kenneth
Waltz, hệ thống quốc tế được cấu thành từ những quốc gia có chủ quyền và sự
tương tác giữa chúng. Khi đã hình thành, hệ thống quốc tế có tác động ngược lại
tới quốc gia và chi phối quan hệ giữa chúng.
1.1.2.2. Các luận điểm của Chủ nghĩa Hiện thực về quốc gia, quyền lực
và xung đột quốc tế 11
Chủ nghĩa Hiện thực được xây dựng dựa trên cơ sở thực tiễn là lịch sử đầy
rẫy chiến tranh và xung đột. Những lý luận cơ bản và các tác phẩm kinh điểm
của Chủ nghĩa Hiện thực đều ra đời trong bối cảnh chiến tranh và xung đột. Dưới
cái nhìn duy vật, quan điểm coi xung đột là bản chất của quan hệ quốc tế và các
luận điểm chủ yếu khác của Chủ nghĩa Hiện thực đều được đúc rút và chứng
minh từ thực tiễn này. Lịch sử chiến tranh và xung đột kéo dài liên tục hàng
nghìn năm được coi là biểu hiện cho tính quy luật của xung đột. Còn sự phổ biến
chiến tranh và xung đột khắp mọi nơi thì được coi như minh chứng cho tính phổ
quát của xung đột. Xuất phát từ thực tiễn như vậy, Chủ nghĩa Hiện thực đi đến
kết luận xung đột là bản chất của quan hệ quốc tế. Đồng thời, lý thuyết này cũng
nhìn sự vận động của tiến trình lịch sử thế giới nói chung, lịch sử quan hệ quốc
tế nói riêng là có tính chu kỳ. Trong đó, lịch sử là sự nối tiếp của chiến tranh và
xung đột, hết cuộc này đến cuộc khác, cuộc trước chấm dứt thì có cuộc sau thay thế.
Dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, theo Chủ nghĩa Hiện thực
nói chung (bao gồm các trường phái của nó) có những luận điểm cơ bản liên
quan đến quốc gia, quyền lực và xung đột quốc tế như sau:
Một là, môi trường quốc tế vô chính phủ quy định nên tình trạng xung đột
giữa các quốc gia. Quốc gia sống trong môi trường vô chính phủ nên phải cạnh
tranh với nhau. Vì phải cạnh tranh nên luôn tồn tại những mối đe dọa từ bên
ngoài đối với sự tồn vong của quốc gia. Môi trường vô chính phủ là bất biến nên
tình trạng xung đột này cũng là thường xuyên trong quan hệ quốc tế. Vì thế,
quốc gia phải thường xuyên tìm cách nâng cao an ninh quốc gia để đảm bảo cho sự tồn vong của mình.
Hai là, sống trong môi trường vô chính phủ vốn không ai lo cho mình, sống
trong sự cạnh tranh thường xuyên với các quốc gia khác, quốc gia phải tự lực
cứu mình chứ không thể trông mong vào sự giúp đỡ của một chính quyền nào
đó. Quốc gia cũng không thể trông đợi sự cứu giúp từ các nước khác do đặc tính 12
ích kỷ tư lợi của mọi quốc gia. Đối với Chủ nghĩa Hiện thực, bảo vệ lợi ích quốc
gia là công lý lớn nhất. Vì thế, quốc gia luôn quan tâm tới việc đảm bảo chủ
quyền quốc gia và đấu tranh thực hiện lợi ích quốc gia của mình bằng chính thực lực của mình.
Ba là, cũng bởi vì quốc gia có lý trí nên để tồn tại được trong môi trường
quan hệ quốc tế, quốc gia cần phải có quyền lực. Chủ nghĩa hiện thực coi quyền
lực như sự cứu cánh của quốc gia trong thế giới vô chính phủ. Quyền lực là
phương tiện bảo đảm an ninh và sự tồn tại qua việc răn đe, ngăn chặn, phòng
thủ… trước sự xâm lược hay tấn công của đối phương. Quyền lực cũng là
phương tiện để đảm bảo chủ quyền quốc gia trước sự can thiệp, đe dọa, ép buộc
hay kiểm soát… của nước khác. Quyền lực còn là phương tiện thực hiện lợi ích
quốc gia vốn ngày càng mở rộng ra bên ngoài biên giới như tạo thêm lực đẩy
trên bàn đàm phán, đem thêm sức ép trong tranh giành lợi ích hay ngăn chặn sự
xâm hại lợi ích của mình từ phía nước khác. Bởi tính chất sống còn của quyền
lực, nó đã trở thành mục đích cơ bản của chính sách đối ngoại và động cơ chi
phối mạnh mẽ mọi hành vi đối ngoại của quốc gia. Đối với Chủ nghĩa Hiện thực,
quyền lực là mục đích, là phương tiện của quốc gia trong quan hệ quốc tế. Chủ
nghĩa Hiện thực quan tâm tới quan hệ quốc tế không phải chỉ ở việc các quốc gia
hành động gì và hành động như thế nào mà còn rất chú ý tới động cơ mục đích
nằm sau các hành động đó. Động cơ mục đích này chính là quyền lực.
Bốn là, mục tiêu của các quốc gia là tìm cách nâng cao quyền lực nhằm tự
đảm bảo an ninh và sự tồn tại của mình trong hệ thống thông qua việc cố gắng
giành được càng nhiều nguồn lực càng tốt. Mọi quốc gia đều theo đuổi quyền lực
trên trường quốc tế vì thế nên nền chính trị quốc tế là “cuộc đấu tranh vì quyền
lực”. Theo nguyên tắc “zero sum game”, cán cân của mọi cuộc chơi luôn bằng
không, tức là việc quốc gia này tăng cường lợi ích tức là đã làm giảm lợi ích của
quốc gia khác do đó các quốc gia luôn cạnh tranh nhằm tranh giành quyền lực
lẫn nhau, khi một quốc gia này tăng cường quyền lực dẫn đến quốc gia khác nỗ 13
lực tăng cường quyền lực cao hơn để cân bằng lại cán cân quyền lực. Quá trình
cạnh tranh này dẫn tới việc các quốc gia luôn ở trong thế cạnh tranh và đối đầu
lẫn nhau (trong nhiều trường hợp dưới hình thức chiến tranh, xung đột vũ trang)
nhằm theo đuổi lợi ích quốc gia dưới dạng quyền lực, khiến cho các quốc gia
không thể duy trì việc hợp tác một cách lâu dài. Phương thức cạnh tranh quyền
lực của mọi quốc gia là thông qua xung đột.
Năm là, bởi quyền lực là thứ quốc gia nào cũng muốn và không có giới hạn
do quốc gia không bao giờ hài lòng với quyền lực mình đang có cho nên quan hệ
quyền lực là luôn biến động. Bởi sự gia tăng quyền lực được thực hiện chỉ bằng
hai cách hoặc mình mạnh lên hoặc làm đối phương yếu đi nên đấu tranh quyền
lực là không tránh khỏi trong quan hệ giữa các quốc gia. Chính hai lý do này đã
khiến cuộc đấu tranh giành quyền lực là thường xuyên và bất tận trong quan hệ
quốc tế và vì thế xung đột trở thành bản chất của quan hệ quốc tế. Do đó, xung
đột và cạnh tranh là những hình thức quan hệ thường xuyên, phổ biến trong quan
hệ quốc tế và không loại trừ quốc gia nào cả. Như vậy, do mọi quốc gia đều tìm
cách tối đa hóa quyền lực của mình, sự cạnh tranh quyền lực rất dễ dẫn đến xung
đột và chiến tranh. Hòa bình được coi đơn giản là tình trạng không có chiến
tranh nhưng không có nghĩa là xung đột chấm dứt. Quyền lực và xung đột là
logic của chính trị quốc tế. Trong quan hệ quốc tế, quyền lực là tuyệt đối, là bản chất.
Sáu là, do quan niệm coi xung đột là tuyệt đối, là bản chất nên Chủ nghĩa
Hiện thực nhìn hợp tác trong quan hệ quốc tế chỉ là tương đối và hiện tượng chứ
không phải là quá trình. Trước khi bước vào một cuộc xung đột, các quốc gia sẽ
phải trải qua trạng thái ngưng nghỉ, hợp tác được coi là trạng thái này. Thậm chí,
hợp tác chỉ là bên ngoài, còn xung đột là bên trong.
Bảy là, Chủ nghĩa Hiện thực cho rằng quyền lực là nguyên nhân chính quy
định bản chất của xung đột và tình trạng xung đột và chiến tranh vì quyền lực có
thể được hạn chế bằng việc thiết lập cân bằng quyền lực chứ không phải bằng 14
luật pháp quốc tế và thể chế quốc tế. Quyền lực là chìa khóa để lý giải những
cách ứng xử trong quan hệ quốc tế và những tính toán của quốc gia. Chiến tranh,
xung đột, bá quyền, chạy đua vũ trang, sự lưỡng nan an ninh, liên minh, cấu trúc
của hệ thống quốc tế, tranh giành khu vực ảnh hưởng… đều được lý thuyết này
quy về nguyên nhân quyền lực. Quốc gia có thể bình đẳng về mặt pháp lý nhưng
lại không bình đẳng về mặt thực tế do sở hữu quyền lực không như nhau.
Tám là, tình trạng xung đột và chiến tranh vì quyền lực có thể được hạn chế
bằng việc thiết lập cân bằng quyền lực chứ không phải bằng luật pháp quốc tế và
thể chế quốc tế. Cân bằng tương đối vững có thể giúp duy trì ổn định lâu dài
trong quan hệ quốc tế, ngược lại, mất cân bằng hoặc cân bằng không vững có thể
tạo ra bất ổn trong quan hệ giữa các quốc gia.
Bên cạnh đó, dưới cái nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực, quan hệ quốc tế thế
giới hay cụ thể hơn là trật tự thế giới được xây dựng trên nhiều mô hình khác
nhau. Một trong những mô hình nổi tiếng là mô hình những quả bi a (Billiard
Ball Model). Trong đó, các quốc gia được ví như những quả bi a, tức là một thể
thống nhất, chỉ nghĩ đến mình và tương tác giữa chúng chủ yếu là va đập (cạnh
tranh, xung đột). Trong quá trình va đập, mà chính là cạnh tranh và xung đột với
nhau, các quả nhỏ hơn (quyền lực thấp hơn) có thể bị đẩy văng đi hoặc bị dừng
lại, trong khi các quả lớn hơn (quyền lực cao hơn) có thể tiếp tục đi dù có thể hơi
bị giảm tốc độ hoặc chệch hướng chút ít. Sau một hồi va đập, một thế ổn định
tương đối đã được tạo ra tương ứng với một thời kỳ lịch sử để rồi chuẩn bị bước
vào một cuộc va đập mới.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tương quan lực lượng giữa Afghanistan và Pakistan
1.2.1.1. Về Afghanistan
Afghanistan có lực lượng quân sự khá lớn, với khoảng 180.000 quân,
nhưng được trang bị chủ yếu bằng vũ khí và trang bị cũ của Liên Xô và Mỹ.
Afghanistan là một quốc gia đang phát triển, với nền kinh tế phụ thuộc vào nông 15
nghiệp và tài nguyên thiên nhiên. Afghanistan là thành viên của Liên Hợp Quốc,
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), và Tổ chức Hợp tác Hồi giáo
(OIC). Afghanistan là một quốc gia nằm ở vị trí chiến lược, giáp với nhiều quốc
gia lớn trong khu vực, bao gồm Pakistan, Trung Quốc, Iran, và Ấn Độ.
Afghanistan có tiềm năng trở thành một trung tâm thương mại và vận tải của khu
vực, nhưng hiện đang phải đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm xung đột, bất
ổn chính trị, và nghèo đói.
Ở Afghanistan, tháng 8 năm 2021, Mỹ và các đồng minh bắt đầu rút quân
khỏi Afghanistan. Taliban đã nhanh chóng chiếm đóng thủ đô Kabul và lên nắm
chính quyền. Cho đến nay chính quyền do Taliban lãnh đạo vẫn chưa được cộng
đồng quốc tế công nhận. Dù Afghanistan đã chứng kiến một số điều tích cực
dưới thời của Taliban sau 2 năm cầm quyền, song vẫn còn rất nhiều quan ngại về
tình hình chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội và cuộc khủng hoảng nhân đạo. 1.2.1.2. Về Pakistan
Pakistan có lực lượng quân sự lớn thứ 6 thế giới, với khoảng 650.000 quân,
được trang bị hiện đại, bao gồm nhiều loại vũ khí và trang bị của phương Tây.
Pakistan là một quốc gia có nền kinh tế phát triển, với GDP bình quân đầu người
khoảng 1.800 USD. Pakistan là thành viên của Liên Hợp Quốc, Tổ chức Hiệp
ước Nam Á (SAARC), và Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC). Pakistan là một quốc
gia có ảnh hưởng lớn ở khu vực Nam Á. Pakistan là đồng minh quan trọng của Trung Quốc và Hoa Kỳ.
Sau các vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 nhằm vào nước Mỹ,
Washington đã tiến hành chiến tranh chống lại Taliban ở Afghanistan. Khi đó,
Pakistan bị nghi ngờ là “sân sau”, là đồng phạm của các tổ chức Hồi giáo cực
đoan. Xung đột kéo dài hai thập kỷ đã làm rung chuyển sâu sắc Pakistan: Bất ổn
chính trị gia tăng giữa chính quyền dân sự và quân đội; nền kinh tế trên bờ vực
thẳm; mối đe dọa an ninh thường trực, đặc biệt càng trở nên trầm trọng hơn khi
Taliban quay trở lại Kabul, nắm quyền ở Afghanistan. 16