-
Thông tin
-
Quiz
Quan hệ hợp tác chính trị giữa Việt Nam và Liên Bang Nga giai đoạn từ năm 2018 đến nay | Tiểu luận Lý luận quan hệ quốc tế
Bước sang thế kỷ XXI, thế giới có xu hướng xoay trục từ phía Tây sang phía Đông bán cầu, kéo theo nhiều biến động lớn, nhất là về lĩnh vực chính trị và kinh tế. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, với sự đặc biệt về đặc điểm địa chính trị, đã thu hút nhiều sự quan tâm của các cường quốc trên thế giới, hứa hẹn nhiều sự phát triển nhộn nhịp trong tương lai. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Lý luận quan hệ quốc tế 2 tài liệu
Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Quan hệ hợp tác chính trị giữa Việt Nam và Liên Bang Nga giai đoạn từ năm 2018 đến nay | Tiểu luận Lý luận quan hệ quốc tế
Bước sang thế kỷ XXI, thế giới có xu hướng xoay trục từ phía Tây sang phía Đông bán cầu, kéo theo nhiều biến động lớn, nhất là về lĩnh vực chính trị và kinh tế. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, với sự đặc biệt về đặc điểm địa chính trị, đã thu hút nhiều sự quan tâm của các cường quốc trên thế giới, hứa hẹn nhiều sự phát triển nhộn nhịp trong tương lai. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!
Môn: Lý luận quan hệ quốc tế 2 tài liệu
Trường: Học viện Báo chí và Tuyên truyền 2.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Preview text:
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ TIỂU LUẬN
MÔN: LÝ LUẬN QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐỀ TÀI
QUAN HỆ HỢP TÁC CHÍNH TRỊ GIỮA VIỆT NAM VÀ
LIÊN BANG NGA GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2018 ĐẾN NAY
Họ và tên tác giả: Nguyễn Hương Giang Mã sinh viên: 2156110020 Lớp: QHCT&TTQT K41
Giảng viên hướng dẫn:
GVC. Ngô Thị Thuý Hiền, TS. Lưu Thuý Hồng
Hà Nội, tháng 12 – năm 2023 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1 1.
Lý do chọn đề tài......................................................................................1 2.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................2 3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................3 4.
Phương pháp nghiên cứu..........................................................................3 5.
Kết cấu tiểu luận.......................................................................................3
NỘI DUNG...........................................................................................................4
CHƯƠNG I......................................................................................................4
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC
CHÍNH TRỊ GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA.............................4 1.
Cơ sở lý luận về quan hệ hợp tác chính trị giữa Việt Nam và Liên
Bang Nga.......................................................................................................4 2.
Cơ sở thực tiễn về quan hệ hợp tác chính trị giữa Việt Nam và Liên
Bang Nga.......................................................................................................7
Tiểu kết chương I............................................................................................12
CHƯƠNG II...................................................................................................13
THỰC TIỄN QUAN HỆ HỢP TÁC CHÍNH TRỊ GIỮA VIỆT NAM VÀ
LIÊN BANG NGA GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2018 ĐẾN NAY.....................13 1.
Những hoạt động thực tiễn thể hiện mối quan hệ hợp tác chính trị Việt
Nam – Liên Bang Nga giai đoạn từ năm 2018 đến nay...............................13 2.
Đánh giá hiệu quả của hoạt động thực tiễn thể hiện mối quan hệ hợp
tác chính trị Việt Nam – Liên Bang Nga giai đoạn từ năm 2018 đến nay...
……………………………………………………………………….22
Tiểu kết chương II...........................................................................................25
CHƯƠNG III.................................................................................................26
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ HỢP TÁC
CHÍNH TRỊ VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA TRONG TƯƠNG LAI...26
Tiểu kết chương III..........................................................................................27
KẾT LUẬN........................................................................................................28
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................29 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, thế giới có xu hướng xoay trục từ phía Tây sang phía
Đông bán cầu, kéo theo nhiều biến động lớn, nhất là về lĩnh vực chính trị và
kinh tế. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, với sự đặc biệt về đặc điểm địa –
chính trị, đã thu hút nhiều sự quan tâm của các cường quốc trên thế giới, hứa
hẹn nhiều sự phát triển nhộn nhịp trong tương lai. Tại khu vực này, cạnh tranh
chiến lược giữa các nước lớn nhằm gia tăng ảnh hưởng, nâng cao vị thế và uy tín
quốc gia ngày càng quyết liệt hơn, kéo theo sự thay đổi trong chiến lược quốc
gia nhằm đảm bảo lợi ích cho đất nước mình, đồng thời cũng cố gắng kiềm chế
sức ảnh hưởng của quốc gia khác. Chính vì thế, sự xuất hiện và ảnh hưởng của
Liên Bang Nga trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đóng một vai trò vô
cùng quan trọng tới cục diện khu vực.
Nga đã bắt đầu chuyển hướng sự chú ý của mình về hướng Châu Á – Thái
Bình Dương từ những năm 1994, nhưng chỉ thật sự có những chính sách “xoay
trục” về phía Đông vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI nhằm mục đích đẩy
mạnh quá trình hợp tác và hội nhập đối với các quốc gia trong khu vực này. Trên
cơ sở mối quan hệ tốt đẹp của Việt Nam và tiền thân Liên Xô, Nga muốn Việt
Nam đóng vai trò là cầu nối để quốc gia này có thể thâm nhập sâu hơn vào trong
khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và tạo dựng sức ảnh hưởng. Nga coi Việt
Nam là đối tác quan trọng trong chiến lược ngoại giao của Nga bởi Việt Nam có
vị trí địa chiến lược quan trọng, là cửa ngõ nối liền hai vùng Đông Bắc và Đông
Nam Á. Liên Bang Nga nhận thức rõ ràng việc nâng cấp quan hệ với Việt Nam
có thể đáp ứng nhu cầu phát triển của Nga không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các
quốc gia trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là trong thời điểm
hiện tại, khi uy tín, vị thế và vai trò quốc tế của Việt Nam ngày càng tăng cao.
Việt Nam, với quan điểm ngoại giao “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của
các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, 1
đã thực hiện đường lối đối ngoại thân thiện và rộng mở, bày tỏ mong muốn sẵn
sàng hợp tác với tất cả các nước, dẫu có sự khác biệt về chế độ chính trị – xã
hội. Quan hệ Việt Nam – Liên Bang Nga ngày càng được củng cố và tăng cường
trên lĩnh vực chính trị cũng như các lĩnh vực khác. Việc nâng cấp quan hệ Việt –
Nga lên đối tác chiến lược vào năm 2001 và đối tác chiến lược toàn diện vào
năm 2012 đã thúc đẩy quan hệ hai nước lên một tầm cao mới, đồng thời góp
phần nâng cao sức mạnh tổng hợp. Thông qua mối quan hệ tốt đẹp với Nga, vị
thế Việt Nam cũng được tăng cao tsrên trường quốc tế.
Cho tới hiện nay, trải qua hơn 70 năm kể từ khi Nga còn là Liên Xô, quan hệ
Việt Nam – Liên Bang Nga đã đi qua nhiều thăng trầm. Dẫu đã đạt được nhiều
thành tựu hay vẫn còn nhiều hạn chế tồn tại, song hai quốc gia vẫn duy trì được
mối quan hệ chính trị hoà bình và tốt đẹp. Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về
quan hệ hai nước, em đã lựa chọn đề tài “QUAN HỆ HỢP TÁC CHÍNH TRỊ
GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2018 ĐẾN
NAY” làm đề tài tiểu luận.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tế về quan hệ hợp tác chính
trị giữa Việt Nam và Liên Bang Nga trong giai đoạn từ năm 2018 đến nay, tiểu
luận mong muốn đưa ra đánh giá về quan hệ hai quốc gia qua giai đoạn vừa rồi,
đồng thời đưa ra dự báo về xu thế phát triển mối quan hệ Việt Nam – Liên Bang Nga trong tương lai.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể đạt được mục tiêu nêu trên, tiểu luận cần giải quyết một số nhiệm vụ như sau: -
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quan hệ Việt Nam – Liên Bang Nga. -
Phân tích thực trạng quan hệ hợp tác chính trị giữa Việt Nam và Liên
Bang Nga trong giai đoạn từ năm 2018 cho tới hiện nay, từ đó rút ra đánh giá về
mối quan hệ hai quốc gia. 2 -
Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng, dự báo xu hướng phát triển
quan hệ chính trị giữa hai quốc gia.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là mối quan hệ hợp tác chính trị giữa Việt
Nam và Liên Bang Nga từ năm 2018 đến nay.
b. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận được giới hạn như sau:
Về mặt thời gian, những nghiên cứu về quan hệ hợp tác chính trị Việt – Nga
trong khoảng thời gian 5 năm, từ năm 2018 cho tới nay.
Về mặt nội dung, tiểu luận tập trung vào cơ sở về lý luận và thực tiễn, thực
trạng mối quan hệ Việt Nam – Liên Bang Nga.
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử. Về phương pháp cụ thể, tiểu luận sử dụng phương pháp chọn
lọc, logic – lịch sử, phân tích và tổng hợp thông tin từ kết quả nghiên cứu, với
xuất phát điểm là tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
5. Kết cấu tiểu luận
Bên cạnh những phần cơ bản như mục lục, mở đầu, nội dung và kết luận, tiểu
luận còn tập trung làm rõ những nội dung như sau:
Chương I nêu lên những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của mối quan hệ hợp
tác chính trị giữa Việt Nam và Liên Bang Nga trong 5 năm, kể từ năm 2018 cho
tới thời điểm hiện tại.
Chương II tìm hiểu thực trạng quan hệ hợp tác chính trị giữa hai quốc gia Việt
Nam và Liên Bang Nga trong giai đoạn từ năm 2018 đến nay, từ đó rút ra đánh
giá về quan hệ hai nước trong thời gian này.
Chương III dự báo xu hướng phát triển của quan hệ hợp tác chính trị Việt
Nam – Liên Bang Nga trong tương lai trên cơ sở những phân tích từ chương I và
chương II của tiểu luận. 3 NỘI DUNG CHƯƠNG I.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC
CHÍNH TRỊ GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA
1. Cơ sở lý luận về quan hệ hợp tác chính trị giữa Việt Nam và Liên Bang Nga
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm “Chính trị”
Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa
các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vấn đề
giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực Nhà nước, sự tham gia vào
công việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt
động của nhà nước. Trên cơ sở khái niệm này, có thể thấy rằng, chính trị xoay
quanh hai nội dung chủ yếu là “quyền ”
lực và “nhà nước” với trung tâm là “nhà
nước”. Trong chính trị, tiền đề cho quyền lực là sự phục tùng, buộc các cá nhân,
tổ chức khác phải phục tùng theo. Quyền lực nhà nước thống trị xã hội bằng các
hình thức khác nhau như giáo dục, thuyết phục và bạo lực có tổ chức.
Khi khái niệm này xuất hiện, chính trị có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá
trình tồn tại và phát triển của cộng đồng, các quốc gia – dân tộc và nhân loại.
Trong lịch sử đã tồn tại nhiều quan điểm chính trị khác nhau từ Đông sang Tây
của nhiều học giả khác nhau, bàn về những khía cạnh của chính trị. Các nhà
khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, sau khi nghiên cứu những học thuyết khác
nhau về chính trị, đồng thời vận dụng một cách khoa học những lý thuyết và các
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng như chủ nghĩa duy vật
lịch sử, đã khẳng định chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, đấu tranh giai cấp
mà lợi ích giai cấp là hàng đầu. Tuy vậy, sự đấu tranh giai cấp này chỉ có thể trở
thành chính trị khi lợi ích giành được là quyền lực nhà nước. Bên cạnh đó, họ 4
cũng khẳng định chính trị là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm nhất, và cho rằng giải
quyết những vấn đề chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật.
1.1.2. Khái niệm “ quan hệ chính trị quốc tế”
Quan hệ chính trị quốc tế là một phạm trù lịch sử, là sản phẩm của quá trình
phát triển trong đời sống xã hội con người. Khi giai cấp xuất hiện, chính trị với
biểu hiện của nó là nhà nước cũng xuất hiện theo, từng bước khẳng định tầm
quan trọng của mình đối với tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại. Giai cấp
thống trị, thông qua nhà nước, đã sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện các
quan hệ đối nội và đối ngoại, mở rộng sức ảnh hưởng vượt khỏi phạm vi quốc
gia. Từ đó, quan hệ chính trị quốc tế được hình thành, dần dần phát triển và biến
đổi, nhưng không vượt quá đặc điểm bị chi phối bởi các cường quốc.
Về cơ bản, có thể hiểu quan hệ chính trị quốc tế chính là mối quan hệ về mặt
chính trị giữa các nước, giữa các quốc gia dân tộc độc lập có chủ quyền, giữa
các tổ chức quốc tế và phong trào chính trị – xã hội, giữa các vùng, khu vực
xoay quanh những vấn đề cấu thành và vận động của nền chính trị thế giới. Mục
đích của quan hệ chính trị quốc tế có mối liên hệ mật thiết với quyền lực nhà
nước khi các chủ thể quan hệ quốc tế, mà cụ thể là các quốc gia tham gia nhằm
giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước trong phạm vi quốc gia, đồng thời
giành, giữ, sử dụng quyền lực quốc gia trong quan hệ quốc tế. Quyền lực quốc
gia trên trường quốc tế được các quốc gia theo đuổi gồm có ba mức độ khác
nhau, bao gồm nâng cao vị thế đất nước, đẩy mạnh vị thế quốc gia và cuối cùng
là tạo sức ảnh hưởng lên các quốc gia khác.
1.1.3. Khái niệm “Quốc gia”
Dựa trên công ước Montevideo về Quyền và Nghĩa vụ của Quốc gia vào năm
1933, điều 1, quốc gia được khái niệm là “thực thể pháp lý quốc tế và phải có
những đặc tính sau: Một dân cư thường xuyên, một lãnh thổ xác định và một
chính phủ có khả năng duy trì sự kiểm soát hiệu quả trên lãnh thổ của nó và tiến
hành quan hệ quốc tế với quốc gia khác” . Như vậy, trên cơ sở khái niệm trên,
để có thể xác định một chủ thể quan hệ quốc tế có phải là quốc gia không, cần
phải xem xét trên các yếu tố biểu hiện như lãnh thổ xác định, có dân cư ổn định, 5
và quan trọng nhất là có nhà nước có năng lực tham gia vào quan hệ quốc tế,
được các quốc gia khác trên thế giới thừa nhận. Nếu như một trong các yếu tố
trên bị khuyết thiếu thì chủ thể đó không thể được coi là quốc gia.
Quốc gia là chủ thể cơ bản và hoàn chỉnh nhất của quan hệ quốc tế. Nếu như
quốc gia không tồn tại, các quan hệ xuyên biên giới sẽ không được hình thành,
từ đó quan hệ quốc tế cũng không có điều kiện để xuất hiện và phát triển. Mọi
hoạt động quốc tế cơ bản nhất bắt nguồn từ các nhu cầu về quốc gia như xác
định lợi ích quốc gia, thực hiện lợi ích quốc gia thông qua việc hoạch định và thi
hành chính sách đối ngoại. Ngoài ra, các chủ thể khác của quan hệ quốc tế như
tổ chức quốc tế, phong trào xuyên quốc gia,… thường phát sinh từ quốc gia
hoặc có những hoạt động phụ thuộc vào một quốc gia cụ thể. Trong điều kiện
toàn cầu hoá và xu hướng xích lại gần nhau hơn của thế giới, các tổ chức quốc tế
đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế, song vẫn chịu ảnh hưởng nhất
định từ quốc gia như hệ thống luật pháp hoặc đóng vai trò là một phần của chính
sách đối ngoại nhà nước. Hơn hết, quốc gia là chủ thể có sức mạnh quốc tế và
vai trò quan hệ chính trị quốc tế lớn nhất. Quốc gia nắm giữ trong mình sức
mạnh quan trọng có thể ảnh hưởng tới cục diện thế giới, từ sức mạnh cứng như
quân sự, quốc phòng cho tới sức mạnh mềm như văn hoá, truyền thông, kinh tế,
…Các chủ thể phi quốc gia khác cũng có thể có quyền lực về kinh tế hoặc
truyền thông nhưng tuyệt đối không thể vượt quá được sức mạnh mà chủ thể quốc gia nắm giữ.
1.2. Nội dung và phương thức quan hệ giữa hai quốc gia
Hình thức hoạt động ngoại giao giữa Việt Nam và Liên Bang Nga là hình thức
ngoại giao song phương, là mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau trên cơ sở lợi
ích quốc gia, thể hiện tập trung và thông qua hai nhà nước. Quan hệ chính trị
giữa hai quốc gia được thể hiện một cách rõ nét thông qua nội dung và phương thức quan hệ.
Về nội dung, quan hệ giữa hai quốc gia bao gồm những hoạt động thúc đẩy
hợp tác chính trị giữa hai nước, tăng cường quan hệ hoà hảo giữa hai dân tộc,
quốc gia; từ đó tạo điều kiện vững chắc cho sự phát triển quan hệ hai nước trên 6
các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, văn hoá, quân sự, an ninh – quốc phòng,
giáo dục,…Ngoài ra, quan hệ chính trị giữa hai quốc gia góp phần đẩy mạnh quá
trình hội nhập vào đời sống quốc tế của mỗi nước bởi mục tiêu chung của các
quốc gia là giữ gìn và bảo vệ hoà bình chung trong khu vực nói riêng và toàn thế
giới nói chung, đồng thời nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Về phương thức, quan hệ chính trị giữa hai quốc gia được thể hiện trong sự đa
dạng quan hệ giữa các chủ thể chính trị của hai quốc gia. Quan hệ này có thể là
quan hệ giữa hai đảng cầm quyền tại hai quốc gia, mối quan hệ hợp tác giữa hai
nước, hoạt động đối ngoại nhân dân giữa hai đất nước.
2. Cơ sở thực tiễn về quan hệ hợp tác chính trị giữa Việt Nam và Liên Bang Nga
2.1. Tình hình thế giới và khu vực
2.1.1. Tình hình thế giới
Có thể nói, giai đoạn hiện nay đã chứng kiến nhiều sự thay đổi lớn lao trên
thế giởi trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sau những tháng ngày miệt mài
và gian nan chống dịch cùng với sự đồng lòng của tất cả quốc gia trên thế giới,
đại dịch COVID-19 đã được đẩy lùi, tạo điều kiện cho các xu thế mới của quốc
tế phát triển. Những xu hướng như toàn cầu hoá, tự do thương mại, đầu tư hợp
tác cùng phát triển giữa các quốc gia đã diễn ra mạnh mẽ. Bên cạnh đó, việc mở
cửa biên giới và các chuyến bay quốc tế giúp các quốc gia phục hồi thương mại
xuyên biên giới, đồng thời thúc đẩy giao dịch và hợp tác đa lĩnh vực. Hoạt động
giáo dục cũng dần dần được mở rộn, góp phần thúc đẩy trao đổi văn hoá, kiến
thức giữa các dân tộc trên thế giới. Xu hướng hợp tác cùng phát triển trên mọi
phương diện của đời sống xã hội đã trở thành xu hướng chung của thế giới.
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ tư với chủ đề chính là A.I – trí tuệ
nhân tạo đã đánh dấu bước đột phá cho thế giới với những phát minh mới,
internet kết nối vạn vật, trợ lý ảo cùng công nghệ mới về vật lý, sinh học và hoá
học. Đồng thời, sự phát triển lớn mạnh về khoa học, kĩ thuật công nghiệp cũng
đem tới cho các quốc gia, tổ chức và cá nhân trên thế giới nhiều thách thức, đòi 7
hỏi họ phải có những bước chuyển mình về khoa học tiến bộ, để có thể bắt kịp
với xu hướng chung của toàn cầu.
Bên cạnh những thành tựu và bước tiến đáng kể trên nhiều lĩnh vực khác
nhau, thế giới vẫn còn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức. Sự xuất
hiện của hàng loạt các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, khủng bố, nóng lên
toàn cầu, cộng đồng thế giới cần sự hợp tác giữa các quốc gia dân tộc và hợp tác
đa phương cùng giải quyết vấn đề.Về tổng thể, hoà bình thế giới được duy trì,
các cuộc xung đột lớn không xảy ra. Tuy nhiên, tình trạng xung đột vẫn còn diễn
ra liên tục ở khắp các khu vực trên thế giới. Điều này đã dẫn tới khủng hoảng an
ninh, mất cân bằng trật tự làm ảnh hưởng tới nền hoà bình chung vốn mong
manh của thế giới. Cạnh tranh chiến lược, xung đột, mâu thuẫn diễn ra dưới
nhiều hình thức mới, phức tạp và gay gắt hơn trước. Sự sụp đổ của Liên Xô vào
cuối thế kỷ XX đã khiến cho chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, từ một hệ
thống khổng lồ giờ chỉ còn 5 quốc gia kiên định trên con đường xã hội chủ
nghĩa. Liên Xô sụp đổ kéo theo sự thay đổi nhanh chóng về tương quan lực
lượng giữa các quốc gia trên thế giới, phá vỡ trật tự hai cực Yalta kéo dài suốt 50
năm. Biến động chính trị do sự kiện này mang lại đã có ảnh hưởng không nhỏ
tới quan hệ Việt – Nga trong giai đoạn này.
2.1.2. Tình hình khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Thế kỷ XXI đánh dấu bước chuyển dịch trong trung tâm quyền lực thế giới
khi các cường quốc bắt đầu dời sự chú ý của mình về phía Châu Á, xoay trục
quyền lực từ Tây sang Đông bán cầu, dẫn tới sự thay đổi về tương quan lực
lượng giữa các quốc gia. Những năm gần đây, Châu Á – Thái Bình Dương là
khu vực phát triển năng động nhất và trọng tâm địa chiến lược mới của thế giới,
đem lại nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các quốc gia. Tại khu vực này,
cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn nhằm gia tăng ảnh hưởng, nâng cao vị
thế và uy tín quốc gia ngày càng quyết liệt hơn, kéo theo sự thay đổi trong chiến
lược quốc gia nhằm đảm bảo lợi ích tại khu vực này. Một số quốc gia, tổ chức,
đặc biệt là các cường quốc đã điều chỉnh chính sách đối ngoại theo chiều hướng
mở rộng quan hệ hợp tác, nhằm thực hiện lợi ích quốc gia – dân tộc. Sự tập 8
trung đầu tư từ các nền kinh tế hàng đầu thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật
Bản,… cùng với tốc độ tăng trưởng cao (5,6% vào năm 2018 và dự báo 4,8%
vào năm 2023) khiến châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục là địa điểm hấp dẫn
nhất cho thương mại và đầu tư toàn cầu.
Với dân số chiếm một nửa thế giới, trữ lượng tài nguyên thiên nhiên dồi dào,
cùng với nền kinh tế năng động và phát triển, khu vực này đóng vai trò quan
trọng về địa chính trị trong việc hoạch địch chính sách và chiến lược của các
quốc gia. Thực tế là, châu Á – Thái Bình Dương đang nhận được nhiều sự chú ý
của cường quốc và các tổ chức quốc tế quan trọng. Chính vì vậy mà nguy cơ xảy
ra mâu thuẫn và mất ổn định khu vực trở nên thường trực hơn, tạo thành thách
thức cho các quốc gia trong khu vực này. Những năm gần đây, các vụ tranh
chấp về biển đảo, biên giới và chủ quyền quốc gia giữa các nước ở khu vực biển
Đông và Đông Bắc Á vẫn tiềm ẩn những căng thẳng trong mối quan hệ song
phương hoặc đa phương về an ninh tại châu Á – Thái Bình Dương. Những động
thái đó đã làm khu vực châu Á – Thái Bình Dương đứng trước những bất ổn về an ninh khu vực.
Việt Nam là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
còn Nga là đối tác quan trọng của tổ chức này. Trong khái niệm Chính sách Đối
ngoại của Nga vào năm 2016, Nga thể hiện mong muốn tăng cường quan hệ đối
tác đối thoại toàn diện, dài hạn với ASEAN và đưa quan hệ lên tầm đối tác chiến
lược. Nga cũng đã dự tính mở rộng tương tác nhằm thúc dẩy quan hệ thông qua
Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, là cơ sở cho đối thoại chiến lược giữa các lãnh
đạo quốc gia về cải thiện khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Diễn đàn
ASEAN về an ninh,… Ngoài ra, việc Việt Nam và Liên Bang Nga cùng là thành
viên của APEC đã tạo động lực thúc đẩy môi trường hợp tác và thắt chặt quan hệ
giữa hai nước nói riêng và cộng đồng Châu Á – Thái Bình Dương nói chung. 2.2.
Những yếu tố tác động tới quan hệ hợp tác chính trị giữa hai quốc gia
Thế kỷ XXI đánh dấu nhiều biến động về chính trị lẫn kinh tế, có tác động
không hề nhỏ tới tình hình quốc gia và cục diện thế giới. Trật tự thế giới vẫn 9
đang trong quá trình hình thành, vì vậy mà có nhiều biến động lớn, nhất là sau
khi đại dịch COVID-19 xuất hiện. Sau những khủng hoảng về kinh tế từ những
năm đầu thế kỷ XXI, Mỹ đang trên con đường quay trở lại làm siêu cường thế
giới. Với sức mạnh tổng hợp và vị thế vượt trội trên trường quốc tế so với các
quốc gia khác, Mỹ hiện đang đóng vai trò dẫn dắt và chi phối đời sống chính trị,
song khoảng cách trên đường đua đang dần bị thu hẹp với sự xuất hiện và trỗi
dậy, mở rộng phạm vi ảnh hưởng toàn cầu ngày một mạnh mẽ của các quốc gia
và trung tâm quyền lực khác. Trung Quốc vươn lên trong thời kỳ Mỹ và các
nước phương Tây chìm trong khủng hoảng, có tham vọng định hình lại trật tự
thế giới mới với Trung Quốc đóng vai trò trung tâm. Tuy nhiên, đất nước này
vẫn chưa đủ lực để có thể thực hiện mục tiêu, vẫn phải dựa vào tình hình hiện tại
để đạt được lợi ích quốc gia thông qua đòn bẩy về sức mạnh kinh tế, chính trị,
ngoại giao, quân sự,…đồng thời các chiến dịch thông tin để trở thành đối thủ
trong cạnh tranh chiến lược với Mỹ. Hai nhân tố Mỹ và Trung Quốc đóng vai trò
quan trọng trong việc định hình cục diện thế giới, có sức ảnh hưởng đến quan hệ
ngoại giao của các quốc gia mà trong đó, quan hệ Việt Nam – Liên Bang Nga
cũng không phải ngoại lệ.
Yếu tố Mỹ trong quan hệ Việt Nam – Liên Bang Nga từ trước đã là một yếu
tố đáng lưu tâm trong hoạt động hoạch định chính sách đối ngoại của cả hai
quốc gia. Sự vươn lên của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã thu hút sự
chú ý của Mỹ đối với khu vực này. Trong những năm gần đây, chính phủ Mỹ đã
thực hiện nhiều cách thức đa dạng và linh hoạt trong tập hợp lực lượng, xây
dựng quan hệ đối tác với các nước trên từng lĩnh vực, vấn đề và thời điểm khác
nhau. Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ đã đưa ra chiến lược “Ấn Độ
Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, thành lập nhóm “Bộ tứ” bao gồm
Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ, cùng với đó là Liên minh AUKUS (Mỹ,
Australia và Anh). Về kinh tế, Mỹ mở rộng quan hệ thương mại đầu tư với khu
vực bằng cách thông qua FTA với Hàn Quốc, tham gia vào TPP, đồng thời sử
dụng APEC và G20 như phương thức thúc đẩy tự do hoá thương mại, mở cửa thị
trường và giảm thiểu rào cản thương mại. Đối với việc Mỹ tăng cường sự hiện 10
diện của mình tại Châu Á – Thái Bình Dương, quan hệ Việt Nam – Liên Bang
Nga đứng trước nhiều thách thức cũng như cơ hội để phát triển. Nga sẽ không
để mất các đối tác đồng minh của mình cho Mỹ, đồng thời không để Mỹ tạo
dựng quá nhiều sức ảnh hưởng lên khu vực này, bởi lẽ an ninh và kinh tế của
Nga bị đe doạ khi Mỹ đã xuất hiện ở cả Đông và Tây quốc gia này. Ngoài ra, với
sự phát triển ngày càng lớn mạnh từ Trung Quốc, Mỹ cũng muốn gia tăng sức
mạnh nhằm khẳng định sức mạnh siêu cường của mình và kiềm chế Trung Quốc
để bảo vệ lợi ích của Mỹ tại khu vực Châu Á. Còn Nga vừa tăng cường hợp tác
về kinh tế, vừa hợp tác quốc phòng một cách cẩn trọng và xử lý các vấn đề nhạy cảm trong khu vực.
Bên cạnh Mỹ, Trung Quốc là một yếu tố có tác động quan trọng đối với mối
quan hệ chính trị Việt Nam – Liên Bang Nga. Trong lịch sử, Trung Quốc có
quan hệ khăng khít với cả Việt Nam lẫn tiền thân của Nga là Liên Xô khi cả ba
quốc gia đều nằm trong hệ thống Xã hội Chủ nghĩa. Khi Liên Xô tan rã và quan
hệ quốc tế có nhiều biến động, Trung Quốc nổi lên như một cường quốc khu vực
và thế giới, bắt đầu có những tác động rõ ràng tới quan hệ Việt – Nga. Với tham
vọng trở thành cường quốc biển toàn cầu, Trung Quốc thường xuyên có những
động thái gây mất an ninh và trật tự trên các vùng biển Châu Á. Những năm gần
đây, có nhiều dấu hiệu cho thấy Nga và Trung Quốc có những hành động hợp
tác với nhau nhằm đối trọng với Mỹ trong nhiều vấn đề quốc tế, với ví dụ tiêu
biểu là trong cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung vào năm 2018. Ngoài ra, các
cuộc viếng thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao từ hai quốc gia và các cuộc tập
trận quân đội hai nước đã khẳng định điều này. Dù rằng Nga và Trung Quốc
ngày càng tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực như quân sự, kinh tế và chính
trị, mối quan hệ hai nước vẫn bị chi phối bởi lòng tin mong manh và hạn chế bởi
sự mất cân bằng về thế và lực giữa hai nước. Trong khi đó, quan hệ Việt Nam –
Trung Quốc trải qua một quãng thời gian gắn bó mật thiết với rất nhiều thăng
trầm lịch sử. Hai quốc gia có mối quan hệ khăng khít và những nét tương đồng
trên nhiều lĩnh vực. Thế nhưng, với tham vọng làm bá chủ trên biển Đông của
Trung Quốc, Việt Nam dễ dàng bị đe doạ về an ninh, không ít lần đụng độ và va 11
chạm với lực lượng quân sự Trung Quốc trên biển. Vì vậy mà yêu cầu bức thiết
cho Việt Nam là tìm cho đất nước những đồng minh mà sự trở lại Đông Nam Á
của Nga là một cơ hội tốt cho Việt Nam nắm bắt để có thể có những đối trọng
cân thiết để bảo vệ an ninh quốc gia. Như vậy, có thể thấy rằng, Nga đang tìm
cách thắt chặt mối quan hệ với Việt Nam và hướng tới sự phát triển phạm vi ảnh
hưởng của mình trước sự phát triển của Trung Quốc, đồng thời cũng hợp tác với
Trung Quốc để đảm bảo vị thế quyền lực của Nga và duy trì quan hệ tốt với quốc gia này. Tiểu kết chương I
Như vậy, dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn về quan hệ chính trị Việt
Nam – Liên Bang Nga đã được nêu ra tại chương I, có thể thấy rằng quan hệ
Việt – Nga hình thành dựa trên cơ sở nền tảng mối quan hệ truyền thống giữa
hai quốc gia. Những thăng trầm trong quan hệ hai nước xuất hiện do sự tác động
từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Tuy vậy, hai quốc gia Việt Nam và Liên
Bang Nga vẫn hướng tới phát triển mối quan hệ hai nước, thắt chặt tình hữu
nghị và chung tay giải quyết vấn đề mỗi quốc gia, cũng như các vấn đề toàn cầu và khu vực. 12 CHƯƠNG II.
THỰC TIỄN QUAN HỆ HỢP TÁC CHÍNH TRỊ GIỮA VIỆT NAM VÀ
LIÊN BANG NGA GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2018 ĐẾN NAY
1. Những hoạt động thực tiễn thể hiện mối quan hệ hợp tác chính trị
Việt Nam – Liên Bang Nga giai đoạn từ năm 2018 đến nay.
Trải qua hơn 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1950 – 2020), Việt Nam và
Liên Bang Nga đã trở thành Đối tác chiến lược toàn diện. Có thể nói, quan hệ
Việt Nam – Liên Bang Nga là mối quan hệ ngoại giao khăng khít và mật thiết
nhất từ sau khi Liên Xô sụp đổi vào năm 1991. Dẫu rằng hai quốc gia không có
quá nhiều điểm tương đồng về lịch sử hay văn hoá, cũng như khoảng cách địa lý
ngăn cách hai đất nước, nhưng trong mối quan hệ này, Việt Nam và Liên Bang
Nga có sự hiểu biết lẫn nhau sâu sắc. Bước sang thế kỷ XXI, mối quan hệ Việt
Nam – Liên Bang Nga không ngừng được củng cố, tăng cường và thúc đẩy trên
nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Việc ký kết các văn bản và hiệp
định song phương, cùng với nâng cấp mối quan hệ hai nước từ “đối tác chiến
lược” năm 2001 lên “đối tác chiến lược toàn diện” vào năm 2012 đã thúc đẩy
quan hệ hai quốc gia lên một tầm cao mới. Liên Bang Nga cực kỳ nhấn mạnh và
coi trọng vị thế đặc biệt của Việt Nam. Chính phủ Nga coi Việt Nam là cầu nối,
là cửa ngõ để quốc gia này từng bước hội nhập sâu vào trong khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương mà cụ thể hơn là Đông Nam Á. Thông qua quan hệ với Việt
Nam, Nga có thể thực hiện chiến lược chấn hưng lại khu vực phía Đông Nga,
làm đòn bẩy giúp khu vực này phát triển, đồng thời tạo dựng sức ảnh hưởng
nhất định tại khu vực Đông Nam Á, đặc biệt trong hoàn cảnh Mỹ và Trung Quốc
lần lượt có những động thái chứng tỏ quyền lực tại nơi này.
Trong giai đoạn từ năm 2018 đến nay, quan hệ Việt Nam – Liên Bang Nga
trên các lĩnh vực đã đạt được nhiều thành tựu nhất định, thắt chặt thêm tình hữu
nghị giữa hai quốc gia. Mối quan hệ hai nước tiếp tục phát triển một cách tích
cực với mục tiêu và lợi ích chung thông qua khuôn khổ đối tác chiến lược toàn 13
diện. Tuy nhiên, sự bùng nổ của đại dịch COVID-19 vào cuối năm 2019 đã có
tác động không nhỏ tới quan hệ quốc tế trên toàn thế giới nói chung và quan hệ
hợp tác chính trị Việt – Nga nói riêng. Bất chấp những khó khăn do đại dịch
mang lại, hoạt động ngoại giao giữa hai quốc gia vẫn diễn ra hết sức tốt đẹp và
thành công trên cả ba kênh: ngoại giao nhà nước, ngoại giao đảng và đối ngoại nhân dân.
1.1. Những hoạt động thực tế trong giai đoạn trước đại dịch COVID-19
Trước khi đại dịch COVID-19 bùng nổ trên diện rộng và lây lan tới khắp các
vùng đất trên thế giới, quan hệ quốc tế diễn ra trên khắp thế giới với nhịp độ sôi
động và năng động trên tất cả các lĩnh vực. Giai đoạn những năm trước khi đại
dịch bùng nổ (2018 – 2019) đã chứng kiến những sự phát triển đầy sôi động của
quan hệ đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên Bang Nga ở mọi cấp độ, trên tất cả các kênh.
1.1.1. Hoạt động quan hệ nhà nước thể hiện ở cấp Chính phủ
Về phía Việt Nam, các nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đã có hàng loạt
chuyến thăm hữu nghị tới Liên Bang Nga nhằm mục đích tăng cường và thắt
chặt hơn mối quan hệ chiến lược vốn có sẵn nền tảng phát triển tốt đẹp giữa hai quốc gia.
Vào tháng 9/2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thăm chính thức Liên
Bang Nga. Đây là chuyến thăm chính thức Liên Bang Nga đầu tiên sau Đại hội
Đảng lần thứ 12 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đồng thời cũng là chuyến
thăm đầu tiên của Lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam sang Nga sau khi Tổng
thống V. Putin tái đắc cử và hoàn thiện bộ máy lãnh đạo mới. Trong chuyến
thăm lần này, quan hệ Việt – Nga đã đạt được nhiều thoả thuận mới trên nhiều
lĩnh vực khác nhau như: Hiệp định giữa Chính phủ hai nước về hợp tác trong
lĩnh vực bảo đảm an ninh thông tin quốc tế; Bản ghi nhớ về hợp tác và cung cấp
khí tự nhiên hóa lỏng và phát triển nhiệt điện khí tại Việt Nam… Với nhiều thỏa
thuận và văn kiện quan trọng được ký kết, chuyến thăm đã góp phần củng cố
thêm độ tin cậy chính trị cao, tăng cường gắn bó chiến lược toàn diện hai nước
ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả hơn trên tất cả các lĩnh vực; khẳng định 14
chủ trương nhất quán của Việt Nam coi Liên Bang Nga là đối tác ưu tiên hàng
đầu trong chính sách đối ngoại.
Tháng 5/2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bắt đầu chuyến thăm chính
thức Liên Bang Nga. Chuyến thăm này diễn ra trong bối cảnh năm 2019 và năm
2020, hai nước sẽ tổ chức Năm Việt Nam tại Nga và Năm Nga tại Việt Nam
nhân dịp 25 năm ký kết Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu
nghị Việt Nam – Nga (1994 – 2019) và 70 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song
phương (1950 – 2020). Trong chuyến thăm lần này, Thủ tướng Nguyễn Xuân
Phúc đã tham dự và chủ trì Lễ Khai mạc Năm Chéo hữu nghị được tổ chức trọng
thể tại công viên Zariatzhe, trung tâm thủ đô Moskva. Đây là lần đầu tiên Lãnh
đạo cấp cao hai nước quyết định tổ chức Năm Chéo với hơn 120 hoạt động kéo
dài từ quý 2 năm 2019 đến quý 2 năm 2020 để tăng cường và làm sâu sắc hơn
nữa quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Liên Bang Nga. Như vậy
chuyến thăm này khẳng định Việt Nam coi trọng mối quan hệ hữu nghị truyền
thống giữa hai nước và quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Liên
Bang Nga, thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia trên nhiều lĩnh
vực khác nhau như kinh tế, thương mại và đầu tư.
Đáp lại những chuyến thăm của các vị lãnh đạo cấp cao từ phía Việt Nam, các
nhà lãnh đạo cấp cao Liên Bang Nga cũng thực hiện nhiều chuyến thăm cao cấp tới Việt Nam
Tháng 11/2018, nhận lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng
Nga Dimitriv Medvedev đã có chuyến thăm chính thức Việt Nam trong hai ngày
18 và 19/11. Trong chuyến thăm lần này, Thủ tướng Medvedev đã có những
buổi gặp gỡ thân mật với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn
Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân. Lãnh đạo hai quốc gia
đã nhất trí đồng ý rằng quan hệ Việt Nam – Liên Bang Nga diễn ra hết sức tốt
đẹp và bày tỏ hài lòng về sự phát triển trong thời gian qua; cho rằng, quan hệ
trên kênh Ðảng là nền tảng chính trị quan trọng để thúc đẩy quan hệ hai nước;
nhất trí cần tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai Ðảng trong thời
gian tới, trong đó có việc tiếp tục thực hiện cơ chế đối thoại chính trị và Kế 15
hoạch hợp tác giữa hai Ðảng giai đoạn 2018 – 2021. Đồng thời, hai bên khẳng
định tiếp tục tăng cường phối hợp tại các diễn đàn đa phương; đẩy mạnh hợp tác
trong khuôn khổ Liên hợp quốc, APEC, ASEM, ASEAN – Nga, vì lợi ích của
hai dân tộc, vì hòa bình, ổn định và phát triển tại khu vực và trên thế giới. Trong
chuyến thăm Việt Nam lần này, Thủ tướng Medvedev cũng khẳng định, Nga
luôn coi Việt Nam là đối tác hàng đầu của Nga tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
1.1.2. Hoạt động quan hệ nhà nước thể hiện ở cấp Quốc hội
Bên cạnh sự hợp tác trên các kênh ngoại giao Đảng, Nhà nước thì mối quan
hệ hợp tác liên quốc hội (hoặc liên nghị viện) cũng đóng vai trò quan trọng trong
mối quan hệ Việt – Nga.
Tháng 9/2018, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước tới Liên Bang Nga
của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư đã có cuộc hội kiến với Chủ
tịch Duma Quốc gia Nga. Hai bên đánh giá cao sự hợp tác hiệu quả giữa hai
nước trong nhiều năm qua giữa Duma Quốc gia Nga và Quốc hội Việt Nam;
đồng thuận rằng Nghị viện hai nước cần tiếp tục tăng cường trao đổi đoàn ở các
cấp và các nhóm nghị sỹ hữu nghị nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, trao
đổi kinh nghiệm lập pháp; tạo điều kiện pháp lý thuận lợi giúp giải quyết vấn đề
liên quan đến việc đi lại, sinh sống, làm việc của công dân hai nước trên lãnh thổ của nhau.
Cũng trong chuyến thăm đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hội kiến Phó
Chủ tịch Hội đồng Liên Bang Nga Andrey Turchak. Tổng Bí thư trân trọng cảm
ơn Hội đồng Liên Bang và các nghị sĩ của Nga đã luôn đồng thuận, ủng hộ sự
phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh đối với
Việt Nam, Liên Bang Nga vừa là đối tác truyền thống, vừa là người bạn thủy
chung, gắn bó sâu sắc. Đồng thời, Tổng Bí thư cũng đánh giá cao những đóng
góp rất quan trọng của các cơ quan nghị viện hai nước vào việc củng cố mối
quan hệ hữu nghị, đoàn kết và hợp tác toàn diện Việt Nam – Liên Bang Nga và
giữa nhân dân hai nước. 16
Tháng 12/2018, Chủ tịch Duma Quốc gia Nga có chuyến thăm chính thức
Việt Nam với mục đích tăng cường hợp tác liên nghị viện giữa hai quốc gia. Tại
chuyến thăm lần này, hai bên đã ký thoả thuận về việc thành lập Uỷ ban hợp tác
liên nghị viện giữa Quốc hội Việt Nam và Duma Quốc gia Liên Bang Nga. Đây
là cơ chế hợp tác mới, đánh dấu mốc quan trọng khi là lần đầu tiên Quốc hội
Việt Nam tham gia với Nghị viện quốc gia khác.
Tháng 12/2019, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam, bà Nguyễn Thị Kim Ngân cùng
với Đoàn Đại biểu Cấp cao Quốc hội Việt Nam đã đến thăm chính thức Liên
Bang Nga. Tại chuyến thăm lần này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân
lần đầu tiên có bài phát biểu quan trọng tại phiên họp toàn thể với Thượng viện
(Hội đồng Liên Bang Nga). Đây là phiên họp đầu tiên của Uỷ ban hợp tác liên
nghị viện giữa Quốc hội Việt Nam và Duma Quốc gia Liên Bang Nga giữa Quốc
hội hai nước sau chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Duma Quốc gia Nga vào năm 2018. 1.1.3.
Hoạt động quan hệ nhà nước thể hiện ở quan hệ giữa các cấp
chính quyền địa phương.
Bên cạnh những hoạt động thúc đẩy mối quan hệ giữa hai quốc gia ở cấp
trung ương thì quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương giữa Việt Nam và
Liên Bang Nga cũng hết sức được chú trọng. Những hoạt động hợp tác, trao đổi
và kết nối địa phương hai nước được thúc đẩy mạnh mẽ và thực chất hơn. Mối
quan hệ giữa các địa phương kết nghĩa được thắt chặt hơn, đồng thời cũng phát
triển thêm những mối quan hệ với các địa phương khác. Bên cạnh đó, đại sứ
quán cũng nỗ lực tìm kiếm, phối hợp tìm hiểu các cơ hội hợp tác trên nhiều lĩnh
vực như thương mại, đầu tư, tiến tới thiết lập quan hệ hợp tác giữa địa phương
hai nước như tỉnh Kiên Giang với Cộng hoà Tatarstan, tỉnh Bình Thuận với
Kaluga, Nam Định với Krasnodar,… trong năm 2018. Sang năm 2019, Việt
Nam đã có 19 đoàn đại biểu địa phương sang thăm Liên Bang Nga. Các cặp
quan hệ giữa hai địa phương của hai nước cũng đã được xác lập thêm như Hà
Tĩnh, Thanh Hoá với Tula, làm đầy thêm danh sách các địa phương ký kết các
thoả thuận hợp tác giữa Việt Nam và Liên Bang Nga. 17
Các công ty, tập đoàn hai nước cũng tiến hành khởi công xây dựng nhà máy,
xưởng sản xuất tại hai nước. Trong năm 2018, Tập đoàn TH True Milk của Việt
Nam đã xây dựng nhà máy chế biến sữa tại tỉnh Kaluga của Liên Bang Nga. 1.1.4.
Hoạt động ngoại giao nhân dân giữa hai quốc gia
Các hoạt động đối ngoại nhân dân giữa Việt Nam và Liên Bang Nga đóng vai
trò quan trọng trong việc thắt chặt thêm tình hữu nghị giữa hai quốc gia, do đó
mà hai bên rất chú trọng đầu tư vào các hoạt động này. Với quan hệ Đối tác
chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Liên Bang Nga, Hội hữu nghị hai quốc
gia đang tiến hành nhiều hoạt động đa dạng và phong phú, từ cấp Trung ương tới
địa phương trên phạm vi toàn quốc, cho mọi công dân.
Năm 2018 là kỷ niệm 60 năm thành lập Hội Hữu nghị Nga – Việt, đồng thời
là 95 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt chân lên nước Nga. Vì vậy mà các
hoạt động tuyên truyền về đất nước, về con người Việt Nam và về Chủ tịch Hồ
Chí Minh được tổ chức nồng nhiệt tại hai thành phố Moskva và Saint
Petersburg. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tiến hành trao tặng Huân chương hữu
nghị cho các trường đại học, cơ sở đào tạo uy tín của Nga vì những đóng góp
quan trọng trong việc đào tạo cán bộ cho Việt Nam.
Trong năm 2019, Việt Nam và Liên Bang Nga đã tổ chức thành công nhiều sự
kiện văn hoá lớn nhân Kỷ niệm 25 năm Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản
của quan hệ hữu nghị Việt – Nga và hướng tới kỷ niệm 70 năm thiết lập quan hệ
ngoại giao Việt Nam – Liên Bang Nga năm 2020. Sự kiện lần này quy tụ nhiều
nghệ sĩ nổi tiếng của Việt Nam biểu diễn, đồng thời tổ chức nhiều triển lãm
tranh ảnh liên quan tới đất nước và con người hai quốc gia. Ngoài ra, nhân dân
Việt Nam cũng được thưởng thức những chương trình nghệ thuật phong phú,
đặc sắc của lễ hội văn hóa, ẩm thực của Nga trong khuôn khổ "Những ngày
Moskva tại Hà Nội" cũng như chương trình biểu diễn của Đoàn nghệ thuật nước
Cộng hòa Bashkortostan ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, diễn
đàn thanh niên Việt Nam – Liên Bang Nga được tổ chức lần lượt tại Việt Nam
vào tháng 7 và tại Nga vào tháng 10 đã thúc đẩy giao lưu giữa thế hệ trẻ hai
nước. Diễn đàn này, với nhiều hoạt động phong phú và mới mẻ, là cơ hội tốt để 18