




Preview text:
1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18-12-1986.
1. Bối cảnh lịch sử khi thực hiện đường lối đổi mới * Thế giới:
Từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (đặc biệt là công nghệ
thông tin) tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống của các quốc gia, dân tộc.
Đổi mới trở thành xu hướng toàn cầu. Liên Xô và các nước XHCN đều tiến hành cải tổ
sự nghiệp xây dựng XHCN.
=> Các quốc gia, các tổ chức và lực lượng chính trị quốc tế thực hiện điều chỉnh chiến
lược đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bên
trong và đặc điểm của thế giới. * Việt Nam:
Yêu cầu từ Nghị quyết Đại hội IV và Đại hội V của Đảng.
Hậu quả nặng nề của chiến tranh và các khuyết điểm chủ quan từ Đảng, nền kinh tế Việt
Nam lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng.
Sự bao vây, chống phá của các thế lực thù địch đối với Việt Nam.
Đất nước dần lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng.
Dù Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp từng bước tháo gỡ khó khăn như Chỉ
thị số 100-CT/TW, Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm, Cuộc cải cách giá
- lương - tiền năm 1985… nhưng song vẫn không cải thiện được tình hình.
=> Đại hội VI của Đảng diễn ra tại Hà Nội, từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986, gồm
1.129 đại biểu; Đại hội đã thông qua các văn kiện chính trị quan trọng, khởi xướng
đường lối mới toàn diện, bầu Ban Chấp hành Trung ương, bầu Bộ Chính trị, bầu
đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư của Đảng.
2. Đường lối đổi mới toàn diện: Về kinh tế:
Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế.
Đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp chuyển
sang hoạch toán, kinh doanh, kết hợp kế hoạch với thị trường.
Chú trọng ba chương trình kinh tế lớn là lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Quyết định số 217-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (14-11-1987) trao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp.
Ngày 1-1-1988, Lần đầu tiên Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội khóa VIII thông qua.
Các chủ trương trên thể hiện tư duy đổi mới quan trọng về kinh tế của Đảng và đã có
những kết quả nhanh chóng:
+ Cuối năm 1988, chế độ phân phối theo tem phiếu đã được xóa bỏ.
+ Năm 1988 phải nhập hơn 45 vạn tấn gạo thì đến năm 1989 đã đáp ứng được nhu cầu về
lương thực, có dự trữ và xuất khẩu.
+ Hàng tiêu dùng đa dạng, lưu thông tương đối thuận lợi.
+ Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước bước đầu hình thành.
+ Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh hơn trước. Về chính sách xã hội:
Báo cáo Đại hội VI năm 1986 nêu rõ quan điểm vĩ mô về chính sách xã hội là báo
cáo, trong đó chính sách xã hội: Bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người, cần có
chính sách cơ bản, lâu dài, xác định được những nhiệm vụ, phù hợp với yêu cầu, khả
năng trong chặng đường đầu tiên.
Báo cáo Đại hội VI năm 1986 trình bày đầy đủ nhất, toàn diện nhất các phương hướng,
nhiệm vụ cơ bản của chính sách xã hội trong một cấu trúc gồm năm nội dung được in
đậm và đánh số thứ tự:
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước
và trong suốt quá trình phát triển.
Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu.
Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo.
Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”.
Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa.
Các chính sách được Đàng đề ra đã chăm lo, đáp ứng các nhu cầu về giáo dục, văn hóa,
bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân, xây dựng chính sách bảo trợ xã hội.
Về quốc phòng và an ninh:
Đề cao cảnh giác, tăng cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước.
Quyết đánh thắng kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, bảo đảm chủ động trong
mọi tình huống để bảo vệ Tổ quốc.
Về đối ngoại, góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và CNXH.
Bắt đầu từ năm 1990, Đảng và Nhà nước có những chủ trương đối mới về quan hệ đối
ngoại. “Tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm thêm bạn bớt thù, giữ
vững hòa bình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Về xây dựng Đảng
Đảng cần phải đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới công tác tư tưởng; đổi
mới công tác cán bộ và phong cách làm việc, giữ vững các nguyên tắc tổ chức và sinh
hoạt Đảng; tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng.
HNTW(3-1989) và HNTW8(3-1990) tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng.
Nhận xét về đường lối đổi mới mà bạn mô tả có thể được thấy như một nỗ lực
tổng thể để đưa đất nước vào một hướng phát triển bền vững và đa chiều.
Kinh tế: Chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế là một hướng tiếp cận sáng
tạo, giúp giảm rủi ro và tạo cơ hội cho nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, sự tập trung vào
ba chương trình kinh tế lớn (lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, và hàng xuất
khẩu) có thể giúp tăng cường sức mạnh cạnh tranh của quốc gia trên thị trường quốc tế.
Chính sách Xã hội: Chú trọng vào giáo dục, văn hóa, bảo vệ và tăng cường sức
khỏe là quan trọng để xây dựng một xã hội bền vững và phát triển, thể hiện sự
quan tâm đến phúc lợi và chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Quốc phòng và An ninh: Đường lối trên hướng đến bảo vệ sự ổn định và an ninh
của đất nước. Chủ động trong mọi tình huống là một chiến lược quan trọng để đối
mặt với thách thức về an ninh và chiến tranh.
Đối ngoại: Đóng góp vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới cho hòa bình và
độc lập dân tộc là một mục tiêu quan trọng vì nó củng cố vị thế và uy tín quốc tế của đất nước.
Xây dựng Đảng: Đường lối trên rất quan trọng để Đảng có thể đáp ứng mạnh mẽ
với thách thức và cơ hội mới. Tăng cường đoàn kết và nhất trí trong Đảng là yếu
tố chính để duy trì sự ổn định và hiệu quả trong quản lý và lãnh đạo.
Đây là một đường lối tiếp cận toàn diện và có sự kết hợp giữa các yếu tố kinh tế, xã hội,
quốc phòng, đối ngoại và xây dựng Đảng để xây dựng một quốc gia phát triển và mạnh mẽ.
Link video tư liệu Đại hội VI:
https://truyenhinhdulich.vn/video/dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-vi-cua-dang-mo-ra-
thoi-ky-doi-moi-dat-nuoc-26776.html
=> Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) có ý nghĩa lịch sử
trọng đại, đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta. Trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn và đối mới tư duy lý luận nhận thức
rõ hơn về thời kỳ quá độ và về chủ nghĩa xã hội, những quy luật khách quan đang vận
dụng trong thời kỳ quá độ, Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất
nước, được các kỳ Đại hội sau này và các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương của Đảng
bổ sung, cụ thể hóa và phát triển.
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam được tiến hành vào tháng 6-
1991, trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang có những diễn biến phức tạp. Đó là
những biến động đã và đang xảy ra trong các nước xã hội chủ nghĩa, sự tiến công nhiều
phía vào chủ nghĩa xã hội, vào chủ nghĩa Mác-Lênin và Đảng cộng sản, những âm mưu
và thủ đoạn của các thế lực thù địch quốc tế hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực và sự
hoang mang dao động trong một bộ phận lớn những người cộng sản trên thế giới đã tác
động mạnh đến tư tưởng và tình cảm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức từ
ngày 20 đến 25-1-1994, nhằm