PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước Việt Nam được sự thịnh vượng hôm nay nhờ công lao của ông
cha ta với lòng yêu nước sự kiên cường trong bảo vệ tổ quốc. Bên cạnh đó, sự
lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đóng vai trò cùng
quan trọng. Trải qua nhiều kỳ đổi mới, Đảng đã khẳng định vai trò của mình
trong việc xây dựng đất nước bằng việc điều chỉnh, cải cách đấu tranh xóa bỏ
những yếu tố lỗi thời, lạc hậu không phù hợp với thời đại. Trong đó giai đoạn đổi
mới từ năm 1986-1990 nằm trong kế hoạch Nhà nước 5 năm của Đảng được đề
ra lần đầu tiên tại Đại hội VI (12 - 1986) được xem một bước ngoặc quan
Trong thời gian thực hiện hai kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 1985),
cách mạng hội chủ nghĩa nước ta đạt được những thành tựu đáng kể trên các
lĩnh vực đời sống hội. Song cũng gặp không ít khó khăn, đất nước lâm vào
khủng hoảng kinh tế - hội kéo dài; sản xuất tăng chậm không ổn định; nền
kinh tế luôn trong tình trạng thiếu hụt, không tích lũy; lạm phát tăng cao
kéo dài,… Bởi do những chủ trương, chính sách lãnh đạo của đảng về việc phát
triển các lĩnh vực khác nhau không còn phù hợp, đặc biệt việc nạn quan liêu,
bao cấp vẫn chưa được Đảng khắc phục được. Do đó, để khắc phục sai lầm,
khuyết điểm, đưa đất nước ra khỏi thời kỳ khó khăn, khủng hoảng đẩy mạnh
cách mạng hội chủ nghĩa tiến lên, Đảng Nhà nước ra phải tiến hành công
cuộc đổi mới trước hết trên lĩnh vực kinh tế - hội.
Việc nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ này không chỉ
mang giá trị luận còn ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giúp chúng ta hiểu
hơn về cách thức Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn tiếp tục phát
triển trong bối cảnh thế giới thay đổi.
MỤC LỤC
NỘI DUNG
PHẦN MỞ ĐẦU
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - HỘI TRƯỚC
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 1990).
1.1. Bối cảnh lịch sử trong nước quốc tế từ năm 1975 đến năm 1986.
1.1.1. Bối cảnh lịch sử trong nước từ năm 1975 đến năm 1986.
1.1.2. Bối cảnh lịch sử quốc tế từ năm 1976 đến năm 1986.
1.2. Những sai lầm, hạn chế trong chính sách, chủ trương của Đảng trước
thời kỳ đổi mới năm 1986
CHƯƠNG II: THỰC HIỆN ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN MỞ ĐẦU CÔNG
CUỘC CẢI CÁCH KINH TẾ - HỘI VIỆT NAM (1986 1990)
2.1. Đường lối đổi mới của Đảng mở đầu công cuộc cải cách kinh tế - hội
Việt Nam (1986 1990)
2.2. Kết quả bước đầu công cuộc đổi mới bài học kinh nghiệm từ công
cuộc đổi mới (1986 1990)
PHẦN KẾT LUẬN
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - HỘI TRƯỚC
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 1990).
1.1. Bối cảnh lịch sử trong nước quốc tế từ năm 1975 đến năm 1986.
1.1.1. Bối cảnh lịch sử trong nước từ năm 1975 đến năm 1986.
Sau năm 1975, đất nước đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước quá độ
lên chủ nghĩa hội. Đất nước nhiều thuận lợi với sức mạnh tổng hợp, đồng
thời cũng phải khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh. Điểm xuất
phát của Việt Nam về kinh tế - hội còn trình độ thấp. Đảng chủ trương thực
hiện hai kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 1985). Qua đó Đảng đã khẳng định 3
thành tựu nổi bật là: Thực hiện thắng lợi chủ trương thống nhất nước nhà về mặt
nhà nước; đạt được những thành tựu quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa
hội; giành thắng lợi to lớn trong sự nghiệp báo vệ Tờ quốc làm nghĩa vụ quốc
tế. Những thành tựu trên đã tạo cho cách mạng nước ta những nhân tố mới để
tiếp tục tiến lên.
“Thời kỳ này, Nhà nước quản nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành
chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh
nghiệp hoạt động trên sở các quyết định của quan nhà nước thẩm quyền
các chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi
năm trong giai đoạn 1977-1985 tăng 4,65%, trong đó: nông, lâm nghiệp tăng
4,49%/năm; công nghiệp tăng 5,54%/năm xây dựng tăng 2,18%/năm. Theo
loại hình sở hữu, sở hữu quốc doanh tăng 4,29%; sở hữu tập thể tăng 10,26%
sở hữu nhân, thể tăng 0,71%. Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ
này thấp kém hiệu quả. Nông, lâm nghiệp ngành kinh tế quan trọng (chiếm
38,92% GDP trong giai đoạn này), nhưng chủ yếu dựa vào độc canh trồng lúa
nước. Công nghiệp được dồn lực đầu nên mức tăng khá hơn nông nghiệp,
nhưng tỷ trọng trong toàn nền kinh tế còn thấp (chiếm 39,74% GDP), chưa trở
thành động lực để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.
miền Bắc, mặc thu nhập bình quân đầu người một tháng của gia đình
công nhân viên chức tăng từ 27,9 đồng năm 1976 lên đến 270 đồng năm 1984;
thu nhập bình quân đầu người một tháng của gia đình viên hợp tác nông
nghiệp tăng từ 18,7 đồng lên đến 505,7 đồng, nhưng do lạm phát cao, nên đời
sống nhân dân hết sức khó khăn, thiếu thốn.”[…]
Nhìn chung, tình nh kinh tế-xã hội Việt Nam trong giai đoạn này còn
gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế chủ yếu dựa vào kế hoạch hóa tập trung nhưng
lại thiếu hiệu quả. Các chính sách kinh tế - hội như hợp tác hay quốc hữu
hóa không đạt được hiệu quả cao dẫn đến sự trì trệ. Do đó cần phải đề xuất cải
cách để tìm ra các chủ trương, đường lối đổi mới phù hợp nhằm vượt qua thời kỳ
khủng hoảng, khó khăn này
1.1.2. Bối cảnh lịch sử quốc tế từ năm 1976 đến năm 1986.
Sự thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh đã chấm dứt 21 năm chiến đấu
chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam ta thế tình hình quốc tế đã
những thay đổi đáng kể. Mặc chiến thắng của Việt Nam đánh dấu sự kết thúc
cuộc chiến tranh kéo dài với Mỹ, nhưng đất nước ta phải đối mặt với nhiều thách
thức cả về nội bộ lẫn quốc tế. Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh tiếp diễn giữa
Mỹ Liên Xô, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam bước vào thời
kỳ quá độ lên hội chủ nghĩa, nhận được sự ủng hộ từ Liên cũng như các
nước hội chủ nghĩa Đông Âu khác. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Việt Nam
Mỹ vẫn rất căng thẳng, trong khi các biện pháp cấm vận kinh tế của phương
Tây khiến Việt Nam rơi vào tình trạng lập khủng hoảng. Kinh tế đất nước
gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn lương thực, hàng hóa, các vấn đề hội
nghiêm trọng.
Về mặt khu vực, Việt Nam vướng vào các cuộc xung đột căng thẳng với
các quốc gia láng giềng, đặc biệt với Trung Quốc Campuchia. Mối quan hệ
với Trung Quốc trở nên phức tạp hơn sau khi Việt Nam can thiệp vào
Campuchia, lật đổ chế độ Khmer Đỏ vào cuối năm 1978, điều này khiến Trung
Quốc, một trong những đồng minh của Khmer Đỏ, phản đối mạnh mẽ. Các quốc
gia trong khu vực Đông Nam Á, như Thái Lan Indonesia, cũng lo ngại về ảnh
hưởng ngày càng tăng của Việt Nam sau chiến tranh, đặc biệt sự gần gũi của
Việt Nam với Liên Xô. Mặc vậy, Việt Nam vẫn duy trì quan hệ với các nước
trong khối hội chủ nghĩa tiếp tục chống lại ảnh hưởng của Mỹ các quốc
gia phương Tây. Trong bối cảnh này, Việt Nam gặp khó khăn trong việc thiết lập
duy trì mối quan hệ ngoại giao bình thường với nhiều nước trong khu vực,
đồng thời phải đối mặt với những khó khăn nội tại về kinh tế hội do hậu
quả của chiến tranh.
Nhìn chung, tình nh quốc tế trong giai đoạn sau khi Việt Nam đã thống
nhất được hai miền Nam Bắc Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Trong đó phải
đối mặt với sự lập quốc tế, đặc biệt từ Mỹ. Bên cạnh đó quan hệ với Liên
các nước hội chủ nghĩa lại không hoàn toàn đáp ứng được kỳ vọng về
viện trợ kinh tế cho Việt Nam. Mặc phải đối diện với nhiều khó khăn về
ngoại giao kinh tế, Việt Nam vẫn duy trì sự độc lập chính trị tiếp tục nỗ lực
tái thiết đất nước trong bối cảnh quốc tế đầy biến động.
1.2. Những thiếu sót, hạn chế trong chủ trương của Đảng trước thời kỳ
đổi mới năm 1986
1.2.1. Những thiếu sót, hạn chế trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IV của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước ta đã bước vào một kỷ nguyên
mới: Tổ quốc hoàn toàn độc lập, thống nhất, quá độ đi lên chủ nghĩa hội.
Trước những hoàn cảnh lịch sử trong nước thế giới nhiều thuận lợi đồng
thời cũng nhiều khó khăn thách thức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV tại thủ đô Nội vào năm 1976. Đại hội
nêu ra đường lối xây dựng nền kinh tế hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá hội chủ nghĩa nước nhà, xây dựng sở vật
chất - kỹ thuật của chủ nghĩa hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên
sản xuất lớn hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách
hợp trên sở phát triển nông nghiệp công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng
công nghiệp nông nghiệp cả nước thành một cấu công - nông nghiệp; vừa
xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế
trung ương với kinh tế địa phương trong một cấu kinh tế quốc dân thống
nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập hoàn thiện quan hệ
sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ hợp tác,
tương trợ với các nước hội chủ nghĩa anh em trên sở chủ nghĩa quốc tế
hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên sở
giữ vững độc lập, chủ quyền các bên cùng lợi; làm cho nước Việt Nam trở
thành một nước hội chủ nghĩa kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, văn
hoá khoa học, kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, đời sống văn
minh hạnh phúc”.[…]. Quy cho cùng, đích đến của Đảng cũng chính xây
dựng một hội hội chủ nghĩa nền kinh tế mạnh mẽ, khoa học kỹ thuật
tiên tiến, quốc phòng vững mạnh đời sống nhân dân ấm no hạnh phúc.
Tuy nhiên, Đại hội IV của Đảng còn bộc lộ một số hạn chế như: Chưa tổng
kết kinh nghiệm 21 năm xây dựng chủ nghĩa hội miền Bắc, chưa phát hiện
những khuyết tật của hình của hình hội chủ nghĩa đã bộc lộ sau
chiến tranh: Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung không hiệu quả, nạn quan liêu,
tham nhũng,… còn chưa khắc phục. Bên cạnh đó việc dự kiến thời gian hoàn
thành bản nền kinh tế của đất nước đưa từ sản xuất nhỏ lên sản xuất vừa
lớn cũng như việc ưu tiến phát triển các ngành công nghiệp hạng nặng với quy
lớn dường như vượt quá khả năng thực tế đã thể hiện sự nóng vội, hấp tấp
thực tế đã không thể thực hiện được. Ngoài ra còn thiếu đi sự đồng bộ giữa các
ngành, các vùng, chưa tạo ra sự gắn kết giữa công nghiệp nông nghiệp, giữa
các khu vực kinh tế trung ương địa phương. Chính sách này đã khiến cho một
số vùng miền bị bỏ lại phía sau, dẫ đến tình trạng mất cân đội trong phát triển
kinh tế.
Trong thời kỳ này, nhà nước thường giao cho các hợp tác hoặc các đơn
vị sản xuất một chỉ tiêu sản lượng cụ thể, nhưng trong thực tế, do các chế bao
cấp không hiệu quả thiếu động lực, nhiều người đã thực hiện để“khoán chui”
tự do quyết định sản xuất tiêu thụ sản phẩm, vượt qua các hạn chế của hệ
thống phân phối. Điều này thể được thực hiện bằng cách giả mạo số liệu sản
xuất, tiêu thụ ngoài kế hoạch hay một phần sản phẩm để bán ra ngoài“khoán”
hệ thống phân phối chính thức với giá cao hơn. Bên cạnh đó còn xảy ra hiện
tượng nhà nước quy định giá cả nhiều mặt hàng dịch vụ,“xé rào giá”, tc
đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc phân phối hàng hóa. Tuy nhiên, do tình trạng
thiếu thốn hàng hóa, giá cả bị bóp méo không phản ánh đúng nhu cầu thực tế
của thị trường, nhiều đơn vị sản xuất, kinh doanh đã lợi dụng chế này để “xé
rào” tức bán hàng với giá cao hơn mức quy định của nhà nước. Họ tìm cách
"bù giá" cho sự chênh lệch giữa giá quy định giá thị trường, t đó kiếm lời
thông qua việc điều chỉnh giá bán ngoài phạm vi kế hoạch. Các hiện tượng trên
tuy giúp người dân thể cải thiện đời sống, nhưng cũng cho thấy những bất cập
trong chính sách của nhà nước lúc bấy giờ. phản ánh sự thiếu hiệu quả của
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sự bất lực của hệ thống quản khi không
thể đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân. Đồng thời, hiện tượng này cũng góp
phần thúc đẩy quá trình đổi mới, cải cách kinh tế vào những năm 1980, đặc biệt
việc triển khai chính sách đổi mới vào năm 1986, từ đó tạo nền tảng cho quá
trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
định hướng hội chủ nghĩa.
1.2.2. Những thiếu sót, hạn chế trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
V của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau khi tổ chức thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
với còn. Ngày 27/3/1982 Đảng tiến hành Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V
nhằm kiểm điểm, đánh giá thành tựu, khuyết điểm, sai lầm của Đảng, phân tích
nguyên nhân thắng lợi khó khăn của đất nước, những biến động của tình hình
thế giới; khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối chung đường lối kinh tế do
Đại hội lần thứ IV đề ra. Bước vào Đại hội V, Đảng đã nhận thức rằng việc
duy trì các chính sách không thể đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khó khăn.
Đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế kéo dài, tỷ lệ lạm phát cao,
các nguồn lực quốc gia dần cạn kiệt. Chính thế, Đại hội V đã đề ra một đường
lối đổi mới mạnh mẽ, tập trung vào việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung sang nền kinh tế thị trường sự quản của nhà nước. Hơn nữa, sự đột
phá của Đại hội V không chỉ thể hiện lĩnh vực kinh tế còn duy lãnh
đạo, quản lý nhà nước. Tóm lại, sự đột phá của Đại hội V so với Đại hội IV
chính sự thay đổi rệt về duy phát triển kinh tế, từ một nền kinh tế bao
cấp, kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, mở rộng tự do hóa, cạnh
tranh cải cách hành chính, qua đó tạo tiền đề cho một nền kinh tế phát triển
mạnh mẽ hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, những hạn chế của Đại hội V vẫn còn tồn tại ảnh hưởng đến
quá trình phát triển của đất nước. Một trong những hạn chế lớn nhất mặc đã
đưa ra đường lối đổi mới, nhưng việc thực hiện cải cách vẫn còn chậm thiếu
đồng bộ. Đặc biệt trong việc chuyển đổi cấu kinh tế, các chính sách vẫn
chưa thực sự tạo ra được động lực mạnh mẽ cho khu vực kinh tế nhân phát
triển, trong khi khu vực quốc doanh vẫn chiếm ưu thế quá lớn thiếu sự cạnh
tranh. Một hạn chế khác của Đại hội V đã chú trọng đến việc cải cách
phát triển kinh tế, nhưng các chính sách hội lại chưa thực sự đi sâu đầy đủ.
Các vấn đề như bất bình đẳng trong thu nhập, chất lượng cuộc sống, hội
phát triển vẫn còn tồn tại trong hội, đặc biệt giữa các vùng miền giữa các
tầng lớp dân cư. Những chính sách chăm sóc hội, bảo vệ quyền lợi của người
lao động các nhóm yếu thế vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến sự phân
hóa giàu nghèo ngày càng rệt. Những sai lầm nói trên những sai lầm
nghiêm trọng kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến
lược tổ chức thực hiện. Khuynh hướng tưởng chủ yếu của những sai lầm
ấy, đặc biệt những sai lầm về chính sách kinh tế, bệnh chủ quan, duy ý chí,
lối suy nghĩ hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan,
khuynh hướng buông lỏng trong quản kinh tế, hội, không chấp hành
nghiêm chỉnh đường lối nguyên tắc của Đảng. Đó là tưởng tiểu sản, vừa
"tả" khuynh vừa hữu khuynh.
Đúng như Đại hội lần thứ V nhận định, chúng ta vừa chủ quan nóng vội, vừa
bảo thủ trì trệ, trong thực tế hai mặt đó cùng tồn tại đều cản trở bước tiến
của cách mạng. Những sai lầm khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế, hội bắt
nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tưởng, tổ chức công tác cán
bộ của Đảng. Đây nguyên nhân của mọi nguyên nhân”. […]
CHƯƠNG II: THỰC HIỆN ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN MỞ ĐẦU CÔNG
CUỘC CẢI CÁCH KINH TẾ - HỘI VIỆT NAM (1986 1990)
2.1. Đường lối đổi mới của Đảng mở đầu công cuộc cải cách kinh tế -
hội Việt Nam (1986 1990)
Đường lối đổi mới của Đảng được đề ra lần đầu tiên tại đại hội VI (12
1986), trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang phát triển mạnh,
xu thế đối thoại trên thế giới đang dần thay thế xu thế đối đầu. Đổi mới trở thành
xu thế của thời đại. Mở đầu Đại hội, đồng chí Nguyễn Văn Linh ủy viên bộ
chính trị ban chấp hành trung ương Đảng khóa V khẳng định Đại hội VI phải
sự đổi mới của Đảng ta về duy, phong cách, tổ chức cán bộ, đó đổi mới
bước thiết của đất nước. Chỉ đổi mới thì mới thấy đúng, thấy hết được sự thật,
thấy những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa. Đường lối đổi
mới toàn diện do Đại hội VI đề ra thể hiện rõ: “Đại hội đã nhìn thẳng vào sự thật,
đánh giá đúng sự thật, nói sự thật, đánh giá thành tựu, nghiêm túc kiểm điểm,
chỉ những sai lầm, khuyết điểm của Đảng trong thời kỳ 1975 - 1986, Đó
những sai lầm nghiêm trọng kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về
chỉ đạo chiến lược tổ chức thực hiện. Khuynh hướng tưởng chủ yếu của
những sai lầm, khuyết điểm đó, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế, bệnh chủ quan
duy ý chí, lối suy nghĩ hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng
chủ quan. Đó tưởng tiểu sản, vừa tả khuynh vừa hữu khuynh. Nguyên
nhân của mọi nguyên nhân bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động
tưởng, tổ chức công tác cán bộ của Đảng. Đại hội rút ra bốn bài học quý báu:
Một , trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tưởng “lấy
dân làm gốc”. , Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng Hai
hành động theo quy luật khách quan. , phải biết kết hợp sức mạnh dân tộcBa
với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. , chăm lo xây dựng ĐảngBốn
ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng
hội chủ nghĩa”. [ giáo trình lsđ]
Trước những đòi hỏi to lớn, bức xúc của công cuộc cải tạo phát triển
kinh tế, của đời sống nhân dân, nhất thiết Đảng ta phải ơn lên ngang tầm yêu
cầu của tình hình nhiệm vụ, thống nhất ý chí hành động với quyết tâm, nỗ
lực sáng tạo mới. Một mặt, cần phải nhận những nhân tố thuận lợi để phát
huy tới mức tối đa; mặt khác, phải thấy hết khó khăn trong những năm trước mắt
để xác định các chủ trương biện pháp phù hợp, bố trí bước đi tích cực nhưng
vững chắc. Đất nước ta còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác, điều đó đã
ràng. Song, muốn khai thác được các tiềm năng đó, ngoài việc xác định đúng
phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế, đổi mới chế tổ chức quản lý,
phải vốn đầu tư, vật tư, năng lượng... hiện nay trong thời gian tới vẫn
rất hạn. Việc khắc phục sai lầm về điều chỉnh giá, lương, tiền, việc kiện toàn
bộ máy quản xây dựng chế quản mới một cách đồng bộ, tuy cấp bách,
nhưng cũng đòi hỏi nhiều thời gian công sức. Đó điều cần thấy trước.
Để tháo gỡ khó khăn, tạo ra động lực mới, phải đổi mới chế quản kinh
tế với nội dung chủ yếu xoá bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, sửa đổi các chính
sách đòn bẩy kinh tế, hình thành chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch
toán kinh doanh hội chủ nghĩa đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thiết lập
trật tự, kỷ cương. Khâu quyết định bố trí đúng cán bộ, kiện toàn bộ máy quản
lý, đổi mới phong cách l lối làm việc phù hợp với yêu cầu đổi mới cấu
kinh tế chế quản lý. Đi đôi với công cuộc cải tạo phát triển kinh tế,
chúng ta phải triển khai tích cực, kiên quyết bền bỉ các hoạt động về phát triển
hội, xây dựng nền văn hoá mới con người mới, chống các hiện tượng tiêu
cực, nhất tệ tham nhũng, hối lộ, đầu cơ, trục lợi, thiết lập công bằng hội.
Trong khi thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, hội, chúng ta luôn luôn coi trọng
bảo đảm các nhu cầu củng cố quốc phòng an ninh, trước hết nhu cầu
thường xuyên về đời sống các hoạt động khác của lực lượng trang; tổ chức
tốt hơn hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội, góp phần xây dựng
sở vật chất - kỹ thuật cho quốc phòng kinh tế, tự bảo đảm một phần nhu
cầu của lực lượng trang, góp thêm hàng hoá cho tiêu dùng hội xuất
khẩu.
Bên cạnh đó, Đảng ta nhận thức được thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội
Việt Nam cả một thời kỳ lịch sử lâu dài, khó khăn, trải qua nhiều chặng đường
hiện chúng ta đang chặng đường đầu tiên. Nên trước mắt, trong 5 năm
(1986 1990) cần tập trung sức người, sức của thực hiện bằng được nhiệm vụ,
mục tiêu của Ba chương trình kinh tế lớn: lương thực thực phẩm, hàng tiêu
dùng hàng xuất khẩu.
Về lương thực thực phẩm, Đảng ta thường xuyên được chú trọng để đảm
bảo an ninh ơng thực cho người dân. Các chiến lược trong chương trình này
bao gồm việc phát triển nông nghiệp bền vững, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào
sản xuất, bảo quản chế biến thực phẩm, đồng thời cải thiện hạ tầng phân phối
để giảm thiểu tổn thất trong chuỗi cung ứng thực phẩm. Chính phủ thường xuyên
thực hiện các biện pháp hỗ trợ nông dân, khuyến khích đầu vào công nghệ
mới thực hiện các chính sách thu mua lương thực kịp thời trong mùa vụ.
Về hàng tiêu dùng, đây một yếu tố không thể thiếu trong việc thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế cải thiện chất lượng sống của người dân. Các chính sách
tăng cường sản xuất tiêu thụ hàng tiêu dùng nội địa sẽ giúp tạo ra nguồn cung
ứng dồi dào ổn định, giảm thiểu sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu, từ đó
giảm thiểu chi phí góp phần ổn định tỷ giá ngoại tệ. Hơn nữa, việc đẩy mạnh
các chiến lược phát triển các sản phẩm tiêu dùng theo hướng bền vững, xanh
tiết kiệm năng lượng cũng một hướng đi quan trọng trong bối cảnh biến đổi
khí hậu nhu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cao.
Cuối cùng, đây mặt hàng luôn đóng vai trò cực kỳvề hàng xuất khẩu,
quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gia tăng nguồn thu từ
ngoại tệ. Để đạt được mục tiêu này, các kế hoạch cần tập trung vào việc mở rộng
đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nâng cao chất lượng giá trị gia tăng của
các sản phẩm xuất khẩu, t đó gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Chính phủ cần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu thông qua
việc cải thiện chính sách thuế, giảm bớt thủ tục hành chính hỗ trợ phát triển
thương hiệu quốc gia. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu phát triển các ngành
hàng xuất khẩu tiềm năng, như sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm chế biến sâu
từ nông sản cũng cần được chú trọng.
2.2. Kết quả bước đầu công cuộc đổi mới (1986 1990) bài học kinh
nghiệm từ công cuộc đổi mới kể từ năm 1986.
2.2.1. Kết quả bước đầu công cuộc đổi mới (1986 1990)
“Công cuộc đổi mới bước đầu đạt được thành tựu, trước tiên trong việc thực
hiện các mục tiêu của Ba chương trình kinh tế:
Về lương thực thực phẩm, từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn phải
nhập 45 vạn tấn gạo, đến năm 1989, chúng ta đã vươn lên đáp ứng nhu cầu trong
nước, dự trữ xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống nhân dân.
Sản xuất lương thực năm 1988 đạt 19,5 triệu tấn, vượt so với năm 1987 2 triệu
tấn, năm 1989 đạt 21,4 triệu tấn.
Hàng hoá trên thị trường, nhất hàng tiêu dùng, dồi dào, đa dạng lưu
thông tương đối thuận lợi, trong đó nguồn hàng sản xuất trong nước tuy chưa đạt
kế hoạch nhưng vẫn tăng hơn trước tiến bộ về mẫu mã, chất lượng. Các
sở sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường. Phần bao cấp của Nhà nước về vốn,
giá, vật tư, tiền lương v.v. giảm đáng kể.
Kinh tế đối ngoại phát triển mạnh, mở rộng hơn trước về quy mô, hình
thức. Từ năm 1986 đến năm 1990, hàng xuất khẩu tăng gấp 3 lần. Từ năm 1989,
chúng ta tăng thêm các mặt hàng giá trị xuất khẩu lớn như gạo, dầu thô
một số mặthàng mới khác. Năm 1989, nước ta xuất khẩu 1,5 triệu tấn gạo. Nhập
khẩu giảm đáng kể, tiến gần đến mức cân bằng giữa xuất khẩu nhập khẩu.”
[…]
thể nói công cuộc đổi mới bắt đầu tnăm 1986 một bước ngoặt quan
trọng trong lịch sử phát triển của Việt Nam, khi đất nước đối mặt với khủng
hoảng kinh tế hội sâu sắc sau chiến tranh. Chính sách đổi mới đã giúp Việt
Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường,
nơi các thành phần kinh tế nhân, ngoại thương đầu nước ngoài đóng vai
trò quan trọng. Cải cách nông nghiệp, đặc biệt việc giao đất cho nông dân
khuyến khích sản xuất hàng hóa theo chế thị trường, đã góp phần quan trọng
vào việc nâng cao sản lượng nông sản đảm bảo an ninh lương thực. Kinh tế
Việt Nam đã sự phục hồi mạnh mẽ với mức tăng trưởng GDP ổn định, giúp
cải thiện đời sống của người dân. Bên cạnh đó, công cuộc đổi mới cũng thúc đẩy
cải cách chính trị hội, tạo ra không gian mở cho sự tham gia của người dân
vào các quyết định quan trọng cấp sở. Mặc Việt Nam vẫn duy trì hệ
thống chính trị một đảng, nhưng công cuộc đổi mới đã mở ra những hội phát
triển kinh tế mạnh mẽ đưa đất nước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế. Tuy
vậy, quá trình đổi mới không thiếu thử thách, nhưng nhờ vào sự quyết tâm của
Đảng nhân dân, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng, đặt nền
móng cho sự phát triển trong các thập kỷ tiếp theo.
2.2.2. Bài học kinh nghiệm từ công cuộc đổi mới kể từ năm 1986 đến
nay.
Sau gần 40 năm kể từ lúc thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến
nay, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế
hội. Tuy nhiên, quá trình này cũng rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu,
thể kể đến như sau:
Một là, kiên định nhưng phải linh hoạt trong cải cách: Một trong những bài
học lớn nhất sự kiên định với mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng hội chủ nghĩa, đồng thời phải linh hoạt trong việc điều chỉnh các chính
sách phù hợp với thực tiễn. Sự linh hoạt này giúp Việt Nam vượt qua các khủng
hoảng, điều chỉnh chiến ợc phát triển để thích ứng với các thay đổi trong
ngoài nước.
Hai là, hội nhập quốc tế mở cửa nền kinh tế: Việc mở cửa hội nhập
quốc tế một bài học quan trọng trong tiến trình phát triển của Việt Nam. Tham
gia vào các tổ chức quốc tế, kết các hiệp định thương mại tự do, thu hút
đầu nước ngoài đã giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng, đồng
thời tạo ra hội học hỏi, tiếp cận công nghệ nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ba là, phát triển bền vững bảo đảm an sinh hội: Trong quá trình đổi
mới, Việt Nam cũng học được rằng phát triển kinh tế không thể tách rời với bảo
vệ môi trường cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Bảo đảm an sinh
hội, giảm nghèo giải quyết các vấn đề hội yếu tố then chốt để duy trì
sự ổn định phát triển lâu dài.
Thứ tư, nâng tầm quan trọng giáo dục phát triển khoa học kỹ thuật:
Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã nhận thấy rằng để duy trì nâng cao tốc độ
phát triển bền vững, việc đầu vào giáo dục nghiên cứu khoa học công nghệ
yếu tố then chốt. Cải cách giáo dục đào tạo nhân lực chất lượng cao không
chỉ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hiện đại còn tạo ra nền tảng vững chắc
cho sự phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, giúp Việt Nam bắt kịp với xu thế
toàn cầu hóa cách mạng công nghiệp 4.0. Đặc biệt, việc ứng dụng khoa học
công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp, công nghiệp chế biến dịch
vụ đã thúc đẩy năng suất lao động, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Tóm lại, sau gần bốn thập kỷ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước từ năm
1986 đến nay. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã mở ra một giai đoạn
phát triển mạnh mẽ toàn diện, với những bài học quý giá về tính kiên định
trong mục tiêu phát triển, linh hoạt trong việc điều chỉnh chính sách, quan
trọng hơn sự cần thiết phải hội nhập quốc tế, phát triển toàn diện bền vững,
Tất cả đều góp phần hình thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất
nước trong tương lai. Tuy vẫn còn nhiều thách thức, nhưng nhờ vào những kinh
nghiệm đã rút ra từ quá trình đổi mới, Việt Nam thể tự tin tiếp tục tiến bước
trên con đường phát triển bền vững, vươn lên thành một quốc gia phát triển, hội
nhập đóng góp tích cực vào cộng đồng quốc tế.

Preview text:

PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước Việt Nam có được sự thịnh vượng hôm nay nhờ công lao của ông
cha ta với lòng yêu nước và sự kiên cường trong bảo vệ tổ quốc. Bên cạnh đó, sự
lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đóng vai trò vô cùng
quan trọng. Trải qua nhiều kỳ đổi mới, Đảng đã khẳng định vai trò của mình
trong việc xây dựng đất nước bằng việc điều chỉnh, cải cách và đấu tranh xóa bỏ
những yếu tố lỗi thời, lạc hậu không phù hợp với thời đại. Trong đó giai đoạn đổi
mới từ năm 1986-1990 nằm trong kế hoạch Nhà nước 5 năm của Đảng được đề
ra lần đầu tiên tại Đại hội VI (12 - 1986) được xem là một bước ngoặc quan
trọng trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước.
Trong thời gian thực hiện hai kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 – 1985),
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đạt được những thành tựu đáng kể trên các
lĩnh vực đời sống xã hội. Song cũng gặp không ít khó khăn, đất nước lâm vào
khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài; sản xuất tăng chậm và không ổn định; nền
kinh tế luôn trong tình trạng thiếu hụt, không có tích lũy; lạm phát tăng cao và
kéo dài,… Bởi do những chủ trương, chính sách lãnh đạo của đảng về việc phát
triển các lĩnh vực khác nhau không còn phù hợp, đặc biệt là việc nạn quan liêu,
bao cấp vẫn chưa được Đảng khắc phục được. Do đó, để khắc phục sai lầm,
khuyết điểm, đưa đất nước ra khỏi thời kỳ khó khăn, khủng hoảng và đẩy mạnh
cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên, Đảng và Nhà nước ra phải tiến hành công
cuộc đổi mới trước hết là trên lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Việc nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ này không chỉ
mang giá trị lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giúp chúng ta hiểu rõ
hơn về cách thức Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn và tiếp tục phát
triển trong bối cảnh thế giới thay đổi. MỤC LỤC NỘI DUNG PHẦN MỞ ĐẦU MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TRƯỚC
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 – 1990).
1.1. Bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế từ năm 1975 đến năm 1986.

1.1.1. Bối cảnh lịch sử trong nước từ năm 1975 đến năm 1986.
1.1.2. Bối cảnh lịch sử quốc tế từ năm 1976 đến năm 1986.

1.2. Những sai lầm, hạn chế trong chính sách, chủ trương của Đảng trước
thời kỳ đổi mới năm 1986
CHƯƠNG II: THỰC HIỆN ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN MỞ ĐẦU CÔNG
CUỘC CẢI CÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM (1986 – 1990)
2.1. Đường lối đổi mới của Đảng mở đầu công cuộc cải cách kinh tế - xã hội ở Việt Nam (1986 – 1990)
2.2. Kết quả bước đầu công cuộc đổi mới và bài học kinh nghiệm từ công
cuộc đổi mới (1986 – 1990) PHẦN KẾT LUẬN

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TRƯỚC
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI (1986 – 1990).
1.1. Bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế từ năm 1975 đến năm 1986.
1.1.1. Bối cảnh lịch sử trong nước từ năm 1975 đến năm 1986.
Sau năm 1975, đất nước đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Đất nước có nhiều thuận lợi với sức mạnh tổng hợp, đồng
thời cũng phải khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh. Điểm xuất
phát của Việt Nam về kinh tế - xã hội còn ở trình độ thấp. Đảng chủ trương thực
hiện hai kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 – 1985). Qua đó Đảng đã khẳng định 3
thành tựu nổi bật là: Thực hiện thắng lợi chủ trương thống nhất nước nhà về mặt
nhà nước; đạt được những thành tựu quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã
hội; giành thắng lợi to lớn trong sự nghiệp báo vệ Tờ quốc và làm nghĩa vụ quốc
tế. Những thành tựu trên đã tạo cho cách mạng nước ta những nhân tố mới để tiếp tục tiến lên.
“Thời kỳ này, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành
chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh
nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi
năm trong giai đoạn 1977-1985 tăng 4,65%, trong đó: nông, lâm nghiệp tăng
4,49%/năm; công nghiệp tăng 5,54%/năm và xây dựng tăng 2,18%/năm. Theo
loại hình sở hữu, sở hữu quốc doanh tăng 4,29%; sở hữu tập thể tăng 10,26% và
sở hữu tư nhân, cá thể tăng 0,71%. Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ
này thấp và kém hiệu quả. Nông, lâm nghiệp là ngành kinh tế quan trọng (chiếm
38,92% GDP trong giai đoạn này), nhưng chủ yếu dựa vào độc canh trồng lúa
nước. Công nghiệp được dồn lực đầu tư nên có mức tăng khá hơn nông nghiệp,
nhưng tỷ trọng trong toàn nền kinh tế còn thấp (chiếm 39,74% GDP), chưa trở
thành động lực để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.
Ở miền Bắc, mặc dù thu nhập bình quân đầu người một tháng của gia đình
công nhân viên chức tăng từ 27,9 đồng năm 1976 lên đến 270 đồng năm 1984;
thu nhập bình quân đầu người một tháng của gia đình xã viên hợp tác xã nông
nghiệp tăng từ 18,7 đồng lên đến 505,7 đồng, nhưng do lạm phát cao, nên đời
sống nhân dân hết sức khó khăn, thiếu thốn.”[…]
Nhìn chung, tình hình kinh tế-xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn này còn
gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế chủ yếu dựa vào kế hoạch hóa tập trung nhưng
lại thiếu hiệu quả. Các chính sách kinh tế - xã hội như hợp tác xã hay quốc hữu
hóa không đạt được hiệu quả cao dẫn đến sự trì trệ. Do đó cần phải đề xuất cải
cách để tìm ra các chủ trương, đường lối đổi mới phù hợp nhằm vượt qua thời kỳ
khủng hoảng, khó khăn này
1.1.2. Bối cảnh lịch sử quốc tế từ năm 1976 đến năm 1986.
Sự thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh đã chấm dứt 21 năm chiến đấu
chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam ta vì
thế tình hình quốc tế đã có
những thay đổi đáng kể. Mặc dù chiến thắng của Việt Nam đánh dấu sự kết thúc
cuộc chiến tranh kéo dài với Mỹ, nhưng đất nước ta phải đối mặt với nhiều thách
thức cả về nội bộ lẫn quốc tế. Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh tiếp diễn giữa
Mỹ và Liên Xô, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam bước vào thời
kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa, nhận được sự ủng hộ từ Liên Xô cũng như các
nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu khác. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Việt Nam
và Mỹ vẫn rất căng thẳng, trong khi các biện pháp cấm vận kinh tế của phương
Tây khiến Việt Nam rơi vào tình trạng cô lập và khủng hoảng. Kinh tế đất nước
gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn lương thực, hàng hóa, và các vấn đề xã hội nghiêm trọng.
Về mặt khu vực, Việt Nam vướng vào các cuộc xung đột căng thẳng với
các quốc gia láng giềng, đặc biệt là với Trung Quốc và Campuchia. Mối quan hệ
với Trung Quốc trở nên phức tạp hơn
sau khi Việt Nam can thiệp vào
Campuchia, lật đổ chế độ Khmer Đỏ vào cuối năm 1978, điều này khiến Trung
Quốc, một trong những đồng minh của Khmer Đỏ, phản đối mạnh mẽ. Các quốc
gia trong khu vực Đông Nam Á, như Thái Lan và Indonesia, cũng lo ngại về ảnh
hưởng ngày càng tăng của Việt Nam sau chiến tranh, đặc biệt là sự gần gũi của
Việt Nam với Liên Xô. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn duy trì quan hệ với các nước
trong khối xã hội chủ nghĩa và tiếp tục chống lại ảnh hưởng của Mỹ và các quốc
gia phương Tây. Trong bối cảnh này, Việt Nam gặp khó khăn trong việc thiết lập
và duy trì mối quan hệ ngoại giao bình thường với nhiều nước trong khu vực,
đồng thời phải đối mặt với những khó khăn nội tại về kinh tế và xã hội do hậu quả của chiến tranh.
Nhìn chung, tình hình quốc tế trong giai đoạn sau khi Việt Nam đã thống
nhất được hai miền Nam Bắc Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Trong đó phải
đối mặt với sự cô lập quốc tế, đặc biệt là từ Mỹ. Bên cạnh đó quan hệ với Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa lại không hoàn toàn đáp ứng được kỳ vọng về
viện trợ kinh tế cho Việt Nam. Mặc dù phải đối diện với nhiều khó khăn về
ngoại giao và kinh tế, Việt Nam vẫn duy trì sự độc lập chính trị và tiếp tục nỗ lực
tái thiết đất nước trong bối cảnh quốc tế đầy biến động.
1.2. Những thiếu sót, hạn chế trong chủ trương của Đảng trước thời kỳ đổi mới năm 1986
1.2.1. Những thiếu sót, hạn chế trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IV của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước ta đã bước vào một kỷ nguyên
mới: Tổ quốc hoàn toàn độc lập, thống nhất, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trước những hoàn cảnh lịch sử trong nước và thế giới có nhiều thuận lợi đồng
thời cũng có nhiều khó khăn thách thức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV tại thủ đô Hà Nội vào năm 1976. Đại hội
nêu ra đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nước nhà, xây dựng cơ sở vật
chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên
sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách
hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng
công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công - nông nghiệp; vừa
xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế
trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống

nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ
sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ hợp tác,
tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế xã
hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở
giữ vững độc lập, chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở
thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, văn
hoá và khoa học, kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn
minh và hạnh phúc”.
[…]. Quy cho cùng, đích đến của Đảng cũng chính là xây
dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế mạnh mẽ, khoa học kỹ thuật
tiên tiến, quốc phòng vững mạnh và đời sống nhân dân ấm no hạnh phúc.
Tuy nhiên, Đại hội IV của Đảng còn bộc lộ một số hạn chế như: Chưa tổng
kết kinh nghiệm 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, chưa phát hiện
những khuyết tật của mô hình của mô hình xã hội chủ nghĩa đã bộc lộ rõ sau
chiến tranh: Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung không hiệu quả, nạn quan liêu,
tham nhũng,… còn chưa khắc phục. Bên cạnh đó việc dự kiến thời gian hoàn
thành cơ bản nền kinh tế của đất nước đưa từ sản xuất nhỏ lên sản xuất vừa và
lớn cũng như việc ưu tiến phát triển các ngành công nghiệp hạng nặng với quy
mô lớn dường như vượt quá khả năng thực tế đã thể hiện sự nóng vội, hấp tấp và
thực tế đã không thể thực hiện được. Ngoài ra còn thiếu đi sự đồng bộ giữa các
ngành, các vùng, chưa tạo ra sự gắn kết giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa
các khu vực kinh tế trung ương và địa phương. Chính sách này đã khiến cho một
số vùng miền bị bỏ lại phía sau, dẫ đến tình trạng mất cân đội trong phát triển kinh tế.
Trong thời kỳ này, nhà nước thường giao cho các hợp tác xã hoặc các đơn
vị sản xuất một chỉ tiêu sản lượng cụ thể, nhưng trong thực tế, do các cơ chế bao
cấp không hiệu quả và thiếu động lực, nhiều người đã thực hiện “khoán chui” để
tự do quyết định sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, vượt qua các hạn chế của hệ
thống phân phối. Điều này có thể được thực hiện bằng cách giả mạo số liệu sản
xuất, tiêu thụ ngoài kế hoạch hay “khoán” một phần sản phẩm để bán ra ngoài
hệ thống phân phối chính thức với giá cao hơn. Bên cạnh đó còn xảy ra hiện
tượng “xé rào bù giá”, tức nhà nước quy định giá cả nhiều mặt hàng và dịch vụ,
đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc phân phối hàng hóa. Tuy nhiên, do tình trạng
thiếu thốn hàng hóa, giá cả bị bóp méo và không phản ánh đúng nhu cầu thực tế
của thị trường, nhiều đơn vị sản xuất, kinh doanh đã lợi dụng cơ chế này để “xé
rào” – tức là bán hàng với giá cao hơn mức quy định của nhà nước. Họ tìm cách
"bù giá" cho sự chênh lệch giữa giá quy định và giá thị trường, từ đó kiếm lời
thông qua việc điều chỉnh giá bán ở ngoài phạm vi kế hoạch. Các hiện tượng trên
tuy giúp người dân có thể cải thiện đời sống, nhưng cũng cho thấy những bất cập
trong chính sách của nhà nước lúc bấy giờ. Nó phản ánh sự thiếu hiệu quả của
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và sự bất lực của hệ thống quản lý khi không
thể đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân. Đồng thời, hiện tượng này cũng góp
phần thúc đẩy quá trình đổi mới, cải cách kinh tế vào những năm 1980, đặc biệt
là việc triển khai chính sách đổi mới vào năm 1986, từ đó tạo nền tảng cho quá
trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.2.2. Những thiếu sót, hạn chế trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
V của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau khi tổ chức thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
với còn. Ngày 27/3/1982 Đảng tiến hành Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V
nhằm kiểm điểm, đánh giá thành tựu, khuyết điểm, sai lầm của Đảng, phân tích
nguyên nhân thắng lợi và khó khăn của đất nước, những biến động của tình hình
thế giới; khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối chung và đường lối kinh tế do
Đại hội lần thứ IV đề ra. Bước vào Đại hội V, Đảng đã nhận thức rõ rằng việc
duy trì các chính sách cũ không thể đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khó khăn.
Đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế kéo dài, tỷ lệ lạm phát cao, và
các nguồn lực quốc gia dần cạn kiệt. Chính vì thế, Đại hội V đã đề ra một đường
lối đổi mới mạnh mẽ, tập trung vào việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Hơn nữa, sự đột
phá của Đại hội V không chỉ thể hiện ở lĩnh vực kinh tế mà còn ở tư duy lãnh
đạo, quản lý nhà nước. Tóm lại, sự đột phá của Đại hội V so với Đại hội IV
chính là sự thay đổi rõ rệt về tư duy phát triển kinh tế, từ một nền kinh tế bao
cấp, kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, mở rộng tự do hóa, cạnh
tranh và cải cách hành chính, qua đó tạo tiền đề cho một nền kinh tế phát triển
mạnh mẽ và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, những hạn chế của Đại hội V vẫn còn tồn tại và ảnh hưởng đến
quá trình phát triển của đất nước. Một trong những hạn chế lớn nhất là mặc dù đã
đưa ra đường lối đổi mới, nhưng việc thực hiện cải cách vẫn còn chậm và thiếu
đồng bộ. Đặc biệt là trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, các chính sách vẫn
chưa thực sự tạo ra được động lực mạnh mẽ cho khu vực kinh tế tư nhân phát
triển, trong khi khu vực quốc doanh vẫn chiếm ưu thế quá lớn và thiếu sự cạnh
tranh. Một hạn chế khác của Đại hội V là dù đã chú trọng đến việc cải cách và
phát triển kinh tế, nhưng các chính sách xã hội lại chưa thực sự đi sâu và đầy đủ.
Các vấn đề như bất bình đẳng trong thu nhập, chất lượng cuộc sống, và cơ hội
phát triển vẫn còn tồn tại trong xã hội, đặc biệt là giữa các vùng miền và giữa các
tầng lớp dân cư. Những chính sách chăm sóc xã hội, bảo vệ quyền lợi của người
lao động và các nhóm yếu thế vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến sự phân
hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt. “Những sai lầm nói trên là những sai lầm
nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến
lược và tổ chức thực hiện. Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm
ấy, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, là bệnh chủ quan, duy ý chí,
lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan,
là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành
nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng. Đó là tư tưởng tiểu tư sản, vừa
"tả" khuynh vừa hữu khuynh.
Đúng như Đại hội lần thứ V nhận định, chúng ta vừa chủ quan nóng vội, vừa
bảo thủ trì trệ, trong thực tế hai mặt đó cùng tồn tại và đều cản trở bước tiến
của cách mạng. Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế, xã hội bắt

nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán
bộ của Đảng. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân”.
[…]
CHƯƠNG II: THỰC HIỆN ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN MỞ ĐẦU CÔNG
CUỘC CẢI CÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM (1986 – 1990)
2.1. Đường lối đổi mới của Đảng mở đầu công cuộc cải cách kinh tế - xã
hội ở Việt Nam (1986 – 1990)
Đường lối đổi mới của Đảng được đề ra lần đầu tiên tại đại hội VI (12 –
1986), trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật đang phát triển mạnh,
xu thế đối thoại trên thế giới đang dần thay thế xu thế đối đầu. Đổi mới trở thành
xu thế của thời đại. Mở đầu Đại hội, đồng chí Nguyễn Văn Linh ủy viên bộ
chính trị ban chấp hành trung ương Đảng khóa V khẳng định Đại hội VI phải có
sự đổi mới của Đảng ta về tư duy, phong cách, tổ chức cán bộ, đó là đổi mới
bước thiết của đất nước. Chỉ có đổi mới thì mới thấy đúng, thấy hết được sự thật,
thấy những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa. Đường lối đổi
mới toàn diện do Đại hội VI đề ra thể hiện rõ: “Đại hội đã nhìn thẳng vào sự thật,
đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá thành tựu, nghiêm túc kiểm điểm,
chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm của Đảng trong thời kỳ 1975 - 1986, Đó là
những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về
chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của
những sai lầm, khuyết điểm đó, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế, là bệnh chủ quan
duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng
chủ quan. Đó là tư tưởng tiểu tư sản, vừa tả khuynh vừa hữu khuynh. Nguyên
nhân của mọi nguyên nhân bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư
tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng. Đại hội rút ra bốn bài học quý báu:
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy
dân làm gốc”. Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và
hành động theo quy luật khách quan. Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng
ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã
hội chủ nghĩa”. [ giáo trình lsđ]
Trước những đòi hỏi to lớn, bức xúc của công cuộc cải tạo và phát triển
kinh tế, của đời sống nhân dân, nhất thiết Đảng ta phải vươn lên ngang tầm yêu
cầu của tình hình và nhiệm vụ, thống nhất ý chí và hành động với quyết tâm, nỗ
lực và sáng tạo mới. Một mặt, cần phải nhận rõ những nhân tố thuận lợi để phát
huy tới mức tối đa; mặt khác, phải thấy hết khó khăn trong những năm trước mắt
để xác định các chủ trương và biện pháp phù hợp, bố trí bước đi tích cực nhưng
vững chắc. Đất nước ta còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác, điều đó đã rõ
ràng. Song, muốn khai thác được các tiềm năng đó, ngoài việc xác định đúng
phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế, đổi mới cơ chế và tổ chức quản lý,
phải có vốn đầu tư, vật tư, năng lượng... mà hiện nay và trong thời gian tới vẫn
rất có hạn. Việc khắc phục sai lầm về điều chỉnh giá, lương, tiền, việc kiện toàn
bộ máy quản lý và xây dựng cơ chế quản lý mới một cách đồng bộ, tuy cấp bách,
nhưng cũng đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Đó là điều cần thấy trước.
Để tháo gỡ khó khăn, tạo ra động lực mới, phải đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế với nội dung chủ yếu là xoá bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, sửa đổi các chính
sách đòn bẩy kinh tế, hình thành cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch
toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thiết lập
trật tự, kỷ cương. Khâu quyết định là bố trí đúng cán bộ, kiện toàn bộ máy quản
lý, đổi mới phong cách và lề lối làm việc phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ cấu
kinh tế và cơ chế quản lý. Đi đôi với công cuộc cải tạo và phát triển kinh tế,
chúng ta phải triển khai tích cực, kiên quyết và bền bỉ các hoạt động về phát triển
xã hội, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới, chống các hiện tượng tiêu
cực, nhất là tệ tham nhũng, hối lộ, đầu cơ, trục lợi, thiết lập công bằng xã hội.
Trong khi thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, chúng ta luôn luôn coi trọng
bảo đảm các nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh, trước hết là nhu cầu
thường xuyên về đời sống và các hoạt động khác của lực lượng vũ trang; tổ chức
tốt hơn hoạt động sản xuất, xây dựng kinh tế của quân đội, góp phần xây dựng
cơ sở vật chất - kỹ thuật cho quốc phòng và kinh tế, tự bảo đảm một phần nhu
cầu của lực lượng vũ trang, góp thêm hàng hoá cho tiêu dùng xã hội và xuất khẩu.
Bên cạnh đó, Đảng ta nhận thức được thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam là cả một thời kỳ lịch sử lâu dài, khó khăn, trải qua nhiều chặng đường
và hiện chúng ta đang ở chặng đường đầu tiên. Nên trước mắt, trong 5 năm
(1986 – 1990) cần tập trung sức người, sức của thực hiện bằng được nhiệm vụ,
mục tiêu của Ba chương trình kinh tế lớn: lương thực – thực phẩm, hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu.
Về lương thực – thực phẩm, Đảng ta thường xuyên được chú trọng để đảm
bảo an ninh lương thực cho người dân. Các chiến lược trong chương trình này
bao gồm việc phát triển nông nghiệp bền vững, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào
sản xuất, bảo quản và chế biến thực phẩm, đồng thời cải thiện hạ tầng phân phối
để giảm thiểu tổn thất trong chuỗi cung ứng thực phẩm. Chính phủ thường xuyên
thực hiện các biện pháp hỗ trợ nông dân, khuyến khích đầu tư vào công nghệ
mới và thực hiện các chính sách thu mua lương thực kịp thời trong mùa vụ.
Về hàng tiêu dùng, đây là một yếu tố không thể thiếu trong việc thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và cải thiện chất lượng sống của người dân. Các chính sách
tăng cường sản xuất và tiêu thụ hàng tiêu dùng nội địa sẽ giúp tạo ra nguồn cung
ứng dồi dào và ổn định, giảm thiểu sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu, từ đó
giảm thiểu chi phí và góp phần ổn định tỷ giá ngoại tệ. Hơn nữa, việc đẩy mạnh
các chiến lược phát triển các sản phẩm tiêu dùng theo hướng bền vững, xanh và
tiết kiệm năng lượng cũng là một hướng đi quan trọng trong bối cảnh biến đổi
khí hậu và nhu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cao.
Cuối cùng, về hàng xuất khẩu, đây
là mặt hàng luôn đóng vai trò cực kỳ
quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và gia tăng nguồn thu từ
ngoại tệ. Để đạt được mục tiêu này, các kế hoạch cần tập trung vào việc mở rộng
và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng của
các sản phẩm xuất khẩu, từ đó gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Chính phủ cần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu thông qua
việc cải thiện chính sách thuế, giảm bớt thủ tục hành chính và hỗ trợ phát triển
thương hiệu quốc gia. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu và phát triển các ngành
hàng xuất khẩu tiềm năng, như sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm chế biến sâu
từ nông sản cũng cần được chú trọng.
2.2. Kết quả bước đầu công cuộc đổi mới (1986 – 1990) và bài học kinh
nghiệm từ công cuộc đổi mới kể từ năm 1986.
2.2.1. Kết quả bước đầu công cuộc đổi mới (1986 – 1990)
“Công cuộc đổi mới bước đầu đạt được thành tựu, trước tiên trong việc thực
hiện các mục tiêu của Ba chương trình kinh tế:
Về lương thực – thực phẩm, từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn phải
nhập 45 vạn tấn gạo, đến năm 1989, chúng ta đã vươn lên đáp ứng nhu cầu trong
nước, có dự trữ và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống nhân dân.
Sản xuất lương thực năm 1988 đạt 19,5 triệu tấn, vượt so với năm 1987 là 2 triệu
tấn, và năm 1989 đạt 21,4 triệu tấn.
Hàng hoá trên thị trường, nhất là hàng tiêu dùng, dồi dào, đa dạng và lưu
thông tương đối thuận lợi, trong đó nguồn hàng sản xuất trong nước tuy chưa đạt
kế hoạch nhưng vẫn tăng hơn trước và có tiến bộ về mẫu mã, chất lượng. Các cơ
sở sản xuất gắn chặt với nhu cầu thị trường. Phần bao cấp của Nhà nước về vốn,
giá, vật tư, tiền lương v.v. giảm đáng kể.
Kinh tế đối ngoại phát triển mạnh, mở rộng hơn trước về quy mô, hình
thức. Từ năm 1986 đến năm 1990, hàng xuất khẩu tăng gấp 3 lần. Từ năm 1989,
chúng ta tăng thêm các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn như gạo, dầu thô và
một số mặthàng mới khác. Năm 1989, nước ta xuất khẩu 1,5 triệu tấn gạo. Nhập
khẩu giảm đáng kể, tiến gần đến mức cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu.” […]
Có thể nói công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm 1986 là một bước ngoặt quan
trọng trong lịch sử phát triển của Việt Nam, khi đất nước đối mặt với khủng
hoảng kinh tế và xã hội sâu sắc sau chiến tranh. Chính sách đổi mới đã giúp Việt
Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường,
nơi các thành phần kinh tế tư nhân, ngoại thương và đầu tư nước ngoài đóng vai
trò quan trọng. Cải cách nông nghiệp, đặc biệt là việc giao đất cho nông dân và
khuyến khích sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, đã góp phần quan trọng
vào việc nâng cao sản lượng nông sản và đảm bảo an ninh lương thực. Kinh tế
Việt Nam đã có sự phục hồi mạnh mẽ với mức tăng trưởng GDP ổn định, giúp
cải thiện đời sống của người dân. Bên cạnh đó, công cuộc đổi mới cũng thúc đẩy
cải cách chính trị và xã hội, tạo ra không gian mở cho sự tham gia của người dân
vào các quyết định quan trọng ở cấp cơ sở. Mặc dù Việt Nam vẫn duy trì hệ
thống chính trị một đảng, nhưng công cuộc đổi mới đã mở ra những cơ hội phát
triển kinh tế mạnh mẽ và đưa đất nước tiến vào giai đoạn hội nhập quốc tế. Tuy
vậy, quá trình đổi mới không thiếu thử thách, nhưng nhờ vào sự quyết tâm của
Đảng và nhân dân, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng, đặt nền
móng cho sự phát triển trong các thập kỷ tiếp theo.
2.2.2. Bài học kinh nghiệm từ công cuộc đổi mới kể từ năm 1986 đến nay.
Sau gần 40 năm kể từ lúc thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến
nay, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và
xã hội. Tuy nhiên, quá trình này cũng rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu,
có thể kể đến như sau:
Một là, kiên định nhưng phải linh hoạt trong cải cách: Một trong những bài
học lớn nhất là sự kiên định với mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời phải linh hoạt trong việc điều chỉnh các chính
sách phù hợp với thực tiễn. Sự linh hoạt này giúp Việt Nam vượt qua các khủng
hoảng, điều chỉnh chiến lược phát triển để thích ứng với các thay đổi trong và ngoài nước.
Hai là, hội nhập quốc tế và mở cửa nền kinh tế: Việc mở cửa và hội nhập
quốc tế là một bài học quan trọng trong tiến trình phát triển của Việt Nam. Tham
gia vào các tổ chức quốc tế, ký kết các hiệp định thương mại tự do, và thu hút
đầu tư nước ngoài đã giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng, đồng
thời tạo ra cơ hội học hỏi, tiếp cận công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ba là, phát triển bền vững và bảo đảm an sinh xã hội: Trong quá trình đổi
mới, Việt Nam cũng học được rằng phát triển kinh tế không thể tách rời với bảo
vệ môi trường và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Bảo đảm an sinh
xã hội, giảm nghèo và giải quyết các vấn đề xã hội là yếu tố then chốt để duy trì
sự ổn định và phát triển lâu dài.
Thứ tư, nâng tầm quan trọng giáo dục và phát triển khoa học – kỹ thuật:
Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã nhận thấy rằng để duy trì và nâng cao tốc độ
phát triển bền vững, việc đầu tư vào giáo dục và nghiên cứu khoa học công nghệ
là yếu tố then chốt. Cải cách giáo dục và đào tạo nhân lực chất lượng cao không
chỉ đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hiện đại mà còn tạo ra nền tảng vững chắc
cho sự phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, giúp Việt Nam bắt kịp với xu thế
toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0. Đặc biệt, việc ứng dụng khoa học
công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch
vụ đã thúc đẩy năng suất lao động, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Tóm lại, sau gần bốn thập kỷ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước từ năm
1986 đến nay. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã mở ra một giai đoạn
phát triển mạnh mẽ và toàn diện, với những bài học quý giá về tính kiên định
trong mục tiêu phát triển, linh hoạt trong việc điều chỉnh chính sách, và quan
trọng hơn là sự cần thiết phải hội nhập quốc tế, phát triển toàn diện và bền vững,
… Tất cả đều góp phần hình thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất
nước trong tương lai. Tuy vẫn còn nhiều thách thức, nhưng nhờ vào những kinh
nghiệm đã rút ra từ quá trình đổi mới, Việt Nam có thể tự tin tiếp tục tiến bước
trên con đường phát triển bền vững, vươn lên thành một quốc gia phát triển, hội
nhập và đóng góp tích cực vào cộng đồng quốc tế.