TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HTTT KINH TẾ &
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
-----
----
ĐỀ TÀI
GIẢNG VIÊN: TRẦN THỊ HẢI YẾN
BỘ MÔN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
LỚP HỌC PHẦN: 232_EFIN2811_09
NH
ÓM
:
09
HÀ NỘI, 2024
Đánh giá thực trạng thị trường bảo hiểm ở Việt Nam giai đoạn
hiện nay.
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
TT
Họ và tên
Lớp HC
Nhiệm vụ
1
Nguyễn Thủy Nguyên
K58I2
Làm powerpoint
2
Ngô Thị Linh Nhi
K58I4
Làm nội dung 2.3
3
Phạm Trang Nhung
K58P2
Làm nội dung chương 1 + 2.1
4
Hoàng Yến Như
K58I2
Nhóm trưởng
Thuyết trình
5
Thị Tú Oanh
K58I4
Thư ký
Làm word
Lời mở đầu
6
Nguyễn Kim Oanh
K58P1
Làm nội dung chương 3
Kết luận
7
Phùng Thị Kim Oanh
K58I5
Làm nội dung 2.3
8
Triệu Thị Phấn
K58I1
Làm nội dung 2.4
9
Đậu Đức Phú
K58I5
Làm nội dung 2.2
10
Thị Thế
K58I3
Thuyết trình
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
NỘI DUNG...................................................................................................................3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN.................................................................................3
1.1. Khái niệm bảo hiểm thương mại.............................................................................3
1.2. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại....................................................3
1.3. Các yếu tố cơ bản và các yếu tố ảnh hưởng đến hợp đồng bảo hiểm thương mại...4
1.4. Phân loại bảo hiểm thương mại...............................................................................5
1.5. Cơ sở pháp lý về hoạt động bảo hiểm thương mại..................................................8
1.6. Đặc điểm và vai trò của bảo hiểm thương mại trong nền kinh tế..........................12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY............................................................13
2.1. Quá trình hình thành và phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam..13
2.2. Thực trạng thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay.......................14
2.2.1. Bảo hiểm nhân thọ.......................................................................................14
2.2.2. Bảo hiểm phi nhân thọ.................................................................................18
2.2.3. Bảo hiểm sức khỏe.......................................................................................19
2.3. Nhận xét chung về thực trạng phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt
Nam hiện nay...............................................................................................................21
2.4. Những cơ hội và thách thức phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt
Nam hiện nay...............................................................................................................22
2.4.1. hội phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay.....22
2.4.2. Thách thức phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay
...............................................................................................................................25
2.4.3. So sánh thị trường bảo hiểm Việt Nam và Trung Quốc...............................26
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY.......................................................................................................30
3.1. Giải pháp khắc phục những hạn chế, thiếu sót còn tồn tại....................................30
3.1.1. Đối với mảng kinh doanh.............................................................................30
3.1.2. Đối với mảng ứng dụng công nghệ..............................................................31
3.1.3. Đối với công tác quản lý..............................................................................31
3.1.4. Về mặt pháp lý.............................................................................................31
3.1.5. Về phía người dân........................................................................................32
3.2. Giải pháp phát triển trong tương lai......................................................................32
KẾT LUẬN................................................................................................................34
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................35
1
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với hội ngày nay, con người vẫn đang thường xuyên có những mối quan hệ
tác động qua lại với tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra các sản phẩm hữu hình cũng như các
giá trị hình có ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của bản thân. Tồn tại trong quá
trình đó, những biến cố bất lợi có thể xảy ra, gây thiệt hại, tổn thất cho quá trình sản xuất
cũng như làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của con người được gọi là những rủi ro.
Rủi ro có thể xuất hiện tác động lên tất cả các chủ thể trong nền kinh tế như đời sống
của mỗi cá nhân; các đơn vị, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp hay là cả đối với các cơ quan
Nhà nước. Và để hạn chế những tổn thất mà rủi ro gây ra xuống mức thấp nhất cũng như
nhu cầu được đảm bảo an toàn đang ngày càng trở nên quan trọng hơn với chủ thể
trong xã hội, các hoạt động bảo hiểm đã thu hút được nhiều sự quan tâm và tham gia của
các tổ chức, nhân trong hội. Chính vậy, nhóm đã cùng nhau y dựng đề tài “Đánh
giá thị trường bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay” và tập trung vào nghiên cứu thị trường bảo
hiểm thương mại để phân tích đưa ra cái nhìn tổng quan cũng như các giải pháp để
phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay.
Mục tiêu nghiên cứu
-Mục tiêu tổng quát: Đánh giá toàn diện thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam
hiện nay, nhìn nhận những hội thách thức, từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục
thiếu sót và phát triển trong tương lai.
-Mục tiêu cụ thể
Phân tích thực trạng thị trường bảo hiểm thương mại Việt Nam trong
giai đoạn 2021 - 2024.
Đánh giá cơ cấu bảo hiểm thương mại Việt Nam.
Xác định hội thách thức của thị trường bảo hiểm thương mại
Việt Nam.
Đưa ra các giải pháp để khắc phục và phát triển thị trường bảo hiểm
thương mại trong tương lai.
Đối tượng nghiên cứu
-Chính: Thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam.
-Phụ:
Các công ty bảo hiểm thương mại đang hoạt động tại Việt Nam.
Các sản phẩm bảo hiểm thương mại được cung cấp trên thị trường.
Thị trường bảo hiểm ở Trung Quốc.
2
Phạm vi nghiên cứu
-
Không gian: thị trường bảo hiểm ở Việt Nam và Trung Quốc.
-
Thời
gian:
Nghiên
cứu
thị
trường
bảo
hiểm
thương
mại
Việt
Nam
trong
giai
đoạn 2021 – 2024.
Kết cấu đề tài
Nội dung của bài thảo luận bao gồm 3 chương, cụ thể như sau:
-
Chương 1: Cơ sở lý luận.
-
Chương
2:
Thực
trạng
phát
triển
thị
trường
bảo
hiểm
thương
mại
Việt
Nam
hiện nay.
-
Chương
3:
Giải
pháp
phát
triển
thị
trường
bảo
hiểm
thương
mại
Việ
t
Nam
hiện nay.
3
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm bảo hiểm thương mại.
Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá
trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản
xuất đời sống của con người trong xã hội được ổn định và phát triển bình thường trong
điều kiện có những biến cố bất lợi xảy ra.
Bảo hiểm thương mại hình thức bảo hiểm do các tổ chức kinh doanh bảo hiểm
tiến hành trên cơ sở huy động sự đóng góp của các chủ thể để tạo lập quỹ bảo hiểm, phân
phối và sử dụng chúng để trả tiền bảo hiểm, bồi thường những tổn thất cho các đối tượng
được bảo hiểm khi các rủi ro được bảo hiểm xảy ra. Hay nói một cách khác thì bảo hiểm
thương mại thực chất là một biện pháp kinh tế nhằm tạo lập nên các nguồn tài chính cho
mục đích bù đắp những tổn thất về vật chất đồng thời các tổ chức, các nhà quản lý cũng
sẽ sử dụng các nguồn tài chính đó để trả tiền bảo hiểm cho những người đã tham gia bảo
hiểm khi gặp phải những rủi ro bất ngờ.
1.2. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại.
Bảo hiểm thương mại có những nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc sàng lọc rủi ro
Đối với các tổ chức kinh doanh bảo hiểm thì không phải bất cứ rủi ro nào cũng
thể chấp nhận được bảo hiểm, bởi những rủi ro này thể liên quan mật thiết đến số
tiền mà các tổ chức bảo hiểm có thể sẽ phải chi trả trong tương lai. Chính vì lý do đó, các
tổ chức bảo hiểm cũng cần phải tiến hành sàng lọc các loại rủi ro mang nh nghiêm trọng,
các tổ chức bảo hiểm sẽ thường tiến hành quá trình xác định xem các rủi ro nào nằm ngoài
phạm vi nhận bảo hiểm và những rủi ro nào có thể chấp nhận bảo hiểm. Ngoài ra, đối với
những rủi ro được chấp nhận bảo hiểm cũng cần phải tiến hành phân tích tính chất của
từng loại rủi ro nhằm phân loại chúng để có thể đưa ra các hình thức bảo hiểm phù hợp,
từ đó mới có thể xác định được các loại phí bảo hiểm cũng như thanh toán các khoản tiền
bảo hiểm một cách hợp lý.
- Nguyên tắc định phí bảo hiểm phải trên cơ sở “giá” của các rủi ro
Trong đời sống hội, các rủi ro rất đa dạng những bất lợi, tổn thất tác
động đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của các nhân cũng sẽ rất
khác nhau. vậy, các tổ chức bảo hiểm muốn định phí bảo hiểm thì phải xem xét dựa
trên cơ sở “giá” của các loại rủi ro, như vậy thì mới có thể đảm bảo tính công bằng cho
tất cả các chủ thể tham gia bảo hiểm. Nếu một rủi ro được phán đoán là xác suất xảy
ra lớn, thiệt hại rủi ro này mang lại cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các chủ
thể; thì người nào muốn tham gia đóng bảo hiểm cho những rủi ro đó sẽ phải chịu phí rất
4
cao ngược lại thì đối với những rủi ro được đánh giá xác suất xảy ra nhỏ, gây ra thiệt
hại không đáng kể thì phí để tham gia vào bảo hiểm của những rủi ro đó sẽ ở mức thấp.
- Nguyên tắc đảm bảo an toàn
Trong các hoạt động bảo hiểm thương mại, các tổ chức bảo hiểm luôn được coi
con nợ đối với các nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm, thế cho nên vấn đđảm bảo an
toàn tài chính của các tổ chức bảo hiểm luôn được đặt lên hàng đầu. Trong quản bảo
hiểm người quản lý bảo hiểm phải cẩn trọng từ những bước đầu tiên như việc ký kết các
hợp đồng bảo hiểm, đánh giá các rủi ro có thể xảy ra của bảo hiểm, các điều kiện liệu có
hợp để chấp nhận bảo hiểm không,…nhằm tránh các trường hợp gian lận trong quá
trình xác lập bảo hiểm, cũng như các bất cẩn của người tham gia bảo hiểm.
Ngoài ra, nguyên tắc đảm bảo an toàn cũng cần được các tổ chức bảo hiểm thực hiện
một cách cẩn trọng trong các hoạt động đầu tư, nhằm bảo đảm an toàn và phát triển quỹ
bảo hiểm để có thể chi trả trong tương lai.
- Nguyên tắc lấy số đông bù số ít
Các hoạt động bảo hiểm sẽ không thể diễn ra nếu chỉ số ít người tham gia bảo
hiểm. vậy, sẽ phải vận động nhiều người tham gia bảo hiểm, họ cùng đóng phí, với
những đóng góp có thể chấp nhận được để bù đắp tổn thất của một số ít người gặp rủi ro.
Những người này sẽ nhận được một số tiền bồi thường khá lớn so với các khoản phí đã
đóng để tham gia bảo hiểm trước đây. Điều này cũng là một sự hấp dẫn tác động đến tâm
của những người tham gia bảo hiểm, bên cạnh việc lo ngại về những tổn thất các
rủi ro có thể mang đến cho bản thân họ; thì các chủ thể trong nền kinh tế cũng sẽ tìm đến
các tổ chức bảo hiểm lợi ích hấp dẫn như trên. Với số tiền phí thấp đóng cho tổ chức
bảo hiểm, họ đã thể trở thành chủ nợ buộc tổ chức bảo hiểm phải cam kết trả cho họ
một khoản tiền bồi thường rất lớn khi rủi ro xảy ra.
1.3. Các yếu tố cơ bản và các yếu tố ảnh hưởng đến hợp đồng bảo hiểm thương
mại.
- Các bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm
+ Người bảo hiểm: tchức hay pháp nhân đứng ra tạo lập thực hiện quá trình
huy động và sử dụng quỹ bảo hiểm được pháp luật công nhận và bảo vệ.
5
6
1.4. Phân loại bảo hiểm thương mại.
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm, có thể phân loại bảo hiểm thương mại thành
ba loại:
- Bảo hiểm tài sản: Đây chính là hình thức bảo hiểm có lịch sử phát triển lâu đời.
Đối tượng của bảo hiểm tài sản là các giá trị của cải vật chất thuộc mọi hình thức sở
hữu. Mục đích chính của loại hình bảo hiểm này là nhằm đáp ứng nhu cầu được bồi
thường, chi trả cho những người tham gia bảo hiểm những khoản bồi thường liên quan
đến vật chất đã bị thiệt hại bởi những rủi ro bất ngờ như: thiên tai, hỏa hoạn, trộm
cắp…làm cho tài sản của họ bị hư hại, biến mất hoặc có thể bị tiêu hủy hoàn toàn. Các
tổ chức bảo hiểm sẽ xem xét, đánh giá các tính chất của từng loại tài sản được bảo hiểm,
phương thức bảo hiểm cũng như mức độ thiệt hại thức tế đối với tài sản; sau đó đưa ra
mức bồi thường hợp lý nhất cho người tham gia bảo hiểm.
- Bảo hiểm con người (hay còn được gọi với một tên gọi khác là bảo hiểm thân
thể): Đối tượng của loại hình bảo hiểm này là sức khỏe, khả năng lao động và tính mạng
của con người. Mục đích của loại hình bảo hiểm này đó chính là người tham gia bảo
hiểm sẽ được nhận một khoản chi trả vật chất nhằm bồi thường đối những sự cố bất ngờ
khiến cho họ mất khả năng lao động, thiệt hại về mặt sức khỏe, nguy hiểm đến tính
mạng,… Bản thân bảo hiểm con người không chỉ có tác dụng hạn chế, khắc phục kịp
thời các thiệt hại do những rủi ro bất ngờ gây ra ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng
của con người; mà còn mang tính nhân đạo sâu sắc, thể hiện được tính cộng đồng cao,
tinh thần tương thân tương ái trong phòng ngừa, khắc phục rủi ro. Bảo hiểm con người
có thể triển khai dưới các hình thức: bảo hiểm tai nạn khách hàng, bảo hiểm tai nạn lao
động,…
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Là hình thức bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là
phần nghĩa vụ hay trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm. Mục đích của bảo
hiểm trách nhiệm dân sự là nhằm giải phóng người tham gia bảo hiểm thoát khỏi yêu
cầu phải bồi thường tổn thất cho người khác do hành vi hoạt động của người tham gia
bảo hiểm gây ra. Hiện nay loại hình bảo hiểm này được triển khai dưới các hình thức:
bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ doanh nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
lái xe cơ giới,…
Căn cứ vào tính chất hoạt động, có thể chia thêm thành hai loại bảo hiểm như
sau:
- Bảo hiểm bắt buộc: Là hình thức bảo hiểm được pháp luật Nhà nước quy định
bắt buộc đối với cả người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Tính chất bắt buộc
xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích của cộng đồng xã hội trong đó bao gồm cả lợi ích của
người tham gia bảo hiểm. Loại hình bảo hiểm này sẽ hạn chế, phòng ngừa những rủi ro
ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích riêng của người tham gia bảo hiểm cũng như là lợi ích
7
chung của toàn xã hội. Ngoài ra, loại hình bảo hiểm này còn gắn với việc quản lý chung
của Nhà nước bởi vì nó liên quan tới lợi ích và an toàn chung của toàn thể xã hội.
- Bảo hiểm tự nguyện: Đúng theo như tên gọi của loại hình bảo hiểm này, thì việc
hợp đồng bảo hiểm có được hình thành hay không hoàn toàn dựa vào ý chí mang tính tự
nguyện của các bên liên quan. Người tham gia bảo hiểm có quyền dựa vào ý chí, nhu
cầu và khả năng tài chính của bản thân để đưa ra quyết định có tham gia bảo hiểm hay
không; và tổ chức bảo hiểm có tiếp nhận bảo hiểm hay không sẽ tùy thuộc vào khả năng
bảo hiểm có hiệu quả hay không. Từ đó, hai bên sẽ tiến hành đưa ra các thỏa thuận và đi
đến ký kết hợp đồng bảo hiểm dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên.
Căn cứ vào phương thức chi trả, có thể chia thành hai loại bảo hiểm như sau:
- Bảo hiểm nhân thọ: là hình thức bảo hiểm tự nguyện nhằm đáp ứng nhu cầu
được bồi thường, chi trả cho những người tham gia bảo hiểm nếu chẳng may họ gặp các
rủi ro bất ngờ về con người chẳng hạn như sức khỏe, tai nạn, tuổi thọ, tiết kiệm,… Bất
kỳ một cá nhân nào khi tham gia vào hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, nếu chẳng may gặp
phải các rủi ro không mong đợi liên quan đến các điều khoản đã được thống nhất trong
hợp đồng thì sẽ được các tổ chức bảo hiểm đền bù số tiền như theo thỏa thuận. Và nếu
trong quá trình hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có hiệu lực, khách hàng không gặp bất cứ
rủi ro nào thì sẽ được nhận một phần hoặc toàn bộ số tiền bảo hiểm được quy định trong
hợp đồng sau khi kết thúc hợp đồng bảo hiểm đó. Như vậy, đối với hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ người tham gia không chỉ có được sự bảo đảm cho các rủi ro không mong đợi
mà đồng thời đó cũng là một khoản tiết kiệm cho các nhu cầu tài chính của các cá nhân
trong tương lai. Người hưởng các khoản đảm bảo của bảo hiểm có thể là người mua bảo
hiểm hoặc bất kỳ ai được đề cập trong hợp đồng. Bảo hiểm nhân thọ chi trả theo hình
thức khoán một cách độc lập. Bảo hiểm nhân thọ thường gắn với tuổi thọ con người và
thường bảo đảm cho các rủi ro có sự thay đổi theo đối tượng và thời gian, chẳng hạn
như: Bảo hiểm tiết kiệm, Bảo hiểm sức khỏe, Bảo hiểm hưu trí,…
- Bảo hiểm phi nhân thọ: là hình thức bảo hiểm tự nguyện không chỉ hướng đến
con người mà còn hướng tới cả các đối tượng có liên quan đến con người như tai nạn,
sức khỏe, hàng hóa (tàu xe, tàu hàng,…), nhằm bảo đảm các bồi thường khi người tham
gia gặp phải các rủi ro đó. Người tham gia sẽ được bồi thường tổn thất trong giới hạn
theo hợp đồng đã ký nếu các rủi ro có xảy ra. Tuy nhiên ngược lại với bảo hiểm nhân
thọ thì đối với hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ, trường hợp người tham gia không gặp
bất kỳ rủi ro liên quan nào trong thời hạn của bảo hiểm thì sau khi kết thúc hợp đồng họ
cũng sẽ không được nhận số tiền đã đóng. Người thụ hưởng của bảo hiểm phi nhân thọ
sẽ là nạn nhân trực tiếp hoặc gián tiếp của các sự cố bất ngờ. Bảo hiểm phi nhân thọ chi
trả dựa theo hình thức đóng góp theo hình thức quyền thế. Bảo hiểm phi nhân thọ đảm
bảo cho những rủi ro mang tính ngắn hạn, ổn định và thường độc lập với tuổi thọ của
con người nên có thể chia thành những loại như sau: Bảo hiểm xe cơ giới, Bảo hiểm
8
cháy nổ, Bảo hiểm trách nhiệm, Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, Bảo hiểm bảo
lãnh.
1.5. Cơ sở pháp lý về hoạt động bảo hiểm thương mại
Căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật “Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000”
được sửa đổi bổ sung 2010, “Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022”, ta có thể đúc kết và
đưa ra một số điều kiện chung liên quan đến Bảo hiểm Thương mại Việt Nam thông qua
Luật và các văn bản dưới Luật.
- Về phạm vi điều chỉnh
Điều đầu tiên khi đi vào nghiên cứu vào bất kì ngành luật nào thuộc hệ thống pháp
luật Việt Nam, chúng ta cũng cần quan tâm đến trước hết là phạm vi điều chỉnh của mỗi
một ngành luật đó. Căn cứ vào Điều 1 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022 có quy định
về phạm vi điều chỉnh như sau:
“1. Luật này quy định về tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm; quyền nghĩa
vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh
bảo hiểm.
2. Luật này không áp dụng đối với bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền
gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh.”
Như vậy, Luật kinh doanh bảo hiểm chỉ điều chỉnh các quan hệ bảo hiểm mang tính
chất kinh doanh có mục đích sinh lời, Luật sẽ không điều chỉnh các quan hệ bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế mang tính chất bắt buộc và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực
hiện mà không mang tính kinh doanh. Đối tượng điều chỉnh của Luật sẽ tập trung vào các
quan hệ xã hội được hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
- Quy định về bảo hiểm bắt buộc
Điều thứ hai chúng ta cần quan tầm đối với Luật liên quan đến kinh doanh bảo hiểm,
chính các hình thức bảo hiểm bắt buộc Nhà nước yêu cầu bất một nhân, tổ
chức, chủ thể nào trong nền kinh tế cũng phải tham gia nhằm mục đích phòng ngừa, hạn
chế rủi ro ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích chung của toàn xã hội đồng thời bảo vệ cho an
toàn của hội được nâng cao. Chúng ta sẽ căn cứ vào Khoản 1,2 Điều 8 Luật kinh doanh
bảo hiểm 2022 để đưa ra các bảo hiểm bắt buộc bao gồm:
9
10
phạm vi số tiền bồi thường bảo hiểm. Nguyên tắc này không áp dụng đối với hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe;
5. Nguyên tắc rủi ro ngẫu nhiên: rủi ro được bảo hiểm phải những rủi ro bất ngờ,
không lường trước được.”
Ngoài việc xác định được các loại hợp đồng bảo hiểm cũng như các nguyên tắc
cần cho các bên liên quan khi tham gia kết hợp đồng bảo hiểm như đã nêu trên
thì chúng ta cũng cần phải quan tâm đến những nội dung mà một bản hợp đồng bảo hiểm
cần có. Việc này sẽ căn cứ theo Điều 17 Luật kinh doanh bảo hiểm 2022:
“1. Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng (nếu có), doanh
nghiệp bảo hiểm hoặc chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài;
b) Đối tượng bảo hiểm;
c) Số tiền bảo hiểm hoặc giá trị tài sản được bảo hiểm hoặc giới hạn trách
nhiệm bảo hiểm;
d) Phạm vi hoặc quyền lợi bảo hiểm; quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
đ) Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo hiểm;
e) Thời hạn bảo hiểm, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm;
g) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;
h) Phương thức bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
i) Phương thức giải quyết tranh chấp.”
- Quy định về các doanh nghiệp bảo hiểm
Căn cứ vào Điều 62 Luật kinh doanh bảo hiểm 2022, thì các hình thức tổ chức của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được Nhà nước cho phép hoạt động
bao gồm 2 hình thức là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn.
Các nội dung liên quan đến việc tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được quy định rõ tại Điều
63 Luật kinh doanh bảo hiểm 2022:
“1. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài bao gồm:
a) Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm;
b) Quản lý các quỹ và đầu tư vốn từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
c) Cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm;
d) Hoạt động khác liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp tái
bảo hiểm nước ngoài bao gồm:
a) Kinh doanh tái bảo hiểm; nhượng tái bảo hiểm;
11
b) Quản lý các quỹ và đầu tư vốn từ hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm;
c) Hoạt động khác liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài chỉ được phép kinh doanh một loại hình bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều 7 của
Luật này, trừ các trường hợp sau đây:
a) Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh bảo hiểm sức khỏe;
b) Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài kinh doanh các sản phẩm thuộc loại hình bảo hiểm sức
khỏe có thời hạn từ 01 m trở xuống và các sản phẩm bảo hiểm cho rủi ro tử vong
có thời hạn từ 01 năm trở xuống;
c) Doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm cho
rủi
ro tử vong có thời hạn từ 01 năm trở xuống.”
- Quy định về quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 151 Luật kinh doanh bảo hiểm 2022, Bộ Tài Chính sẽ là
quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý Nhà nước về kinh
doanh bảo hiểm, có quyền hạn và phải tuân thủ các nghĩa vụ sau đây:
a) Ban hành, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành và hướng dẫn thực hiện
các văn bản quy phạm pháp luật vhoạt động kinh doanh bảo hiểm, xây dựng chiến ợc,
đề án và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam;
b) Thực hiện thống kê, dự báo về thị trường bảo hiểm;
c) Giám sát doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước
ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp môi giới
bảo hiểm thông qua hoạt động nghiệp vụ, tình hình tài chính, quản trị doanh nghiệp,
quản trị rủi ro và việc chấp hành pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm; giám sát
hoạt động của văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam;
d) Giám sát hoạt động đại lý bảo hiểm, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm thông qua
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt
Nam;
đ) Thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức ơng hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp
môi giới bảo hiểm; kiểm tra hoạt động của văn phòng đại diện nước ngoài tại
Việt Nam;
e) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm;
g) Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính về hoạt động kinh
doanh bảo hiểm.
Bên cạnh đó, ngoài văn bản quy phạm pháp luật “Luật kinh doanh bảo hiểm 2022”,
chúng ta còncác văn bản dưới luật như là các thông tư, nghị định liên quan đến Bảo
hiểm thương mại được Nhà nước ban hành, như:
- Nghị định 119/2015/NĐ CP: Quy định bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu
xây dựng.
12
- Nghị định 23/2018/NĐ CP: Quy định về bảo hiểm cháy nổ bắt buộc.
- Thông tư 22/2016/TT BTC: Quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách
nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
- Nghị định 58/2018/NĐ CP: Quy định về bảo hiểm nông nghiệp.
1.6. Vai trò của bảo hiểm thương mại trong nền kinh tế.
Vai trò của các hoạt động bảo hiểm thương mại đối với nền kinh tế:
- Ổn định tài chính cho các tổ chức, cá nhân khi gặp rủi ro bất ngờ: Có thể nói
vai trò luôn được thể hiện nhất của hoạt động bảo hiểm thương mại chính việc phòng
ngừa, hạn chế các sự cố bất ngờ xảy ra đối với các doanh nghiệp trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh. Đồng thời cũng giúp bảo đảm ổn định về mặt tài chính cho các
doanh nghiệp. Đối với các cá nhân thì hoạt động bảo hiểm thương mại sẽ gánh thay họ
một phần gánh nặng vật chất khi rủi ro xảy ra, tránh cho việc các cá nhân đó kiệt quệ cả
về vật chất lẫn tinh thần.
- Huy động vốn đầu giúp tăng trưởng kinh tế: Đặc điểm của quá trình hoạt
động bảo hiểm thương mại thu phí bảo hiểm trước thời hạn đóng, sau đó trả tiền bảo
hiểm rồi mới đến bước cuối cùng bồi thường. Do đó, nguồn quỹ của c tổ chức bảo
hiểm chủ yếu được hình thành bởi sự huy động các nguồn vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp,
điều này giúp điều tiết cung - cầu vốn, đáp ứng nguồn vốn xoay cho nền kinh tế.
- Ổn định ngân sách Nhà nước: Nhờ các hoạt động về bảo hiểm con người,
bảo hiểm tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm mà ngân sách Nhà nước phải chi cho các
khoản như trợ cấp tai nạn, trợ cấp thiên tai,…cũng giảm đáng kể. Không những thế nguồn
thu của Ngân sách Nhà nước cũng được mở rộng nhờ vào những khoản thuế thu nhập,
thuế giá trị gia tăng,… mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải nộp.
- Tạo thêm việc làm cho người lao động: Việc hoạt động bảo hiểm thương mại
được phát triển mạnh mẽ, ngày càng có nhiều tổ chức, doanh nghiệp bảo hiểm; các công
ty bảo hiểm cần một lượng lớn lao động nhất định cho hệ thống đại lý, chi nhánh bảo
hiểm,… Điều này đã thu hút được rất lớn sự quan tâm của thị trường lao động. Từ đó,
giảm thiểu tình trạng thất nghiệp trên thị trường.
- Thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy hội nhập kinh tế: Bảo hiểm góp phần hỗ
trợ đàm phán và thực hiện các cam kết hội nhập với các tổ chức thế giới trong quá trình
tự do hóa dịch vụ tài chính và thương mại như hiện nay; có thể kể đến đàm phán thương
mại Việt Nam – Liên minh Châu Âu, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
13
(
WTO),…
Bên
cạnh
đó,
hoạ
t
động
bảo
hiểm
c
ũng
hỗ
trợ
thúc
đẩy
các
hoạt
động
kinh
doanh
thương
mại.
Cụ
thể,
nhiều
loạ
i
hàng
hóa
dịch
vụ
trên
thị
trường
tiêu
thụ
nhiều
hơn
nếu
khi
m
theo
các
hợp
đồng
bả
o
hiểm
liên
quan
đến
hàng
hóa
dịch
vụ.
Nhờ
đó
thúc
đẩy
trao
đổi
thương
mại,
xuất
khẩu
hàng
hóa
từ
Việt
Nam
ra
nước ngoài và hội nhập nền kinh tế quốc tế.
14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Quá trình hình thành và phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt
Nam.
Bảo hiểm thương mại ở Việt Nam có thể nói là ra đời khá muộn so với sự phát triển
chung của ngành bảo hiểm trên thế giới. Việt Nam, hoạt động bảo hiểm thương mại chỉ
thực sự bắt đầu khi có sự ra đời của Bảo Việt, để đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt
động ngoại thương, ngày 17/12/1964, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập
công ty Bảo hiểm Việt Nam, gọi tắt là Bảo Việt. Công ty chính thức đi vào hoạt động bắt
đầu từ ngày 15-01-1965, lúc này, ngành bảo hiểm chỉ có một Công ty bảo hiểm duy nhất
trên thị trường Việt Nam đó Bảo Việt. Bảo Việt độc quyền kinh doanh bảo hiểm nên
các sản phẩm của Bảo Việt chưa đa dạng, chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm phi
nhân thọ với khoảng 20 sản phẩm bảo hiểm. Quá trình hoạt động trong giai đoạn này của
Bảo Việt chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên ngành
bảo hiểm thực hiện theo mệnh lệnh hành chính và chưa thể hiện rõ chức năng kinh doanh
bảo hiểm. Quy mô của Bảo Việt lúc bấy giờ chưa được chú trọng phát triển, chủ yếu chỉ
2 chi nhánh ở Hà Nội Hải Phòng thực hiện nhận bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm hàng
hóa vận chuyển trên các tuyến vận tải hàng hải, hàng không, đường sắt, đường bộ trong
nước và tái bảo hiểm lại cho các công ty bảo hiểm của Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Ba
Lan,… với tỷ lệ cao.
Giai đoạn trước năm 1993
Năm 1976, sau khi thống nhất đất nước Bảo Việt là công ty bảo hiểm duy nhất của
Nhà nước hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam theo chế độ hạch toán thống nhất
toàn ngành. Trong giai đoạn từ 1980 đến 18/12/1993, Bảo Việt vẫn là doanh nghiệp Nhà
nước duy nhất kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam theo chế độ hạch toán toàn ngành.
Giai đoạn từ năm 1993 cho đến nay
15
Trước nhu cầu cần thiết phải đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế
đang chuyển sang cơ chế thị trường. Vào ngày 18/12/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị
định 100/1993/NĐ CP quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, đã tạo
hành lang pháp lý cho việc mở rộng và phát triển ngành bảo hiểm ở Việt Nam, đồng thời
đánh dấu một bước chuyển biến mới trên thị trường bảo hiểm. Với quy định này, thế độc
quyền nhà nước của Bảo Việt bị phá vỡ, các tổ chức bảo hiểm theo nhiều hình thức pháp
khác nhau thuộc nhiều thành phần kinh tế thể tham gia thực hiện kinh doanh các
nghiệp vụ bảo hiểm ở Việt Nam. Hàng loạt công ty bảo hiểm trong ngoài nước được
đã thành lập với nhiều thành phần kinh tế khác nhau: 100% vốn nước ngoài; liên doanh;
cổ phần như: Bảo Minh, Bảo Long, Prudential, AIA, ChinfonManulife, Bảo Minh-CMG,
PIJICO,... Bảo hiểm bưu điện ra đời. Tính đến cuối năm 2010, thị trường bảo hiểm Việt
Nam đã trên 30 công ty bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm phi nhân thọ trong nước
nước ngoài hoạt động. Đối với các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ của nước
ngoài, chúng ta có thể kể đến là: vào tháng 3/2005, Bộ Tài chính cho phép thành lập bảo
hiểm Prevoir thuộc một công ty bảo hiểm nhân thọ Pháp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
qua kênh dịch vụ tiết kiệm bưu điện; 2 công ty bảo hiểm nhân thọ của Mỹ là Chubb Life
New York Life đã được trao giấy phép kinh doanh nhân chuyến thăm làm việc tại
Mỹ của thủ tướng Phan Văn Khải (tuy nhiên đến nay New York Life đã rút giấy phép
không hoạt động nữa). Thị trường bảo hiểm Việt Nam đang ngày càng sôi động và có sức
cạnh tranh gay gắt hơn bao giờ hết, đặc biệt nhất là trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.
2.2. Thực trạng thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay
2.2.1. Bảo hiểm nhân thọ
Việt Nam tuy một ớc nhỏ nhưng lại dân số rất đông tính đến ngày
31/12/2023 100,3 triệu người, đứng thứ 15 trên thế giới. Đây hội cho thị trường
bảo hiểm nhân thọ Việt Nam. Tuy vậy thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam cho đến
nay mới chỉ trong giai đoạn đầu và còn non trẻ. Tháng 8/1996, hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ đầu tiên được phát hành, đánh dấu sự ra đời phát triển của thị trường bảo hiểm
nhân thọ Việt Nam. Năm 1999, lần đầu tiên Việt Nam mở cửa thị trường bảo hiểm
trước hết thị trường bảo hiểm nhân thọ, đó cũng bước ngoặt quan trọng đối với thị
trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam. Tkhi mở cửa, thị trường bảo hiểm nhân thọ cho
đến nay, đã 5 doanh nghiệp lớn kinh doanh lĩnh vực này, đó Bảo Việt, Bảo Minh -
CMG, Manulife, Prudential và AIA.
Ngành bảo hiểm nhân thọ đã có 352 sản phẩm ở các nhóm chính như tử kỳ, sinh kỳ,
liên kết chung, sức khỏe, hưu trí, do nhu cầu chăm sóc sức khỏe - y tế của người Việt
ngày càng cao nên các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ không ngừng đưa ra những sản
phẩm đặc thù, có tính bảo vệ toàn diện hơn.
dụ: Sản phẩm bảo hiểm bệnh hiểm nghèo cao cấp toàn diện của Dai-ichi Life
Việt Nam, sản phẩm bảo hiểm bổ trợ mới “Manulife - Món quà sức khỏe” của Manulife
cũng được nhiều người chọn lựa. Đây dòng sản phẩm bổ trợ chăm sóc sức khỏe đầu
tiên được hãng giới thiệu ra thị trường nhằm mang lại quyền lợi bảo vệ trên toàn thế giới,
16
Bảo Việt Nhân Thọ cũng ra mắt sản phẩm mới "An tâm học vấn" dành cho trẻ em với
mục đích hỗ trợ các bậc phụ huynh chăm lo và đảm bảo cho tương lai của thế hệ trẻ với
nguồn tài chính vững chắc.
Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
đến nay đã có 19 doanh nghiệp, cung cấp hơn 500 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, với hơn
11,6 triệu hợp đồng bảo hiểm hiệu lực, giải quyết công ăn việc làm cho gần 900.000
đại lý, số tiền bảo hiểm chi trả năm 2020 lên tới hơn 25.000 tỷ đồng. Bảo

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HTTT KINH TẾ & THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ ----- - ---- ĐỀ TÀI
Đánh giá thực trạng thị trường bảo hiểm ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
GIẢNG VIÊN: TRẦN THỊ HẢI YẾN
BỘ MÔN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ
LỚP HỌC PHẦN: 232_EFIN2811_09
NH ÓM : 09 HÀ NỘI, 2024
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ TT Họ và tên Lớp HC Nhiệm vụ
1 Nguyễn Thủy Nguyên K58I2 Làm powerpoint 2 Ngô Thị Linh Nhi K58I4 Làm nội dung 2.3 3 Phạm Trang Nhung K58P2
Làm nội dung chương 1 + 2.1 4 Hoàng Yến Như K58I2 Nhóm trưởng Thuyết trình 5 Lê Thị Tú Oanh K58I4 Thư ký Làm word Lời mở đầu 6 Nguyễn Kim Oanh K58P1 Làm nội dung chương 3 Kết luận
7 Phùng Thị Kim Oanh K58I5 Làm nội dung 2.3 8 Triệu Thị Phấn K58I1 Làm nội dung 2.4 9 Đậu Đức Phú K58I5 Làm nội dung 2.2 10 Hà Thị Thế K58I3 Thuyết trình MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
NỘI DUNG...................................................................................................................3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN.................................................................................3

1.1. Khái niệm bảo hiểm thương mại.............................................................................3
1.2. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại....................................................3
1.3. Các yếu tố cơ bản và các yếu tố ảnh hưởng đến hợp đồng bảo hiểm thương mại...4
1.4. Phân loại bảo hiểm thương mại...............................................................................5
1.5. Cơ sở pháp lý về hoạt động bảo hiểm thương mại..................................................8
1.6. Đặc điểm và vai trò của bảo hiểm thương mại trong nền kinh tế..........................12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY............................................................13
2.1. Quá trình hình thành và phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam..13
2.2. Thực trạng thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay.......................14
2.2.1. Bảo hiểm nhân thọ.......................................................................................14
2.2.2. Bảo hiểm phi nhân thọ.................................................................................18
2.2.3. Bảo hiểm sức khỏe.......................................................................................19
2.3. Nhận xét chung về thực trạng phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt
Nam hiện nay...............................................................................................................21
2.4. Những cơ hội và thách thức phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt
Nam hiện nay...............................................................................................................22
2.4.1. Cơ hội phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay.....22
2.4.2. Thách thức phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay
...............................................................................................................................25
2.4.3. So sánh thị trường bảo hiểm Việt Nam và Trung Quốc...............................26
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY.......................................................................................................30
3.1. Giải pháp khắc phục những hạn chế, thiếu sót còn tồn tại....................................30
3.1.1. Đối với mảng kinh doanh.............................................................................30
3.1.2. Đối với mảng ứng dụng công nghệ..............................................................31
3.1.3. Đối với công tác quản lý..............................................................................31
3.1.4. Về mặt pháp lý.............................................................................................31
3.1.5. Về phía người dân........................................................................................32
3.2. Giải pháp phát triển trong tương lai......................................................................32
KẾT LUẬN................................................................................................................34
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................35 LỜI MỞ ĐẦU
Đối với xã hội ngày nay, con người vẫn đang thường xuyên có những mối quan hệ
tác động qua lại với tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra các sản phẩm hữu hình cũng như các
giá trị vô hình có ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của bản thân. Tồn tại trong quá
trình đó, những biến cố bất lợi có thể xảy ra, gây thiệt hại, tổn thất cho quá trình sản xuất
cũng như làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của con người được gọi là những rủi ro.
Rủi ro có thể xuất hiện và tác động lên tất cả các chủ thể trong nền kinh tế như đời sống
của mỗi cá nhân; các đơn vị, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp hay là cả đối với các cơ quan
Nhà nước. Và để hạn chế những tổn thất mà rủi ro gây ra xuống mức thấp nhất cũng như
nhu cầu được đảm bảo an toàn đang ngày càng trở nên quan trọng hơn với cá chủ thể
trong xã hội, các hoạt động bảo hiểm đã thu hút được nhiều sự quan tâm và tham gia của
các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Chính vì vậy, nhóm đã cùng nhau xây dựng đề tài “Đánh
giá thị trường bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay” và tập trung vào nghiên cứu thị trường bảo
hiểm thương mại để phân tích và đưa ra cái nhìn tổng quan cũng như các giải pháp để
phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay.
Mục tiêu nghiên cứu
-Mục tiêu tổng quát: Đánh giá toàn diện thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam
hiện nay, nhìn nhận những cơ hội và thách thức, từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục
thiếu sót và phát triển trong tương lai. -Mục tiêu cụ thể
Phân tích thực trạng thị trường bảo hiểm thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2021 - 2024.
Đánh giá cơ cấu bảo hiểm thương mại Việt Nam.
Xác định cơ hội và thách thức của thị trường bảo hiểm thương mại Việt Nam.
Đưa ra các giải pháp để khắc phục và phát triển thị trường bảo hiểm
thương mại trong tương lai.
Đối tượng nghiên cứu
-Chính: Thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam. -Phụ:
Các công ty bảo hiểm thương mại đang hoạt động tại Việt Nam.
Các sản phẩm bảo hiểm thương mại được cung cấp trên thị trường.
Thị trường bảo hiểm ở Trung Quốc. 1
Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: thị trường bảo hiểm ở Việt Nam và Trung Quốc.
- Thời gian: Nghiên cứu thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn 2021 – 2024.
Kết cấu đề tài
Nội dung của bài thảo luận bao gồm 3 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận.
- Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay.
- Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việ t Nam hiện nay. 2 NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm bảo hiểm thương mại.
Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá
trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản
xuất và đời sống của con người trong xã hội được ổn định và phát triển bình thường trong
điều kiện có những biến cố bất lợi xảy ra.
Bảo hiểm thương mại là hình thức bảo hiểm do các tổ chức kinh doanh bảo hiểm
tiến hành trên cơ sở huy động sự đóng góp của các chủ thể để tạo lập quỹ bảo hiểm, phân
phối và sử dụng chúng để trả tiền bảo hiểm, bồi thường những tổn thất cho các đối tượng
được bảo hiểm khi các rủi ro được bảo hiểm xảy ra. Hay nói một cách khác thì bảo hiểm
thương mại thực chất là một biện pháp kinh tế nhằm tạo lập nên các nguồn tài chính cho
mục đích bù đắp những tổn thất về vật chất đồng thời các tổ chức, các nhà quản lý cũng
sẽ sử dụng các nguồn tài chính đó để trả tiền bảo hiểm cho những người đã tham gia bảo
hiểm khi gặp phải những rủi ro bất ngờ.
1.2. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại.
Bảo hiểm thương mại có những nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc sàng lọc rủi ro
Đối với các tổ chức kinh doanh bảo hiểm thì không phải bất cứ rủi ro nào cũng có
thể chấp nhận được bảo hiểm, bởi vì những rủi ro này có thể liên quan mật thiết đến số
tiền mà các tổ chức bảo hiểm có thể sẽ phải chi trả trong tương lai. Chính vì lý do đó, các
tổ chức bảo hiểm cũng cần phải tiến hành sàng lọc các loại rủi ro mang tính nghiêm trọng,
các tổ chức bảo hiểm sẽ thường tiến hành quá trình xác định xem các rủi ro nào nằm ngoài
phạm vi nhận bảo hiểm và những rủi ro nào có thể chấp nhận bảo hiểm. Ngoài ra, đối với
những rủi ro được chấp nhận bảo hiểm cũng cần phải tiến hành phân tích tính chất của
từng loại rủi ro nhằm phân loại chúng để có thể đưa ra các hình thức bảo hiểm phù hợp,
từ đó mới có thể xác định được các loại phí bảo hiểm cũng như thanh toán các khoản tiền
bảo hiểm một cách hợp lý.
- Nguyên tắc định phí bảo hiểm phải trên cơ sở “giá” của các rủi ro
Trong đời sống xã hội, các rủi ro rất đa dạng và những bất lợi, tổn thất mà nó tác
động đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của các cá nhân cũng sẽ rất
khác nhau. Vì vậy, các tổ chức bảo hiểm muốn định phí bảo hiểm thì phải xem xét dựa
trên cơ sở “giá” của các loại rủi ro, như vậy thì mới có thể đảm bảo tính công bằng cho
tất cả các chủ thể tham gia bảo hiểm. Nếu một rủi ro được phán đoán là có xác suất xảy
ra lớn, thiệt hại mà rủi ro này mang lại cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các chủ
thể; thì người nào muốn tham gia đóng bảo hiểm cho những rủi ro đó sẽ phải chịu phí rất 3
cao và ngược lại thì đối với những rủi ro được đánh giá là xác suất xảy ra nhỏ, gây ra thiệt
hại không đáng kể thì phí để tham gia vào bảo hiểm của những rủi ro đó sẽ ở mức thấp.
- Nguyên tắc đảm bảo an toàn
Trong các hoạt động bảo hiểm thương mại, các tổ chức bảo hiểm luôn được coi là
con nợ đối với các cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm, thế cho nên vấn đề đảm bảo an
toàn tài chính của các tổ chức bảo hiểm luôn được đặt lên hàng đầu. Trong quản lý bảo
hiểm người quản lý bảo hiểm phải cẩn trọng từ những bước đầu tiên như việc ký kết các
hợp đồng bảo hiểm, đánh giá các rủi ro có thể xảy ra của bảo hiểm, các điều kiện liệu có
hợp lý để chấp nhận bảo hiểm không,…nhằm tránh các trường hợp gian lận trong quá
trình xác lập bảo hiểm, cũng như các bất cẩn của người tham gia bảo hiểm.
Ngoài ra, nguyên tắc đảm bảo an toàn cũng cần được các tổ chức bảo hiểm thực hiện
một cách cẩn trọng trong các hoạt động đầu tư, nhằm bảo đảm an toàn và phát triển quỹ
bảo hiểm để có thể chi trả trong tương lai.
- Nguyên tắc lấy số đông bù số ít
Các hoạt động bảo hiểm sẽ không thể diễn ra nếu chỉ có số ít người tham gia bảo
hiểm. Vì vậy, sẽ phải vận động nhiều người tham gia bảo hiểm, họ cùng đóng phí, với
những đóng góp có thể chấp nhận được để bù đắp tổn thất của một số ít người gặp rủi ro.
Những người này sẽ nhận được một số tiền bồi thường khá lớn so với các khoản phí đã
đóng để tham gia bảo hiểm trước đây. Điều này cũng là một sự hấp dẫn tác động đến tâm
lý của những người tham gia bảo hiểm, bên cạnh việc lo ngại về những tổn thất mà các
rủi ro có thể mang đến cho bản thân họ; thì các chủ thể trong nền kinh tế cũng sẽ tìm đến
các tổ chức bảo hiểm vì lợi ích hấp dẫn như trên. Với số tiền phí thấp đóng cho tổ chức
bảo hiểm, họ đã có thể trở thành chủ nợ buộc tổ chức bảo hiểm phải cam kết trả cho họ
một khoản tiền bồi thường rất lớn khi rủi ro xảy ra.
1.3. Các yếu tố cơ bản và các yếu tố ảnh hưởng đến hợp đồng bảo hiểm thương mại.
- Các bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm
+ Người bảo hiểm: Là tổ chức hay pháp nhân đứng ra tạo lập và thực hiện quá trình
huy động và sử dụng quỹ bảo hiểm được pháp luật công nhận và bảo vệ. 4 5
1.4. Phân loại bảo hiểm thương mại.
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm, có thể phân loại bảo hiểm thương mại thành ba loại:
- Bảo hiểm tài sản: Đây chính là hình thức bảo hiểm có lịch sử phát triển lâu đời.
Đối tượng của bảo hiểm tài sản là các giá trị của cải vật chất thuộc mọi hình thức sở
hữu. Mục đích chính của loại hình bảo hiểm này là nhằm đáp ứng nhu cầu được bồi
thường, chi trả cho những người tham gia bảo hiểm những khoản bồi thường liên quan
đến vật chất đã bị thiệt hại bởi những rủi ro bất ngờ như: thiên tai, hỏa hoạn, trộm
cắp…làm cho tài sản của họ bị hư hại, biến mất hoặc có thể bị tiêu hủy hoàn toàn. Các
tổ chức bảo hiểm sẽ xem xét, đánh giá các tính chất của từng loại tài sản được bảo hiểm,
phương thức bảo hiểm cũng như mức độ thiệt hại thức tế đối với tài sản; sau đó đưa ra
mức bồi thường hợp lý nhất cho người tham gia bảo hiểm.
- Bảo hiểm con người (hay còn được gọi với một tên gọi khác là bảo hiểm thân
thể): Đối tượng của loại hình bảo hiểm này là sức khỏe, khả năng lao động và tính mạng
của con người. Mục đích của loại hình bảo hiểm này đó chính là người tham gia bảo
hiểm sẽ được nhận một khoản chi trả vật chất nhằm bồi thường đối những sự cố bất ngờ
khiến cho họ mất khả năng lao động, thiệt hại về mặt sức khỏe, nguy hiểm đến tính
mạng,… Bản thân bảo hiểm con người không chỉ có tác dụng hạn chế, khắc phục kịp
thời các thiệt hại do những rủi ro bất ngờ gây ra ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng
của con người; mà còn mang tính nhân đạo sâu sắc, thể hiện được tính cộng đồng cao,
tinh thần tương thân tương ái trong phòng ngừa, khắc phục rủi ro. Bảo hiểm con người
có thể triển khai dưới các hình thức: bảo hiểm tai nạn khách hàng, bảo hiểm tai nạn lao động,…
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Là hình thức bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là
phần nghĩa vụ hay trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm. Mục đích của bảo
hiểm trách nhiệm dân sự là nhằm giải phóng người tham gia bảo hiểm thoát khỏi yêu
cầu phải bồi thường tổn thất cho người khác do hành vi hoạt động của người tham gia
bảo hiểm gây ra. Hiện nay loại hình bảo hiểm này được triển khai dưới các hình thức:
bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ doanh nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của lái xe cơ giới,…
Căn cứ vào tính chất hoạt động, có thể chia thêm thành hai loại bảo hiểm như sau:
- Bảo hiểm bắt buộc: Là hình thức bảo hiểm được pháp luật Nhà nước quy định
bắt buộc đối với cả người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Tính chất bắt buộc
xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích của cộng đồng xã hội trong đó bao gồm cả lợi ích của
người tham gia bảo hiểm. Loại hình bảo hiểm này sẽ hạn chế, phòng ngừa những rủi ro
ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích riêng của người tham gia bảo hiểm cũng như là lợi ích 6
chung của toàn xã hội. Ngoài ra, loại hình bảo hiểm này còn gắn với việc quản lý chung
của Nhà nước bởi vì nó liên quan tới lợi ích và an toàn chung của toàn thể xã hội.
- Bảo hiểm tự nguyện: Đúng theo như tên gọi của loại hình bảo hiểm này, thì việc
hợp đồng bảo hiểm có được hình thành hay không hoàn toàn dựa vào ý chí mang tính tự
nguyện của các bên liên quan. Người tham gia bảo hiểm có quyền dựa vào ý chí, nhu
cầu và khả năng tài chính của bản thân để đưa ra quyết định có tham gia bảo hiểm hay
không; và tổ chức bảo hiểm có tiếp nhận bảo hiểm hay không sẽ tùy thuộc vào khả năng
bảo hiểm có hiệu quả hay không. Từ đó, hai bên sẽ tiến hành đưa ra các thỏa thuận và đi
đến ký kết hợp đồng bảo hiểm dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên.
Căn cứ vào phương thức chi trả, có thể chia thành hai loại bảo hiểm như sau:
- Bảo hiểm nhân thọ: là hình thức bảo hiểm tự nguyện nhằm đáp ứng nhu cầu
được bồi thường, chi trả cho những người tham gia bảo hiểm nếu chẳng may họ gặp các
rủi ro bất ngờ về con người chẳng hạn như sức khỏe, tai nạn, tuổi thọ, tiết kiệm,… Bất
kỳ một cá nhân nào khi tham gia vào hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, nếu chẳng may gặp
phải các rủi ro không mong đợi liên quan đến các điều khoản đã được thống nhất trong
hợp đồng thì sẽ được các tổ chức bảo hiểm đền bù số tiền như theo thỏa thuận. Và nếu
trong quá trình hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có hiệu lực, khách hàng không gặp bất cứ
rủi ro nào thì sẽ được nhận một phần hoặc toàn bộ số tiền bảo hiểm được quy định trong
hợp đồng sau khi kết thúc hợp đồng bảo hiểm đó. Như vậy, đối với hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ người tham gia không chỉ có được sự bảo đảm cho các rủi ro không mong đợi
mà đồng thời đó cũng là một khoản tiết kiệm cho các nhu cầu tài chính của các cá nhân
trong tương lai. Người hưởng các khoản đảm bảo của bảo hiểm có thể là người mua bảo
hiểm hoặc bất kỳ ai được đề cập trong hợp đồng. Bảo hiểm nhân thọ chi trả theo hình
thức khoán một cách độc lập. Bảo hiểm nhân thọ thường gắn với tuổi thọ con người và
thường bảo đảm cho các rủi ro có sự thay đổi theo đối tượng và thời gian, chẳng hạn
như: Bảo hiểm tiết kiệm, Bảo hiểm sức khỏe, Bảo hiểm hưu trí,…
- Bảo hiểm phi nhân thọ: là hình thức bảo hiểm tự nguyện không chỉ hướng đến
con người mà còn hướng tới cả các đối tượng có liên quan đến con người như tai nạn,
sức khỏe, hàng hóa (tàu xe, tàu hàng,…), nhằm bảo đảm các bồi thường khi người tham
gia gặp phải các rủi ro đó. Người tham gia sẽ được bồi thường tổn thất trong giới hạn
theo hợp đồng đã ký nếu các rủi ro có xảy ra. Tuy nhiên ngược lại với bảo hiểm nhân
thọ thì đối với hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ, trường hợp người tham gia không gặp
bất kỳ rủi ro liên quan nào trong thời hạn của bảo hiểm thì sau khi kết thúc hợp đồng họ
cũng sẽ không được nhận số tiền đã đóng. Người thụ hưởng của bảo hiểm phi nhân thọ
sẽ là nạn nhân trực tiếp hoặc gián tiếp của các sự cố bất ngờ. Bảo hiểm phi nhân thọ chi
trả dựa theo hình thức đóng góp theo hình thức quyền thế. Bảo hiểm phi nhân thọ đảm
bảo cho những rủi ro mang tính ngắn hạn, ổn định và thường độc lập với tuổi thọ của
con người nên có thể chia thành những loại như sau: Bảo hiểm xe cơ giới, Bảo hiểm 7
cháy nổ, Bảo hiểm trách nhiệm, Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, Bảo hiểm bảo lãnh.
1.5. Cơ sở pháp lý về hoạt động bảo hiểm thương mại
Căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật “Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000”
được sửa đổi bổ sung 2010, “Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022”, ta có thể đúc kết và
đưa ra một số điều kiện chung liên quan đến Bảo hiểm Thương mại Việt Nam thông qua
Luật và các văn bản dưới Luật.
- Về phạm vi điều chỉnh
Điều đầu tiên khi đi vào nghiên cứu vào bất kì ngành luật nào thuộc hệ thống pháp
luật Việt Nam, chúng ta cũng cần quan tâm đến trước hết là phạm vi điều chỉnh của mỗi
một ngành luật đó. Căn cứ vào Điều 1 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022 có quy định
về phạm vi điều chỉnh như sau:
“1. Luật này quy định về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm; quyền và nghĩa
vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Luật này không áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền
gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh.”
Như vậy, Luật kinh doanh bảo hiểm chỉ điều chỉnh các quan hệ bảo hiểm mang tính
chất kinh doanh có mục đích sinh lời, Luật sẽ không điều chỉnh các quan hệ bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế mang tính chất bắt buộc và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực
hiện mà không mang tính kinh doanh. Đối tượng điều chỉnh của Luật sẽ tập trung vào các
quan hệ xã hội được hình thành trong quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
- Quy định về bảo hiểm bắt buộc
Điều thứ hai chúng ta cần quan tầm đối với Luật liên quan đến kinh doanh bảo hiểm,
chính là các hình thức bảo hiểm bắt buộc mà Nhà nước yêu cầu bất kì một cá nhân, tổ
chức, chủ thể nào trong nền kinh tế cũng phải tham gia nhằm mục đích phòng ngừa, hạn
chế rủi ro ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích chung của toàn xã hội đồng thời bảo vệ cho an
toàn của xã hội được nâng cao. Chúng ta sẽ căn cứ vào Khoản 1,2 Điều 8 Luật kinh doanh
bảo hiểm 2022 để đưa ra các bảo hiểm bắt buộc bao gồm: 8 9
phạm vi số tiền bồi thường bảo hiểm. Nguyên tắc này không áp dụng đối với hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe;
5. Nguyên tắc rủi ro ngẫu nhiên: rủi ro được bảo hiểm phải là những rủi ro bất ngờ,
không lường trước được.”
Ngoài việc xác định được rõ các loại hợp đồng bảo hiểm cũng như các nguyên tắc
cần có cho các bên liên quan khi tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm như đã nêu ở trên
thì chúng ta cũng cần phải quan tâm đến những nội dung mà một bản hợp đồng bảo hiểm
cần có. Việc này sẽ căn cứ theo Điều 17 Luật kinh doanh bảo hiểm 2022:
“1. Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng (nếu có), doanh
nghiệp bảo hiểm hoặc chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài;
b) Đối tượng bảo hiểm;
c) Số tiền bảo hiểm hoặc giá trị tài sản được bảo hiểm hoặc giới hạn trách nhiệm bảo hiểm;
d) Phạm vi hoặc quyền lợi bảo hiểm; quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
đ) Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo hiểm;
e) Thời hạn bảo hiểm, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm;
g) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;
h) Phương thức bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
i) Phương thức giải quyết tranh chấp.”
- Quy định về các doanh nghiệp bảo hiểm
Căn cứ vào Điều 62 Luật kinh doanh bảo hiểm 2022, thì các hình thức tổ chức của
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được Nhà nước cho phép hoạt động
bao gồm 2 hình thức là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn.
Các nội dung liên quan đến việc tổ chức hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm,
doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được quy định rõ tại Điều
63 Luật kinh doanh bảo hiểm 2022:
“1. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ nước ngoài bao gồm:
a) Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm;
b) Quản lý các quỹ và đầu tư vốn từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
c) Cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm;
d) Hoạt động khác liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp tái
bảo hiểm nước ngoài bao gồm:
a) Kinh doanh tái bảo hiểm; nhượng tái bảo hiểm; 10
b) Quản lý các quỹ và đầu tư vốn từ hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm;
c) Hoạt động khác liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước
ngoài chỉ được phép kinh doanh một loại hình bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều 7 của
Luật này, trừ các trường hợp sau đây:

a) Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh bảo hiểm sức khỏe;
b) Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ nước ngoài kinh doanh các sản phẩm thuộc loại hình bảo hiểm sức
khỏe có thời hạn từ 01 năm trở xuống và các sản phẩm bảo hiểm cho rủi ro tử vong
có thời hạn từ 01 năm trở xuống;

c) Doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm cho rủi
ro tử vong có thời hạn từ 01 năm trở xuống.”
- Quy định về quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 151 Luật kinh doanh bảo hiểm 2022, Bộ Tài Chính sẽ là
cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý Nhà nước về kinh
doanh bảo hiểm, có quyền hạn và phải tuân thủ các nghĩa vụ sau đây: a)
Ban hành, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành và hướng dẫn thực hiện
các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xây dựng chiến lược,
đề án và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam;
b)
Thực hiện thống kê, dự báo về thị trường bảo hiểm;
c) Giám sát doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước
ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp môi giới
bảo hiểm thông qua hoạt động nghiệp vụ, tình hình tài chính, quản trị doanh nghiệp,
quản trị rủi ro và việc chấp hành pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm; giám sát
hoạt động của văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam;
d)
Giám sát hoạt động đại lý bảo hiểm, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm thông qua
doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
đ) Thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi
nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp
môi giới bảo hiểm; kiểm tra hoạt động của văn phòng đại diện nước ngoài tại
Việt Nam;
e) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm;
g) Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Bên cạnh đó, ngoài văn bản quy phạm pháp luật “Luật kinh doanh bảo hiểm 2022”,
chúng ta còn có các văn bản dưới luật như là các thông tư, nghị định liên quan đến Bảo
hiểm thương mại được Nhà nước ban hành, như:
- Nghị định 119/2015/NĐ CP: Quy định bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng. 11
- Nghị định 23/2018/NĐ CP: Quy định về bảo hiểm cháy nổ bắt buộc.
- Thông tư 22/2016/TT BTC: Quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách
nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
- Nghị định 58/2018/NĐ CP: Quy định về bảo hiểm nông nghiệp.
1.6. Vai trò của bảo hiểm thương mại trong nền kinh tế.
Vai trò của các hoạt động bảo hiểm thương mại đối với nền kinh tế:
- Ổn định tài chính cho các tổ chức, cá nhân khi gặp rủi ro bất ngờ: Có thể nói
vai trò luôn được thể hiện rõ nhất của hoạt động bảo hiểm thương mại chính là việc phòng
ngừa, hạn chế các sự cố bất ngờ xảy ra đối với các doanh nghiệp trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh. Đồng thời cũng giúp bảo đảm ổn định về mặt tài chính cho các
doanh nghiệp. Đối với các cá nhân thì hoạt động bảo hiểm thương mại sẽ gánh thay họ
một phần gánh nặng vật chất khi rủi ro xảy ra, tránh cho việc các cá nhân đó kiệt quệ cả
về vật chất lẫn tinh thần.
- Huy động vốn đầu tư giúp tăng trưởng kinh tế: Đặc điểm của quá trình hoạt
động bảo hiểm thương mại là thu phí bảo hiểm trước thời hạn đóng, sau đó trả tiền bảo
hiểm rồi mới đến bước cuối cùng là bồi thường. Do đó, nguồn quỹ của các tổ chức bảo
hiểm chủ yếu được hình thành bởi sự huy động các nguồn vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp,
điều này giúp điều tiết cung - cầu vốn, đáp ứng nguồn vốn xoay cho nền kinh tế.
- Ổn định ngân sách Nhà nước: Nhờ có các hoạt động về bảo hiểm con người,
bảo hiểm tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm mà ngân sách Nhà nước phải chi cho các
khoản như trợ cấp tai nạn, trợ cấp thiên tai,…cũng giảm đáng kể. Không những thế nguồn
thu của Ngân sách Nhà nước cũng được mở rộng nhờ vào những khoản thuế thu nhập,
thuế giá trị gia tăng,… mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải nộp.
- Tạo thêm việc làm cho người lao động: Việc hoạt động bảo hiểm thương mại
được phát triển mạnh mẽ, ngày càng có nhiều tổ chức, doanh nghiệp bảo hiểm; các công
ty bảo hiểm cần một lượng lớn lao động nhất định cho hệ thống đại lý, chi nhánh bảo
hiểm,… Điều này đã thu hút được rất lớn sự quan tâm của thị trường lao động. Từ đó,
giảm thiểu tình trạng thất nghiệp trên thị trường.
- Thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy hội nhập kinh tế: Bảo hiểm góp phần hỗ
trợ đàm phán và thực hiện các cam kết hội nhập với các tổ chức thế giới trong quá trình
tự do hóa dịch vụ tài chính và thương mại như hiện nay; có thể kể đến đàm phán thương
mại Việt Nam – Liên minh Châu Âu, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới 12
( WTO),… Bên cạnh đó, hoạ t động bảo hiểm c ũng hỗ trợ thúc đẩy các hoạt động kinh
doanh và thương mại. Cụ thể, có nhiều loạ i hàng hóa và dịch vụ trên thị trường tiêu
thụ nhiều hơn nếu khi kè m theo các hợp đồng bả o hiểm liên quan đến hàng hóa và
dịch vụ. Nhờ đó mà thúc đẩy trao đổi thương mại, xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam ra
nước ngoài và hội nhập nền kinh tế quốc tế. 13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Quá trình hình thành và phát triển thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam.
Bảo hiểm thương mại ở Việt Nam có thể nói là ra đời khá muộn so với sự phát triển
chung của ngành bảo hiểm trên thế giới. Ở Việt Nam, hoạt động bảo hiểm thương mại chỉ
thực sự bắt đầu khi có sự ra đời của Bảo Việt, để đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm trong hoạt
động ngoại thương, ngày 17/12/1964, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập
công ty Bảo hiểm Việt Nam, gọi tắt là Bảo Việt. Công ty chính thức đi vào hoạt động bắt
đầu từ ngày 15-01-1965, lúc này, ngành bảo hiểm chỉ có một Công ty bảo hiểm duy nhất
trên thị trường Việt Nam đó là Bảo Việt. Bảo Việt độc quyền kinh doanh bảo hiểm nên
các sản phẩm của Bảo Việt chưa đa dạng, chủ yếu thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm phi
nhân thọ với khoảng 20 sản phẩm bảo hiểm. Quá trình hoạt động trong giai đoạn này của
Bảo Việt chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên ngành
bảo hiểm thực hiện theo mệnh lệnh hành chính và chưa thể hiện rõ chức năng kinh doanh
bảo hiểm. Quy mô của Bảo Việt lúc bấy giờ chưa được chú trọng phát triển, chủ yếu chỉ
có 2 chi nhánh ở Hà Nội và Hải Phòng thực hiện nhận bảo hiểm nghiệp vụ bảo hiểm hàng
hóa vận chuyển trên các tuyến vận tải hàng hải, hàng không, đường sắt, đường bộ trong
nước và tái bảo hiểm lại cho các công ty bảo hiểm của Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Ba Lan,… với tỷ lệ cao.
Giai đoạn trước năm 1993
Năm 1976, sau khi thống nhất đất nước Bảo Việt là công ty bảo hiểm duy nhất của
Nhà nước hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam theo chế độ hạch toán thống nhất
toàn ngành. Trong giai đoạn từ 1980 đến 18/12/1993, Bảo Việt vẫn là doanh nghiệp Nhà
nước duy nhất kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam theo chế độ hạch toán toàn ngành.
Giai đoạn từ năm 1993 cho đến nay 14
Trước nhu cầu cần thiết phải đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế
đang chuyển sang cơ chế thị trường. Vào ngày 18/12/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị
định 100/1993/NĐ CP quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, đã tạo
hành lang pháp lý cho việc mở rộng và phát triển ngành bảo hiểm ở Việt Nam, đồng thời
đánh dấu một bước chuyển biến mới trên thị trường bảo hiểm. Với quy định này, thế độc
quyền nhà nước của Bảo Việt bị phá vỡ, các tổ chức bảo hiểm theo nhiều hình thức pháp
lý khác nhau thuộc nhiều thành phần kinh tế có thể tham gia thực hiện kinh doanh các
nghiệp vụ bảo hiểm ở Việt Nam. Hàng loạt công ty bảo hiểm trong và ngoài nước được
đã thành lập với nhiều thành phần kinh tế khác nhau: 100% vốn nước ngoài; liên doanh;
cổ phần như: Bảo Minh, Bảo Long, Prudential, AIA, ChinfonManulife, Bảo Minh-CMG,
PIJICO,... Bảo hiểm bưu điện ra đời. Tính đến cuối năm 2010, thị trường bảo hiểm Việt
Nam đã có trên 30 công ty bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ trong nước và
nước ngoài hoạt động. Đối với các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ của nước
ngoài, chúng ta có thể kể đến là: vào tháng 3/2005, Bộ Tài chính cho phép thành lập bảo
hiểm Prevoir thuộc một công ty bảo hiểm nhân thọ Pháp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
qua kênh dịch vụ tiết kiệm bưu điện; 2 công ty bảo hiểm nhân thọ của Mỹ là Chubb Life
và New York Life đã được trao giấy phép kinh doanh nhân chuyến thăm và làm việc tại
Mỹ của thủ tướng Phan Văn Khải (tuy nhiên đến nay New York Life đã rút giấy phép
không hoạt động nữa). Thị trường bảo hiểm Việt Nam đang ngày càng sôi động và có sức
cạnh tranh gay gắt hơn bao giờ hết, đặc biệt nhất là trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.
2.2. Thực trạng thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam hiện nay
2.2.1. Bảo hiểm nhân thọ
Việt Nam tuy là một nước nhỏ bé nhưng lại có dân số rất đông tính đến ngày
31/12/2023 là 100,3 triệu người, đứng thứ 15 trên thế giới. Đây là cơ hội cho thị trường
bảo hiểm nhân thọ Việt Nam. Tuy vậy thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam cho đến
nay mới chỉ trong giai đoạn đầu và còn non trẻ. Tháng 8/1996, hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ đầu tiên được phát hành, đánh dấu sự ra đời và phát triển của thị trường bảo hiểm
nhân thọ Việt Nam. Năm 1999, lần đầu tiên Việt Nam mở cửa thị trường bảo hiểm và
trước hết là thị trường bảo hiểm nhân thọ, đó cũng là bước ngoặt quan trọng đối với thị
trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam. Từ khi mở cửa, thị trường bảo hiểm nhân thọ cho
đến nay, đã có 5 doanh nghiệp lớn kinh doanh lĩnh vực này, đó là Bảo Việt, Bảo Minh -
CMG, Manulife, Prudential và AIA.
Ngành bảo hiểm nhân thọ đã có 352 sản phẩm ở các nhóm chính như tử kỳ, sinh kỳ,
liên kết chung, sức khỏe, hưu trí, do nhu cầu chăm sóc sức khỏe - y tế của người Việt
ngày càng cao nên các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ không ngừng đưa ra những sản
phẩm đặc thù, có tính bảo vệ toàn diện hơn.
Ví dụ: Sản phẩm bảo hiểm bệnh hiểm nghèo cao cấp toàn diện của Dai-ichi Life
Việt Nam, sản phẩm bảo hiểm bổ trợ mới “Manulife - Món quà sức khỏe” của Manulife
cũng được nhiều người chọn lựa. Đây là dòng sản phẩm bổ trợ chăm sóc sức khỏe đầu
tiên được hãng giới thiệu ra thị trường nhằm mang lại quyền lợi bảo vệ trên toàn thế giới, 15
Bảo Việt Nhân Thọ cũng ra mắt sản phẩm mới "An tâm học vấn" dành cho trẻ em với
mục đích hỗ trợ các bậc phụ huynh chăm lo và đảm bảo cho tương lai của thế hệ trẻ với
nguồn tài chính vững chắc.
Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam
đến nay đã có 19 doanh nghiệp, cung cấp hơn 500 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, với hơn
11,6 triệu hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, giải quyết công ăn việc làm cho gần 900.000
đại lý, số tiền bảo hiểm chi trả năm 2020 lên tới hơn 25.000 tỷ đồng. Bảo 16