Đang tải lên
Vui lòng đợi trong giây lát...
Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HTTTKT VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
-------- 🙞 🕮 🙟 -------- BÀI THẢO LUẬN
Học phần: Nhập môn tài chính tiền tệ
Đề tài: Đánh giá thực trạng thị trường bảo hiểm ở
Việt Nam giai đoạn hiện nay. Mã học phần: 232_EFIN2811_09
Giảng viên hướng dẫn: Trần Thị Hải Yến Nhóm thực hiện: 12 HÀ NỘI, 2024 MỤC LỤC
MỤC LỤC..................................................................................................................1
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN................................................................................3
1.Những vấn đề chung của bảo hiểm.....................................................................3
1.1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm trong nền kinh tế............................3
1.2. Các hình thức bảo hiểm...............................................................................4
1.3. Đặc điểm của bảo hiểm...............................................................................6
1.4. Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế.......................................................6
1.5. Luật bảo hiểm ở Việt Nam..........................................................................7
2. Bảo hiểm thương mại.......................................................................................18
2.1. Khái niệm và nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại................18
2.2. Các yếu tố cơ bản của hợp đồng bảo hiểm thương mại............................19
2.3. Phân loại bảo hiểm thương mại.................................................................20
CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.........................................................................22
1.Giới thiệu chung về thị trường bảo hiểm thương mại ở Việt Nam:..................22
2. Hoạt động bảo hiểm thương mại ở Việt Nam..................................................23
3. Thực trạng thị trường bảo hiểm.......................................................................25
3.1. Sự đa dạng về sản phẩm và dịch vụ..........................................................25
3.2. Tình trạng cạnh tranh và cấp phép............................................................26
3.3. Tăng trưởng và doanh số bảo hiểm...........................................................28
3.4. Chất lượng dịch vụ và quản lý rủi ro........................................................30
3.5. Thách thức từ rủi ro và biến động thị trường............................................32
4. Mô hình SWOT................................................................................................34
CHƯƠNG III. CÁC GIẢI PHÁP ĐƯỢC ĐỀ XUẤT..............................................37
1. Nâng cao chất lượng dịch vụ và minh bạch.....................................................37
2. Đổi mới công nghệ để quản lý rủi ro...............................................................39
3. Tăng cường giáo dục và nhận thức..................................................................40
4. Đào tạo và phát triển nhân sự...........................................................................41 1
5. Tăng cường quy định pháp lý và kiểm soát minh bạch...................................42
6. Hợp tác quốc tế và thúc đẩy đầu tư nước ngoài...............................................44
CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN.....................................................................................47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................48 2
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.Những vấn đề chung của bảo hiểm
1.1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm trong nền kinh tế
Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ KT dưới hình thái giá trị phát sinh trong
quá trình thành, phân phối và sử dụng quỹ BH nhằm đảm bảo cho quá trình tái SX
và đời sống của con người trong XH được ổn định và phát triển bình thường trong
điều kiện có biến cố bất lợi xảy ra. (Nguồn: Giáo trình “Nhập môn tài chính - tiền
tệ” Chủ biên TS. Vũ Xuân Dũng, NXB Thống kê 2012)
Trong đời sống xã hội, các chủ thể thường xuyên có mối quan hệ tác động
qua lại với tự nhiên và xã hội để tạo ra những sản phẩm, những giá trị cần thiết cho
sự tồn tại và phát triển của mình. Trong quá trình đó, những biến cố bất lợi xảy ra
gây tổn thất, thiệt hại cho quá trình sản xuất kinh doanh
Đối với đời sống dân cư, con người vẫn phải phụ thuộc vào thiên nhiên. Sự
biến đổi của tự nhiên thường làm cho con người gặp phải những rủi ro khó lường
như bão lụt, hạn hán, hỏa hoạn,... Mặc dù đã thực hiện các biện pháp phòng chống,
bảo vệ nhưng các biến cố bất lợi đó vẫn có thể xảy ra và gây tổn thất thiệt hại. Khi
xảy ra các thiệt hại, họ phải tìm cách khắc phục thiệt hại, ổn định đời sống bằng các
biện pháp khác nhau như đi vay, xin cứu trợ,... nhưng các biện pháp này có nhiều
hạn chế và mang tính tạm thời. Vì vậy, song song với các biện pháp, con người
dành một phần thu nhập từ lao động của mình tích lũy, đóng góp hình thành quỹ
tiền tệ đủ lớn để bù đắp kịp thời những thiệt hại rủi ro. Ngoài ra, trong quá trình lao
động sản xuất, con người có thể gặp phải những rủi ro khách quan mang tính chất
xã hội như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,... làm cho họ mất khả năng lao động
tạm thời hoặc vĩnh viễn. Khi đó họ cần có nguồn tài chính để bù đắp phần thu nhập 3
bị giảm và trang trải chi phí ổn định cuộc sống. Từ đó, từng cá nhân đã dành một
phần thu nhập của mình để lập nên quỹ dự trù bảo hiểm
Đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh: các hoạt động kinh doanh trong nền
kinh tế luôn tiềm ẩn các rủi ro khó lường. Sự biến đổi bất lợi của tự nhiên như bão
lụt, động đất, sóng thần… có thể làm cho sản xuất ngưng trệ, gây tổn thất thiệt hại
đến tài sản của các chủ thể kinh doanh. Mặt khác, các hoạt động sản xuất kinh
doanh của các chủ thể còn chịu tác động của các rủi ro khác như trộm, mất cắp,..
Khi đó, cũng đòi hỏi phải có biện pháp tài chính để phòng ngừa và bù đắp những
tổn thất thiệt hại để ổn định sản xuất kinh doanh. Ngoài các rủi ro mang tính chất tự
nhiên và xã hội, các chủ thể kinh doanh còn chịu tác động bởi các quy luật kinh tế
khách quan trong nền kinh tế thị trường như: quy luật giá cả, quy luật cung cầu,
quy luật cạnh tranh. Do đó cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa tài chính dưới
các hình thức thành lập quỹ dự phòng, tham gia các hình thức bảo hiểm
Đối với nhà nước, để thực hiện chức năng của nhà nước là phát triển kinh tế
và ổn định xã hội thì nhà nước phải có quỹ dự trữ để đảm bảo vai trò điều tiết vĩ mô
nền kinh tế. Nhà nước sẽ dùng quỹ này để can thiệp vào nền kinh tế mỗi khi có sự
biến động bất lợi cho nền kinh tế vĩ mô. Như vậy, sự tồn tại của bảo hiểm là một tất
yếu khách quan đối với vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước
1.2. Các hình thức bảo hiểm
Hình thức dự trữ tài chính nhằm bù đắp và khắc phục tổn thất thiệt hại đối
với SXKD và đời sống con người khi biến cố bất lợi xảy ra. Vừa mang tài chính
bồi hoàn, vừa mang tài chính không bồi hoàn.
Căn cứ vào phương thức xử lý rủi ro, hoạt động bảo hiểm được chia thành
hoạt động tự bảo hiểm và bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm 4
Tự bảo hiểm là hình thức bảo hiểm mà các tổ chức, cá nhân thành lập
các quỹ riêng để bù đắp các tổn thất có thể xảy ra đối với quá trình sản xuất
và đời sống của mình. Việc tự bảo hiểm cho mình thường được thực hiện khi
họ có đủ khả năng tài chính
Bảo hiểm thông qua các tổ chức bảo hiểm: là hình thức bảo hiểm mà
người tham gia bảo hiểm mà bản thân họ không muốn hoặc không đủ khả
năng để gánh chịu rủi ro đó thông qua việc trính nộp một phần thu nhập của
mình cho các tổ chức bảo hiểm mà bản thân họ không muốn hoặc không đủ
khả năng để gánh chịu rủi ro đó thông qua việc trính nộp một phần thu nhập
của mình cho các tổ chức bảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm. Các tổ chức bảo
hiểm hoạt động chuyên nghiệp trong phân tích rủi ro, ước lượng mức độ rủi
ro và phân tán rủi ro, đồng thời họ còn có trách nhiệm trong việc bảo toàn và
tăng trưởng quỹ để sử dụng chúng cho các mục tiêu dự phòng tài chính và
khắc phục hậu quả của rủi ro, cho nên hình thức bảo hiểm này được xem là
hình thức bảo hiểm hoạt động có hiệu quả trên mọi phương diện của nền kinh tế
Căn cứ vào mục đích hoạt động, hoạt động bảo hiểm được chia thành bảo
hiểm có mục đích kinh doanh và bảo hiểm không có mục đích kinh doanh.
Bảo hiểm có mục đích kinh doanh là hình thức bảo hiểm do các chủ thể tiến
hành nhằm mục tiêu lợi nhuận. Chính vì mục đích hoạt động của loại hình
bảo hiểm này mà nó có các tên gọi khác nhau như: bảo hiểm kinh doanh, bảo
hiểm thương mại hay các bảo hiểm rủi ro. Người bảo hiểm tìm kiếm lợi ích
kinh tế trên cơ sở thu phí bảo hiểm và cam kết thực hiện bồi thường hoặc trả
tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thông
qua một hợp đồng bảo hiểm
Bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh là hình thức bảo hiểm do các chủ
thể tiến hành không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Mục đích chủ yếu của loại 5
hình bảo hiểm này là nhằm tương hỗ giữa các thành viên tham gia. Với tư
cách là tổ chức quản lý quỹ xã hội, quỹ tài chính tập trung, bảo hiểm xã hội
hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà phục vụ cho chính sách xã hội, vì
mục đích và quyền lợi của người lao động có tham gia bảo hiểm xã hội.
Cũng dựa trên nguyên tắc đó, việc hình thành và sử dụng quỹ dự trữ tập
trung của nhà nước, các quỹ tương hỗ, quỹ dự trữ trong các doanh nghiệp,
các gia đình phục vụ cho mục tiêu an toàn, ổn định sự phát triển của kinh tế,
của từng doanh nghiệp, từng hộ gia đình hay cá nhân cũng là những hình
thức bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh
1.3. Đặc điểm của bảo hiểm
Bảo hiểm là một hình thức dự trữ tài chính nhằm bù đắp và khắc phục những
tổn thất thiệt hại đối với sản xuất kinh doanh và đời sống con người khi những biến cố bất lợi xảy ra
Bảo hiểm vừa mang tính chất bồi hoàn vừa mang tính chất không bồi hoàn.
Trong thời gian được bảo hiểm, nếu rủi ro không xảy ra hoặc có xảy ra nhưng
không gây thiệt hại ảnh hưởng đến đối tượng bảo hiểm thì người bảo hiểm không
phải bồi thường hay trả tiền cho bên mua bảo hiểm. Ngược lại, nếu xảy ra sự cố,
đối tượng bảo hiểm bị thiệt hại hoặc bị ảnh hưởng thì bên mua bảo hiểm sẽ được
chi trả, bồi thường. Tính bồi hoàn của bảo hiểm có tính bất ngờ cả về không gian, thời gian và quy mô.
1.4. Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế
Bảo hiểm góp phần ổn định sản xuất kinh doanh và đời sống con người.
Trong bảo hiểm kinh doanh, khi các tổ chức bảo hiểm gặp phải những rủi ro, trách
nhiệm chi trả, bồi thường cho người được bảo hiểm là yêu cầu bắt buộc đối với
người bảo hiểm. Nhờ vào những khoản chi trả, bồi thường này mà các cơ sở sản
xuất kinh doanh có thể xây dựng lại cơ sở vật chất, mua lại các máy móc thiết bị đã 6
bị hư hỏng, mất mát,... để có thể tiếp tục hoạt động. Trong bảo hiểm xã hội, nhờ
vào các khoản trợ cấp, bồi thường trong trường hợp ốm đau, tai nạn, không còn khả
năng lao động hay mất việc làm… mà người lao động có thể khắc phục khó khăn,
ổn định đời sống, đồng thời góp phần giảm bớt gánh nặng về mặt tài chính cho tổ
chức sử dụng lao động. Trong trường hợp người lao động bị chết, thân nhân của họ
sẽ được một khoản tiền hỗ trợ từ tổ chức bảo hiểm xã hội. Khi về hưu tổ chức bảo
hiểm xã hội sẽ chi trả lương hưu và hỗ trợ các chi phí y tế, chăm sóc sức khỏe,...
Thông qua việc sử dụng quỹ bảo hiểm đã được tạo lập để bồi thường, chi trả kịp
thời, chính xác những tổn thất vật chất cho người tham gia bảo hiểm.
Bảo hiểm góp phần phòng tránh, hạn chế rủi ro tổn thất. Đứng trên giác độ
lợi ích của các tổ chức bảo hiểm, việc tổ chức tốt các biện pháp đề phòng, hạn chế
tổn thất có hiệu quả sẽ giảm được khoản chi phí bồi thường, trả tiền bảo hiểm, đảm
bảo an toàn cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đứng trên giác độ người
tham gia bảo hiểm, ngoài trách nhiệm phải đóng góp đầy đủ phí bảo hiểm, họ còn
phải thực hiện tốt trách nhiệm đề phòng hạn chế tổn thất, thông báo tình hình và
diễn biến tai nạn, tổn thất để có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Đối với bảo hiểm xã
hội và bảo hiểm y tế, các tổ chức quản lý phải thường xuyên kiểm tra an toàn trong
các doanh nghiệp nhằm phòng tránh tai nạn xảy ra. Về phía nhà nước, đảm bảo ổn
định phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân là nhiệm vụ của bất cứ
nhà nước nào, vì vậy, việc hình thành và phát triển các hình thức bảo hiểm là giải
pháp tích cực giúp cho nhà nước giảm được nguồn kinh phí dành để đầu tư cho các
mục tiêu khác, đồng thời vẫn đảm bảo được mục tiêu về phát triển kinh tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
Bảo hiểm góp phần cung ứng vốn cho phát triển kinh tế - xã hội. Trong nền
kinh tế thị trường, bảo hiểm không chỉ là tấm lá chắn kinh tế cho quá trình sản xuất
kinh doanh và đời sống của con người trước những rủi ro, mà nó còn hoạt động với
tư cách là các tổ chức tài chính trung gian để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội 7
1.5. Luật bảo hiểm ở Việt Nam
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của
người lao động, người sử dụng lao động; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
đến bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử
dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện
bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao
động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc
nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động
được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của
người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
c) Cán bộ, công chức, viên chức;
d) Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;
đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp
vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác
cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; 8
e) Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân
phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;
g) Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
h) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;
i) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
2. Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép
lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ.
3. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan
nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt
động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ
hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.
4. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi
trở lên và không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội.
Các đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều này sau đây gọi chung là người lao động. 9
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
2. Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà
người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia.
3. Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà
người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập
của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người
tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.
4. Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình
thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước.
5. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội là thời gian được tính từ khi người lao động bắt
đầu đóng bảo hiểm xã hội cho đến khi dừng đóng. Trường hợp người lao động
đóng bảo hiểm xã hội không liên tục thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội là tổng thời
gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
6. Thân nhân là con đẻ, con nuôi, vợ hoặc chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi,
cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng của người tham gia bảo hiểm xã hội
hoặc thành viên khác trong gia đình mà người tham gia bảo hiểm xã hội đang có
nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
7. Bảo hiểm hưu trí bổ sung là chính sách bảo hiểm xã hội mang tính chất tự
nguyện nhằm mục tiêu bổ sung cho chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, 10
có cơ chế tạo lập quỹ từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao
động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông
qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật.
Điều 4. Các chế độ bảo hiểm xã hội
1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc có các chế độ sau đây: a) Ốm đau; b) Thai sản;
c) Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; d) Hưu trí; đ) Tử tuất.
2. Bảo hiểm xã hội tự nguyện có các chế độ sau đây: a) Hưu trí; b) Tử tuất.
3. Bảo hiểm hưu trí bổ sung do Chính phủ quy định.
Điều 5. Nguyên tắc bảo hiểm xã hội
1. Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo
hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
2. Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của
người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu
nhập tháng do người lao động lựa chọn.
3. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian
đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên 11
cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội đã được
tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính
hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội.
4. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch;
được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần,
các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ
tiền lương do người sử dụng lao động quyết định.
5. Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp
thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.
Điều 6. Chính sách của Nhà nước đối với bảo hiểm xã hội
1. Khuyến khích, tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội.
2. Hỗ trợ người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
3. Bảo hộ quỹ bảo hiểm xã hội và có biện pháp bảo toàn, tăng trưởng quỹ.
4. Khuyến khích người sử dụng lao động và người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.
5. Ưu tiên đầu tư phát triển công nghệ thông tin trong quản lý bảo hiểm xã hội.
Điều 7. Nội dung quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội
1. Ban hành, tổ chức thực hiện văn bản pháp luật, chiến lược, chính sách bảo hiểm xã hội.
2. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội.
3. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về bảo hiểm xã hội. 12
4. Tổ chức bộ máy thực hiện bảo hiểm xã hội; đào tạo, tập huấn nguồn nhân lực
làm công tác bảo hiểm xã hội.
5. Quản lý về thu, chi, bảo toàn, phát triển và cân đối quỹ bảo hiểm xã hội.
6. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội; giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
7. Hợp tác quốc tế về bảo hiểm xã hội.
Điều 8. Cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực
hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện
quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
4. Bảo hiểm xã hội Việt Nam tham gia, phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thực hiện quản lý về thu, chi, bảo toàn, phát triển và
cân đối quỹ bảo hiểm xã hội.
5. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội trong
phạm vi địa phương theo phân cấp của Chính phủ.
Điều 9. Hiện đại hóa quản lý bảo hiểm xã hội
1. Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên
tiến để quản lý, thực hiện bảo hiểm xã hội.
2. Đến năm 2020, hoàn thành việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu điện tử về
quản lý bảo hiểm xã hội trong phạm vi cả nước. 13
Điều 10. Trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về bảo hiểm xã hội
1. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển bảo hiểm xã hội.
2. Xây dựng chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; trình cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội.
3. Xây dựng và trình Chính phủ chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.
4. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội.
5. Chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội.
6. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo
hiểm xã hội, trừ quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này.
7. Trình Chính phủ quyết định biện pháp xử lý trong trường hợp cần thiết để bảo vệ
quyền, lợi ích chính đáng về bảo hiểm xã hội của người lao động.
8. Thực hiện công tác thống kê, thông tin về bảo hiểm xã hội.
9. Tổ chức tập huấn, đào tạo về bảo hiểm xã hội.
10. Tổ chức nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về bảo hiểm xã hội.
11. Hằng năm, báo cáo Chính phủ về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội.
Điều 11. Trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tài chính về bảo hiểm xã hội
1. Xây dựng và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành
theo thẩm quyền cơ chế quản lý tài chính về bảo hiểm xã hội; chi phí quản lý bảo hiểm xã hội. 14
2. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo việc
thực hiện quản lý tài chính về bảo hiểm xã hội.
3. Hằng năm, gửi báo cáo về tình hình quản lý và sử dụng các quỹ bảo hiểm xã hội
cho Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để tổng hợp và báo cáo Chính phủ.
Điều 12. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp về bảo hiểm xã hội
1. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội.
2. Xây dựng chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội trong kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội hằng năm trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.
3. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội.
4. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội.
5. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chính sách,
pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Điều 13. Thanh tra bảo hiểm xã hội
1. Thanh tra lao động - thương binh và xã hội thực hiện chức năng thanh tra chuyên
ngành về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về thanh tra.
2. Thanh tra tài chính thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về quản lý tài
chính bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về thanh tra.
3. Cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế theo quy định của Luật này
và quy định khác của pháp luật có liên quan. 15
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 14. Quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên của Mặt trận
1. Tổ chức công đoàn có các quyền sau đây:
a) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội;
b) Yêu cầu người sử dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về
bảo hiểm xã hội của người lao động;
c) Giám sát và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội;
d) Khởi kiện ra Tòa án đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội gây
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, tập thể người lao
động theo quy định tại khoản 8 Điều 10 của Luật công đoàn.
2. Tổ chức công đoàn có các trách nhiệm sau đây:
a) Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội cho người lao động;
b) Tham gia thanh tra, kiểm tra việc thi hành pháp luật về bảo hiểm xã hội;
c) Kiến nghị, tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội.
3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân,
đoàn viên, hội viên thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, chủ động
tham gia các loại hình bảo hiểm xã hội phù hợp với bản thân và gia đình; tham gia
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên; phản biện xã 16
hội, tham gia với cơ quan nhà nước trong việc xây dựng chính sách, pháp luật về
bảo hiểm xã hội; giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội
theo quy định của pháp luật.
Điều 15. Quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện người sử dụng lao động
1. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động có các quyền sau đây:
a) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội;
b) Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
2. Tổ chức đại diện người sử dụng lao động có các trách nhiệm sau đây:
a) Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội cho người sử dụng lao động;
b) Tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về bảo hiểm xã hội;
c) Kiến nghị, tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Điều 16. Chế độ báo cáo, kiểm toán
1. Hằng năm, Chính phủ báo cáo Quốc hội về tình hình thực hiện chính sách, chế
độ bảo hiểm xã hội, quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội.
2. Định kỳ ba năm, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán quỹ bảo hiểm xã hội
và báo cáo kết quả với Quốc hội. Theo yêu cầu của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ
Quốc hội và Chính phủ, quỹ bảo hiểm xã hội được kiểm toán đột xuất.
Điều 17. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp. 17
2. Chậm đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
3. Chiếm dụng tiền đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
4. Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
5. Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp không đúng pháp luật.
6. Cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính
đáng của người lao động, người sử dụng lao động.
7. Truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
8. Báo cáo sai sự thật; cung cấp thông tin, số liệu không chính xác về bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
2. Bảo hiểm thương mại
2.1. Khái niệm và nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm thương mại
Khái niệm: Bảo hiểm thương mại (Commercial insurance) là hình thức bảo
hiểm do các tổ chức kinh doanh bảo hiểm tiến hàng trên cơ sở huy động sự đóng
góp của các chủ thể để tạo lập quỹ bảo hiểm, phân phối sử dụng chúng để trả tiền
bảo hiểm, bồi thường những tổn thất cho các đối tượng được bảo hiểm khi các rủi
ro được bảo hiểm xảy ra. Nguyên tắc hoạt động: Sàng lọc rủi ro
Không phải rủi ro nào cũng có thể chấp nhận bảo hiểm, nên tổ chức bảo
hiểm cố gắng sàng lọc những rủi ro nghiêm trọng để loại trừ, trong các trường hợp 18
chấp nhận cũng phải có sự phân nhóm để thực hiện các hình thức bảo hiểm phù
hợp, trên cơ sở đó xác định phí bảo hiểm và trả tiền bảo hiểm một cách hợp lý.
Định phí bảo hiểm phải trên cơ sở “giá” của các rủi ro
Các rủi ro rất đa dạng, những tác hại của nó đối với quá trình sản xuất kinh
doanh và đời sống con người cũng rất khác nhau. Vì vậy, các tổ chức bảo hiểm
phải trên cơ sở giá các rủi ro để định phí mới đảm bảo sự công bằng đối với người
tham gia bảo hiểm. Nếu một rủi ro có xác suất xảy ra lớn, thiệt hại nhiều thì người
nào muốn tham gia bảo hiểm cho những rủi ro đó sẽ phải trả phí cao và ngược lại. Đảm bảo an toàn
Trong quản lý bảo hiểm, người bảo hiểm phải thận trọng ngay từ khi ký kết
hợp đồng bảo hiểm, như đánh giá rủi ro bảo hiểm, các điều kiện chấp nhận bảo
hiểm,... để tránh các trường hợp gian lận, cũng như bất cẩn của người tham gia bảo hiểm.
Lấy số đông bù số ít
Phải huy động sự tham gia của nhiều người, họ cùng đóng phí, với những
mức đóng góp có thể chấp nhận được để bù đắp tổn thất của một số ít người gặp rủi
ro, vì nếu chỉ có số ít người tham gia bảo hiểm thì không thể tổ chức hoạt động bảo
hiểm được. Những người này sẽ nhận được những khoản tiền bồi thường khá lớn
so với khoản phí bảo hiểm đã đóng. Đây cũng là sự hấp dẫn đối với người tham gia
bảo hiểm, bên cạnh lý do về sự đe doạ của những rủi ro đối với cuộc sống của họ
khiến họ đến với tổ chức bảo hiểm.
2.2. Các yếu tố cơ bản của hợp đồng bảo hiểm thương mại
a. Các bên liên quan trong hợp đồng bảo hiểm 19