I. sởnhu cầu đòi hỏi Việt Nam phải mở cửa hội
nhập, đổi mới thể chế đối ngoại
1. Sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa cách mạng
khoa học công nghệ đòi hỏi duy đối ngoại phải đổi
mới.
Toàn cầu hóa khái niệm dùng để chỉ sự gắn kết trao đổi ny
càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức về mọi lĩnh vực trên quy toàn cầu.
Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hóa được dùng để chỉ xu hướng “tự do
thương mại” kéo theo các dòng chảy thuật, công nghệ, thông tin, văn hóa
ở quy mô toàn cầu.
Đại hội IX (2001), Đảng đưa ra nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế
là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia”. Xu thế này
được đặc trưng bởi các yếu tố sau: lực lượng sản xuất quan hệ quốc tế vượt
khỏi biên giới quốc gia và phạm vi từng khu vực, lan tỏa ra phạm vi toàn cầu; sự
phân công lao động mang tính quốc tế, mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia,
khu vực, đan xen nhau, hình thành mạng lưới đa tuyến, vận hành theo các “luật
chơi chung”. Trong xu thế ấy, các nền kinh tế quan hệ ngày càng mật thiết với
nhau, tùy thuộc lẫn nhau.
Đại hội X 2006 Đảng đã bổ sung một đặc trưng quan trọng: Các
công ty xuyên quốc gia tiềm lực tài chính lớn, công nghệ cao, trình độ
quản tiên tiến, vai trò ngày càng quan trọng trong toàn cầu hóa kinh
tế.
Đại hội XI (2011), Đảng đã đưa ra những nhận định mới đầy đủ
hơn về toàn cầu hóa kinh tế: Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy
mô, mức độ hình thức biểu hiện với những tác động tích cực tiêu cực,
hội và thách thức đan xen phức tạp; các công ty xuyên quốc gia vai trò ngày
càng lớn trong toàn cầu hóa kinh tế; quá trình quốc tế hóa sản xuất phân
công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng; việc tham gia vào mạng sản xuất
chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu đối với các nền kinh tế; sự tùy thuộc
lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh hợp tác giữa các nước ngày càng trở thành
phổ biến. Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó con người và trí thức ngày
càng trở thành nhân tố quyết định của phương thức phát triển mới; công nghệ
thông tin trở thành nền tảng cho một phương thức phát triển mới.
Do đó nước ta không thể đứng ngoài xu thế toàn cầu hóa, tồn tại biệt lập như
một ốc đảo trong thế giới đang toàn cầu hóa.
2. Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước đang phát triển phải tăng
cường liên kết hợp tác với các nước phát triển để tranh thủ vốn thuật công
nghệ mở rộng thị trường học tập kinh nghiệm tổ chức quản lý.
3. Nguy Việt Nam tụt hậu xa hơn về kinh tế với nhiều nước trong khu vực
trên thế giới đòi hỏi Việt Nam phải mở cửa hội nhập
Năm 1980 GDP bình quân đầu người của Việt Nam thấp hơn cả
lào Campuchia, thu nhập quốcn những năm 1976 - 1980 tăng rất chậm.
Để chống lại tụt hậu về kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển
giữa nước ta với các quốc gia khác, cùng với việc phát huy tối đa nội lực, Việt
Nam cần tranh thủ các nguồn lực bên ngoài. Do đó chế hợp tác song
phương, đa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với nước ta.
Sự bao vây chống phá của các thế lực thù địch cản trở to lớn cho
mục tiêu phát triển của Việt Nam từ sau năm 1975.
+ Quan hệ quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1975-1986 diễn biến phức tạp; giữa
Việt Nam và Campuchia căng thẳng.
Năm 1979, lấy cớ sự kiện Campuchia, các nước ASEAN thực hiện bao vây
lập về kinh tế và chính trị đối với Việt Nam.
Sự bao vây chống phá của các thế lực thù địch cản trở to lớn cho mục tiêu
phát triển của Việt Nam từ sau năm 1975.
II, Những luận điểm chiến lược ý nghĩa đột phá trong
nhận thức về quan hệ đối ngoại của đảng ta qua các kỳ đại
hội VII, IX, XI:
1.
Đột phá đầu tiên - hợp tác cùng tồn tại hòa bình (Đại hội VII 1991)
Tháng 5/1988, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
khóa VI thông qua Nghị quyết 13 về nhiệm vụ chính sách đối ngoại trong nh
hình mới. Đây được xem mốc đột phá quan trọng trong việc đổi mới duy
đối ngoại theo định hướng mới. Nghị quyết đã nêu phương thức đấu tranh mới:
“Chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ trạng thái đối đầu hiện nay sang đấu
tranh hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình” với tất cả các đối tác chính. Nghị
quyết đã đánh giá lại quan hệ bạn thù, không còn coi nước nào “hòn đá tảng”2,
“đối lập”3 hay “kẻ thù”4 của Việt Nam nữa, do đó đã tạo bước ngoặt trong việc
thực hiện chính sách đối ngoại đổi mới.
Nhiều nội dung nhận thức đột phá của Nghị quyết 13 (5/1988) đã được chính
thức khẳng định lại tại Đại hội lần thứ VII (1991). Đảng Cộng sản Việt Nam đã
chủ trương: “Hợp tác bình đẳng cùng lợi với tất cả các nước không phân
biệt chế độ chính trị - hội khác nhau trên sở những nguyên tắc cùng tồn
tại hòa bình”, với phương châm “Việt Nam muốn bạn với tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới, phấn đấu hòa bình, độc lập phát triển”. Đại hội
VII cũng đra các chính sách đối ngoại với các đối tác đã được xác định từ Nghị
quyết 13.
Những nhận thức trong Nghị quyết 13 và được cụ thể hóa trong Văn kiện
Đại hội VII về đối ngoại đã cho thấy bước chuyển mạnh mẽ trong duy đối
ngoại của Việt Nam. Những nhận thức mới này đã giúp khai thông cho Việt
Nam giải quyết thành công vấn đề Campuchia (1991), bình thường hóa quan
hệ với Trung Quốc (1991), bình thường hóa quan h với Mỹ (1995), trở
thành thành viên trong ASEAN (1995). Những thành công nổi bật đó là
minh chứng ràng về sự đúng đắn trong chủ trương “hợp tác cùng tồn tại
hòa bình” của Việt Nam.
2.
Đột phá thứ hai - đối tác, đối tượng (Đại hội IX 2003)
Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa IX (7/2003) ra Nghị quyết về “Chiến lược
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Ngh quyết đã đưa ra những khái niệm mới
trong quan hệ quốc tế không giống với trước đây. Đó quan điểm về đối tác”
và “đối tượng” theo tinh thần “thêm bạn, bớt thù”.
Tại Hội nghị Trung ương 8, khóa IX này, lần đầu tiên Đảng đã nhấn mạnh hoạt
động đối ngoại nhằm “bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc” một trong những
mục tiêu then chốt của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó nghĩa:
bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc nguyên tắc tất cả các hoạt động đối ngoại,
từ đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đến đối ngoại nhân dân đều phải tuân thủ.
Do vậy việc xác định đối tác hay đối tượng đều dựa trên mục tiêu nguyên tắc
cao nhất là Lợi ích quốc gia - dân tộc.
Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI đã khẳng định “Lợi ích cao nhất của
Đảng nhân dân ta phải củng cố và givững hòa bình để tập trung sức xây
dựng và phát triển kinh tế”. Nghị quyết Trung ương 8, khóa IX nhấn mạnh “bảo vệ
lợi ích quốc gia, dân tộc” là một trong những mục tiêu then chốt của sự nghiệp xây
dựng bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên đại hội XI lần đầu tiên, mục tiêu đối ngoại
lợi ích quốc gia, dân tộc” được nêu rõ trong phần đối ngoại của Cương lĩnh và Báo
cáo chính trị tại Đại hội Đảng, mang ý nghĩa hết sức quan trọng xác định
được đối tác đội tượng. Từ nhận thức đúng đối tác, đối tượng đó nên ngoại giao
Việt Nam đã đạt được những kết quả rõ rệt: đến năm 2021, Việt Nam đã có 30 đối
tác toàn diện đối tác chiến lược, quan hệ tốt với các nước các nền kinh tế
lớn.
thể nói, từ khi đổi mới năm 1986, sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị năm
1988, Nghị quyết 8 khóa IX tài liệu thứ hai tầm quan trọng chiến lược
trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, xác định nguyên tắc phương thức
đối ngoại của Việt Nam với tất cả các nước các tổ chức quốc tế trong khu
vực và thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển
III. Đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng giai đoạn hiện nay
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại: “Độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát
triển, đa dạng a, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại, chủ động tích cực
hội nhập quốc tế, là bạn, đối tác khi cậy thành viên trách nhiệm của cộng
đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết”.
1. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ
-
Đối ngoại độc lập không phụ thuộc vào đường lối đối ngoại của nước
khác. Đối ngoại tự chủ không để đường lối đối ngoại của nước khác chi
phối đường lối đối ngoại của mình.
-
Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia
dân tộc, trên sở các nguyên tắc bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng
cùng lợi. Trước đây, lúc, việc chúng ta đã chịu ảnh hưởng các
quan hệ quốc tế của Liên (n quan điểm đánh giá chủ nghĩa bản đánh
giá chủ nghĩa xã hội).
2. Đối ngoại hòa bình, hợp tác, phát triển
-
Đối ngoại hòa bình hợp tác không đối đầu, không gây chiến tranh
tăng cường hợp tác, cùng nhau xây dựng, cùng nhau phát triển. Trong khi
xác định đối ngoại vì hòa bình, hợp tác và phát triển xu thế chung, nhưng
Đảng ta thấy hợp tác đi đôi với đấu tranh, cạnh tranh để bảo vệ lợi ích
chính đáng của quốc gia, đồng thời đấu tranh theo luật pháp quốc tế đhợp
tác tốt hơn và không dẫn đến đối đầu.
-
Trước đây chúng ta xác định mục tiêu của đối ngoại hòa bình độc lập,
dân chủ chủ nghĩa hội nhằm giải quyết “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa
hội chủ nghĩa bản. Như vậy nhấn mạnh sự đối đầu giữa các chế độ
chính trị khác nhau thay vì đề cao mục tiêu phát triển.
3. Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại
-
Đa dạng hóa các quan hđối ngoại triển khai hoạt động đối ngoại trên
nhiều mặt, nhiều phương diện như: kinh tế, chính trị, văn hóa - hội, quốc
phòng - an ninh; trên nhiều hình thức như :đối ngoại của nhà nước, đối ngoại
của đảng ,đối ngoại của nhân dân; trên nhiều cấp độ: Đảng với Đảng, dân
với dân, Quốc Hội và Quốc Hội…
-
Đa phương hóa các quan hệ đối ngoại thiết lập quan hệ đối ngoại với
nhiều nhóm nước, nhiều quốc gia, khu vực trên tinh thần không phân biệt
quá khứ, chế độ chính trị, hệ tư tưởng…
4. Chủ động tích cực hội nhập quốc tế
-
Hội nhập quốc tế quá trình tham gia để trở thành một bộ phận cấu thành
vị trí, vai trò nhất định trong các lĩnh vực hoạt động của cộng đồng quốc
tế.
-
Chủ động hội nhập quốc tế chủ động đưa ra những quyết định về đường
lối, chính sách hội nhập, không để rơi vào thế bị động.
-
Tích cực hội nhập quốc tế khẩn trương chuẩn bị, điều chỉnh, đổi mới bên
trong từ phương thức lãnh đạo, hoàn thiện thể chế, phong cách quản lý, đến
hoạt động thực tiễn để đánh nhanh và phát huy hiệu quả hội nhập quốc tế.
5. bạn, đối tác tin cậy thành viên trách nhiệm của cộng đồng
quốc tế
-
Từ đường lối đối ngoại trên sở tuyên bố “muốn bạn” (Đại hội Đảng lần
thứ VII), “sẵn sàng bạn” ại hội Đảng lần thứ VIII), “là bạn đối tác
tin cậy” (Đại hội Đảng lần thứ IX), Đại hội Đảng lần thứ XI hoàn chỉnh
bổ sung thêm cũng từ “thành viên trách nhiệm trong cộng đồng quốc
tế”.
Thể hiện bước trưởng thành của ngoại giao Việt Nam với sự tham gia
ngày càng tích cực, chủ động, trách nhiệm của nước ta tại các chế,
tổ chức, diễn đàn khu vực, đa phương toàn cầu (ngoại giao đa
phương), góp phần cùng cố, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế.
6. Đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết
-
Chính sách đối ngoại phụ thuộc vào chính sách đối nội, tức xuất phát từ
lợi ích quốc gia - dân tộc. vậy đảm bảo lợi ích quốc gia - dân tộc
nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đối ngoại của mỗi quốc gia.
-
Hiện nay lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam hòa bình, hợp tác, phát
triển.
IV. Phân tích những hội thách thức sau 30 năm đổi
mới thể chế đối ngoại, mở cửa hội nhập quốc tế.Liên hệ
chuyên ngành
1.
Cơ hội
a.
Về kinh tế
-
Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - hội, nâng cao năng
lực sản xuất, mở rộng thị trường; thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh
tế, đặc biệt chuyển dịch cấu sản xuất theo hướng tích cực,
phù hợp với chủ trương công nghiệp hóa; thúc đẩy thương mại,
tăng thu hút đầu nước ngoài (FDI) mở rộng quan hệ hợp tác
phát triển (ODA). FDI ODA vào Việt Nam góp phần phát
triển kết cấu hạ tầng kinh tế - hội giải quyết các vấn đề
hội (phát triển nguồn nhân lực, giải quyết lao động, việc làm, an
sinh xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, v.v.).
-
Góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, hoàn thiện
môi trường kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh
cho nền kinh tế nước ta trong dài hạn, tạo ra môi trường kinh
doanh ngày càng bình đẳng, minh bạch, dễ dự đoán hơn ngày
càng phù hợp với chuẩn mực thông lệ quốc tế, đồng thời đảm
bảo ổn định và tăng tính hấp dẫn, thu hút đầu tư nước ngoài.
-
Giúp các doanh nghiệp Việt Nam hội tham gia chuỗi giá
trị mạng lưới sản xuất khu vực, toàn cầu, chuyển dịch cấu
sản xuất theo hưởng tích cực, tập trung nhiều hơn vào các mặt
hàng chế biến, chế tạo có giá trị và hàm lượng công nghệ giá
trị gia tăng cao hơn.
b.
Về chính trị, an ninh, quốc phòng.
-
Hội nhập trong lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng trong
những năm qua đã bước chuyển căn bản mở rộng đi vào
chiều sâu.
-
Về quốc phòng - an ninh Việt Nam đã hội nhập từng bước
trong những tình huống cụ thể như: Việt Nam tham gia hầu hết
các diễn đàn an ninh trong khu vực (hội nghị trong khuôn khổ
ASEAN); cấp độ toàn cầu Việt Nam tham gia tổ chức Cảnh sát
hình sự quốc tế Interpol; Tháng 5/2014 Việt Nam đã chính thức
cử quan tham gia lực lượng giữ gìn an ninh của Liên Hiệp
Quốc; quan hệ quốc phòng với hơn 80 nước gồm tất cả các nước
năm trong Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc ...
c.
Về văn hóa - hội, môi trường.
-
Trong khuôn khổ ASEAN Việt Nam đóng góp tích cực vào
việc y dựng cộng đồng văn hóa ASEAN, hướng tới sự “thống
nhất trong đa dạng". cấp độ toàn cầu, Việt nam tham gia ngày
càng sâu rộng vào các thể chế, diễn đàn đa phương về văn hóa
như Tổ chức Văn hóa, Khoa học Giáo dục của Liên Hợp Quốc
(UNESCO), Cộng đồng Pháp ngữ, Ủy ban Di sản thế giới. Không
chỉ tham gia va thực hiện các cam kết Việt Nam còn đóng góp
vào việc sửa đổi, hoàn thiện, xây dựng mới các chuẩn mực của
các Tổ chức đó.
-
Hội nhập văn hóa - hội giúp Việt Nam mrộng khả năng
tiếp cận các nền văn hóa khác nhau, tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại, học tập những kinh nghiệm về để giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc, tận dụng các hội để quảng văn hóa những
giá trị văn hóa Việt Nam ra với thế giới. Đã tổ chức hiệu quả
tuần văn hóa Việt Nam tại nhiều nước tuần văn hóa của nhiều
quốc gia tại Việt Nam. Mở rộng giao lưu quốc tế về nhiều lĩnh
vực nghệ thuật, âm nhạc, nhiếp ảnh, hội họa, v.v.
-
Hội nhập về môi trường, Việt Nam học tập kinh nghiệm bảo
vệ môi trường ứng phó biến đổi khí hậu, đồng thời nhận được
sự hỗ trợ quan trọng về vấn đề này.
d.
Về Khoa học công nghệ.
-
Tiếp thu được khoa học - công nghệ mới kỹ năng quản
tiên tiến trên nhiều lĩnh vực: Công nghiệp, nông nghiệp, kỹ thuật,
văn hóa - hội, v.v. góp phần đào tạo cho đất nước được đội
ngũ nguồn nhân lực trình độ năng lực cao cả về chuyên
môn lẫn quản lý.
e.
Về giáo dục đào tạo
-
Giúp Việt Nam tiếp thu được khoa học công nghệ mới kỹ
năng quản tiên tiến trong giáo dục; Góp phần đào tạo đội ngũ
nhân lực trình độ về cả năng lực chuyên môn lẫn quản ; Tiếp
nhận các chương trình học bồng từ chương trình tài trợ, viện trợ
không hoàn lại ngày càng tăng lên về số ợng, quy của nhiều
quốc gia.
-Hội nghị hợp tác Á - Âu (ASEM) vgiáo dục sáng tạo xây
dựng nguồn nhân lực sự phát triển bền vững sáng kiến của
Việt Nam với sự đồng bảo trợ của 5 nước: Phần Lan, Ấn Độ,
Indonesia, Nhật Bản và Hàn Quốc.
2.
Thách Thức
A, Về Kinh tế
-Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực trên thế giới vẫn
nguy thường trực khó khắc phục. Cho Việt Nam đã đạt được mức tăng
trưởng kinh tế liên tục, ổn định trong 30 năm quanhưng thực tế vẫn cho thấy: Xét
về số tuyệt đối thì GDP của thế giới vẫn đã đang ngày một dãn ra với tốc độ rất
nhanh so với GDP của Việt Nam. Nếu cách đây 30 năm, GDP của thế giới hơn
GDP của Việt Nam 3.900 USD thì nay con số đó 7.500 USD. Nói cách khác,
Việt Nam đã đi được nhiều bước, song đó chỉ những bước ngắn, nên vẫn tụt
hâu so với nhiều quốc gia khác trên thế giới ớc chậm, nhưng họ lại đi được
những bước dài. ràng, đây một thách thức thực sự, một vấn đề khó đối
với Việt Nam hiện nay, rất cần có chiến lược tổng thể, dài hạn để khắc phục.
B,Về chính trị, an ninh, quốc png
- Âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá
nước ta với những biểu hiện mới, quyết liệt tinh vi hơn trước. Thông thường,
“diễn biến hòa bình” được coi chiến lược của chủ nghĩa đế quốc các thế lực
thù địch, phản động quốc tế thực hiện phương thức, thủ đoạn mới, phi quân sự để
chống phá, đẩy lùi và đi đến xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên thế giới.
Tuy nhiên, bản chất thật sự của “diễn biến hòa bình” hiện nay là hoạt động của các
thế lực đế quốc bản lớn và cường quyền nhằm vào các nước chế độ chính trị
họ coi không phù hợp với lợi ích của họ, bằng tổng hợp các biện pháp chính
trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, hội, ngoại giao, an ninh… đchuyển hóa chế đ
chính trị của các nước này theo quỹ đạo lợi cho họ. Đặc biệt sự phát triển của
công nghệ số, các trang mạng, ứng dụng hội đã được các thế lực thù địch ráo
riết tận dụng triệt để trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ
chế độ hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây nguy không thể xem thường, thực
tế đó đòi hỏi chúng ta cần phải có những biện pháp, cách thức, đối phó khắc chế
cho phù hợp, không để rơi vào tình trạng bị động, bất ngờ.
-
Nguy từ tình trạng suy thoái về tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những
biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó tệ quan liêu, tham nhũng,
lãng phí ở bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn chưa được ngăn chặn triệt để.
C, Về văn hóa- hội, môi trường.
-
về văn hóa- hội
+Nguy phai nhạt, đánh mất bản sắc văn hóa, xói mòn những giá trị truyền
thống của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hội nhập quốc tế . Một số ít
nước lớn đang lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế để tìm cách truyền các giá trị
văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, lối sống của mình ra khắp thế giới, với shỗ trợ đắc
lực của các công cụ, phương tiện truyền thông đa nền tảng, thực hiện mưu đồ “bá
quyền văn hóa” của mình, làm phai nhạt các giá trị truyền thống dân tộc. Nhiều
phản giá trị, phản văn hóa, tưởng độc hại dễ dàng xâm nhập, làm biến dạng các
giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống.
-Về môi trường
+ việc mở cửa hội nhập giúp đẩy mạnh hoạt động của các ngành kinh doanh, dịch
vụ khai thác khoáng sản, dầu mnhưng cũng nguyên nhân làm suy kiệt nguồn
tài nguyên thiên nhiên do khai thác sử dụng chưa hợp lý. Đặc biệt, tưởng coi
nhẹ, thậm chí, bỏ qua lợi ích về môi trường trong các hoạt động phát triển kinh tế
-
xã hội vẫn diễn ra.
D, Khoa học công nghệ
- Mở cửa hội nhập Quốc Tế khiến cho các sản phẩm khoa học công nghệ của
nước ngoài đặc biệt của các nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Nhật Bản các
nước Châu Âu xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường trong nước khiến cho nền
khoa học công nghệ Việt Nam bị cạnh tranh gay gắt. Đặc biệt, làm nẩy
sinh các vấn đề tranh chấp mới liên quan đến sở hữu trí tuệ, bản quyền, nhãn
hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp những lĩnh vực nước ta
đang trình độ phát triển rất thấp so với họ. Sự chênh lệch về trình độ phát
triển KH&CN quá lớn trong một sân chơi sự cạnh tranh gay gắt khiến cho
sự thua thiệt và yếu thế luôn nằm về phía các nhà KH&CN Việt Nam.
E, Giáo dục, Đào Tạo
-Ta phải đổi mới duy, đổi mới cách nhìn để học hỏi, chọn lọc, tiếp thu cái đẹp,
cái tốt của thế giới, bnhững cái dở, cái chưa hay của ta để xây dựng một nền
giáo dục mới phù hợp bước phát triển mới của đất nước và thời đại.
Liên hệ Sinh viên chuyên ngành
- Nghiên cứu hiểu về quá trình hội nhập quc tế
: thể tìm hiểu về các thỏa
thuận thương mại tự do gia hoặc đang tham gia . Điều này giúp em hiểu về
hội thách thức các doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt trong quá trình hội
nhập.
- Tham gia các khóa học sự kiện chuyên ngành
: Các khóa học, hội thảo sự
kiện về quản trị kinh doanh thương mại quốc tế sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc
hơn về cách các doanh nghiệp thích ứng phát triển trong môi trường toàn cầu.
- Nghiên cứu thực tế thực tập
+Tìm hiểu về các doanh nghiệp tham gia vào thị trường quốc tế cách họ áp
dụng các chiến lược quản trị kinh doanh để thành công.
+Tham gia vào các chương trình thực tập hoặc dự án nghiên cứu liên quan đến
quản trị kinh doanh quốc tế cũng là một cách tốt để tích luỹ kinh nghiệm.
- Phát triển kỹ năng mềm
: Bên cạnh kiến thức chuyên môn, việc phát triển c
kỹ năng mềm như kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm đa văn hóa, cũng rất tốt cho
bản thân.
- mạng lưới liên kết
: Xây dựng mạng lưới quan hệ liên kết với các giáo
sư, nhà nghiên cứu, cựu sinh viên doanh nhân trong lĩnh vực quản trị kinh
doanh quốc tế có thể mang lại cơ hội học hỏi và tương tác bổ ích
tiên tiến trên nhiều lĩnh vực
Lĩnh vực
1.
Kinh tế.
2.
Chính trị, an ninh
quốc phòng.
hi
-Thúc đẩy phát triển
kinh tế, nâng cao
năng lực sản xuất,
mở rộng thị trường,
giải quyết các vấn đề
xã hội.
-Hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường,
môi trường kinh
doanh, nâng cao năng
lực cạnh tranh cho
nước ta trong dài
hạn.
-Giúp các doanh
nghiệp Việt Nam có.
cơ hội phát triển.
-bước chuyển căn
bản mở rộng đi vào
chiều sâu.
-Hội nhập từng bước
tham gia hầu hết
các diễn đàn an ninh
trong khu vực.
Thách thức
-Tụt hậu xa hơn về kinh tế so
với các nước trong khu vực
trên thế giới vẫn nguy
thường trực khó khắc phục.
- Âm mưu thực hiện “diễn biến
hòa bình” của thế lực thù địch
nhằm chống phá nước ta với
những biểu hiện mới, quyết liệt
và tinh vi hơn trước.
- Nguy từ tình trạng suy
thoái về tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa”.
3.
Văn hóa- hội,
môi trường.
4.
Khoa học ng
-Văn hóa- hội
+Mở rộng khả ng
tiếp cận các nền văn hóa khác
nhau, tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại, học tập những
kinh nghiệm về để giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc.
- Về môi trường
+Học tập kinh nghiệm bảo vệ
môi trường ứng phó biến
đổi k hậu, đồng thời nhận
đượcsự hỗ trợ quan trọng về
vấn đề này.
-Tiếp
thu
khoa
học
-
ng
-Về môi trường
+Nguy phai nhạt, đánh mất
bản sắc văna, xói mòn những
giá trị truyền thống của dân tộc
trong bối cảnh toàn cầu hóa
hội nhập quốc tế.
-Về môi trường
+ việc mở cửa hội
nhập giúp đẩy mạnh
hoạt động của các
ngành kinh doanh,
dịch vụ khai thác
khoáng sản, dầu mỏ
nhưng cũng nguyên
nhân làm suy kiệt
nguồn tài nguyên thiên
nhiên do khai thác
sử dụng chưa hợp lý.
-nền khoa học ng nghệ Việt
ngh
D
ng
ow
h
n
lo
m
ad
e
i
d
v
b
à
y g
k
ia
ng
nă
lê
n
(
g
leg
q
ia
u
n
g
n
5@
gma
N
il.
a
c
m
om
b
)
cnh tranh gay gt.

Preview text:

I. Cơ sở và nhu cầu đòi hỏi Việt Nam phải mở cửa hội
nhập, đổi mới thể chế đối ngoại
1. Sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa và cách mạng

khoa học công nghệ đòi hỏi tư duy đối ngoại phải đổi mới.
 Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để chỉ sự gắn kết và trao đổi ngày
càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức về mọi lĩnh vực trên quy mô toàn cầu.
Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hóa được dùng để chỉ xu hướng “tự do
thương mại” và kéo theo các dòng chảy kĩ thuật, công nghệ, thông tin, văn hóa ở quy mô toàn cầu.

Đại hội IX (2001), Đảng đưa ra nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế
là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia”. Xu thế này
được đặc trưng bởi các yếu tố sau: lực lượng sản xuất và quan hệ quốc tế vượt
khỏi biên giới quốc gia và phạm vi từng khu vực, lan tỏa ra phạm vi toàn cầu; sự
phân công lao động mang tính quốc tế, mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia,
khu vực, đan xen nhau, hình thành mạng lưới đa tuyến, vận hành theo các “luật
chơi chung”. Trong xu thế ấy, các nền kinh tế quan hệ ngày càng mật thiết với
nhau, tùy thuộc lẫn nhau.
Đại hội X 2006 Đảng đã bổ sung một đặc trưng quan trọng: Các
công ty xuyên quốc gia có tiềm lực tài chính lớn, công nghệ cao, trình độ
quản lý tiên tiến, có vai trò ngày càng quan trọng trong toàn cầu hóa kinh tế.

• Đại hội XI (2011), Đảng đã đưa ra những nhận định mới đầy đủ
hơn về toàn cầu hóa kinh tế: Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy
mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ
hội và thách thức đan xen phức tạp
; các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày
càng lớn trong toàn cầu hóa kinh tế; quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân
công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng; việc tham gia vào mạng sản xuất và
chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu đối với các nền kinh tế; sự tùy thuộc
lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa các nước ngày càng trở thành
phổ biến. Kinh tế tri thức phát triển mạnh, do đó con người và trí thức ngày
càng trở thành nhân tố quyết định của phương thức phát triển mới; công nghệ
thông tin trở thành nền tảng cho một phương thức phát triển mới.
Do đó nước ta không thể đứng ngoài xu thế toàn cầu hóa, tồn tại biệt lập như
một ốc đảo trong thế giới đang toàn cầu hóa.
2. Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước đang phát triển phải tăng
cường liên kết hợp tác với các nước phát triển để tranh thủ vốn kĩ thuật công
nghệ mở rộng thị trường học tập kinh nghiệm tổ chức quản lý.
3. Nguy cơ Việt Nam tụt hậu xa hơn về kinh tế với nhiều nước trong khu vực và
trên thế giới đòi hỏi Việt Nam phải mở cửa hội nhập
• Năm 1980 GDP bình quân đầu người của Việt Nam thấp hơn cả
lào và Campuchia, thu nhập quốc dân những năm 1976 - 1980 tăng rất chậm.
Để chống lại tụt hậu về kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển
giữa nước ta với các quốc gia khác, cùng với việc phát huy tối đa nội lực, Việt
Nam cần tranh thủ các nguồn lực bên ngoài. Do đó cơ chế hợp tác song
phương, đa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với nước ta.
Sự bao vây chống phá của các thế lực thù địch là cản trở to lớn cho
mục tiêu phát triển của Việt Nam từ sau năm 1975.
+ Quan hệ quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1975-1986 diễn biến phức tạp; giữa
Việt Nam và Campuchia căng thẳng.
Năm 1979, lấy cớ sự kiện Campuchia, các nước ASEAN thực hiện bao vây cô
lập về kinh tế và chính trị đối với Việt Nam.
➔ Sự bao vây chống phá của các thế lực thù địch là cản trở to lớn cho mục tiêu
phát triển của Việt Nam từ sau năm 1975.
II, Những luận điểm chiến lược có ý nghĩa đột phá trong
nhận thức về quan hệ đối ngoại của đảng ta qua các kỳ đại hội VII, IX, XI:

1. Đột phá đầu tiên - hợp tác cùng tồn tại hòa bình (Đại hội VII 1991)
Tháng 5/1988, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
khóa VI thông qua Nghị quyết 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình
hình mới. Đây được xem là mốc đột phá quan trọng trong việc đổi mới tư duy
đối ngoại theo định hướng mới
. Nghị quyết đã nêu phương thức đấu tranh mới:
“Chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ trạng thái đối đầu hiện nay sang đấu
tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình”
với tất cả các đối tác chính. Nghị
quyết đã đánh giá lại quan hệ bạn thù, không còn coi nước nào là “hòn đá tảng”2,
“đối lập”3 hay “kẻ thù”4 của Việt Nam nữa, do đó đã tạo bước ngoặt trong việc
thực hiện chính sách đối ngoại đổi mới.
Nhiều nội dung và nhận thức đột phá của Nghị quyết 13 (5/1988) đã được chính
thức khẳng định lại tại Đại hội lần thứ VII (1991). Đảng Cộng sản Việt Nam đã
chủ trương: “Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước không phân
biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cùng tồn
tại hòa bình”
, với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
. Đại hội
VII cũng đề ra các chính sách đối ngoại với các đối tác đã được xác định từ Nghị quyết 13.
⇨ Những nhận thức trong Nghị quyết 13 và được cụ thể hóa trong Văn kiện
Đại hội VII về đối ngoại đã cho thấy bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy đối
ngoại của Việt Nam. Những nhận thức mới này đã giúp khai thông cho Việt
Nam giải quyết thành công vấn đề Campuchia (1991), bình thường hóa quan
hệ với Trung Quốc (1991), bình thường hóa quan hệ với Mỹ (1995), trở
thành thành viên trong ASEAN (1995). Những thành công nổi bật đó là
minh chứng rõ ràng về sự đúng đắn trong chủ trương “hợp tác cùng tồn tại
hòa bình” của Việt Nam.
2. Đột phá thứ hai - đối tác, đối tượng (Đại hội IX 2003)
Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa IX (7/2003) ra Nghị quyết về “Chiến lược
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Nghị quyết đã đưa ra những khái niệm mới
trong quan hệ quốc tế không giống với trước đây. Đó là quan điểm về “đối tác”
và “đối tượng” theo tinh thần “thêm bạn, bớt thù”
.
Tại Hội nghị Trung ương 8, khóa IX này, lần đầu tiên Đảng đã nhấn mạnh hoạt
động đối ngoại là nhằm “bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc” là một trong những
mục tiêu then chốt của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó có nghĩa:
bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là nguyên tắc mà tất cả các hoạt động đối ngoại,
từ đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đến đối ngoại nhân dân đều phải tuân thủ.
Do vậy việc xác định đối tác hay đối tượng đều dựa trên mục tiêu và nguyên tắc
cao nhất là Lợi ích quốc gia - dân tộc.
Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khóa VI đã khẳng định “Lợi ích cao nhất của
Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung sức xây
dựng và phát triển kinh tế”. Nghị quyết Trung ương 8, khóa IX nhấn mạnh “bảo vệ
lợi ích quốc gia, dân tộc” là một trong những mục tiêu then chốt của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên ở đại hội XI lần đầu tiên, mục tiêu đối ngoại “vì
lợi ích quốc gia, dân tộc” được nêu rõ trong phần đối ngoại của Cương lĩnh và Báo
cáo chính trị tại Đại hội Đảng, nó mang ý nghĩa hết sức quan trọng và xác định rõ
được đối tác và đội tượng. Từ nhận thức đúng đối tác, đối tượng đó nên ngoại giao
Việt Nam đã đạt được những kết quả rõ rệt: đến năm 2021, Việt Nam đã có 30 đối

tác toàn diện và đối tác chiến lược, quan hệ tốt với các nước và các nền kinh tế lớn.
Có thể nói, từ khi đổi mới năm 1986, sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị năm
1988, Nghị quyết 8 khóa IX là tài liệu thứ hai có tầm quan trọng chiến lược
trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, xác định nguyên tắc và phương thức
đối ngoại của Việt Nam với tất cả các nước và các tổ chức quốc tế trong khu
vực và thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển

III. Đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng giai đoạn hiện nay
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại: “Độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát
triển, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế, là bạn, là đối tác khi cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng
đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết”.
1. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ
- Đối ngoại độc lập là không phụ thuộc vào đường lối đối ngoại của nước
khác. Đối ngoại tự chủ là không để đường lối đối ngoại của nước khác chi
phối đường lối đối ngoại của mình.
- Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ là bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia
dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng
và cùng có lợi. Trước đây, có lúc, có việc chúng ta đã chịu ảnh hưởng các
quan hệ quốc tế của Liên Xô (như quan điểm đánh giá chủ nghĩa tư bản đánh giá chủ nghĩa xã hội).
2. Đối ngoại vì hòa bình, hợp tác, phát triển
- Đối ngoại vì hòa bình hợp tác là không đối đầu, không gây chiến tranh mà là
tăng cường hợp tác, cùng nhau xây dựng, cùng nhau phát triển. Trong khi
xác định đối ngoại vì hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chung, nhưng
Đảng ta thấy rõ hợp tác đi đôi với đấu tranh, cạnh tranh để bảo vệ lợi ích
chính đáng của quốc gia, đồng thời đấu tranh theo luật pháp quốc tế để hợp
tác tốt hơn và không dẫn đến đối đầu.
- Trước đây chúng ta xác định mục tiêu của đối ngoại là vì hòa bình độc lập,
dân chủ và chủ nghĩa xã hội nhằm giải quyết “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa tư bản. Như vậy là nhấn mạnh sự đối đầu giữa các chế độ
chính trị khác nhau thay vì đề cao mục tiêu phát triển.
3. Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại
- Đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại là triển khai hoạt động đối ngoại trên
nhiều mặt, nhiều phương diện như: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc
phòng - an ninh; trên nhiều hình thức như :đối ngoại của nhà nước, đối ngoại
của đảng ,đối ngoại của nhân dân; trên nhiều cấp độ: Đảng với Đảng, dân
với dân, Quốc Hội và Quốc Hội…
- Đa phương hóa các quan hệ đối ngoại là thiết lập quan hệ đối ngoại với
nhiều nhóm nước, nhiều quốc gia, khu vực trên tinh thần không phân biệt
quá khứ, chế độ chính trị, hệ tư tưởng…
4. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
- Hội nhập quốc tế là quá trình tham gia để trở thành một bộ phận cấu thành
có vị trí, vai trò nhất định trong các lĩnh vực hoạt động của cộng đồng quốc tế.
- Chủ động hội nhập quốc tế là chủ động đưa ra những quyết định về đường
lối, chính sách hội nhập, không để rơi vào thế bị động.
- Tích cực hội nhập quốc tế là khẩn trương chuẩn bị, điều chỉnh, đổi mới bên
trong từ phương thức lãnh đạo, hoàn thiện thể chế, phong cách quản lý, đến
hoạt động thực tiễn để đánh nhanh và phát huy hiệu quả hội nhập quốc tế.
5. Là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế
- Từ đường lối đối ngoại trên cơ sở tuyên bố “muốn là bạn” (Đại hội Đảng lần
thứ VII), “sẵn sàng là bạn” (Đại hội Đảng lần thứ VIII), “là bạn và đối tác
tin cậy” (Đại hội Đảng lần thứ IX), Đại hội Đảng lần thứ XI hoàn chỉnh và
bổ sung thêm cũng từ là “thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
➔ Thể hiện bước trưởng thành của ngoại giao Việt Nam với sự tham gia
ngày càng tích cực, chủ động, có trách nhiệm của nước ta tại các cơ chế,
tổ chức, diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu (ngoại giao đa
phương), góp phần cùng cố, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
6. Đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết
- Chính sách đối ngoại phụ thuộc vào chính sách đối nội, tức là xuất phát từ
lợi ích quốc gia - dân tộc. Vì vậy đảm bảo lợi ích quốc gia - dân tộc là
nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đối ngoại của mỗi quốc gia.
- Hiện nay lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam là hòa bình, hợp tác, phát triển.
IV. Phân tích những cơ hội và thách thức sau 30 năm đổi
mới thể chế đối ngoại, mở cửa hội nhập quốc tế.Liên hệ chuyên ngành
1. Cơ hội a. Về kinh tế
- Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng
lực sản xuất, mở rộng thị trường; thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh
tế, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực,
phù hợp với chủ trương công nghiệp hóa; thúc đẩy thương mại,
tăng thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) và mở rộng quan hệ hợp tác
phát triển (ODA). FDI và ODA vào Việt Nam góp phần phát
triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và giải quyết các vấn đề xã
hội (phát triển nguồn nhân lực, giải quyết lao động, việc làm, an
sinh xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, v.v.).
- Góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, hoàn thiện
môi trường kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh
cho nền kinh tế nước ta trong dài hạn, tạo ra môi trường kinh
doanh ngày càng bình đẳng, minh bạch, dễ dự đoán hơn và ngày
càng phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, đồng thời đảm
bảo ổn định và tăng tính hấp dẫn, thu hút đầu tư nước ngoài.
- Giúp các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tham gia chuỗi giá
trị và mạng lưới sản xuất khu vực, toàn cầu, chuyển dịch cơ cấu
sản xuất theo hưởng tích cực, tập trung nhiều hơn vào các mặt
hàng chế biến, chế tạo có giá trị và hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.
b. Về chính trị, an ninh, quốc phòng.
- Hội nhập trong lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng trong
những năm qua đã có bước chuyển căn bản mở rộng và đi vào chiều sâu.
- Về quốc phòng - an ninh Việt Nam đã hội nhập từng bước và
trong những tình huống cụ thể như: Việt Nam tham gia hầu hết
các diễn đàn an ninh trong khu vực (hội nghị trong khuôn khổ
ASEAN); Ở cấp độ toàn cầu Việt Nam tham gia tổ chức Cảnh sát
hình sự quốc tế Interpol; Tháng 5/2014 Việt Nam đã chính thức
cử sĩ quan tham gia lực lượng giữ gìn an ninh của Liên Hiệp
Quốc; quan hệ quốc phòng với hơn 80 nước gồm tất cả các nước
năm trong Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc ...
c. Về văn hóa - xã hội, môi trường.
- Trong khuôn khổ ASEAN Việt Nam đóng góp tích cực vào
việc xây dựng cộng đồng văn hóa ASEAN, hướng tới sự “thống
nhất trong đa dạng". Ở cấp độ toàn cầu, Việt nam tham gia ngày
càng sâu rộng vào các thể chế, diễn đàn đa phương về văn hóa
như Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc
(UNESCO), Cộng đồng Pháp ngữ, Ủy ban Di sản thế giới. Không
chỉ tham gia va thực hiện các cam kết mà Việt Nam còn đóng góp
vào việc sửa đổi, hoàn thiện, xây dựng mới các chuẩn mực của các Tổ chức đó.
- Hội nhập văn hóa - xã hội giúp Việt Nam mở rộng khả năng
tiếp cận các nền văn hóa khác nhau, tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại, học tập những kinh nghiệm về để giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc, tận dụng các cơ hội để quảng bá văn hóa và những
giá trị văn hóa Việt Nam ra với thế giới. Đã tổ chức có hiệu quả
tuần văn hóa Việt Nam tại nhiều nước và tuần văn hóa của nhiều
quốc gia tại Việt Nam. Mở rộng giao lưu quốc tế về nhiều lĩnh
vực nghệ thuật, âm nhạc, nhiếp ảnh, hội họa, v.v.
- Hội nhập về môi trường, Việt Nam học tập kinh nghiệm bảo
vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu, đồng thời nhận được
sự hỗ trợ quan trọng về vấn đề này.
d. Về Khoa học công nghệ.
- Tiếp thu được khoa học - công nghệ mới và kỹ năng quản lý
tiên tiến trên nhiều lĩnh vực: Công nghiệp, nông nghiệp, kỹ thuật,
văn hóa - xã hội, v.v. góp phần đào tạo cho đất nước có được đội
ngũ nguồn nhân lực có trình độ và năng lực cao cả về chuyên môn lẫn quản lý.
e. Về giáo dục đào tạo
- Giúp Việt Nam tiếp thu được khoa học công nghệ mới và kỹ
năng quản lý tiên tiến trong giáo dục; Góp phần đào tạo đội ngũ
nhân lực có trình độ về cả năng lực chuyên môn lẫn quản lý; Tiếp
nhận các chương trình học bồng từ chương trình tài trợ, viện trợ
không hoàn lại ngày càng tăng lên về số lượng, quy mô của nhiều quốc gia.
-Hội nghị hợp tác Á - Âu (ASEM) về giáo dục sáng tạo và xây
dựng nguồn nhân lực vì sự phát triển bền vững là sáng kiến của
Việt Nam với sự đồng bảo trợ của 5 nước: Phần Lan, Ấn Độ,
Indonesia, Nhật Bản và Hàn Quốc. 2. Thách Thức A, Về Kinh tế
-Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn là
nguy cơ thường trực và khó khắc phục. Cho dù Việt Nam đã đạt được mức tăng
trưởng kinh tế liên tục, ổn định trong 30 năm quanhưng thực tế vẫn cho thấy: Xét
về số tuyệt đối thì GDP của thế giới vẫn đã và đang ngày một dãn ra với tốc độ rất
nhanh so với GDP của Việt Nam. Nếu cách đây 30 năm, GDP của thế giới hơn
GDP của Việt Nam là 3.900 USD thì nay con số đó là 7.500 USD. Nói cách khác,
dù Việt Nam đã đi được nhiều bước, song đó chỉ là những bước ngắn, nên vẫn tụt
hâu so với nhiều quốc gia khác trên thế giới dù bước chậm, nhưng họ lại đi được
những bước dài. Và rõ ràng, đây là một thách thức thực sự, là một vấn đề khó đối
với Việt Nam hiện nay, rất cần có chiến lược tổng thể, dài hạn để khắc phục.
B,Về chính trị, an ninh, quốc phòng
- Âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá
nước ta với những biểu hiện mới, quyết liệt và tinh vi hơn trước. Thông thường,
“diễn biến hòa bình” được coi là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực
thù địch, phản động quốc tế thực hiện phương thức, thủ đoạn mới, phi quân sự để
chống phá, đẩy lùi và đi đến xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên thế giới.
Tuy nhiên, bản chất thật sự của “diễn biến hòa bình” hiện nay là hoạt động của các
thế lực đế quốc tư bản lớn và cường quyền nhằm vào các nước có chế độ chính trị
mà họ coi là không phù hợp với lợi ích của họ, bằng tổng hợp các biện pháp chính
trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh… để chuyển hóa chế độ
chính trị của các nước này theo quỹ đạo có lợi cho họ. Đặc biệt là sự phát triển của
công nghệ số, các trang mạng, ứng dụng xã hội đã được các thế lực thù địch ráo
riết tận dụng triệt để trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ
chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là nguy cơ không thể xem thường, thực
tế đó đòi hỏi chúng ta cần phải có những biện pháp, cách thức, đối phó và khắc chế
cho phù hợp, không để rơi vào tình trạng bị động, bất ngờ.
- Nguy cơ từ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những
biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó có tệ quan liêu, tham nhũng,
lãng phí ở bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn chưa được ngăn chặn triệt để.

C, Về văn hóa-xã hội, môi trường.
- về văn hóa-xã hội
+Nguy cơ phai nhạt, đánh mất bản sắc văn hóa, xói mòn những giá trị truyền
thống của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế .
Một số ít
nước lớn đang lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế để tìm cách truyền bá các giá trị
văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, lối sống của mình ra khắp thế giới, với sự hỗ trợ đắc
lực của các công cụ, phương tiện truyền thông đa nền tảng, thực hiện mưu đồ “bá
quyền văn hóa” của mình, làm phai nhạt các giá trị truyền thống dân tộc. Nhiều
phản giá trị, phản văn hóa, tư tưởng độc hại dễ dàng xâm nhập, làm biến dạng các
giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống. -Về môi trường
+ việc mở cửa hội nhập giúp đẩy mạnh hoạt động của các ngành kinh doanh, dịch
vụ khai thác khoáng sản, dầu mỏ nhưng cũng là nguyên nhân làm suy kiệt nguồn
tài nguyên thiên nhiên do khai thác và sử dụng chưa hợp lý. Đặc biệt, tư tưởng coi
nhẹ, thậm chí, bỏ qua lợi ích về môi trường trong các hoạt động phát triển kinh tế
- xã hội vẫn diễn ra.
D, Khoa học công nghệ
- Mở cửa hội nhập Quốc Tế khiến cho các sản phẩm khoa học –công nghệ của
nước ngoài đặc biệt là của các nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Nhật Bản và các
nước Châu Âu xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường trong nước khiến cho nền
khoa học công nghệ Việt Nam bị cạnh tranh gay gắt.
Đặc biệt, nó làm nẩy
sinh các vấn đề tranh chấp mới liên quan đến sở hữu trí tuệ, bản quyền, nhãn
hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp – những lĩnh vực mà nước ta
đang ở trình độ phát triển rất thấp so với họ. Sự chênh lệch về trình độ phát
triển KH&CN quá lớn trong một sân chơi có sự cạnh tranh gay gắt khiến cho
sự thua thiệt và yếu thế luôn nằm về phía các nhà KH&CN Việt Nam.
E, Giáo dục, Đào Tạo
-Ta phải đổi mới tư duy, đổi mới cách nhìn để học hỏi, chọn lọc, tiếp thu cái đẹp,
cái tốt của thế giới, bỏ những cái dở, cái chưa hay của ta để xây dựng một nền
giáo dục mới
phù hợp bước phát triển mới của đất nước và thời đại.
Liên hệ Sinh viên chuyên ngành
- Nghiên cứu và hiểu về quá trình hội nhập quốc tế : Có thể tìm hiểu về các thỏa
thuận thương mại tự do gia hoặc đang tham gia . Điều này giúp em hiểu rõ về cơ
hội và thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt trong quá trình hội nhập.
- Tham gia các khóa học và sự kiện chuyên ngành : Các khóa học, hội thảo và sự
kiện về quản trị kinh doanh và thương mại quốc tế sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc
hơn về cách các doanh nghiệp thích ứng và phát triển trong môi trường toàn cầu.
- Nghiên cứu thực tế và thực tập :
+Tìm hiểu về các doanh nghiệp tham gia vào thị trường quốc tế và cách họ áp
dụng các chiến lược quản trị kinh doanh để thành công.
+Tham gia vào các chương trình thực tập hoặc dự án nghiên cứu liên quan đến
quản trị kinh doanh quốc tế cũng là một cách tốt để tích luỹ kinh nghiệm.
- Phát triển kỹ năng mềm : Bên cạnh kiến thức chuyên môn, việc phát triển các
kỹ năng mềm như kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm đa văn hóa, cũng rất tốt cho bản thân.
- Có mạng lưới và liên kết : Xây dựng mạng lưới quan hệ và liên kết với các giáo
sư, nhà nghiên cứu, cựu sinh viên và doanh nhân trong lĩnh vực quản trị kinh
doanh quốc tế có thể mang lại cơ hội học hỏi và tương tác bổ ích Lĩnh vực Cơ hội Thách thức 1. Kinh tế.
-Thúc đẩy phát triển -Tụt hậu xa hơn về kinh tế so
kinh tế, nâng cao với các nước trong khu vực và
trên thế giới vẫn là nguy cơ
năng lực sản xuất, thường trực và khó khắc phục.
mở rộng thị trường,
giải quyết các vấn đề xã hội.
-Hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường, môi trường kinh
doanh, nâng cao năng
lực cạnh tranh cho
nước ta trong dài hạn. -Giúp các doanh
nghiệp Việt Nam có.
cơ hội phát triển.
2. Chính trị, an ninh -Có bước chuyển căn - Âm mưu thực hiện “diễn biến quốc phòng.
hòa bình” của thế lực thù địch
bản mở rộng đi vào nhằm chống phá nước ta với chiều sâu.
những biểu hiện mới, quyết liệt
-Hội nhập từng bước và tinh vi hơn trước.
- Nguy cơ từ tình trạng suy
và tham gia hầu hết thoái về tư tưởng chính trị, đạo
các diễn đàn an ninh đức, lối sống, những biểu hiện trong khu vực.
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
3. Văn hóa- xã hội, -Văn hóa- xã hội -Về môi trường môi trường.
+Mở rộng khả năng
+Nguy cơ phai nhạt, đánh mất
tiếp cận các nền văn hóa khác bản sắc văn hóa, xói mòn những
nhau, tiếp thu tinh hoa văn giá trị truyền thống của dân tộc
hóa nhân loại, học tập những trong bối cảnh toàn cầu hóa và
kinh nghiệm về để giữ gìn bản hội nhập quốc tế.
sắc văn hóa dân tộc. -Về môi trường
- Về môi trường + việc mở cửa hội
+Học tập kinh nghiệm bảo vệ
môi trường và ứng phó biến
nhập giúp đẩy mạnh
đổi khí hậu, đồng thời nhận hoạt động của các
đượcsự hỗ trợ quan trọng về vấn đề này. ngành kinh doanh, dịch vụ khai thác khoáng sản, dầu mỏ nhưng cũng là nguyên nhân làm suy kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên do khai thác và sử dụng chưa hợp lý. 4. Khoa học
công -Tiếp thu khoa học - công -nền khoa học công nghệ Việt nghệ D
ngowhnlomadeidvbày gkiangn(glegqiaungn5@gmaNil.acm
omb) ị cạnh tranh gay gắt.
tiên tiến trên nhiều lĩnh vực