










Preview text:
Phân tích hoàn cảnh ra đời và các giai đoạn phát triển cơ bản của CNXHKH – 78
Phân tích đối tượng pp nghiên cứu và ý nghĩa của việc nghiên cứu CNXHKH – 82
Khái niệm giai cấp công nhân? Phân tích nội dung sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân? Liên hệ với giai cấp công nhân VN – 85
Phân tích những đk quy định và thực hiện sứ mệnh lịch sử GCCN – 86
Phân tích đăc điểm của GCCN VN và nội dung sứ mệnh lịch sử của GCCN
VN trong giai đoạn này – 88
Phân tích phương hướng và giải pháp chủ yếu để xây dựng GCCN VN
trong giai đoạn hiện nay – 90
Nêu quy luật hình thành chính đảng của GCCN. Vì sao nói ĐCS là yếu tố
đảm bảo cho GCCN hoàn thành sứ mệnh lịch sử vủa mình? Liên hệ với VN – 92
Ptich đk ra đời và những đặc trưng cơ bản của CNXHKH – 93
Ptich tính tất yếu và đặc điểm của thời kì quá độ lên CNXH. Liên hệ Vn – 97
Ptich luận điểm của ĐCS VN về con đường đi lên của nước ta là sự phát
triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN – 99
Nêu những đặc trưng bản chất của xã hội – XHCN mà VN đang xây
dựng? Trình bày phương hướng xây dựng CNXH ở VN trong gđ hiện nay – 100
Khái lược lịch sử ra đời và phát triển của dân chủ. Ptich dân chủ XHCN – 101
Khái niệm nhà nước XHCN. Ptich bản chất và chức năng của nhà nước XHCN – 104
Bản chất của nền dân chủ C+XHCN ở VN. Ptich những định hướng xây
dựng chế độ dân chủ XHCN ở VN – 106
Đặc điểm nhà nước pháp quyền XHCN VN. Ptich những định hướng xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở VN. – 107
Ptich cơ cấu xã hooin – giai cấp và liên minh giai cấp, tầng lớp trong
thời kì quá độ lên CNXH – 108
Ptich cơ cấu xã hội – giai cấp trong thời kì quá độ lên CNXH ở VN và
phương hướng cơ bản để xây dựng cơ cấu xã hội – giai cấp ở nước ta hiện nay – 110
Ptich nội dung của liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kì quá độ lên
CNXH ở VN và phương hướng cơ bản để tăng cường khối liên minh
giai cấp, tầng lớp ở nước ta hiện nay – 112
Khái niệm dân tộc? Ptich các đặc trưng cơ bản của dân tộc và hai xu
hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc – 115
Ptich nội dung Cương lĩnh dân tộc của CN Mác. Phương hướng củng cổ,
tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc ở VN – 116
Ptich những đặc điểm của dân tộc ở VN và chính sách dân tộc của Đảng và NNVN – 118
Ptich bản chất nguồn gốc và tc của tôn giáo. Phân biệt tín ngưỡng, tôn
giáo và mê tín dị đoan – 121
Ptich các nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kì
quá độ lên CNXH. Liên hệ thực tiễn với VN – 123
Ptich đặc điểm của tôn giáo ở VN và chính sách của Đảng và NNVN
trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo – 124
Khái niệm gia đình? Ptich vị trí, vai trò và chức năng cơ bản cảu gia đình. – 128
Ptich cơ sở xây dựng gia đình trong thời kì quá độ lên CNXH. Theo anh
chị cần thực hiện những giải pháp gì để xây dựng và phát triển gia đình
ở VN trong gđ này. – 130
Ptich sự biến đổi cảy gia đình VN và phương hướng chủ yếu để xây dựng
và phát triển gia đình ở VN trong thời kì quá độ lên CNXH – 131CNXHKH
THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG VẤN ĐỀ DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM
Tuy nhiên, thể chế bầu cử ở Việt Nam cũng bộc lộ một số hạn chế như:
Quá nhấn mạnh tính tập trung, thống nhất. Số lượng đại biểu Quốc hội
hoặc Hội đồng nhân dân chủ yếu được bầu theo dự kiến, định hướng.
Điều này thể hiện được sự thống nhất, bảo đảm cơ cấu, nhưng ảnh
hưởng đến chất lượng đại biểu, không phát huy được tính tích cực của
quần chúng nhân dân. Vì cơ cấu, nên có nhiều đại biểu được bầu có thể
vẫn đủ phẩm chất, tư cách nhưng lại không hẳn là đại biểu xứng đáng
nhất của nhân dân; có người được cấp uỷ giới thiệu nhưng cử tri không
bầu; đại biểu có thể được cử tri bầu thì không được giới thiệu hoặc công nhận...
Quá trình hiệp thương vẫn còn nặng nề , chưa mở rộng quyền ứng cử,
đặc biệt là quyền tự ứng cử. Do đó, cử tri không giới thiệu được người
mình tín nhiệm cũng như không trực tiếp loại bỏ sơ bộ các ứng cử viên
(công việc này được thực hiện bởi đại diện Mặt trận và Hội đồng nhân
dân, dưới sự chỉ đạo của Đảng)... Như vậy, trong thể chế bầu cử của
Việt Nam, đầu vào do Đảng giới thiệu, cử tri chỉ được thể hiện ý nguyện
của mình qua thao tác bỏ phiếu (đầu ra), chỉ được bày tỏ tín nhiệm đối
với những người đã có sẵn trong danh sách.
Những quy định về người tự ứng cử chưa bảo đảm công bằng, bình đẳng.
Cơ cấu đại biểu tự ứng cử rất thấp (khoảng 10%), chưa tạo điều kiện
cho người được đề cử và cả người tự ứng cử có cơ hội bình đẳng như
nhau. Việc Đảng quy định đảng viên không được tự ứng cử cũng là một
hạn chế, làm thu hẹp khả năng lựa chọn của cử tri và giới hạn quyền
công dân của đảng viên.
Thể chế bầu cử ở Việt Nam bộc lộ nhiều hạn chế, còn mâu thuẫn giữa cơ
cấu và chất lượng, chưa quy định rõ về số dư, về người tự ứng cử, về lấy
ý kiến cử tri hay chưa có quy định cụ thể về vận động tranh cử... Vận
động tranh cử có ưu điểm là cử tri biết rõ năng lực của ứng viên, biết về
chương trình hành động của họ như một lời hứa, một giấy bảo lãnh cho
lá phiếu của cử tri. Việc còn thiếu các cuộc vận động tranh cử thực sự
và các chế định cho việc vận động tranh cử là một thiệt thòi cho những
ứng viên thực tâm, thực tài và cho cử tri. Giải pháp
Thưa nhất, cần có cương lĩnh tranh cử. Các ứng viên đưa ra cương lĩnh
tranh cử của mình, Đảng sẽ lựa chọn những ứng cử viên sáng giá nhất,
sau đó đưa ra tranh cử để cử tri có cơ sở tự lựa chọn. Như vậy, cử tri có
cơ hội so sánh, lựa chọn người có cương lĩnh tốt nhất để bầu cử.
Thứ hai, cần có quy định về người được ứng cử và chế định tự ứng cử.
Cần có những quy định cụ thể, rõ ràng về trình tự, thủ tục tự ứng cử để tạo điều kiện cho
nhiều người đáp ứng đủ những điều kiện của ứng cử
viên có thể tham gia tự ứng cử. Nên cho phép đảng viên cũng được
tham gia tự ứng cử. Đổi mới việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại
biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo hướng tránh tạo ra sự chênh lệch
quá lớn giữa ứng cử viên này với ứng cử viên khác.
Ba là, tăng số dư ứng cử viên.Tỷ lệ số dư ít (1-2 người) gây khó khăn
cho việc lựa chọn những đại biểu thật xứng đáng. Vì vậy, cần mở rộng
phạm vi lựa chọn của cử tri bằng cách tăng số lượng ứng cử viên cho
một đơn vị bầu cử. Việc tính phiếu đối với ứng viên được cử tri đề cử
trong đại hội không cần quá bán mà chỉ cần số phiếu cao hơn. Hoặc danh
sách dự kiến với người được giới thiệu thêm đều được đưa ra đại hội
bầu, theo chế độ bầu 2 vòng để bảo đảm công bằng giữa các ứng viên.
Thứ ba, coi trọng việc tạo nguồn, quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ. Chú ý cơ cấu ngay từ khi tạo nguồn. Nguồn càng dồi dào thì càng
nhiều người đủ tiêu chuẩn, sự lựa chọn càng dễ dàng. Việcquy định và áp
dụng các quy định về tiêu chuẩn đại biểu và cơ cấu đại biểu bảo đảm sự
hài hòa giữa yêu cầu về tiêu chuẩn đại biểu với yêu cầu về cơ cấu, thành phần đại biểu.
Cần ưu tiên đề cao tiêu chuẩn đại biểu trước rồi mới tính đến yêu cầu
bảo đảm cơ cấu, thành phần sau. Có như vậy, người đại biểu mới thể
hiện tốt được chức năng của mình, không phụ lòng mong đợi, kỳ vọng của cử tri.
Bốn là, tránh chạy đua thành tích, một người đi bỏ phiếu cho nhiều
người, vi phạm nguyên tắc “trực tiếp và bỏ phiếu kín”, ảnh hưởng đến kết quả bầu cử.
Sáu là, phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúngđể tăng
cường sự hiểu biết của cử tri đối với ứng cử viên, công khai cung cấp
thông tin về các ứng viên, tuyên truyền cho cử tri hiểu và quen với
những động thái tích cực trong bầu cử: tự ứng cử, tranh cử để có sự
quan tâm, ủng hộ tự giác, rộng rãi từ cử tri.
ƯU VÀ NHƯỢC CỦA 2 PP QUẢN LÍ DÂN CHỦ VÀ QUẢN LÍ TẬP TRUNG
Quản lí dân chủ
Ưu:Tạo sự tin tưởng giữa các thành viên: Khi cấp quản lý và nhân viên
cấp dưới có quyền ra quyết định và tiếp cận thông tin như nhau, điều
này sẽ tăng cường sự tin cậy giữa các thành viên trong nhóm vì họ đều
hiểu động cơ đằng sau quyết định của người lãnh đạo và không cần phải
nghi ngờ hay chất vấn họ. •
Nhiều ý kiến đóng góp tích cực và hữu ích giúp mang lại các giải
pháp tiềm năng cho doanh nghiệp. •
Quyết định dựa trên nhiều góc nhìn khác nhau nhờ sự thu thập ý
kiến từ nhiều nguồn, từ đó đưa ra các quyết định toàn diện tốt hơn, tránh
được những sai lầm tiềm ẩn. •
Tạo động lực làm việc tích cực cho nhân viên. Nhân viên cảm thấy
được coi trọng, có giá trị khi họ được mời tham gia vào quá trình ra
quyết định, thúc đẩy họ cống hiến nhiều hơn cho công việc. •
Các quyết định toàn diện hơn: Với sự tham gia của nhiều người,
các phương án được đưa ra sẽ được cân nhắc kỹ lưỡng, đánh giá nhiều
khía cạnh. Kết quả là những quyết định cuối cùng thường mang tính
khách quan, bao quát và đạt hiệu quả cao. Nhược: •
tốn nhiều thời gian để ra quyết định •
Có thể xảy ra xung đột trong nhóm nếu như các thành viên có
quan điểm trái ngược nhau về một vấn đề nào đó khi không đưa ra được sự thống nhất. •
Khó duy trì hiệu quả trong nhóm lớn •
Tốn kém nguồn lực để đưa ra quyết định cuối cùng Việc tham gia,
lắng nghe ý kiến của tất cả các thành viên sẽ tốn nhiều thời gian, công
sức. Đôi khi, việc này có thể làm giảm năng suất làm việc, gây lãng phí
nguồn lực của tổ chức. •
Yêu cầu năng lực đồng đều: Đội ngũ nhân sự cần có đủ kiến thức,
kỹ năng và tâm thế tốt thì mới có thể đưa ra những đóng góp có giá trị.
Nếu năng lực của các thành viên chênh lệch nhiều sẽ dẫn đến các quyết
định thiếu sót, sai lầm.
Quản lí tập trung Ưu: •
ra quyết định nhanh chóng, tránh các xung đột •
giúp đảm bảo các quyết định đưa ra thích hợp với mục tiêu tổng thể của doanh nghiệp. • giảm chi phí nguồn lực •
Nhờ các quy trình được tiêu chuẩn hóa, do đó đầu ra công việc sẽ
đảm bảo tính thống nhất và chất lượng đồng đều. •
Đồng nhất và nhất quán: Chính sách và quy trình được thực hiện
một cách nhất quán trên toàn bộ tổ chức. •
Kiểm soát chặt chẽ: Lãnh đạo cấp cao có thể dễ dàng theo dõi và
kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức. Nhược: •
cản trở sự sáng tạo và đổi mới bởi vì việc ra quyết định chỉ nằm
trong tay một số ít người đứng đầu. • lãnh đạo quan liêu •
không có động lực vì không có sáng kiến trong công việc vì nhân
viên thực hiện các nhiệm vụ được khái niệm hóa bởi các giám đốc điều
hành hàng đầu. Nó hạn chế sự sáng tạo và lòng trung thành của họ đối
với tổ chức do sự cứng nhắc của công việc. •
Tắc nghẽn thông tin: Thông tin phải được chuyển lên cấp trên để được
xử lý, gây ra sự chậm trễ trong việc phản ứng với thay đổi.
GIẢI PHÁP XÂY DỰNG GCCN Ở VIỆT NAM
1. Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội một cách hài hòa. Vừa tăng
trưởng kinh tế với tốc độ cao, ổn định vừa bảo đảm phát triển văn hóa -
xã hội hài hòa, lành mạnh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của nhân dân lao động, đặc biệt là giai cấp công nhân; giữ
vững ổn định chính trị; bảo đảm an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã
hội. Một xã hội ổn định, phát triển toàn diện và hài hòa không chỉ là môi
trường thuận lợi cho sự phát triển của giai cấp công nhân mà còn của
mọi người dân trong xã hội.
2. Tiếp tục phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Quy hoạch nền kinh tế, vùng kinh tế, khu vực kinh tế, cấu trúc lại
nền kinh tế phù hợp với sự phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập
kinh tế quốc tế. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu tư
nước ngoài, khuyến khích các tập thể cá nhân phát triển sản xuất - kinh
doanh, chủ động và tích cực tham gia vào thị trường lao động quốc tế,
phát triển cảng biển, hệ thống đường giao thông thủy, bộ, đường sắt,
hàng không, xây dựng những khu công nghiệp, khu chế xuất mới... Đây
sẽ là quá trình phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp, hiện đại; đồng
thời, hướng tới việc tạo ra một thị trường lao động công nghiệp mới, thu
hút nhiều lao động với phong phú về ngành nghề, đa dạng về chủng loại.
Quá trình này sẽ phát triển giai cấp công nhân không chỉ về số lượng mà cả chất lượng.
3. Đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục để nhận thức rõ hơn về
vai trò, vị trí và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Xuất phát từ
thực trạng đời sống của người công nhân còn nhiều khó khăn, nên trong
quan niệm của xã hội hiện nay, hình ảnh người công nhân chưa phải là
hình ảnh được đề cao. Trong điều kiện như thế, để giai cấp công nhân
có điều kiện khẳng định được vai trò, vị trí của mình cũng như hoàn
thành được sứ mệnh lịch sử cao quý của mình cần có một chiến dịch
tuyên truyền, vận động rộng khắp trong xã hội nhằm đề cao, tôn vinh
người công nhân, sao cho cả xã hội nhận thức được vai trò và vị trí quan
trọng của giai cấp công nhân trong sự nghiệp phát triển kinh tế trong
điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; đồng thời, cũng là nhân tố
quyết định xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.
4. Cải cách triệt để hệ thống giáo dục và đào tạo chuyên môn,
nghiệp vụ và tay nghề cho giai cấp công nhân. Đây là một vấn đề
sống còn đối với người công nhân và việc phát triển giai cấp công nhân
trong tình hình mới. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế đang tạo ra một
nhu cầu mới về nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Đặc thù
của kinh tế thị trường là tính cạnh tranh cao, lao động và việc làm cũng
không ngoài tình trạng đó. Sự cạnh tranh trong sử dụng lao động đòi hỏi
lực lượng lao động cần được đào tạo một cách chuyên nghiệp và cơ bản.
Do đó, chất lượng lao động, nguồn nhân lực mới là nhân tố quyết định
cho sự phát triển và tăng trưởng cao. Đối với người lao động, khi tham
gia thị trường lao động nếu chưa được đào tạo cơ bản, đáp ứng nhu cầu
thực tế của thị trường lao động, thì rất khó tìm được việc làm, và nếu có,
thì cũng thường là việc làm không ổn định, lao động giản đơn, nặng
nhọc và thu nhập thấp. Tính cạnh tranh cao cùng với sự sôi động của thị
trường lao động đòi hỏi Nhà nước cần có một chiến lược xây dựng và
phát triển nguồn nhân lực vừa đông đảo, có chất lượng cao vừa phong
phú, đa dạng nhằm đáp ứng kịp thời và lâu dài nhu cầu nguồn lực con
người cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
5. Thiết thực chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của giai cấp
công nhân. Trong xã hội hiện nay, cùng với nông dân, giai cấp công
nhân là những người nghèo trong xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần
của người công nhân lao động còn nghèo nàn. Đây là một nghịch lý rất
đáng suy nghĩ. Giai cấp tiên tiến, ưu tú, nắm quyền lãnh đạo xã hội mà
lại nghèo. Vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước cần cấp thiết có một chiến lược
thiết thực chăm lo đời sống người công nhân, nhất là đội ngũ công nhân
trẻ mới vào nghề, tập trung đông ở các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Trong đó, trước hết, là các chính sách mới về việc làm, nhà ở và tiền
lương. Có như thế, giai cấp công nhân mới thoát khỏi những bức bách
của đời sống, có điều kiện học tập, rèn luyện nâng cao tay nghề và ý
thức xã hội. Chỉ khi đó, đội ngũ công nhân trẻ này mới gắn bó sâu sắc
với sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước, có ý thức giai cấp, có lý
tưởng xã hội chủ nghĩa.
6. Xây dựng giai cấp công nhân gắn liền với cuộc vận động thực
hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở và chống tham nhũng. Xây dựng và
phát triển giai cấp công nhân phải được thực hiện trong một môi trường
kinh tế - xã hội mà mỗi người công nhân luôn có điều kiện phát huy
năng lực của mình và được thụ hưởng thành quả lao động do chính
mình làm ra. Muốn thế, cần thực hiện nghiêm chỉnh Quy chế Dân chủ
trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Một khi người công nhân
được tôn trọng, được thực sự góp phần vào quá trình phát triển doanh
nghiệp thì sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ, công nhân
yên tâm và hăng say làm việc, sáng tạo mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và bản thân.
Cùng với thực hiện nghiêm túc Quy chế Dân chủ trong các doanh
nghiệp, đấu tranh chống tham nhũng cũng là một vấn đề gây bức xúc
trong không ít các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước và
doanh nghiệp cổ phần. Tham nhũng đang tạo ra khoảng cách giàu -
nghèo giữa công nhân, viên chức và người lãnh đạo doanh nghiệp, gây
nên sự bất bình trong dự luận công nhân, mất đoàn kết nội bộ, mâu
thuẫn trong doanh nghiệp. Nếu không kiên quyết đấu tranh chống tham
nhũng sẽ dễ dẫn tới tình trạng bất ổn, làm sản xuất đình đốn. Kiên quyết
đấu tranh loại trừ tệ tham nhũng ra khỏi các doanh nghiệp đó là một
việc làm vừa có ý nghĩa phát triển sản xuất, kinh doanh vừa có ý nghĩa
bảo vệ cán bộ và công nhân không bị rơi vào trạng thái mâu thuẫn trên.
Đó chính là một con đường thiết thực góp phần xây dựng và phát triển
giai cấp công nhân trong các doanh nghiệp.
7. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức
chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp; đồng thời, đổi mới hoạt
động của các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp
phù hợp với tình hình mới. Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với
các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp được đề cập ở đây
là trong các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp cổ phần hóa.
Trong quá trình chuyển đổi vừa qua, phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với doanh nghiệp cũng như đối với các tổ chức chính trị - xã hội trong
các doanh nghiệp còn lúng túng, có nhiều bất cập. Chính vì vậy, vị thế,
vai trò của Đảng trong các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp đã cổ
phần hóa khá mờ nhạt. Các tổ chức chính trị - xã hội trong nhiều doanh
nghiệp hầu như rất lúng túng trong phương hướng hoạt động, không
hoạt động hoặc hoạt động chỉ mang tính hình thức.
Vấn đề đặt ra là, Đảng cần có phương thức lãnh đạo mới, một cơ chế
mới để vừa thể hiện được vai trò lãnh đạo của mình vừa thúc đẩy sự
hoạt động một cách có hiệu quả của các tổ chức chính trị - xã hội trong
các doanh nghiệp. Trong đó, đặc biệt tạo lập mối quan hệ mới giữa
Đảng và tổ chức công đoàn, từng bước góp phần đưa Công đoàn trở
thành một tổ chức hùng mạnh, thực sự xứng đáng là tổ chức hoạt động
vì quyền lợi chính đáng của toàn thể công nhân, lao động. Sự lãnh đạo
sát sao của Đảng đối với tổ chức công đoàn sẽ là một sức mạnh mới thiết
thực góp phần bảo vệ, chăm sóc và phát triển giai cấp công nhân trong
điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Bảo vệ quyền
lợi chính đáng của công nhân cũng là một cách xây dựng và phát triển
giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay.
ƯU VÀ NHƯỢC CỦA TÔN GIÁO ƯU:
- Tôn giáo giúp con người cảm thấy bớt lẽ loi nhỏ bé và bất lực trong cái
vũ trụ bao la đáng sợ chung quanh họ.
- Tôn giáo đáp ứng nhu cầu "chinh phục sự chết" cần thiết trong bản năng
sinh tồn tự nhiên của con người.
- Tôn giáo cung cấp phương tiện và cơ hội để thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người
- Tôn giáo là một phương tiện giúp con người dễ bột phát những thiện
tính đã có sẵn tự nhiên trong mỗi người và áp dụng những thiện tính
này vào đời sống hàng ngày.
- Tôn giáo cung cấp một phương tiện khá hữu hiệu để truyền bá các tiêu
chuẩn đạo đức và gìn giữ con người nằm trong khuôn khổ của các tiêu chuẩn đạo đức.
- Tôn giáo giúp con người đoàn kết mạnh mẽ hơn khi cùng đứng với nhau
trong một tập thể dưới một danh nghĩa cao cả chung. NHƯỢC:
- Tôn giáo nào cũng cho rằng chỉ có họ là chính giáo, chỉ có giáo điều
của họ là chân lý và tối thượng. Có những tôn giáo cho rằng tất cả tôn
giáo khác đều là tà giáo. Sự tranh chấp này đưa đến hiềm khích và chiến
tranh liên tục ở mọi tầng lớp trong lịch sử nhân loại. Đã và đang có vô
số cuộc thảm sát, giết chóc xảy ra vì lý do trực tiếp liên quan đến tôn giáo.
- Tôn giáo được xây dựng dựa trên sự sợ hãi của con người. Từ đó tôn giáo
trở thành một công cụ hữu hiệu của thiểu số cầm quyền dùng để cai trị và
kiểm soát quần chúng ở mọi tầng lớp, từ thời xưa cổ cho đến ngay cả chính ngày hôm nay.
- Nhiều tôn giáo khuyến khích con người từ bỏ trí óc lý luận và suy xét để
chấp nhập những đức tin huyễn hoặc, vô căn cứ.
- Nhiều tôn giáo khuyến khích con người tráo chuyển trách nhiệm trong
quyết định, hành vi và hậu quả của cá nhân họ ra thành trách nhiệm của “Thượng Đế”.
- Nhiều tôn giáo phủ nhận giá trị và khả năng đạo đức cơ bản tự nhiên của con người.
- Nhiều Tôn giáo không biến đổi kịp với sự tiến hóa về mặt khoa học, xã
hội lẫn cả về mặt tâm linh của con người do đó trở thành chướng ngại
vật trên đường tiến hóa của nhân loại.
- Nhiều tôn giáo tiếp tục gìn giữ và truyền dạy những giáo điều cổ hủ, lầm
lạc và vô đạo đức.
- Các tín đồ cực đoan dùng những giáo điều cổ hủ, lầm lạc và vô đạo đức
trong tôn giáo họ để làm căn bản và lý do cho các hành động độc ác. Tùy
vị thế và khả năng của các thành phần cực đoan này, các hành động độc ác
của họ có thể có tai hại rộng lớn, lâu dài và sâu xa đến vô số người vô can khác.
- Bản chất mơ hồ, phức tạp và chuyển đổi không ngừng của tôn giáo làm
cho đại đa số tín đồ không thể nhận ra được những bản chất tiêu cực cơ
bản và quan trọng của nó. Các tổ chức tôn giáo nếu có nhận ra được
các bản chất tiêu cực này đi nữa thì cũng vì quyền lợi riêng mà ém dấu
hay không truyền bá chúng đến cho tín đồ.