












Preview text:
LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
Câu 1: Các phương pháp nghiên cứu LSVMTG?
Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức
là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa. Trái với văn minh là dã man.
Ví dụ: văn minh Phương Đông, văn minh Hy Lạp...
LSVM là sử dụng phương pháp khoa học lịch sử, hệ tư tưởng quan điểm khoa học lịch sử, nghiên
cứu các quá trình phát sinh, phát triển của các hiện tượng văn minh, các nền văn minh và các thời đại văn minh.
Dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lenin, vận dụng phương pháp luận của trường phái sử học
Maxsis-Leninist là lý thuyết kết hợp giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử, vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong nhận thức đời sống xã
hội và toàn bộ lịch sử nhân loại. Một số phương pháp cụ thể như: lịch sử - logic, đồng đại – lịch
đại, phân tích – tổng hợp, quy nạp – diễn dịch, thực nghiệm, liên ngành…
o Phương pháp lịch sử: Phương pháp lịch sử là phương pháp xem xét và trình bày quá
trình phát triển của các sự vật, hiện tượng lịch sử theo một trình tự liên tục và nhiều
mặt, có lớp lang sau trước, trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác. Yêu
cầu đối với phương pháp lịch sử là đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự
kiện; làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của chúng, làm
sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các sự vật xung quanh.
o Phương pháp lôgích: Phương pháp lôgích là phương pháp xem xét, nghiên cứu các
sự kiện lịch sử dưới dạng tổng quát, nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng tất yếu,
quy luật vận động của lịch sử. Có nghĩa là, phương pháp lôgích trình bày các sự
kiện một cách khái quát trong mối quan hệ đúng quy luật, loại bỏ các chi tiết không cơ bản.
o Phương pháp đồng đại: Thực chất của nó là xác định các hiện tượng, quá trình khác
nhau xảy ra cùng một thời điểm (có liên quan đến nhau). Phương pháp này giúp
chúng ta bao quát được toàn vẹn và đầy đủ quá trình lịch sử ; so sánh được cái gì đã
xảy ra trong cùng một thời gian, ở các nước khác nhau, cũng như so sánh các quá
trình có tính chất khác nhau xảy ra trên cùng một lãnh thổ (Ví dụ như phong trào
công nhân, phong trào nông dân, phong trào trí thức, phong trào trong quân đội, v.v...).
o Phương pháp lịch đại: Phương pháp này cho phép nghiên cứu quá khứ lần theo các
giai đoạn phát triển trước kia của nó. Dựa vào quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin
1 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7
về sự thống nhất giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, dựa vào quan niệm biện chứng
cho rằng trong một quá trình phát triển mỗi giai đoạn tiếp sau đều mang trong mình
nó những đặc điểm và những yếu tố của giai đoạn trước.
o Phương pháp liên ngành: Do LSVM đề cập đến các lĩnh vực của rất nhiều ngành
khoa học khác (ngôn ngữ học, triết học, tôn giáo,...), phải nắm vững và vận dụng
đúng đắn, sáng tạo các tri thức khoa học liên ngành để nghiên cứu LSVM.
Ngoài ra còn cần sử dụng nhiều phương pháp khác như phương pháp khảo sát, nghiên cứu thực
địa, phương pháp phân kỳ, phương pháp phân tích so sánh,…
Cách tiếp cận lịch sử văn minh thế giới:
Phương pháp tiếp cận một nền văn minh gồm 5 yếu tố của cơ sở hình thành và 8 yếu tố của
thành tựu văn minh.
5 yếu tố của cơ sở hình thành một nền văn minh bao gồm: (cho ví dụ nếu có thời gian)
1. Điều kiện tự nhiên : Vị trí địa lý – Khí hậu
Xem điều kiện tự nhiên đã tạo những thuận lợi gì cho nền văn minh đó ra đời và phát triển, tác
động như thế nào đến bản chất, thành tựu của các nền văn minh…
2. Cư dân: xem cư dân, dân tộc nào là người sáng lập và là chủ nhân của nền văn minh đó, quá
trình chuyển tiếp, tiếp biến với văn minh của các dân tộc khác như thế nào…
3. Lịch sử hình thành và phát triển: làm rõ quá trình hình thành, phát triển, suy vong, phục hung
của các nền văn minh trong một tiến trình lịch sử cụ thể…
4. Trình độ tổ chức sản xuất (kinh tế): trình độ sử dụng tư liệu sản xuất và tổ chức các quan hệ
sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, cách phân chia kết quả lao
động giữa các thành phần dân cư,…
5. Trình độ quản lý xã hội: xem kết cấu hạ tầng xã hội như thế nào, mối quan hệ, mâu thuẫn giữa
các giai tầng xã hội, cách tổ chức kiến trúc thượng tầng xã hội…
8 yếu tố của thành tựu văn minh bao gồm:
1. Chữ viết: quá trình hình thành, phát triển, cải tạo, ứng dụng… chữ viết, sự tác động của chữ viết đến văn minh,..
2. Văn học: những sang tác văn học thể hiện niềm tin, ý chí, tình cảm của bộ phận dân cư sang tại ra nền văn minh.
3. Sử học: quá trình hình thành nền sử học cùng những nhận xét, nhận định về các sự kiện trong tiến trình lịch sử.
4. Nghệ thuật: tổng thể các mặt như hội họa, âm nhạc, điêu khắc,kiến trúc,…
5. Khoa học tự nhiên: các phát minh về toán học, vật lý, hóa học, sinh học,..xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
6. Triết học: hệ thống tư tưởng quan điểm của bộ phận dân cư đó về cuộc sống, con người, xã hội…
7. Tôn giáo: các niềm tin và tín ngưỡng
8. Luật pháp: hệ thống quy tắc tổ chức, quản lý xã hội.
Câu 2: Thành tựu văn minh Ai cập? CHỮ VIẾT
Chữ viết Khoảng hơn 3500 nămTCN, người Ai Cập cổ đại đã sáng tạo ra chữ tượng hình.
Muốn chỉ một vật gì thì họ vẽ những nét tiêu biểu của sự vật đó. Ví dụ muốn thể hiện cái tay họ
vẽ cánh tay, vẽ hình dáng các sự vật để thể hiện sự tượng trưng cho sự vật đó, mặc dù sơ khai
2 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7
nhưng đó là một sang tạo vĩ đại của người Ai cập trong buổi đầu thời đại văn minh. So với chữ
viết của Trung Quốc, tuy cùng là loại chữ tượng hình nhưng chữ viết của người Ai Cập ra đời
sớm hơn ở Trung Quốc ( đời Thương, tk XVI-XVII TCN) và ở Ai Cập đã có sự hình thành hình
thức mượn ý và sau đó là sự ra đời của từ chỉ âm tiết. Để diễn tả những khái niệm trừu tượng thì họ mượn ý.
Thí dụ để diễn tả trạng thái khát thì họ vẽ ba làn sóng nước và cái đầu bò đang cúi xuống;
để nói lên sự công bằng thì họ vẽ lông chim đà điểu (vì lông đà điểu hầu như dài bằng nhau), chỉ
sự thỉnh cầu thì họ vẽ người quỳ gối và giơ nữa bàn tay…
Tuy nhiên hai phương pháp ấy chưa đủ biểu thị mọi khái niệm vì vậy dần dần xuất hiện
các hình vẽ biểu thị âm tiết (chỉ âm), ví dụ con mắt tiếng Ai Cập là ar do đó hình tượng con mắt
biểu thị âm tiết ar, núi đọc là Ka nên biểu thị âm tiết K.
Từ chữ tượng hình này, sau này người Ai Cập cổ đại đã hình thành ra hệ thống 24 chữ cái ghi lại
âm, và có khoảng 1000 chữ. Những chữ tượng hình của người Ai Cập được khắc trên đá, viết trên
da, nhưng nhiều nhất là được viết trên vỏ cây sậy papyrus. Người Ai Cập có thể biểu thị được một
khái niệm trọn vẹn hoặc viết một câu ngắn. Trong quá trình sử dụng, người Ai Cập cải tiến chữ
tượng hình theo hướng đơn giản hóa, chỉ lấy một phần điển hình của sự vật do đó đã biến hóa thành các loại chữ.
Với khối lượng từ này, Ai Cập đã biên soạn được 3 bộ sách lơn là sách văn học Ai Cập, sách y
học (thuốc) và sách toán Ai Cập. Các chữ viết này được lưu lại nhiều nhất trong các văn bản tôn
giáo. Được khắc trên các phiến đá, lăng mộ vua, ghi chép các nghi lễ, cách thức sinh hoạt của
Pharaong và các vị thần.
Nhưng cuối TK 4 SCN, do buộc phải chuyển sang chữ Latin, chữ tượng hình biến mất.
Ở thế kỷ thứ 5 Horapollo tiến hành giải mã nhưng không chính xác tới 200 chữ khắc. Phần lớn
thông tin đều sai, tác phẩm này càng khiến việc giải mã chữ tượng hình Ai Cập gặp khó khăn
hơn. Những nỗ lực đầu tiên được biết đến trong việc giải nghĩa chữ tượng hình Ai Cập đã
được các nhà sử học Hồi giáo thực hiện thời Trung cổ Ai Cập trong thế kỷ thứ 9 và thế kỷ thứ 10.
Nhiều học giả hiện đại đã tìm cách giải nghĩa các chữ tượng hình trong nhiều thế kỷ, đáng chú ý
là Becanus ở thế kỷ 16 và Kircher ở thế kỷ 17, nhưng tất cả chúng đều không thành công. Đột
phá thực sự trong việc giải nghĩa chữ tượng hình bắt đầu với sự phát hiện Phiến đá Rosetta của
quân đội Napoleon năm 1798 (trong thời Napoleon xâm lược Ai Cập). Đầu thập niên 1800 các
học giả như Silvestre de Sacy, Johan David Åkerblad và Thomas Young đã nghiên cứu các chữ
trên hòn đá, và có được một số tiến triển. Cuối cùng, Jean-François Champollion giải nghĩa được
hoàn toàn chữ tượng hình Ai Cập trong thập niên 1820:
“ Đây là một hệ thống phức tạp, viết biểu trưng, biểu tượng, và ngữ âm cùng lúc, trong cùng
văn bản, cùng câu, hầu như tôi có thể nói trong cùng từ”
Từ đó ngành Ai Cập học ra đời, một thế giới mở ra từ phiến đá nhỏ, hiện nay phiến đá còn lưu giữ ở bảo tàng Anh.
Khoa học tự nhiên :
3 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7
Điều kiện ra đời thành tựu khoa học tự nhiên:
Chế độ thủy văn của sông Nile tác động lên đời sống sản xuất, xã hội của cư dân Ai Cập.
Quan sát bầu trời ở sa mạc nên có điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu như ít mây,
trong trẻo, có những điểm cao phù hợp.
Điều kiện xã hội như: chế độ thuế khóa, chính sách thu thuế…, nhân tố tín ngưỡng tôn
giáo, nhân tố con người (tang lữ, thầy tế…) Thành tựu
Về thiên văn, lịch pháp: Do nhu cầu phải nhận biết sự lên xuống của mực nước sông Nin, người
Ai Cập cổ đại tập trung nghiên cứu các yếu tố tự nhiên có liên hệ ảnh hưởng đến sự lên xuống đó.
Do đó từ rất sớm người Ai Cập cổ đại đã có nhiều tri thức về thiên văn học. người Ai Cập cổ đã
vẽ được bản đồ sao, họ đã xác định 12 cung hoàng đạo và sao Thuỷ,Kim, Hoả, Mộc, Thổ. Người
Ai Cập cổ làm ra lịch dựa vào sự quan sát sao Lang (Sirius). Một năm của họ có 365 ngày, đó là
khoảng cách giữa hai lần họ thấy sao Lang xuất hiện đúng đường chân trời. Họ chia một năm làm
3 mùa (mùa lũ, mùa gieo trồng, mùa thu hoạch tương ứng với sự lên xuống của mực nước sông
Nin), mỗi mùa có 4 tháng, mỗi tháng có 30 ngày. Năm ngày còn lại được xếp vào cuối năm làm
ngày lễ. Người Ai cập cũng đã biết được theo cách chia này 4 năm sẽ có một năm nhuận. Để chia
thời gian trong ngày, họ đã chế ra đồng hồ mặt trời và đồng hồ nước. Về toán học:
Về số học, do yêu cầu làm thuỷ lợi và xây dựng nên kiến thức toán học của người Ai Cập cổ cũng
sớm được chú ý phát triển. Họ dùng hệ đếm cơ số 10. Họ rất thành thạo các phép tính cộng trừ,
còn khi cần nhân và chia thì thực hiện bằng cách cộng trừ nhiều lần. Về hình học, họ đã biết công
thức tính chu vi, diện tích các hình cơ bản, thể tích hình cầu, hộp hình thập có đấy là hình vuông,
đã biết trong một tam giác vuông thì bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh
góc vuông. Pi của họ tính = 3,14 .
Đại số: ở thời cổ đại, người Ai Cập đã biết giải toán phương trình bậc nhất. Về Y học:
Do tục ướp xác thịnh hành, từ rất sớm, người Ai Cập đã hiểu biết tương đối về cấu tạo của cơ thể
người. Tình hình ấy đã tạo điều kiện cho y học có thể phát triển sớm. Nhiều thành tựu của nền y
học Ai Cập cổ đại được ghi trên giấy papyrus và truyền đạt lại đến ngày nay. Các tại liệu ấy đã đề
cập đến các vấn đề như nguyên nhân của bệnh tật, mô tả về óc, quan hệ giữa tim và mạch máu,
các loại bệnh, cách khám bệnh, khả năng chữa trị…
Về nguyên nhân chủ yếu của bệnh tật, người Ai Cập lúc bấy giờ đã nhận thức được rằng đó
không phải do ma quỷ hoặc do các mụ phù thủy gây nên mà là do sự không bình thường của
mạch máu. Hơn nữa, từ thời Trung vương quốc, người Ai Cập đã biết được tầm quan trọng của óc
và tim đối với sức khỏe của con người, nếu óc bị tổn hại thì toàn thân sẽ bị bệnh. Tuy người Ai
Cập chưa biết nhiều về sự tuần hoàn của máu nhưng họ cũng đã nhận biết sự liên quan giữa tim
và mạch máu. Các thầy thuốc Ai Cập đã biết đến nhiệt độ con người có liên quan đến nhịp đập
của tim dù chưa biết cơ chế tuần hoàn máu trong cơ thể.
Các tài liệu để lại còn mô tả nhiều loại bệnh như bệnh đường ruột và dạ dày, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da…
4 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7
Các tài liệu cũng ghi lại nhiều bài thuốc và phương pháp chữa trị. Ví dụ, để chữa bệnh đường
ruột, người ta dùng phương pháp rửa ruột hay cho nôn mửa. Các thầy thuốc Ai Cập còn biết dùng
phẫu thuật để chữa một số bệnh. Họ đã biết giải phẫu và chữa bệnh bằng thảo mộc.
Ngoài ra, các lĩnh vực khác của khoa học tự nhiên như vật lý học, hóa học… cũng có những hiểu
biết đáng kể. Không thể tưởng tượng được rằng trong việc thiết kế và xây dựng các Kim Tự Tháp
mà cho đến nay vẫn rất vững bền lại thiếu những kiến thức về vật lý học nhất là về lực học.
Tóm lại, nền văn minh Ai Cập cổ đại đã để lại cho nhân loại nhiều thành tựu khoa học tự nhiên
tuyệt vời và đã có nhiều đóng góp trực tiếp đối với sự phát triển của nhiều lĩnh vực trong nền văn hóa thế giới.
Câu 3: Những thành tựu cơ bản của văn minh Ấn Độ thời cổ trung đại:
1. Chữ viết, văn học
Các loại chữ viết chính hình thành ở Ấn Độ: Chữ Indus – Harappan
Chữ Khavosthi: tạo tiền đề cho sự ra đời của chữ viết của Ấn Độ về sau. Chữ Brami Chữ Devanagari
Chữ Phạn – Sanskrit (Bắc Phạn) Chữ Pali (Nam Phạn)
Chữ Indus – Harappan
Nhà khảo cổ học Alexander khám phá ở thung lũng song Ấn (2600-2000BC) đã tìm ra hơn 4000
biểu tượng, đồ vật, con dấu viết bằng loại chữ viết này, chủ yếu là vật liệu bằng đồng. Tuy nhiên
loại chữ viết này chưa được giải mã đầy đủ mà chủ yếu theo sự phỏng đoán của các học giả.
Sauk hi văn minh song Ấn suy tàn, một thời gian dài các cư dân bản địa cũng như người Aryan
không có chữ viết. Khoảng 800 năm TCN ở một số nơi của miền Tây Bắc Ấn Độ bắt đầu xuát
hiện một loại chữ viết có tên là Khavosthi, chữ viết có nguồn gốc Tây Á. Chữ Brami
Xuất hiện vào khoảng 800 năm TCN, là chữ viết cổ xưa thuộc hệ ngôn ngữ Brahmic xuất hiện ở
Đông Bắc Ấn Độ, chữ viết này có nguồn gốc từ Tây Á do nhà khảo cổ học, văn học người Anh
tên là Sames Prinsep giải mã. Ngôn ngữ này được dung nhiều nhất để khắc trên các cột đá Asoka khoảng tk III TCN.
Khoảng thế kỷ VII TCN, từ những chữ viết hiện có, người Ấn Độ đã sang tạo them một loại chữ
viết mới để thuận tiện cho việc ghi chép đó là chữ Phạn có nghĩa là tiếng nói hoàn hảo.
Chữ Phạn – Sanskrit (Bắc Phạn)
Chữ Phạn – Sanskrit (Bắc Phạn) được nghiên cứu tỉ mỉ, đây là một ngôn ngữ cổ cao cấp thuộc
dòng ngữ hệ Ấn Âu, đặc biệt dung trong các tế lễ của Phật Giáo, Ấn Độ giáo,.., dung để nghiên
cứu khoa học đối lập với chữ viết bình dân.
Kết hợp với nhiều chữ viết khác nhau: Brahmi, Khavosthi, Deranagaoi, chữ Sarada. Chữ
Kanada…từ thế kỷ XIX, chữ Sanskrit ký âm bằng chữ La tin.
5 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7 Chữ Pali (Nam Phạn)
Khi đạo Phật ra đời ở miền Bắc Ấn Độ, Phật và các tu sĩ đã sang tạo ra hệ thống chữ viết nữa là
chữ Pali, ngôn ngữ của tầng lớp bình dân để truyền bá giáo lý đạo Phật.
So với Sanskrit, chữ Pali đơn giản hơn về cả âm tiết, cú pháp lẫn cách viết. Tuy nhiên nó cuối
cùng đã bị tiếng Sanskrit thay thế trong vai trò một ngôn ngữ văn chương và tôn giáo sau khi các
học giả Pānini ở Ấn Độ hình thức hóa tiếng Phạn cổ điển. Ở Sri Lanka, Pāli được cho là đã vào
giai đoạn thoái trào vào khoảng thế kỉ thứ 5 (khi tiếng Sanskrit đạt đến đỉnh cao), nhưng rồi cuối cùng vẫn tồn tại.
Ngày nay Pāli được nghiên cứu chủ yếu là để tìm hiểu các bộ kinh của Phật giáo Tiểu Thừa, và
thường được sử dụng để tụng niệm trong các nghi thức tế lễ. Các văn thư thông thướng liên quan
đến tôn giáo bằng tiếng Pāli như sử ký, y thư, văn bia, cũng có giá trị lịch sử quan trọng.
Từ thế kỷ VI, Sanskrit được coi là ngôn ngữ chính thức của Ấn Độ và nó cũng được coi là ngôn
ngữ cầu nối ngôn ngữ của các dân tộc hiện nay ở Ấn Độ. Kết luận:
Chữ viết ra đời rất sớm ở Ấn Độ gắn liền với văn minh song Ấn và song Hằng.
Chữ viết Ấn Độ có nguồn gốc cổ xưa, bên cạnh một số từ ngữ thì đa phần vẫn còn tồn tại ghi chép. Văn học
Vê đa: Vê đa có nghiã là hiểu biết, có 4 tập là: Rích vê đa, Xama Vê đa, Yagiua Vê đa,
Atacva Vê đa. Các tập Vê đa phản ánh các bài cầu nguyện phản ánh tình hình xã hội Ấn độ cổ,
quá trình đấu tranh với thiên nhiên, chế độ đẳng cấp, tình yêu…
Sử thi: Hai tác phẩm sử thi nổi bật thời cổ đại là Mahabharata và Ramayana. Mahabharata
là bản trường ca gồm 220 000 câu thơ. Bản trường ca này nói về một cuộc chiến tranh giữa các
con cháu Bharata. Bản trường ca này có thể coi là một bộ “bách khoa toàn thư” phản ánh mọi mặt
về đời sống xã hội Ấn Độ thời đó. Ramayana là một bộ sử thi dài 48 000 câu thơ, mô tả một cuộc
tình giữa chàng hoàng tử Rama và công chúa Sita.Thời cổ đại ở Ấn Độ còn có tâp ngụ ngôn
“Năm phương pháp” chứa đựng rất nhiều tư tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc Á - Âu. Khoa học tự nhiên
Thiên văn Người Ấn Độ cổ đại đã làm ra lịch, họ chia một năm ra làm 12 tháng, mỗi
tháng có 30 ngày. (Như vậy năm bình thường có 360 ngày). Cứ sau 5 năm thì họ lại thêm vào một tháng nhuận.
Toán học Người Ấn Độ thời cổ đại chính là chủ nhân của hệ thống chữ số mà ngày nay ta
quen gọi là số Arập. Đóng góp lớn nhất của họ là đặt ra số không, nhờ vậy mọi biến đổi toán học
trở thành đơn giản, ngắn gọn hẳn lên. (Người Tây Âu vì vậy mà từ bỏ số La Mã mà sử dụng số
Arập trong toán học). Họ đã tính được căn bậc 2 và căn bậc 3; đã có hiểu biết về cấp số, đã biết
về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác, Pi = 3,1416.
6 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7
Vật lí Người Ấn Độ cổ đại cũng đã có thuyết nguyên tử. Thế kỉ V TCN, có một nhà thông
thái ở Ấn Độ đã viết “Trái đất do trọng lực của bản thân đã hút tất cả các vật về phía nó”.
Y học Y học cũng khá phát triển. Người Ấn Độ cổ đại đã mô tả các dây gân, cách chắp
ghép xương sọ, cắt màng mắt, theo dõi quá trình phát triển của thai nhi. Họ để lại hai quyển sách
là “Y học toát yếu” và “Luận khảo về trị liệu”. Đạo Phật
Đạo Phật ra đời vào khoảng giữa thiên niên kỉ I TCN do thái tử Xitđacta Gôtama, hiệu là
Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) khởi xướng. Các tín đồ Phật giáo lấy năm 544 TCN là năm thứ
nhất theo Lịch Phật, họ cho là đây là năm Đức Phật nhập niết bàn.
Điều kiện khách quan hình thành Phật Giáo:
Tiền đề kinh tế xã hội:
Cuối thế kỷ thứ VI TCN, ở miền Bắc AD, phía Nam dãy Himalaya, vùng biên giới AD với Nepal.
Sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp khiến cho LLSX phát triển
dẫn đến sự phát triển vượt bậc của kinh tế AD so với trước đó.
Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết phải có sự thay đổi trong tổ chức sản xuất và xã hội (hình thức
sở hữu, phân công lao động, phân công sản phẩm…) mở đường cho kinh tế phát triển. Dựa trên
nền tảng kinh tế phát triển như thế quá trình phân hóa xã hội ở AD diễn ra sâu sắc đẩy một bộ
phận lớn dân cư vào chỗ khốn cùng. Nó đặt ra yêu cầu cần có một cơ cấu xã hội mới bình đẳng
hơn đáp ứng nguyện vọng của các giai cấp thấp trong xã hội.
Tiền đề tư tưởng - chính trị
Đạo Bà La Môn đã xác lập được vai trò vững chắc trong xã hội AD, tầng lớp tang lữ Bà La Môn
có đặc quyền to lớn về tu tưởng chính trị đã chi phối toàn bộ đời sống tư tưởng chính trị của các
đẳng cấp khác trong xã hội AD.
Người sáng lập: do thái tử Xitđacta Gôtama, hiệu là Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) khởi xướng,
tiếng Phạn gọi Phật là Bouddha, tiếng Hán gọi là Phật Đà nghĩa là Đấng Giác Ngộ và Giác Ngộ
cho người khác, tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn. Sự phát triển:
Với giáo lý đề cao lòng từ bi của con người với đồng loại. Chóng lại những thành kiến của chế độ
đẳng cấp và với một tinh thần bác ái, đạo Phật nhanh chóng chinh phục đươc đông đảo các tàng
lớp nhân dân Ấn Độ từ vua chúa đến nhân dân lao động nên sau khi ra đời đạo Phật nhanh chóng
được truyền bá ở miến Bắc Ấn Độ.
Sau khi Phật qua đời (560 TCN- theo Phật giáo) giáo lý nhà Phật được sưu tập, sang dịch, chỉnh
lý ghi chép thành kinh Phật thông qua 4 kỳ hội nghị kết tập:
1) Hội nghị kết tập lần 1: diễn ra vào thế kỉ thứ V TCN, tại vương quốc cổ Mayadha, ít ngày
sau khi Phật qua đời. Tham gia hội nghị có hơn 500 đai biểu tăng ni, họp trong 7 tháng. Kết
thúc hội nghị hình thành bộ Kinh tạng và Luật tạng.
2) Hội nghị kết hợp tập lần 2: diễn ra giữa thế kỉ thứ IV TCN, trong các tăng sĩ lại có những
quan điểm bất đồng về giới luật. Tăng chúng chia làm hai nhóm:
7 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7
+Họp ở Vaisaly có 12000 tăng sĩ -> phái nguyên thủy.
+Họp ở Vajji hình thành phái tiến thủ.
3) Hội nghị kết tập lần 3:
Diễn ra từ thế kỉ thứ III TCN (253 TCN) dưới thời kì vua Ashoka. Hội nghị thảo luận và hình
thành phần Luận tạng. Trong thời kì này đạo Phật phát triển rất mạnh. Vua Ashaka tôn vinh
đạo Phật trở thành quốc giáo Ấn Độ, khuyến khích các nhà sư Ấn Độ truyền bá đạo Phật ra
bên ngoài. Đây là thời kỳ cực thịnh của Phật Giáo, đã thống nhất được Tam Tạng Kinh (Kinh
Tạng, Luận Tạng, Luật Tạng).
4) Hội nghị kết tập lần 4:
Diễn ra vào đầu thế kỉ thứ 2 sau khi Thiên Chúa giáng sinh: được sự bảo trợ của vua Canisha.
Hội nghị đã chỉnh lý lại tất cả văn bản của Tam tạng kinh điển ( hơn 300.000 văn bản) và cho
khắc vào các bảng đồng và lưu giữ trong các bảo Tháp.
Đạo Phật bắt đầu truyền sang Trung Á, Trung Quốc ( Bồ đề Đạt ma)
Từ hội nghị lần thứ 4 Phật giáo xuất hiện giáo lý cải cách ( Đại Thừa). Đầu Công Nguyên
đạo Phật vượt biên giới Ấn Độ, truyền bá sang các quốc gia phương Đông (Trung Quốc, Việt
Nam, Lào...) và trong quá trình đó đạo Phật phân hóa thành 2 tông phái chính là: Phật giáo
Tiểu thừa (Nam tông), và Phật giáo Đại thừa (Bắc tông).
Điểm giống nhau giữa Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa là: cùng mục đích tôn chỉ. Khác nhau:
- Tiểu thừ trung thành với quan điểm ban đầu của đạo Phật, chủ trương tu luyện và giải
thoát theo từng quy mô nhỏ mang tính cá nhân tự giác.
- Đại thừa: mở rộng giáo lý Phật giáo trong nhiều bộ kinh khác nhau, chủ trương giải
phóng đông đảo cho nhiều người. Phát triển toàn bộ kinh thánh đồ sộ, tôn vinh Phật
Thích Ca thành giáo chủ Phật giáo.
Sau những thế kỉ rất thịnh đạt trong khoảng 1000 năm, từ triều đại GUPTA (TK 5 sau TC) đạo
Phật có biểu hiện suy thoái. Một trong những nguyên nhân là do giáo lý Phật giáo ngày càng uyên
thâm, khó hiểu, vượt qua sự hiểu biết của quần chúng, càng ngày càng xa cách quần chúng. Đạo
Hindu, đạo Hồi ở Ấn Độ dần lấn áp thế lực của Đạo Phật.
Nội dung tư tưởng của Phật Giáo
Nội dung 1: chỉ ra con đường ở giữa 2 cực đoạn ( đam mê và khổ hạnh) là con đường trung đạo.
Con đường làm cho thân trí sáng suốt, giác ngộ, buông bỏ được dục vọng đạt cảnh giới Niết Bàn.
Nội dung 2: Tứ Diệu Đế - Giáo lí cơ bản của đạo Phật là Tứ diệu đế (bốn điền suy xét kì diệu):
Khổ đế Suy xét về sự khổ cực, luân hồi, nghiệp báo của chúng sinh.
Nhân đế -Tập đế Nguyên nhân của sự khổ là dục tức lòng ham muốn, nguyên nhân nỗi khổ từ nỗi
khổ vật chất đến nỗi khổ tinh thần, đây là luận đề mang tính chất lý luận, chứa đựng hầu hết
những luận thuyết cơ bản của Đức Phật. Nỗi khổ của con người do 10 nguyên nhân: tham, sân, si, mạn, nghi, kiến…
Diệt đế Con đường tiết dục, diệt dục để trừ nghiệp báo, cách diệt trừ tận gốc nỗ khổ của con
người, loại bỏ vô minh, đạt tới sự hiểu biết, sáng suốt, nhận ra chân lý và đi tới giác ngộ. Chế ngự
8 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7
bản năng của con người, từ bỏ 10 nguyên nhân nỗi khổ, Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng,
tránh vòng luân hồi, tránh nghiệp nhân quả.
Đạo đế Con đường, cách thức để giải thoát khỏi sự luân hồi, nghiệp báo, con đường trung đạo, Quy y Phật, Pháp, Tăng.
Đức Phật còn đề ra tám con đường chính trực để tu hành - Bát chánh đạo:
1. Chánh kiến: là sự nhìn thấy đúng đắn về bản chất của tất cả các sự vật hiện tượng đang hiện
hữu như chính nó đang là.
2. Chánh tư duy: Sự nhìn thấy đúng đắn từ chánh kiến đưa người Phật tử đến sự suy nghĩ đúng, từ
sự nhìn thấy đúng và suy nghĩ đúng sẽ dẫn đến sự hiểu biết đúng, từ sự hiểu biết đúng sẽ giúp cho
người Phật tử có cuộc sống đúng.
Theo lời Phật dạy, để có một đời sống đúng đắn và tốt đẹp cho mình, cộng đồng và xã hội, người Phật tử cần phải có:
3. Chánh ngữ: tức là lời nói chân thật và thương yêu, có lợi cho mình và tất cả mọi người, không
gây chia rẽ và đau khổ cho nhau.
4. Chánh nghiệp: Là nghề nghiệp, việc làm của mỗi người phải lương thiện, đúng lẽ phải, không
phạm pháp, không làm việc gì trái với đạo đức, trái với lương tâm.
5. Chánh mạng: vì lòng từ bi vô hạn nên người Phật tử phải quý sinh mạng chúng sanh như sinh
mạng của mình, nên không được sát sanh hại vật, lấy máu thịt các loài động vật cấp thấp để nuôi
sống huyễn thân. làm như thế sẽ tạo thêm ác nghiệp, nghiệp ác sẽ theo nhau lưu chuyển không
ngừng, làm cho oán thù ngày càng chồng chất không làm sao xóa bỏ được.
6. Chánh tinh tấn: muốn thực hành theo lời Phật dạy một cách có hiệu quả, người Phật tử phải nỗ
lực tinh tấn không ngừng mới mong đạt được kết quả tốt đẹp.
7. Chánh Niệm: là luôn nhớ và nghĩ đến những điều hay lẽ phải được xem là đúng đắn và cố gắng
sống sao cho phù hợp với những gì đã nghĩ.
8. Chánh Định: là tập trung tư tưởng để tư duy, quán chiếu thật sâu sắc về một vấn đề mà bản
thân chưa thật sự hiểu biết rõ ràng, nhằm có được một cách nhìn tổng thể, một ý nghĩ chân thực,
một quan điểm khách quan và phù hợp với chân lý.
Về mặt thế giới quan, nội dung cơ bản của đạo Phật là thuyết duyên khởi. Do quan niệm
duyên khởi sinh ra vạn vật nên đạo Phật chủ trương Vô tạo giả, Vô ngã, Vô thường:
Vô tạo giả Quan niệm thế giới này không do một đấng tối cao nào tạo ra, tự nhiên mà có
và vô cùng vô tận. Như vậy là đạo Phật không dựa vào một đấng tối cao nào để giải thích về sự
xuất hiện thế giới như các tôn giáo khác.
Vô ngã Không có những thực thể vật chất tồn tại một cách cố định. Con người cũng chỉ là tập hợp
của Ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) chứ không phải là một thực thể tồn tại lâu dài.
Vô thường Vạn vật trong thế giới này biến đổi không ngừng, không có gì là vĩnh cửu cả.
Qua những giáo lí ban đầu của đạo Phật như vậy, ta thấy lúc đầu đạo Phật chỉ là một triết lí
về nhân sinh quan. Đạo Phật sơ khai lúc đầu không thời bất cứ một vị thần thánh nào. Ngay cả
Phật tổ Thích Ca Mâu Ni cũng không tự coi mình là thần thánh. Tuy Phật tổ Thích Ca Mâu Ni có
tổ chức các tăng đoàn Tỳ Kheo (đoàn thể những tăng lữ khất thực) để đi truyền bá đạo Phật ở
khắp nơi nhưng đó không phải là một tổ chức tôn giáo có hệ thống chùa tháp như ngày nay.
9 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7
Trong hoàn cảnh xã hội đầy rẫy bất công do chế độ đẳng cấp gây ra, thì đạo Phật lại chủ
trương không phân biệt đẳng cấp, kêu gọi lòng thương người (từ bi hỉ xả), tránh điều ác, làm điều
thiện. Những lời kêu gọi sự công bằng, lòng nhân đức đó đã được đông đảo người dân hưởng ứng.
Ngày nay Phật giáo giữ vai trò quan trọng trong việc giữ gìn hòa bình, giữ gìn nếp sống tốt
đẹp, nhân ái, thương yêu của nhân loại, tổng số tín đồ Phật Giáo trên thế giới ước tính
487.540.000 người chiếm 7,1% dân số thế giới. Tại Việt Nam ước tính có hơn 14 triệu tín đồ Phật
Giáo chiếm 16,4 % dân số…. Mở rộng vai trò của Phật Giáo
Câu 4: Những thành tựu cơ bản của nền văn minh Hy Lạp cổ đại?
Những thành tựu cơ bản của nền văn minh Hy Lạp
* Chữ viết: Về chữ viết, người Hy Lạp cổ đại đã dựa trên hệ thống chữ viết của người Phênixi
(Phoenicia) rồi cải tiến, bổ xung thành một hệ thống chữ cái mới gồm 24 chữ cái. Từ chữ Hy Lạp
cổ sau này đã hình thành nên chữ Latinh và chữ Slavơ. Đó là cơ sở chữ viết mà nhiều dân tộc trên
thế giới ngày nay đang sử dụng. * Văn học:
Từ khi có bút tích văn học đến khi Hi Lạp trở thành chư hầu, rồi nhập vào địa phận của La Mã,
văn học Hi Lạp chia ra 3 thời kì lớn.
1.Thời kì thứ nhất (thời thượng cổ), bắt đầu từ khi có những bút tích văn học đầu tiên đến thế kỷ V trước công nguyên .
2.Thời kỳ cổ điển (còn gọi Atich) từ chiến tranh Ba Tư - Hi Lạp đến thế kỷ II tr. CN .
3.Thời kỳ chủ nghĩa Helen (hoặc Alexandre) từ thế kỷ III đến thế kỷ I tr.CN.
Trước khi có văn học viết, trên đất nước «con cháu các vị thần » này đã có một nền văn chương
thần thoại phong phú vào bậc nhất thế giới .Từ những chất liệu thần thoại đẹp đẽ giàu giá trị nhân
văn, triết lý này, những ca sĩ dân gian đã sáng tác những bài ca bất tử về các vị thần, các anh
hùng thành bang. Những bài ca ấy lạI được Homer kế thừa để sáng tạo nên hai thiên anh hùng ca
(sử thi) vĩ đại Illiade và Odyssee .
Sau Homer, nhiều nhà thơ sáng tác về các truyền thuyết thành Troie và thành Thebes, thơ giáo
huấn của Hesiode… nhưng ít có giá trị. Đặc biệt, Hesiode dùng thơ ca ngợi con người lao động,
những công việc đồng áng bình dị, nhọc nhằn và ý nghĩa cao quí duy trì cuộc sống của con người.
Tác phẩm Công việc và tháng ngày là tập giáo huấn con người tình yêu lao động, tôn trọng công
lý và truyền đạt kinh nghiệm làm ruộng chăn nuôi, đi biển . . .
Thơ trữ tình cũng phát triển vớI những tên tuổi Tiecte, Minermer, Ximonite, Pindare, Sapho …
Đó là những sáng tác thô sơ đầu tiên về tình yêu của con người .
Văn học Hy Lạp cổ đại có thể chia ra làm ba bộ phận chủ yếu có liên quan với nhau, đó là thần thoại, kịch, thơ.
- Người Hy Lạp có một hệ thống thần thoại rất phong phú để mô tả thế giới tự nhiên, nói lên kinh
nghiệm cuộc sống và cả tâm tư sâu kín của con người. Hầu như trong cuộc sống thời đó có việc gì
thì đều có thần bảo trợ, lo về công việc đó. Kho tàng thần thoại Hy Lạp mãi tới ngày nay còn
được nhiều môn nghệ thuật ở các nước trên thế giới khai thác. Đây là một dân tộc có một kho
10 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7
tàng thần thoại mà nhiều dân tộc lớn trên thế giới phải ghen tị. Về sau, khi có chữ viết, kho tàng
thần thoại này được Hêdiốt ( nhà thơ Hy Lạp sống vào thế kỉ VIII TCN ) hệ thống lại trong tác phẩm Gia phả các thần.
- Thơ ca là thể loại văn học rất phát triển, đặc biệt nó có thế mạnh khi chưa có chữ viết. Tiêu biểu
nhất phải kể đến tác phẩm Iliat và Ôđixê của Homer ( thế kỉ IX TCN ). Tới thế kỉ VII-VI TCN
xuất hiện nhiều nhà thơ được công chúng ưa thích như Acsilôcút, Xôlông, Xaphô, Anacrêông...
- Hy Lạp là quê hương của kịch nói phương Tây. Ở đây có cả bi kịch lẫn hài kịch. Những nhà viết
kịch nổi tiếng thời đó như Etsin, Sôphôclơ, Ơripit...
Văn hóa Hy Lạp cổ đại đã đạt đến đỉnh cao của nó từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ thứ III TCN về các
ngành: Văn học, Sử học, Thiên văn học, Ðịa lý, Số học, Vật lý, Y, Dược, Sinh vật học, Triết học . . .
Homère là người đầu tiên đặt nền tảng cho thể loại anh hùng ca với Iliade và Odyssée. Tiếp
theo thơ trữ tình phát triển với sự trỗi dậy của ý thức cá nhân, tiêu biểu là hai nhà thơ Pindare và Sapho.
- Pindare: Tác phẩm có bốn tập gồm những bài thơ ca ngợi những người anh hùng chiến
thắng trong các đại hội điền kinh toàn Hy lạp (Olympe, Delphe, Isme, Mémée…).Là một nhà thơ
có tâm hồn lớn, khêu gợi lòng tự hào và ý chí thống nhất dân tộc.
- Sapho: Khác với Pindare, thơ ca của bà không lấy đề tài thời sự bên ngoài mà nói lên
những khát vọng say sưa thuộc thế giới nội tâm. Thi hứng của bà có cái dằn vật của người đàn bà
khao khát tình yêu, người đương thời gọi thơ của bà là những vần thơ say đắm.
Vào thế kỷ IV dưới chính sách khuyến khích văn nghệ của Périclès, nền văn học nghệ
thuật của Hy Lạp đạt tới đỉnh cao. Athène không chỉ là trung tâm chính trị mà lại còn là thủ đô
văn hóa của toàn cỏi Hy Lạp. Thời kỳ này nhiều thể loại mới ra đời: Bi kịch, Hài kịch, văn
chương hùng biện, Văn chương triết học.
2 Những nguyên nhân thành tựu:
2.1. Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp phát triển khá hoàn hão. Nó đã mở ra một sự phân công
trong xã hội tạo sự cách biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Nô lệ đảm đương tất cả
mọi việc. Trí thức, quý tộc, chủ nô thoát ly lao động, có thì giờ và điều kiện để nghiên cứu triết
học, khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật.
2.2. Trước khi có văn học viết nhân dân Hy Lạp đã có một pho thần thoại phong phú, hoặc để giải
thích những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, con người, hoặc để nói lên khát vọng của những
con người Cổ đại, hay để ca ngợi thành quả lao động của những người anh hùng…
2.3. Cùng với sự phát triển của chế độ tư hữu trong thời kỳ chế độ nô lệ hình thành vai trò của cá
nhân trong xã hội cũng được đề cao, vì thế thơ ca trữ tình xuất hiện. Loại thơ ca này nhằm biểu
hiện một tình cảm thuần túy bên trong mỗi cá nhân, hoặc nói lên cảm nghĩ của nhà thơ về một đối tượng nào đó.
2.4. Người Hy Lạp hàng năm có tục tế thần Dyonisos vào mùa xuân. Quần chúng tham gia đông
đảo, hóa trang nhảy múa đủ các kiểu, dần dần phát triển thành loại hình ca kịch.
2.5. Truyền thống hùng biện đã có từ lâu ở người Hy Lạp, nay được phát triển thành loại hình văn xuôi hùng biện.
2.6. Vai trò của thần quyền ở Hy Lạp không quan trọng. Ðiều đó góp phần giải phóng trong
chừng mực nào đó sự phát triển của văn học, khoa học và triết học khỏi những ràng buộc tôn giáo
và những tư tưởng duy tâm thần bí.
11 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7
2.7. Cần chú ý rằng nền văn học Cổ đại Hy Lạp cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của các nền văn
minh lâu đời ở các quốc gia phương đông Cổ đại. Người Hy Lạp đã biết học tập tiếp thu tinh hoa
của những người đi trước và biết phát huy nhũng tinh hoa đó thành một nền văn học phong phú và đầy tính sáng tạo.
3 Ðặc điểm chủ yếu của nền văn học Cổ đại Hy Lạp:
3.1 Văn học Hy Lạp Cổ đại lấy đối tượng chủ yếu là con người, là sự thể hiện con người với tất
cả thói xấu cũng như sự tốt của nó, con người đầy đủ với những ham muốn ước mơ chứ không
phải con người một chiều, chung chung.
3.2. Văn học Hy Lạp Cổ đại còn đề cập đến những vấn đề có tính chất xã hội như vấn đề tự do
công lý, tinh thần chiến đấu chống lại số mệnh, tư tưởng anh hùng. Nhờ vậy nền văn học ấy đã
dựng nên những hình tượng thể hiện đầy đủ bản chất của nhân loại trong buổi ấu thơ.
3.3. Vì lấy con người làm đối tượng miêu tả nên văn học Hy Lạp còn giàu tính hiện thực. Những
anh hùng ca Hy Lạp dù mang nặng tính chất hoang đường vẫn là những bức tranh trung thực của
cuộc sống bấy giờ. Còn thơ ca trữ tình muôn màu muôn vẻ là những tâm tư tình cảm của người
cổ đại đang khát khao hướng tới hạnh phúc của cuộc sống thần tiên.
3.4. Nền văn học nghệ thuật Hy Lạp là một mẫu mực trong việc gắn bó chặt chẽ giửa văn học bác
học và văn học dân gian. Tất cả loại hình đều phát triển từ văn học dân gian lên như anh hùng ca
hình thành từ cơ sở những bài hát của các ca sỹ dân gian, bi hài kịch ra đời từ những cuộc vui
chơi có tính cách tôn giáo. Mác nói: Thần thoại Hy Lạp không chỉ là kho vũ khí của nghệ thuật
Hy Lạp mà còn là mảnh đất nuôi dưỡng nó nữa.
3.5. Giá trị thẩm mỹ của nền nghệ thuật Hy Lạp là thể hiện được bản chất chân thật của loài
người thời thơ ấu. Khi tiếp xúc với nền văn học đó, ta như thấy lại tuổi thơ của riêng mình và
nhận thấy rằng chúng ta đã lớn lên từ một bước dài của lịch sử nhân loại.
Khoa học tự nhiên (mở rộng giá trị ngày nay)
Thế giới Hy Lạp cổ đại còn cống hiến cho nhân loại nhiều nhà bác học mà đóng góp của
họ tới nay vẫn còn giá trị như: Ơclit (Euclide), Pitago (Pythagoras), Talét (Thales), Acsimet (Archimede), ….
Toán học, Vật lý, Thiên văn học:
Talet: Phát minh quan trọng nhất của Ông là tỷ lệ thức nhờ sáng tạo ra tỷ lệ thức mà ông có thể đo
chiều cao của Kim Tự Tháp thông qua đo bóng của chúng, Ông còn là một nhà thiên văn học vĩ
đại khi tính đúng ngày xảy ra nhật thực vào năm 585 TCN.
Pytago: tiếp thu thành tựu toán học phương Đông ông đã sáng tạo ra định lý mang tên mình về
mối quan hệ giữa 2 cạnh góc vuông và cạnh huyền trong tam giác vuông. Ông còn phân biệt các
loại số chẳn, lẻ, và số không chia hết. Về thiên văn học Ông đã nhận định được trái đất hình cầu
và chuyển động theo quỹ đạo nhất định.
Ơ clit: Tổng kết thành tựu của các nhà toán học đi trước ông tổng hợp thành sách Toán học sơ
đẳng là cơ sở của môn hình học trong đó có tiên đề Ơclit nổi tiếng.
Acsimet: Ông đã tính ra số Pi chính xác nhất trong lịch sử phương Tây (nằm giữa 3 và 3 ).
Ông tính được diện tích toàn phần và thể tích của nhiều hình khối.
Trong lĩnh vực vật lý ông có 2 phát minh quan trọng đó là về nguyên lý đòn bẩy và lực đẩy Acsimet.
Với nguyên lý đòn bẩy người ta có thể dùng một lực nhỏ để nâng một vật nặng thông qua hệ
thống đòn bẩy, điều này tạo điều kiện cho sự phát triển của xây dựng các công trình lớn, giảm hao
12 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7
phí lao động…nguyên lý này còn đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật quân sự, ông chế tạo ra máy ném đá
Để đánh quân La Mã, máy phóng gỗ để bắn thuyền quân địch, gương 6 mặt để đốt thuyền…
Lực đẩy Acsimet: mọi vật khi ở dưới nước đều chịu một lực bằng đúng trọng lượng của nó, từ
đây ông phát minh ra máy hút nước ra khỏi thuyền khi thuyền bị thủng…
Arixtac: Ông là người đầu tiên nêu ra thuyết hệ thống mặt trời, ông tính toán khá chính xác thể
tích mặt trời, mặt trăng và quả đất, tính toán khoảng cách giữa chúng…Ông cho rằng trái đất quay quanh mặt trời.
Ptolome: là một nhà Thiên văn học, toán học, địa lý thiên tài, ông đúc kết các kiến thức về thiên
văn học và soạn ra sách Tổng hợp kết cấu toán học, trong đó ông cho rằng trái đất hình cầu và
mặt trời quay xung quanh trái đất. Ông còn soạn sách Địa lý học gồm 8 chương về các vùng của
thế giới, bản đồ này được xem là chính xác nhất thời bấy giờ.
Y học: Hipocrat người cho rằng bệnh tật phải dùng thuốc và mổ xẻ để chữa bệnh, mở đường cho
y học phát triển, giải phóng y học khỏi mê tín dị đoan. Nhà giải phẫu học Hecropin đã chứng
minh rằng não là khí quan tư duy, cảm giác do hệ thần kinh truyền đạt, xem mạch để chuẩn đón
bệnh…Nhà phẫu thuật Heerraclit đã biết dùng thuốc mê khi phẫu thuật bệnh nhân.
Câu 5 : Quá trình truyền bá và phát triển Đạo Ki tô tại La Mã cổ đại?
( các bạn tự xem nhé do thời gian không còn)
Khóa học hè 2017, ngày 23 tháng 08 năm 2017 TRẦN CÔNG HẬN
13 | T r ầ n C ô n g H ậ n D u l ị c h K 0 7