



















Preview text:
Nội dung ôn tập lịch sử đảng ●Không thi chương I
CÂU 1: Vì sao nói sau CMT8, Việt Nam trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc? (RẤT HAY THI)
BỔ SUNG TRONG GIÁO TRÌNH TRANG 127
Bởi vì các lý do sau: các nước đế quốc và các thế lực phản động trong nước cấu kết với nhau và
chống phá cách mạng; lũ lụt và hạn hán làm cho nông nghiệp đình đốn, một nửa số ruộng không thể
cày cấy được; tài chính cạn kiệt, ngân khố trống rỗng; hơn 90% đồng bào ta không biết chữ.
Cụ thể, “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền khó hơn” là tổng kết thiên tài của Lênin -
là sự phát hiện một nguyên lý phổ quát. Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt
Nam rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Ngoại chiến và nội phản - Miền Bắc (từ cự tuyến 16 trở
ra): 20 vạn quân Trung Hòa Dân quốc kéo vào nước ta theo sau là các phái phái tay sai như: Việt Nam
Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng chí hội (Việt Cách) lại giành lại chính quyền. -
Miền Nam (từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam): Quân Anh kéo vào, leo đường cho Pháp trở lại chiến lược
nước ta. Lợi dụng tình hình, bọn phản động bắt đầu dậy làm sai cho Pháp chống phá cách mạng. -
Trên cả nước còn 6 vạn quân Nhật chờ giải giáp, theo lệnh Anh chống cách mạng. Đối nội, Trong
nước, Chính phủ lâm thời vừa thành lập do Hồ Chủ tịch đứng đầu còn non trẻ, những thành phần phản
cách mạng lại ra sức chống phá chính quyền non trẻ. Chính quyền cách mạng vừa thành lập, chưa được
củng cố, lực lượng vũ trang non yếu. Cả thù trong giặc ngoài đều phải đối phó.
Trong khi đó, ta vừa trải qua cuộc chiến kéo dài, tổn thất, thiệt hại rất lớn về kinh tế - xã hội.
Ngân sách trống rỗng, mất mùa, đói kém, các tệ nạn xã hội tràn lan. Cơn đói cuối cùng 1944 đầu 1945
chưa được giải quyết; cúm lớn làm đê đê 9 tỉnh Bắc Bộ; Cơ sở công nghiệp chưa phục hồi, hàng hóa
khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân nhiều khó khăn. Ngân sách Nhà nước trống rỗng, tiền
mất giá của Trung Hoa Dân Quốc tung ra thị trường, làm tài chính rối loạn nước. Tàn dư văn hóa hậu
kỳ của chế độ thực dân, phong kiến để lại hết sức nặng nền, hơn 90% dân số không biết chữ.
=> Đất nước rơi vào tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”.
Thế nhưng, chính phủ lâm thời tuy mới thành lập cũng đã tỏ rõ sự khéo léo của mình trong việc
giải quyết các thách thức lớn. Ngày 6/1/1946, ta tiến hành Tổng tuyển cử trên cả nước, bầu ra Quốc hội
và lập Hiến pháp, phá đi âm mưu chia rẽ và lật đổ của kẻ thù. Tiếp đến, ta chống lại “giặc đói” và “giặc
dốt”. Quyên góp tiền, thức ăn, gạo, lập “Hũ gạo cứu đói”, phát động “Tuần lễ vàng”, gia tăng sản
xuất… Toàn dân chung tay chia sẻ, đùm bọc nhau vượt qua khó khăn. Chính phủ ký sắc lệnh “Bình
dân học vụ”, mở các lớp phổ cập giáo dục cấp tốc cho mọi người, đẩy lùi nạn dốt.
Với giặc ngoại xâm, ta chủ trương hòa với Tưởng để tập trung chống Pháp ở miền Nam,
nhường cho chúng một số quyền lợi kinh tế, chính trị. Đến ngày 6/3/1946, ta kí với Pháp Hiệp định sơ
bộ, chuyển sang hòa với Pháp để đuổi Tưởng về nước. Đến ngày 14/9, ta kí Tạm ước với Pháp,
nhường tiếp một số quyền lợi để tập trung nguồn lực chuẩn bị kháng chiến chống Pháp lâu dài. Nhờ
vậy mới có thể tránh được cả thù trong lẫn giặc ngoài.
Khó khăn là vậy, nhưng sau CMT8 vẫn có một số điểm thuận lợi đối với Việt Nam từ trong
nước lẫn quốc tế. Sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, cục diện thế giới và khu vực có những sự thay đổi có
lợi cho cách mạng Việt Nam: Liên Xô trở thành thành trì của CNXH; nhiều nước ở Đông, Trung Âu
chọn con đường phát triển theo CNXH; các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa châu
Á, Phi, Mỹ Latinh dâng cao. Nhân dân VN từ thân phận nô lệ, bị áp bức trở thành chủ nhân của của
chế độ dân chủ mới. Nước ta hình thành hệ thống chính quyền cách mạng với bộ máy thống nhất từ
Trung ương đến cơ sở. Quân đội quốc gia, lực lượng công an và hệ thống luật pháp của chính quyền
cách mạng cũng được khẩn trương xây dựng và phát huy vai trò đối với việc bảo vệ đất nước, xây dựng chế độ mới.
Có thể nói, những thách thức sau CMT8 thật sự vô cùng khó khăn đối với một chính phủ mới,
còn non trẻ của chúng ta. Thế nhưng, bằng đường lối lãnh đạo khéo léo, đúng đắn, cùng sự đoàn kết
toàn dân, chúng ta đã vượt qua được tất cả và tiếp tục giữ vững nền độc lập tự do cho dân tộc.
Câu 2: Trình bày và phân tích tư tưởng chiến lược tiến công trong giai đoạn 1959-64
BỔ SUNG GIÁO TRÌNH TRANG 180-182, 185, 186, 188, 189
Trong giai đoạn 1959-1964, để phù hợp với tình hình đất nước, vừa phù hợp với xu thế chung
của thời đại, yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng ta là phải đề ra được đường lối đúng đắn, hợp lí. Trải
qua nhiều lần nhóm họp tại các Hội nghị, Tháng 1-1959 tại Hội nghị Trung ương lần thứ 15, Ban Chấp
hành Trung ương đã ra nghị quyết về cách mạng miền Nam. Trung ương Đảng nhận định: "Hiện nay,
cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm vụ chiến lược đó
tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau... nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa
bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ
nghĩa xã hội". Nghị quyết xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam là bạo lực cách
mạng thay vì chỉ đấu tranh dân chủ và chính trị như trước đó, chuyển từ giữ gìn lực lượng sáng thế tiến
công. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã mở đường
cho cách mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta
trong những năm tháng khó khăn của cách mạng.
Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi đã giành
được, là xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà. Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã
hội một mặt là vì mục đích nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân miền Bắc; mặt khác là tích
cực gánh vác phần trách nhiệm đối với phong trào cách mạng của cả nước. Kinh tế, văn hoá miền Bắc
ngày càng phát triển, đời sống nhân dân miền Bắc ngày càng được cải thiện, lực lượng quốc phòng của
miền Bắc ngày càng được vững mạnh thì sẽ tăng thêm sức mạnh của cách mạng và uy thế chính trị của
nhân dân ta, tăng thêm tin tưởng và tính tích cực cách mạng của đồng bào miền Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ.
Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở
miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà. Cách mạng ở miền Nam hiện nay đang tiếp tục phát huy
ý chí quật cường, truyền thống bất khuất của cả dân tộc Việt Nam. Phong trào yêu nước của nhân dân
miền Nam càng được giữ vững và phát triển thì một mặt càng tăng cường lực lượng cách mạng để
đánh bại chính sách nô dịch, gây chiến và chia cắt của Mỹ - Diệm, đi đến đánh đổ sự thống trị tàn khốc
của chúng, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ.
Muốn thống nhất nước nhà cần phải xây dựng củng cố và phát triển lực lượng để hoàn thành nhiệm vụ
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước dựa trên cơ sở miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội,
đồng thời giữ vững và đẩy mạnh phong trào cách mạng ở miền Nam. Quá trình hoàn thành nhiệm vụ
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước là quá trình tích cực phát huy tính hơn hẳn của chế
độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời cũng là quá trình tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước,
tiến bộ ở miền Nam để đấu tranh chống Mỹ - Diệm, tiến lên làm thất bại các chính sách của đế quốc
Mỹ, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tạo điều kiện thuận lợi nhất để hoà bình thống nhất nước nhà.
Câu 3: Phân tích vai trò của nghị quyết Trung ương 15 năm 1959? (Phải trình bày thêm nhận thứ
và tư tưởng, cùng với đường lối của đảng ta trước đó ở tgian từ năm 54-59, Bộ chính trị 54, nghị
quyết gì đó - nghị quyết cởi trói cho cách mạng việt nam phát triển, với sự thắng lợi sau đó là phon
trào đồng khởi với sự ra đời của mặt trận dân tộc giải phóng miền nam việt nam) GIÁO TRÌNH 191, 192
Trước tình hình phức tạp của xã hội miền Nam dưới chế độ Mỹ-Diệm, Nghị quyết Hội nghị lần
thứ mười lăm của Đảng (01/1959) đã vạch rõ: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là “giải
phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày
có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam
hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Con đường phát triển cơ bản của cách mạng
miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Đó là con đường lấy sức mạnh của quần
chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang
để đánh đổ chính quyền thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc,
dân chủ ở miền Nam. Hội nghị nhận định “đế quốc Mỹ là đế quốc hiếu chiến nhất, cho nên trong
những điều kiện nào đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc
đấu tranh vũ trang trường kỳ... và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta”. Nghị quyết nêu rõ cần tăng
cường công tác mặt trận để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố, xây dựng Đảng bộ miền Nam
vững mạnh đủ sức lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi.
Sự ra đời của Nghị quyết 15 có ý nghĩa vô cùng to lớn, đáp ứng đúng yêu cầu của lịch sử, mở
đường cho cách mạng miền Nam tiến lên. Nghị quyết 15 chính là ngọn lửa châm ngòi cho phong trào
“Đồng khởi” trên quy mô lớn tại các tỉnh Nam Bộ và Khu V nhất tề đứng lên. Tiêu biểu như cuộc khởi
nghĩa ở Bắc Ái (2/1959), Trà Bồng (8/1959), Tua Hai (1/1960), đặc biệt là phong trào nổi dậy ở tỉnh
Bến Tre. Phong trào “Đồng khởi” như tức nước vỡ bờ lan nhanh ra khắp Nam Bộ, Tây Nguyên và
Trung Trung Bộ. Đến cuối năm 1960, về cơ bản cách mạng đã làm tan rã trên 2/3 bộ máy chính quyền
địch ở nông thôn, “làm chủ được 600 trong tổng số 1298 xã, trong đó có 116 xã được hoàn toàn giải
phóng. Ở các tỉnh đồng bằng ven biển Trung Bộ, có 904 trong tổng số 3829 thôn được giải phóng. Tây
Nguyên có tới 3200 trong tổng số 5721 thôn không còn chính quyền ngụy”. Dưới sự chỉ đạo kịp thời,
sáng suốt của Đảng cùng với thắng lợi của phong trào “Đồng khởi” đã tạo điều kiện thuận lợi cho các
lực lượng cách mạng phát triển nhanh chóng. Công tác xây dựng đảng, phát triển đảng viên được đẩy
mạnh. Hàng nghìn chi bộ được khôi phục, phát triển ở tất cả các đảng bộ miền Tây, miền Trung và
miền Đông Nam Bộ. Số lượng đảng viên tăng nhanh từ 7.641 đảng viên (cuối năm 1959) đã tăng lên
12.946 đảng viên (cuối năm 1960). Sự khôi phục nhanh chóng của các tổ chức cơ sở đảng đã tạo
chuyển biến mạnh mẽ và động lực quan trọng cho các lực lượng chính trị, vũ trang miền Nam phát
triển. “Ở miền Đông Nam Bộ, đã xây dựng được 40 trung đội tập trung và 60 đội tự vệ vũ trang; miền
Trung Nam Bộ có 36 trung đội và 68 đội tự vệ xã; miền Tây Nam Bộ xây dựng được 37 trung đội và
150 đội tự vệ xã”. Có thể thấy, phong trào “Đồng khởi” đã giáng đòn chí tử vào chế độ Mỹ-Diệm, đẩy
chúng rơi vào tình thế bị động lúng túng, buộc phải thay đổi chiến lược đối phó với cách mạng miền
Nam. Phong trào “Đồng khởi” thắng lợi đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam
từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Từ trong khí thế đó, ngày 20/12/1960, Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam ra đời, góp phần quy tụ, phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân đấu
tranh giành độc lập dân tộc.
Câu 4: Phân tích mối quan hệ giữa đấu tranh chính trị, ngoại giao và quân sự trong kháng chiến chống Mỹ?
Ngay từ đầu, Đảng ta đã đề ra khẩu hiệu phối hợp ba mặt trận quân sự-chính trị-ngoại giao để
chống Mỹ, cứu nước. Thông thường trong chiến tranh, ngoại giao chỉ có mặt khi kết thúc chiến tranh
để đi đến ký một hiệp định ghi lại mức thắng bại của mỗi bên. Trái lại, trong kháng chiến (KC) chống
Mỹ, cứu nước, ngoại giao của chúng ta có mặt từ đầu đến cuối, luôn luôn có vai trò, vị trí, nhiệm vụ
nặng nề. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa III), tháng Giêng 1967
về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước
của nhân dân ta, đã khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và
đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh...”.
Nghị quyết Bộ Chính trị tháng Tư 1969 ghi rõ: “Ngoại giao đã trở thành một mặt trận quan
trọng, có ý nghĩa chiến lược.” Ngoại giao tự nó phải tăng cường và xây dựng lực lượng, vừa phát huy
thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị trên chiến trường. Trên chiến trường, ta đánh thắng được keo
nào thì ngoại giao phải phát huy, khuếch trương trên thế giới, đồng thời phải phục vụ và phối hợp với
đấu tranh quân sự, chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa cuộc chiến đấu đến thắng lợi.
Trong toàn bộ cuộc KC chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao có hai nhiệm vụ lớn. Nhiệm vụ thứ
nhất là tăng cường hậu phương quốc tế của ta và làm suy yếu hậu phương của địch. Đối với hậu
phương quốc tế của ta, ngoại giao có nhiệm vụ thực hiện khẩu hiệu của Đảng đề ra là thêm bạn bớt thù,
tranh thủ từ bạn gần đến bạn xa, từ những đồng minh chiến lược đến những người chỉ đồng tình với ta
một điểm nào đó. Như trên đã nêu, chúng ta chống đế quốc Mỹ là nhằm mục tiêu chung của loài người,
của thời đại, từ mục tiêu cao là chủ nghĩa xã hội, cho đến mục tiêu thấp là hòa bình, độc lập dân tộc. Ai
đồng tình với ta trên cơ sở chiến lược là đi tới chủ nghĩa xã hội đều là bạn của ta. Ai chỉ đồng tình với
ta dù chỉ là trên cơ sở chủ nghĩa nhân đạo, ta cũng coi là bạn. Ta kết bạn với mọi người từ mức thấp tới
mức cao, theo đúng phương châm thêm bạn bớt thù của Bác Hồ.
Nhiệm vụ thứ hai của ngoại giao là giải quyết vấn đề ta thắng địch thua. Lãnh đạo ta nhìn vấn
đề với đầu óc rất sáng suốt và thực tế. Với một địch thủ lớn mạnh hơn hẳn như Mỹ, cuộc đấu tranh của
ta chống Mỹ không thể chỉ khi nào ta buộc đối phương phải quy hàng mới kết thúc. Phải có khái niệm
thật rõ thế nào là ta thắng, thế nào là địch thua thì mới xác định được giải pháp. Ta thắng tức là khi nào
ta bảo vệ được độc lập tự do, giải phóng được đất nước của ta. Mỹ thua tức là Mỹ phải rút hết quân,
chấm dứt xâm lược, phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam.
Chính với tinh thần như vậy nên lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nếu Mỹ mà chịu
nhận rút thì chúng tôi trải thảm đỏ cho mà rút. Ngoại giao phải làm sao đạt được thực chất vấn đề như
vậy. Để thắng một kẻ thù cỡ lớn như thế mà ta lại là một nước nhỏ thì phải có ngoại giao đóng góp vào
đó, thực hiện phương châm thắng từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Phải có ngoại giao để
giải quyết vấn đề ta thắng địch thua.
Tạo lập một Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam làm nền tảng vững chắc về chính trị và
tinh thần cho cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của ta
Trước một kẻ thù giàu mạnh như vậy, trong một bầu không khí sợ Mỹ phổ biến trên thế giới như
vậy, điều tối cần thiết đối với ta là phải tạo lập được một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam
đánh Mỹ để tập hợp dư luận và cô lập Mỹ về chính trị và tinh thần.
Nhằm mục đích đó, việc tuyên truyền vận động quốc tế của ta trong thời gian đầu hướng vào
bốn nội dung: thứ nhất là nêu cao chính nghĩa của Việt Nam, thứ hai là nêu cao quyết tâm giành độc
lập của Việt Nam, thứ ba là nêu cao thiện chí hòa bình của Việt Nam, thứ tư là tố cáo tội ác chiến tranh
và vạch trần tính chất phi nghĩa của xâm lược Mỹ.
Trong thời gian Mỹ leo thang chiến tranh, chiến sự còn ở thế giằng co quyết liệt, nhiệm vụ
ngoại giao chủ yếu vẫn là tăng cường hậu phương quốc tế của ta, làm suy yếu rối loạn hậu phương quốc tế của địch.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Ban Chấp hành Trung ương (tháng Mười hai 1965) của
Đảng nhận định lúc đó “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp về Việt Nam”, song đã tính đến
lúc nào đó sẽ đi vào vừa đánh vừa nói chuyện, lấy đàm để hỗ trợ cho đánh, lấy đánh để ép địch đàm
phán nhằm chuyển biến so sánh lực lượng. Ngay từ những năm 1965-1967, ta chưa tính đến đàm phán
nhưng đã chuẩn bị việc này. Rút kinh nghiệm của Hiệp định Genève 1954, ta làm cho các nước hiểu và
đồng tình với ta: vấn đề Việt Nam phải do nhân dân Việt Nam giải quyết trực tiếp với Mỹ.
Thời gian này, hoạt động dùng trung gian “tiến công hòa bình” của Mỹ rất sôi nổi. Trong một cuộc họp
ở Nhà Trắng, Johnson nói: “Cuộc chiến tranh này giống như một trận đấu ăn giải. Tay phải của ta nắm
lực lượng quân sự, song tay trái cần có các đề nghị hòa bình. Mỗi khi đưa quân đội lên phía trước thì
cũng phải đưa các nhà ngoại giao lên phía trước. Các tướng lĩnh muốn tôi đưa ra nhiều nhiều hơn nữa.
Họ muốn tiến xa hơn. Song Bộ Ngoại giao cũng phải cung cấp cho tôi thêm cái gì nữa.” Có tới hàng
chục nước đủ các loại: các nước Không liên kết, châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh, rồi Nhật Bản, Bắc Mỹ,
đến các nhân vật như Tổng thư ký Liên hợp quốc U Thant, Giáo hoàng, các trí thức, nhà báo có tên
tuổi,... làm trung gian cho Mỹ. Thông thường, dùng trung gian chỉ là một phương thức có tính chất quá
độ để mở đường cho đàm phán trực tiếp giữa hai bên đối địch trong một cuộc tranh chấp. Nhưng với
Mỹ, việc dùng trung gian đã được xem như một thủ đoạn nhằm những mục đích khác như: thu thập tin
tức về ý đồ chiến lược hoặc về lập trường đàm phán cụ thể đối phương, tung ra những tin thất thiệt làm
cho đối phương chập chững, mơ hồ về ý đồ của Mỹ; bắn tin tức thúc ép, đe dọa hoặc ve vãn dụ dỗ; xoa
dịu phản ứng quốc tế đối với Mỹ và chuyển sức ép sang đối phương; gây hiểu lầm chia rẽ giữa đối
phương với bạn bè của họ.
Để thực hiện những mục đích khác nhau này, Mỹ đã dùng đủ các loại trung gian. Trước năm
1967, Mỹ dùng thủ đoạn này khá nhiều. Làm trung gian cho Mỹ không những là các nước đồng minh
của Mỹ và các nước thế giới thứ ba mà còn cả nước xã hội chủ nghĩa nữa; không những là nhân vật
trong chính giới các nước mà cả những nhân sĩ, trí thức, v.v.. Mỹ không những dùng trung gian rất
mạnh trong thời gian chưa có cuộc đàm phán Paris, mà cả khi đã tiếp xúc với ta rồi họ vẫn tiếp tục
dùng trung gian. Thủ đoạn này thâm độc ở chỗ các nước trung gian khi nhận đề nghị của Mỹ đã phải
đồng tình hoặc đồng tình một nửa với ý kiến của Mỹ. Nếu họ truyền đạt ý kiến đó cho ta mà ta bác đi,
như vậy có nghĩa là ta bác cả Mỹ lẫn nước trung gian, và mặc nhiên Mỹ tranh thủ được nước đó, chia rẽ được họ với ta.
Thời gian 1965-1966 và dai dẳng tới cuối năm 1967 đầu 1968, Mỹ chủ yếu dùng loại “trung
gian thân tín” – các nước châu Âu và đồng minh của Mỹ - vừa để gây sức ép bên ngoài với ta vừa để
thu thập tình báo chính trị, đánh giá tình hình tại chỗ, giúp cho Mỹ tài liệu nhận tin tổng hợp về khả
năng và ý chí của ta. Mỹ còn thông qua Liên Xô dùng “mồi kinh tế” lôi kéo được bốn nước Đông Âu
làm trung gian. Khác với việc dùng các nước phương Tây làm trung gian, Mỹ dùng các nước xã hội
chủ nghĩa làm trung gian với mục đích phân hóa mặt trận đoàn kết xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam,
gây sức ép từ bên trong phe xã hội chủ nghĩa đối với ta hòng tác động đến ý chí của ta và giảm viện trợ cho ta.
Còn ta kiên trì giải thích cho những nước định làm trung gian hiểu âm mưu, ý đồ, tội ác của Mỹ, tại sao
ta chưa đàm phán. Ta cảm ơn họ ủng hộ Việt Nam, và cho họ biết đến lúc chín muồi ta sẽ trực tiếp đàm
phán với Mỹ. Bằng cách đó, ta không còn phải lo vừa đối phó với Mỹ, vừa phải giải thích cho bạn mà
bạn vẫn hiểu ta, tránh được âm mưu chia rẽ, lừa bịp của Mỹ, tăng cường hậu phương ta và chuẩn bị cho đàm phán sau này.
Mối quan hệ giữa đường lối KC và xây dựng chế độ mới (1945-1954)
Phương châm tiến hành KC: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện KC toàn dân, toàn diện,
lâu dài, dựa vào sức mình là chính.Đảng ta áp dụng phương châm này không chỉ trong công cuộc KC
chống giặc mà còn trong cả giai đoạn xây dựng chế độ mới, là xây dựng căn cứ địa cho Cách mạng.
Chính vì vậy mà giữa đường lối KC và việc xây dựng chế độ mới có mối quan hệ song song và chặt chẽ.
Đầu tiên, về đường lối KC chống Pháp, mục đích KC là kế tục và phát triển sự nghiệp Cách
mạng Tháng Tám, "Đánh thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập". Cuộc KC của dân tộc
ta là một cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính chất toàn dân,
toàn diện và lâu dài. Nó là một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình.
Xuất phát từ lòng tin vào sức mạnh của nhân dân - có dân là có tất cả, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn
mạnh, phải dựa vào dân, khơi nguồn sức mạnh, sức sáng tạo của nhân dân. Người giải thích, toàn dân
KC chính là: "Bất kì đàn ông đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người
trẻ. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi người dân là một
chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, toàn thể nhân dân
chính là nguồn lực chính để thay đổi đất nước, tất cả mọi người cùng nhau góp sức. Bất kì người dân,
không phân biệt văn hóa, vùng miền, tôn giáo , tuổi tác…đều có thể đóng góp công sức làm nên sức
mạnh tập thể đất nước, thay đổi bộ mặt nước nhà.
Về đường lối KC toàn diện là đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại
giao. Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể
nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình. Về quân sự: Thực hiện
vũ trang toàn dân, tiêu diệt địch… Về kinh tế: xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển
nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng.Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa
thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hóa dân chủ mới.Về ngoại giao: thêm bạn bớt thù , biểu dương
thực lực. Trong công cuộc xây dựng chế độ mới, Đảng ta chủ trương xây dựng toàn diện, mọi mặt. Đó
là sự thay đổi và xây dựng trên mọi bình diện và lĩnh vực đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự,
ngoại giao…Chỉ có sự tập trung xây dựng toàn diện, đồng đều mới đưa đất nước tiến lên chế độ mới
với sự phát triển nhanh chóng và hợp lý.
Việc thực hiện đường lối KC lâu dài để chống âm đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp; để
chuyển hóa tương quan lực lượng đánh thắng địch; để củng cố hậu phương vững chắc. Điều này càng
được áp dụng vào trong công cuộc xây dựng chế độ mới. Toàn dân ra sức xây dựng chế độ dân chủ
nhân dân với tâm thế kỹ lưỡng, cẩn thận và đúng đắn nên không thể hoàn thành trong thời gian ngắn
mà phải tiến hành lâu dài, có đường lối xây dựng cụ thể.
Phương châm dựa vào sức mình là chính có nghĩa là: “Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt". Nhân
dân ta phải đồng sức đồng lòng thi đua sản xuất, huy động hết sức người, sức của để xây dựng cơ sở
vững chắc cho nền công nghiệp, nông nghiệp. Chỉ có lao động mới tạo ra của cải vật chất. Vì ta bị bao
vây bốn phía, chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh, KC dựa vào ý chí và sức mạnh
nước nhà. Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại.
Câu 5: Vì sao trong thời kỳ đổi mới, VN gắn liền với CNH-HĐH và bảo vệ môi trường?
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ô nhiễm nguồn nước, không khí đang lan rộng
không chỉ ở các KCN, khu đô thị, mà ở cả những vùng nông thôn; đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm;
biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra triều cường và những hậu quả khôn lường. Đây chính là kết quả
của quá trình Công nghiệp hóa nhanh ở nước ta. Trước tình hình đó, ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị có
Nghị quyết 41- NQ/TW "Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất
nước” đã khẳng định bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền
vững trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH). Năm 2005, Quốc hội đã thông
qua Luật bảo vệ môi trường.
Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, nội dung bảo vệ môi trường (BVMT) được nâng lên một tầm cao mới,
gắn chặt với quá trình CNH-HĐH: ''Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình dự án đầu tư''. Một điểm mới so với Đại hội X là đưa
thêm nội dung ''chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; từng bước phát triển năng
lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch”.
Việc CNH-HĐH các ngành công nghiệp nặng gây ra những ảnh hưởng không thể bỏ qua với môi
trường. Việc các làng nghề sản xuất tự phát, sử dụng công nghệ lạc hậu nên phần lớn đều gây ô nhiễm môi
trường. CNH-HĐH sẽ kéo theo đô thị hóa, đây thực sự là sức ép lớn về môi trường trong quản lý đô thị.
Song song với quá trình CNH-HĐH, chúng ta đang phải chịu những áp lực về thay đổi cấu trúc và mô hình
phát triển do sự cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường ngày càng lộ rõ. Do đó, các mối quan tâm về môi
trường cần được lồng ghép ngay từ quá trình ra các quyết định về phát triển kinh tế và xã hội.
Có nghĩa là, cần cụ thể hóa nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với môi
trường, tiếp cận mô hình tăng trưởng xanh đã được đề cập trong văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ XI.
Trong đó, Nhà nước cần dành sự quan tâm đặc biệt để xây dựng năng lực nội sinh nhằm sử dụng và phát
triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng...; vì đây là động lực chủ yếu để thúc đẩy
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng phát triển bền vững. Nhà nước cũng cần sử dụng
công cụ tài chính nhằm khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn,
sử dụng công nghệ sạch; sản xuất và sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, các sản phẩm và bao bì
không gây hại hoặc ít gây hại đến môi trường; tái chế và sử dụng các sản phẩm tái chế.
(Thực tiễn phát triển nước ta trong những năm gần đây khẳng định, chúng ta có đủ năng lực, điều kiện để
chuyển đổi thành công sang mô hình phát triển bền vững. Kinh nghiệm phát triển lĩnh vực công nghệ thông
tin, viễn thông, cơ khí tự động hóa, công nghệ vật liệu cũng như việc chế tạo thành công các sản phẩm
nano, những thành tựu trong công nghệ sinh học, cùng với năng lực sáng tạo trong toán học, vật lý học, hóa
học... cho thấy nếu có đủ quyết tâm và cách sáng tạo, phù hợp, chúng ta sẽ nhanh chóng bước vào quỹ đạo
phát triển hiện đại mà 21 quốc gia thành viên APEC, trong đó có Việt Nam đã cam kết tại Hội nghị Thượng
đỉnh tại Tokyo tháng 11- 2010, về thực hiện một mô hình tăng trưởng mới, đảm bảo 5 yêu cầu: i) Tăng
trưởng cân bằng; ii) Tăng trưởng an toàn; iii) Tăng trưởng bền vững; iv) Tăng trưởng dựa vào trí tuệ; v)
Tăng trưởng với lợi ích được chia sẻ công bằng cho tất cả mọi người. Đây phải trở thành điểm xuyên suốt
quá trình CNH-HĐH nước ta.)
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững là biện pháp hữu hiệu nhất có khả năng phòng ngừa
và hạn chế tối đa các tác động xấu đối với môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH. Những yếu
kém, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường trong thời gian qua chủ yếu là do các cấp các ngành
thường nặng về quan tâm tới các chi tiêu tăng trưởng kinh tế, chưa đảm bảo hài hòa, cân bằng trong phát
triển kinh tế với bảo vệ môi trường.
Trước hết, tất cả các dự án đầu tư phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường, được Bộ hoặc Sở
Tài nguyên - Môi trường thẩm định trước khi được phê duyệt. Đồng thời, tăng cường việc kiểm soát ô
nhiễm tại nguồn; chú trọng quản lý chất thải, nhất là các chất thải trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp,
dịch vụ y tế. Và cần có sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng và toàn xã hội về nhận thức và hành
động, trong chỉ đạo điều hành và đặc biệt trong tổ chức triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, gắn với phát triển KTTT.
Câu 7: Quan điểm của Đảng về sự quan trọng của văn hóa với sự phát triển bền vững
Về vai trò của văn hóa (VH) đối với sự phát triển bền vững, Đảng ta xác định: VH là nền tảng tinh
thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Quan điểm này được thể hiện qua
những nội dung cơ bản sau đây:
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.
Quan điểm này một lần nữa khẳng định vai trò của VH trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân
tộc, xây dựng và phát triển nền VH dân tộc là chăm lo nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh
thần tiến bộ và lành mạnh thì không có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Các giá trị VH tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người
và cả dân tộc. Các giá trị VH được nối tiếp, trao truyền và phát huy qua các thế hệ người Việt Nam, đó là
tất yếu của dòng chảy lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và hướng đến tương lai, tương lai của những giá trị
phổ quát Chân - Thiện - Mỹ. Vì vậy, chúng ta làm cho VH thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
để các giá trị VH trở thành nền tảng tinh thần bền vững của xã hội.
Để phát triển VH thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, chúng ta cần phải mở
rộng giao lưu quốc tế và khu vực, tiếp thụ có chọn lọc cái hay, cái tiến bộ trong tinh hoa VH các dân tộc
khác để làm giàu thêm cho nền VH dân tộc, tạo nên bản sắc VH dân tộc trong thời kỳ CNH-HĐH, hội nhập
kinh tế quốc tế, làm cho VH Việt Nam bắt kịp sự phát triển của VH nhân loại trong thời đại ngày nay và
chống lại cái đã trở nên lạc hậu, lỗi thời, xa lạ với VH. Đảng ta coi VH là nền tảng tinh thần của xã hội,
nghĩa là đề cao, coi trọng nguồn lực VH của sự phát triển bền vững đất nước. Hệ thống di sản VH, các giá
trị VH là “tài sản” vô giá, vô tận cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đó còn là cơ sở tinh thần cho sự ổn định
xã hội và sự bền vững của chế độ ta.
Hai là, VH là mục tiêu của phát triển bền vững đất nước.
Mục tiêu tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là xây dựng một xã hội “Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đây cũng chính là mục tiêu của VH, nếu hiểu theo nghĩa
rộng nhất của VH. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 xác định: Mục tiêu và động lực
chính của sự phát triển là vì con người, do con người. Đồng thời nêu rõ yêu cầu “tăng trưởng kinh tế phải
gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển VH, bảo vệ môi trường”, ngày nay không thể phát triển
bằng mọi giá, nhất là chạy theo lợi nhuận tối đa, vì lợi ích hôm nay mà làm tổn hại đến tương lai.
Từ đổi mới đến nay, Đảng ta nhất quán tạo lập nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
đó phải là nền kinh tế giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội, giữa kinh tế với
tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo bền vững về môi trường sinh thoái, tạo cơ sở nền tảng vật chất cho chủ
nghĩa xã hội. Để đạt được điều đó phải cần đến VH, sự tham gia của VH vào trong tổ chức và hoạt động
của nền kinh tế vì mục tiêu phát triển xã hội, phát triển con người, đó chính là vai trò của VH trong kinh tế, kinh tế trong VH.
VH với tư cách là đời sống tinh thần xã hội, một mục tiêu đặc biệt quan trọng, vì nó là nhu cầu
phong phú, vô cùng, vô tận, tinh tế của con người, nhu cầu tinh thần còn là nhu cầu nhân văn và là cứu
cánh của con người, VH ấy vừa đáp ứng nhu cầu của con người, xã hội tiến bộ, vừa thúc đẩy con người đạt
được niềm tin, sự khát vọng hạnh phúc.
Ba là, văn hóa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước.
Thực tế cho thấy, không ít những quốc gia, dân tộc không giàu về tài nguyên thiên nhiên, thậm chí
còn nghèo nàn và hạn hẹp nhưng lại giàu về kinh tế, kinh tế phát triển, xã hội tiến bộ chính là nhờ coi trọng
yếu tố VH, con người, thông qua việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài mở đường cho sự phát triển.
Như vậy, nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một đất nước thấm sâu trong VH, con người. Sự
phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới, cái tốt, cái tiến bộ nhưng không thể tách rời, bỏ qua cội
nguồn, phát triển phải dựa trên cội nguồn, cội nguồn đó của mỗi dân tộc là VH. kinh nghiệm qua hơn 30
năm sự nghiệp đổi mới ở nước ta đã chứng minh rằng, ngay bản thân sự phát triển kinh tế cũng không chỉ
do các nhân tố thuần túy kinh tế tạo ra, mà động lực của sự đổi mới kinh tế đó một phần quan trọng nằm trong VH.
Trong điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động và làm thay đổi quan niệm về
phát triển kinh tế, phát triển bền vững, phát triển không đơn thuần chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên, tài
nguyên thiên nhiên, mặt dù yếu tố này phong phú, đa dạng nhưng đều có hạn và có thể bị khai thác cạn
kiệt, mà dần dần chuyển sang yếu tố quyết định cho sự phát triển chính là trí tuệ, tri thức, thông tin, là sáng
tạo và đổi mới không ngừng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa
dạng của cá nhân và xã hội, đó tức là VH, vai trò của VH trong phát triển, chỉ có sự tham gia của VH mới
đưa đến sự phát triển bền vững.
Ngày nay, nguồn lực con người, là tiềm năng sáng tạo của con người. Tiềm năng sáng tạo này nằm
trong VH, trí tuệ, tâm hồn, đạo đức, nhân cách của mỗi cá nhân và cộng đồng. Chỉ có nguồn lực này là vô
hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh, không bao giờ cạn kiệt, các nguồn lực khác sẽ không được sử dụng có
hiệu quả nếu không có những con người đủ trí tuệ và năng lực khai thác chúng, thì các nguồn lực đó dù có
phong phú, đa dạng, thì cũng không thể tham gia và phát huy tác dụng vào trong phát triển.
Câu 8: So sánh đường lối CN hoá của Đảng thời kỳ trước đổi mới và trong thời kì đổi mới (chún
không có khái niệm sau đổi mới)
Đảng ta luôn luôn khẳng định công nghiệp hóa (CNH) đối với nước ta là một tất yếu, khách
quan. Bởi vì, CNH là vấn đề không mới, mà các nước tư bản chủ nghĩa đã thực hiện từ lâu, CNH còn
được đề cập trong chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Điểm xuất phát của nước ta thấp do đi lên từ nền kinh tế
nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) không trải qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa nên cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất của xã hội thiếu thốn và thấp kém, năng suất lao động thấp,
đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu, công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc nhiều khó khăn…
Ngay từ đầu quá trình CNH, Đảng ta đã xác định CNH xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm
trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ❖Giống nhau:
●Về điểm giống qua báo cáo của Bộ Chính trị:
○Một là, trước đây cũng như hiện nay Đảng ta đều quan niệm CNH là nhiệm vụ trung tâm
của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
○Hai là, CNH đều nhằm chuyển đổi một cách căn bản nền sản xuất xã hội từ lao động thủ
công là chủ yếu sang lao động dùng máy móc, phương tiện kỹ thuật là phổ biến, xây dựng
cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở đó, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
○Ba là, từng bước hình thành quan hệ sản xuất mới tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, thể hiện ngày càng đầy đủ bản chất ưu việt của chế độ
mới, tạo ra hạ tầng cơ sở vững chắc cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Bốn là, tiến hành CNH
trước đây và hiện nay đều phải được thực hiện theo hướng hiện đại hoá (HDH) tuy có sự
khác nhau về mức độ. Do sự phát triển rất nhanh chóng của khoa học và công nghệ trong
những thập kỷ gần đây, khái niệm HĐH luôn luôn được bổ sung những nội dung mới với
phạm vi bao quát nhiều mặt, từ sản xuất, kinh doanh đến dịch vụ, quản lý... Những tiến bộ
khoa học – công nghệ được coi là hiện đại cách đây vài thập kỷ thì nhiều cái nay đã trở nên
bình thường, cần được bổ sung, thậm chí lạc hậu, cần được thay thế. Khái niệm HĐH mà
chúng ta đề cập trong Nghị quyết Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII và Nghị quyết
Hội nghị Trung ương lần này được hiểu theo ý nghĩa đó.
●Ngoài ra, còn có một số điểm giống như sau:
○Thứ nhất, đường lối CNH của Đảng luôn nhấn mạnh đến yếu tố khoa học kỹ thuật
công nghệ (then chốt, quyết định...), luôn xác định khoa học là lực lượng sản xuất
trực tiếp, hướng hoặc đề cập trực tiếp tới công nghệ tiên tiến, công nghệ mũi nhọn,
công nghệ cao... nhưng những gì đạt được trên thực tế lại cho thấy khoa học và công
nghệ chưa được hiểu một cách đầy đủ, thống nhất, xứng tầm.
(THÍCH THÌ GHI) Cơ chế, chính sách cho phép khoa học kỹ thuật công nghệ đóng g
vào sự phát triển nhanh và bền vững của Tổ quốc còn hạn chế. Thứ hạng trình độ kho
học công nghệ của Việt Nam luôn rất thấp so với nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả một
số nước nhỏ về diện tích, không nhiều về dân số trong khu vực: số lượng các bằng ph
minh sáng chế được đăng ký, đội ngũ các nhà khoa học, chất lượng nguồn nhân lực, bài
báo khoa học đăng tạp chí quốc tế.... các giải thưởng danh giá khoa học thế giới.... đề rất ít.
Đặc biệt, sự hạn chế về nhận thức và kém hiệu quả trong thực hiện sẽ làm cho khoảng
cách chênh lệch phát triển của Tổ quốc chúng ta với nhiều quốc gia sẽ ngày càng xa
hơn. Việt Nam sẽ trở nên lạc hậu, sẽ bị gạt ra rìa trong xu thế toàn cầu hóa và sự p
triển như vũ bão của khoa học công nghệ như ngày nay.
○Thứ hai, CNH bằng con đường thích hợp để đưa Tổ quốc phát triển đạt trình độ cao
về mọi mặt là mạch tư duy không bao giờ dứt trong đường lối của Đảng Cộng sản Nam.
(THÍCH THÌ GHI) Khái quát bước chuyển biến tư duy lý luận về CNH XHCN cho th
một điều từ khi chủ trương đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội tới nay, khát vọng đưa
nước ta từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu trở thành một nước công nghiệp
phát triển, khoa học và kỹ thuật tiên tiến, nhân dân có cuộc sống ấm no tự do và hạnh
phúc, là mạch tư duy không bao giờ dứt trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Na
Một trong những con đường để đạt được điều đó là thông qua CNH XHCN thành côn
○Thứ ba, khẳng định CNH có tính tất yếu và giữ vị trí nhiệm vụ trung tâm trong suốt
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
(THÍCH THÌ GHI)Từ góc nhìn lịch sử, có đầy đủ cơ sở để khẳng định rằng, sự đánh
giá của Đảng về tính tất yếu, vị trí, vai trò, mục tiêu, định hướng phát triển hay nói
chung là tầm quan trọng của công cuộc CNH đối với đất nước ta là khá nhất quán và
xuyên suốt. CNH theo hướng hiện đại được coi là nhiệm vụ trọng tâm để nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp trong khoảng vài chục năm.
○Thứ tư, mục tiêu CNH có nhiều điểm giống nhau.
Mục tiêu cơ bản của CNH luôn là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi đôi với không ngừng
cải thiện đời sống nhân dân và cải biến nước ta thành một nước công nghiệp. Các điểm
chung bao gồm đảm bảo cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, QHSX tiến bộ
phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc
phòng – an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ấm no,
tự do, hạnh phúc. Để thực hiện mục tiêu chung đó, ở mỗi thời kỳ thường xác định những
mục tiêu cụ thể cần đạt được.
○Thứ năm, mô hình CNH Việt Nam đều sử dụng kết hợp các ưu thế của nhiều mô hìn
khác nhau, như một số đặc điểm của mô hình CNH cổ điển, phi cổ điển, CNH thay thế
nhập khẩu, CNH hướng vào xuất khẩu, CNH tư bản chủ nghĩa, CNH XHCN…
○Ngoài ra: khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực của đất nước chưa cao; cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo bản chất và nội dung CNH hiện đại còn chậm; liên tục đổi mới tư duy
để hoàn thiện các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế trong quá trình thực hiện CNH Tổ quốc. ❖Khác nhau:
-Theo Bộ Chính trị, “Bên cạnh những điểm thống nhất nêu trên, CNH, HĐH hiện nay có
nhiều cái khác so với trước đây mà một số điểm chính là:
+Đường lối CNN trước đổi mới được tiến hành theo cơ chế cũ, tập trung quan liêu, bao
cấp; thực hiện kế hoạch hoá tập trung với các chỉ tiêu pháp lệnh. Ở thời kỳ đổi mới,
chúng ta tiến hành CNH, HĐH theo cơ chế mới, là cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước. Kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng; thị trường phản ánh nhu cầu xã hội,
có tiếng nói quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực cho sản xuất, hình thành cơ cấu
kinh tế, lấy hiệu quả kinh tế – xã hội làm thước đo.
+Trước đổi mới, CNH thường được hiểu là việc của Nhà nước, thông qua khu vực quốc
doanh và tập thể là chủ yếu. Trong đổi mới, nó là sự nghiệp của toàn dân với sự tham gia
tích cực của tất cả các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Quan niệm về doanh nghiệp nhà nước cũng linh hoạt hơn, bao gồm những doanh nghiệp
mà Nhà nước nắm một số cổ phần, khống chế tương đối hay tuyệt đối. Đồng thời thực
hiện đa dạng hoá và đan xen các loại hình sở hữu.
+CNH thời kỳ trước đổi mới tiến hành theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội.
Còn CNH thời kỳ đổi mới thì lấy CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. (Thích Thì Ghi) CNH, HĐH gắn
với phát triển nền kinh tế thị trường giúp khai thác hiệu quả mọi nguồn lực của nền kinh
tế, sử dụng chúng hiệu quả để đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH. CNH, HĐH ở nước ta
diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, tất yếu phải hội nhập và mở rộng quan
kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm th
hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản
lý tiên tiến của thế giới... sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Hội nhập
kinh tế quốc tế nhằm khai thác hiệu quả thị trường thế giới. Hội nhập quốc tế là việc kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
+CNH ở thời kỳ trước đổi mới, phương thức phân bổ nguồn lực để thực hiện CNH
được thực hiện bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nước, theo kế hoạch của Nhà
nước thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh. Thời kỳ đổi mới, chủ yếu thực hiện bằng cơ chế
kinh tế thị trường, doanh nghiệp tự hạch toán kinh tế.
+CNH ở thời kỳ trước đổi mới, chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên đất đai
và nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa. CNH ở thời kỳ đổi mới, lấy phát huy
nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; coi phát triển
khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực CNH, HĐH.
-CNH ở thời kỳ trước đổi mới, tiến hành một cách nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí,
ham làm nhanh, làm lớn, không quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội. Còn ở thời kỳ đổi mới,
CNH, HĐH gắn với phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học.
-Bên cạnh đó, còn có những điểm khác như:
*Thứ nhất, về cách giải quyết mối quan hệ giữa phát triển LLSX và xây dựng QHSX XHCN trong quá trình CNH.
Đường lối CNH của Đảng chuyển từ CNH gắn với quan niệm xây dựng QHSX XHCN đi trước
một bước, mở đường cho sự phát triển của LLSX. Đồng thời, chuyển sang thực hiện ưu tiên
phát triển LLSX hiện đại, đồng thời xây dựng QHSX tiến bộ phù hợp.
*Thứ hai, về bước đi, tốc độ của CNH.
(THÍCH THÌ GHI) Thời kỳ đổi mới, Đảng xác định rằng quá trình CNH phải được tiến hành
từng bước phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã h
Trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, không thể đẩy mạnh CNH mà là tạo tiền đ
thiết để đẩy mạnh CNH ở chặng đường tiếp theo (chủ trương đẩy mạnh CNH từ Đại hội VIII –
1996). Cơ cấu kinh tế được điều chỉ hợp lý từng thời đoạn, và con đường CNH ở nước ta được
xây dựng sao cho có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước.
Tư duy CNH của Đảng thời đổi mới xác định rằng con đường CNH ở nước ta cần và có thể rú
ngắn thời gian so với các nước đi trước. Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta để thu hẹp
khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Chúng
có thể tận dụng những kinh nghiệm kỹ thuật, công nghệ và thành quả của các nước đi trước, s
dụng xu thế của thời đại và hội nhập quốc tế để rút ngắn thời gian.
Như vậy, đường lối CNH đã chuyển từ CNH XHCN với cách làm nóng vội, bỏ qua các bước đi
trung gian cần thiết, sang việc thực hiện CNH vừa có bước đi tuần tự, giai đoạn trước tạo tiền đề
cho sự phát triển của giai đoạn sau theo trật tự tuyến tính, vừa cho phép phát triển "rút ngắn"
trên cơ sở đi tắt và đón đầu các thành tựu phát triển nhảy vọt về khoa học và công nghệ của thế giới.
*Thứ ba, xây dựng cơ cấu kinh tế (mối quan hệ giữa công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ,
nông nghiệp, kinh tế trung ương, kinh tế địa phương, sản xuất, phân phối, tiêu dùng); cơ
và mô hình nền kinh tế trong quá trình CNH.
Từ chủ trương xác lập nóng vội cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp đến sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH, HDH để đưa nước ta đến năm 2020 về cơ bản trở thành một nước
công nghiệp, có cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp và dịch vụ hiện đại;
Từ nền kinh tế “khép kín”, “hướng nội”, với quan hệ chỉ khép kín trong hệ thống XHCN, chúng
ta đã chuyển sang thực hiện một nền kinh tế mở đa dạng, đa phương phù hợp với thông lệ quốc
tế và hướng mạnh về xuất khẩu, kết hợp với thay thế nhập khẩu;
Chuyển đổi từ CNH thực hiện trong khuôn khổ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp
sang việc tuân theo thị trường, kết nối thị trường trong nước với thị trường thế giới đã trở thành
một chỉnh thể hữu cơ, được quản lý bởi nhà nước theo định hướng XHCN.
*Thứ tư, CNH và HĐH gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển nhanh, bền vữn
Quan niệm CNH cổ điển đã chuyển sang quan niệm CNH, HĐH, gắn với phát triển kinh tế tri
thức, thực hiện các mục tiêu phát triển trước mắt phải đi đôi với yêu cầu không làm tổn hại đến
khả năng phát triển trong tương lai, bảo vệ tài nguyên môi trường.
Ngoài ra, CNH còn có các đặc điểm được nhận thức rõ và nhấn mạnh hơn, bao gồm việc đẩy
mạnh CNH và HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; khoa học và công nghệ cũng là
quốc sách hàng đầu, là động lực đẩy mạnh CNH và HDH đất nước, từng bước phát triển kinh tế tri thức.
Câu 9: Tại sao pt kinh tế thị trường định hướng XHCN là là bước phát triển mới theo tư duy lí
sự vận dụng sáng tạo độc lập của Đảng? / Vì sao đảng cộng sản việt nam lựa chọn mô hình kinh
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tất yếu
Đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) là nguyện vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Đây là
một quá trình cách mạng sâu sắc triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến
đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu
dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen. Một trong những
phương hướng cơ bản để thực hiện thành công quá trình cách mạng nói trên là phải phát triển nền kinh
tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa là "một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo quy luật của
KTTT vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH".
Trong nền kinh tế đó, các thế mạnh của "thị trường" được sử dụng để "phát triển lực lượng sản xuất,
phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân", còn
tính "định hướng xã hội chủ nghĩa" được thể hiện trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất: sở hữu, tổ chức
quản lý và phân phối, nhằm mục đích cuối cùng là "dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một
xã hội do nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa bỏ áp bức và bất công, tạo điều kiện
cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc".
Với nền KTTT, Đảng đã sự nhìn nhận sự phát triển về tư duy như sau:
Một là, KTTT không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại.
Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho thấy, sản xuất và trao đổi hàng hóa là tiền đề quan trọng cho
sự ra đời và phát triển của KTTT. Trong quá trình sản xuất và trao đổi, các yếu tố thị trường như cung,
cầu, giá cả có tác động điều tiết quá trình sản xuất hàng hóa, phân bổ các nguồn lực kinh tế và tài
nguyên thiên nhiên như vốn, tư liệu sản xuất, sức lao động... phục vụ cho sản xuất và lưu thông. Thị
trường giữ vai trò là một công cụ phân bổ các nguồn lực kinh tế. Trong một nền kinh tế, khi các nguồn
lực kinh tế được phân bổ bằng nguyên tắc thị trường, thì người ta gọi đó là KTTT.
KTTT đã có mầm mống từ trong xã hội nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến và phát triển cao
trong xã hội tư bản chủ nghĩa. KTTT và kinh tế hàng hóa (KTHH) có cùng bản chất là đều nhằm sản
xuất ra để bán, đều nhằm mục đích giá trị và đều trao đổi thông qua quan hệ hàng hóa - tiền tệ. KTHH
và KTTT đều dựa trên cơ sở phân công lao động xã hội và các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu
sản xuất, làm cho những người sản xuất vừa độc lập, vừa phụ thuộc vào nhau.
Trao đổi mua bán hàng hóa là phương thức giải quyết mâu thuẫn trên. Tuy nhiên, KTHH và KTTT có
sự khác nhau về trình độ phát triển. KTHH ra đời từ kinh tế tự nhiên, nhưng còn ở trình độ thấp, chủ
yếu là sản xuất hàng hóa với quy mô nhỏ bé, kỹ thuật thủ công, năng suất thấp. Còn KTTT là KTHH
phát triển cao, đạt đến trình độ thị trường trở thành yếu tố quyết định sự tồn tại hay không tồn tại của
người sản xuất hàng hóa. KTTT lấy khoa học, công nghệ hiện đại làm cơ sở và nền sản xuất xã hội hóa cao.
KTTT có lịch sử phát triển lâu dài, nhưng cho đến nay nó mới biểu hiện rõ rệt nhất trong chủ nghĩa tư
bản. Nếu trước chủ nghĩa tư bản, KTTT còn ở thời kỳ manh nha, trình độ thấp thì trong chủ nghĩa tư
bản nó đạt đến trình độ cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó. Điều
đó khiến cho không ít người nghĩ rằng, KTTT là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư
bản không sản sinh ra KTHH, do đó, KTTT với tư cách là KTHH ở trình độ cao không phải là sản
phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại.
Hai là, KTTT còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
KTTT xét dưới góc độ "một kiểu tổ chức kinh tế" là phương thức tổ chức, vận hành nền kinh tế, là
phương tiện điều tiết kinh tế lấy cơ chế thị trường làm cơ sở để phân bổ các nguồn lực kinh tế và điều
tiết tốt mối quan hệ giữa người với người. KTTT chỉ đối lập với kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, chứ
không đối lập với các chế độ xã hội. Bản thân KTTT không phải là đặc trưng bản chất cho chế độ kinh
tế cơ bản của xã hội. Là thành tựu chung của văn minh nhân loại, KTTT tồn tại và phát triển ở nhiều
phương thức sản xuất khác nhau. KTTT vừa có thể liên hệ với chế độ tư hữu, vừa có thể liên hệ với
chế độ công hữu và phục vụ cho chúng. Vì vậy, KTTT tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên
CNXH. Xây dựng và phát triển KTTT không phải là phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc đi theo con
đường tư bản chủ nghĩa và tất nhiên, xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng không dẫn đến phủ định KTTT.
Ba là, có thể và cần thiết sử dụng KTTT để xây dựng CNXH ở nước ta. KTTT tồn tại khách
quan trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Vì vậy, có thể cần thiết sử dụng KTTT để xây dựng CNXH ở nước ta.
Vào thời kỳ đổi mới, chúng ta ngày càng nhận rõ có thể dùng cơ chế thị trường làm cơ sở phân bổ các
nguồn lực kinh tế, dùng tín hiệu giá cả để điều tiết chủng loại và số lượng hàng hóa, điều hòa quan hệ
cung cầu, điều tiết tỷ lệ sản xuất thông qua cơ chế cạnh tranh, thúc đẩy cái tiến bộ, đào thải cái lạc hậu, yếu kém.
Thực tế cho thấy, chủ nghĩa tư bản không sinh ra KTTT nhưng đã biết thừa kế và khai thác có
hiệu quả các lợi thế của KTTT để phát triển. Thực tiễn đổi mới ở nước ta cũng đã chứng minh sự cần
thiết và hiệu quả của việc sử dụng KTTT làm phương tiện xây dựng CNXH. Kế thừa tư duy của Đại
hội IX, Đại hội X và XI đã làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa trong
phát triển KTTT ở nước ta, thể hiện ở bốn tiêu chí là:
-Về mục đích phát triển: Mục tiêu của KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm
thực hiện "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" giải phóng mạnh mẽ lực lượng
sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến
khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn.
-Về phương hướng phát triển: phát triển nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế nhằm giải phóng mọi tiềm năng trong mọi thành phần kinh tế, trong mỗi cá nhân
và mọi vùng miền... phát huy tối đa nội lực để phát triển nhanh nền kinh tế. Trong nền kinh tế
nhiều thành phần, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ chủ yếu để nhà nước điều tiết
nền kinh tế, định hướng cho sự phát triển vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh. Mặt khác, tiến lên CNXH đặt ra yêu cầu nền kinh tế phải được dựa trên nền tảng của
sở hữu toàn dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
-Về định hướng xã hội và phân phối: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng
bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát
triển xã hội, văn hóa, giáo dục và đào tạo, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển
con người. Hạn chế tác động tiêu cực của KTTT.
-Về quản lý: Phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền
kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tiêu chí này thể
hiện sự khác biệt cơ bản giữa KTTT tư bản chủ nghĩa với KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa
nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của KTTT, đảm bảo quyền lợi chính đáng của mọi người.
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, Đảng
ta khẳng định: phát triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô
hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều
năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam.
Câu 10: Vì sao nói văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước?
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát triển
văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước xác định: “Văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt
ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”.
Nền tảng tinh thần là không gian tinh thần của cộng đồng, bầu không khí tinh thần, khí thế của
đông đảo quần chúng nhân dân và của cộng đồng dân tộc, hệ tư tưởng, tình cảm, niềm tin, khát vọng
của con người, các quan niệm đạo lý, pháp lý đạt chuẩn mực chân, thiện, mỹ…; là yếu tố quan trọng
chi phối mọi hoạt động của con người trong xã hội, là cơ sở để phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Do
những điều kiện tự nhiên và lịch sử, trong trái tim mỗi con người Việt Nam dần hình thành một tinh
thần yêu nước nồng nàn, chủ nghĩa anh hùng trong chiến đấu, bảo vệ và xây dựng đất nước, sự cần cù,
chăm chỉ và sáng tạo trong lao động sản xuất, cũng như một tấm lòng nhân văn, khoan dung và cởi mở.
Theo UNESCO, văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và
trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các
truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.
Trong Nghị quyết Trung ương 5 ( Khóa VIII), Đảng ta khẳng định: Văn hóa Việt Nam là tổng
thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình
dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để
không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt
Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới
sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt
cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi
hỏi của sự sinh tồn”.
Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội: Hệ tư tưởng, tình cảm, niềm tin, khát vọng của con
người, các quan niệm đạo lý,..... tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong
mỗi con người và trong cả cộng đồng; được truyền lại tiếp nối và phát huy qua các thế hệ; chi phối
hàng ngày đến cuộc sống, tư tưởng, tình cảm của mọi thành viên xã hội bằng môi trường xã hội - văn
hóa. Truyền thống của nền văn hóa dân tộc là một dòng chảy tinh thần được hun đúc qua hàng ngàn
năm lịch sử, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi xã hội của con người. Đó là lòng yêu nước nồng
nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức kết nối cộng đồng; lòng nhân ái, trọng nghĩa
tình; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử... Các giá trị và sức mạnh đó của
văn hóa và con người Việt Nam đã làm nên nền tảng tinh thần vững chắc của dân tộc ta; trở thành
nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng của phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy cần chủ
trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các giá trị văn hóa trở thành